1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Quan điểm triết học về con người và phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay (1)

28 11 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 179 KB
File đính kèm Quan diem con nguoi va phat huy nhan to con nguoi.rar (37 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Trong lịch sử phát triển triết học từ trước tới nay “con người” luôn được xem là đối tượng tranh cãi của các nhà tư tưởng, đảng phái triết học Xét tới cùng, chính từ “con người” vấn đề cơ bản của triết học mới được xác định và cũng như vấn đề về tương quan và phương pháp luận mới đặt ra Và cũng chính ở đây, quan điểm duy vật hay duy tâm đã bộc lộ rõ ràng Như thế, vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, đây cũng là vấn đề cơ bản đầu tiên và chung một c.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong lịch sử phát triển triết học từ trước tới nay “con người” luôn được

xem là đối tượng tranh cãi của các nhà tư tưởng, đảng phái triết học Xét tới

cùng, chính từ “con người” vấn đề cơ bản của triết học mới được xác định và

cũng như vấn đề về tương quan và phương pháp luận mới đặt ra Và cũng chính

ở đây, quan điểm duy vật hay duy tâm đã bộc lộ rõ ràng Như thế, vấn đề cơ bảnlớn của mọi triết học là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, đây cũng là vấn đề

cơ bản đầu tiên và chung một cách đầu tiên về con người

Chắt lọc những tinh hoa triết học của nhân loại, khái quát những thành tựucủa khoa học tự nhiên và kinh nghiệm thực tiễn xã hội của loài người, C Mác

và Ph Ăngghen đã xây dựng lý luận triết học về con người Trong đó khẳngđịnh: Con người là thực thể sinh vật – xã hội – tinh thần; con người là chủ thểcủa lịch sử và bản chất của con người là tổng hòa các quan hệ xã hội, Đó lànhững nguyên lý nền tảng của lý luận Mác xít về con người

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước với những mục tiêu “dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” hiện nay, con người và nguồn nhânlực được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh,hiệu quả và bền vững nền kinh tế nước ta Đảng ta khẳng định: “con người vừa

là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển kinh tế - xã hội” đồng thời phải xâydựng con người mới xã hội chủ nghĩa đó là những con người có tri thức và đạođức Vì vậy, vấn đề cốt lõi là phải thực hiện tốt chiến lược giáo dục – đào tạo vềnguồn nhân lực và phát triển con người một cách toàn diện cả thể lực lẫn trí lực,góp phần quan trọng để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XII của Đảng đã đề ra Đúng như chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳngđịnh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”

Với lý do trên, tôi chọn chủ đề viết tiểu luận: “ Quan điểm triết học về con người và phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay”

Trang 2

NỘI DUNG

I QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI

1 Quan điểm triết học phi mác xít về con người

1.1 Quan điểm triết học Phương Đông về con người

Phương Đông cổ đại là một vùng đất rộng lớn, có nhiều trung tâm triếthọc lớn của thế giới với nhiều quan điểm khác nhau về con người Trong đó,điển hình là quan điểm triết học của Phật giáo và Nho giáo

Phật giáo là một trong chín trường phái triết học của Ấn Độ thời kỳ cổđại, là một trong ba trường phái triết học lớn chống lại sự thống trị tư tưởng củađạo Bàlamôn Vì vậy, Phật giáo có nhiều tư tưởng triết học tiến bộ, trong đó có

tư tưởng về con người

Khi bàn tới nguồn gốc của con người, Phật giáo phủ nhận quan điểm củakinh Vêđa, cho rằng con người là sản phẩm của đấng sáng tạo (Bahman) và conngười là nguyên nhân của chính mình: con người quá khứ là nguyên nhân của conngười hiện tại, con người hiện tại là nguyên nhân của con người tương lai

Phật giáo cho rằng, con người là hai thành phần: phần sinh lý và tâm lý,phần hình và tâm thần Cái tôi sinh lý tức là thể xác, hình chất gọi sắc (gồm địa,thủy, hỏa, phong) Cái tôi tâm lý, tinh thần tức là danh (gồm thụ, tưởng, hành,thức) Hai thành phần trên được tạo nên từ ngũ uẩn, do nhân duyên hợp thành Dothế giới là vô thường, sự hội tụ các thành phần tạo nên con người chỉ diễn ra trongthời gian nhất định, vì vậy không có cái tôi vĩnh hằng

Trong cuộc sống, do vô minh, con người cứ khái ái, tham dục nên dẫn đếnnhững hành động chiếm đoạt (gồm tư tưởng, lời nói, việc làm, thiện, bất thiện) tạonên nỗi khổ triền miên từ kiếp này sang kiếp khác Để diệt trừ cái khổ, con ngườiphải giải thoát Để đạt tới giải thoát, con người phải dày công tu luyện, hành độngđạo đức theo giới luật, tu luyện trí tuệ, trực giác thực nghiệm nội tâm lâu dài Với

quan niệm này, Phật giáo đã thừa nhận bản tính con người vừa thiện, vừa ác.

Nho giáo là một trong sáu học phái của triết học Trung Quốc cổ đại có ảnh

Trang 3

hưởng lớn trong quá trình phát triển tư tưởng triết học Trung Quốc thời kỳ trung

cổ Nho giáo cho rằng, muôn vật do trời đất sinh ra thì con người cũng do trời đấtsinh ra Sinh ra người cũng như sinh ra muôn vật, đó là đức của trời đất Kinh

Dịch chỉ rõ: “Đức lớn nhất của trời đất gọi là sinh” Khổng Tử coi Trời là một

thế lực bao trùm, điều động vũ trụ xoay vần theo định luật khách quan Đồng thời,ông tin trời có sức mạnh huyền bí nên luôn nhắc tới mệnh trời, biết mệnh trời và

sợ mệnh trời

Nho giáo cũng cho rằng, con người sau khi do trời đất sinh ra thì con ngườicùng với đất hợp thành ba ngôi tiêu biểu cho sự vật trong thế giới vật chất và tinhthần Kinh Dịch chỉ rõ: Trời, đất, nước là tam tài Theo đó, khi bàn tới quan hệngười với trời, đất, Nho giáo cho rằng, trời là gốc của người, trời với người là

một, do đó chủ trương thiên nhân hợp nhất.

Bàn về vấn đề này, các nhà sáng lập Nho giáo đã có nhiều quan điểm khácnhau về bản tính con người Khổng Tử cho rằng, tính của người đều gần nhau,

do tập tành, thói quen mới hóa ra xa nhau Mạnh Tử cho rằng, bản tính conngười là ác… Tuy có quan điểm khác nhau về bản tính con người như vậy,nhưng họ lại có thống nhất đó là phải coi trọng giáo hóa nhằm phát triển tínhthiện Vì vậy, một trong những tư tưởng nổi bật của triết học Trung Quốc cổ đại

là tư tưởng về giáo dục

Nho giáo coi tu thân và thực hành đạo đức là hoạt động thực tiễn căn bảnnhất, luôn đặt vào vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội Mục tiêu xây dựng conngười của Nho giáo xác định được năm mối quan hệ (ngũ luân) và làm tròn tráchnhiệm trong năm mối quan hệ đó Con đường để đạt được mục tiêu đó là tu thân,

tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Đồng thời, Nho giáo cũng rất coi trọng năm đức(ngũ thường) thường xuyên phải trau dồi là nhân, nghĩa, lễ, tín, trí

Có thể nói, nhìn chung các quan điểm triết học về con người thể hiện trongcác học thuyết triết học phương Đông cổ, trung đại rất phong phú, đa dạng, nhưng

còn mang nặng tính duy tâm Tất cả những tư tưởng đó đều tồn tại lâu dài trong

lịch sử, luôn giữ vai trò nền tảng trong suốt xã hội trung cổ

Trang 4

1.2 Quan điểm triết học Phương Tây về con người

Lịch sử triết học Phương Tây là lịch sử trên 2.000 nghìn năm phát triểncủa các hệ thống triết học từ Hy Lạp cổ đại đến một số trào lưu tư tưởng triếthọc tư sản hiện đại Quan điểm triết học về con người cũng được hình thành vàphát triển theo tiến trình hình thành và phát triển theo tiến trình vận động, pháttriển của lịch sử triết học

Triết học Hy Lạp cổ đại là một nền triết học đa dạng, trong đó có bànnhiều đến giới tự nhiên và vấn đề con người

Khi bàn tới nguồn gốc của con người, các đại biểu đầu tiên của chủnghĩa duy vật HyLạp cổ đại đã coi con người tồn tại thực tế, là một bộ phậncấu thành của tồn tại nói chung Họ cho rằng, con người cũng giống như mọi

sự vật, hiện tượng khác đều bắt nguồn từ một bản nguyên vật chất xác địnhnhư nước (Talet), không khí (Anaximen), lửa (Hêracrit), hoặc từ bản nguyênvật chất không xác định như apeiron (Anaximanđrơ); Xenophan cho rằng, conngười sinh ra từ hai nguyên bản là đất và nước, còn Zênôn lại quan niệm haibản nguyên đó là lửa và đất Như vậy giữa hai lĩnh vực tự nhiên và con ngườikhông có khoảng cách, con người hòa đồng với tự nhiên, không có sự tha hóacủa con người ra khỏi tự nhiên Ở thời kỳ này, họ hay nói tới linh hồn của conngười, nhưng linh hồn cũng giống như không khí, nước, đất, chỉ là một trongnhững trạng thái biến đổi của lửa

Tiếp tục với quan điểm trên, vào thời kỳ cực thịnh của Hy Lạp cổ đại,Empedocco cho rằng, nguồn gốc của con người và muôn vật là do sự hòa hợpcủa bốn yếu tố vật chất: lửa, không khí, nước và đất Thông qua các thời kỳ của

sự tiến hóa, các yếu tố sản sinh ra thực thể hữu cơ cao nhất là con người Đêmôcrít khi bàn tới sự sống cho rằng, sự sống không phải do thần thánh tạo ra mà làkết quả của những lực lượng cơ giới của chính tự nhiên, các sinh vật cũng đượccấu tạo nên từ nguyên tử Linh hồn của con người cũng có tính vật chất, đó là sựkết hợp các nguyên tử hình cầu rất năng động

Trang 5

Bước ngoặt của triết học Hy Lạp cổ đại về vấn đề con người là quan điểmXôcrát Ông cho rằng, các vấn đề về tự nhiên đã được thần thánh an bài, vấn đềchính của triết học là tập trung nghiên cứu tâm hồn của con người Đối tượngcủa triết học theo ông là “cái tôi” tinh thần của con người và công thức của đốitượng là: “Hãy nhận thức lấy bản thân mình” Sự quan tâm đến con người củaXôcrát được xem như là bước ngoặc từ triết học tự nhiên sang triết học đạo đức.Chủ đề suy xét về con người của Xôcrát là điều kiện, cái đẹp, tự ý thức, tri thức

và chân lý Ông định hướng cho con người làm chủ hành vi của mình bằng cácgiá trị đó và không cho phép bản năng động vật lấn át tiếng nói của lương tâm,phẩm giá, lòng trung thành, lòng yêu thương con người Khái niệm chung tạonên cơ sở của đạo đức là “cái thiện phổ biến” Muốn tuân theo cái thiện thì phảihiểu nó Muốn vậy phải có phương pháp tìm ra chân lý thông qua đàm thoại,tranh luận triết học, phương pháp có bốn bước (hỏi mẹo, đỡ đẻ, quy nạp, xácđịnh), về sau gọi là phương pháp Xôcrát

Xã hội Tây Âu từ thế kỷ V đến thế kỷ XV là xã hội phong kiến chịu chiphối và sự thống trị của tư tưởng tôn giáo Xuất phát từ thế giới quan duy tâm,thần bí, các nhà triết học thời kỳ này coi con người là sản phẩm của Thượng đếsáng tạo nên Mọi số phận, niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi của con người đều doThượng đế sắp đặt

Trí tuệ của con người thấp hơn lý trí anh minh, sáng suốt của Thượng đế,

Do đó, triết học hoàn toàn bất lực trong việc cứu thoát con người Con người trởnên nhỏ bé trước cuộc sống, nhưng đành lòng với cuộc sống tạm bợ trên trầnthế, vì hạnh phúc vĩnh cửu ở thế giới bên kia Con người bị thủ tiêu ý chí đấutranh để tự giải thoát mình

Thời kỳ hình thành phương thức sản xuất tư bản ở Tây Âu được chia ralàm hai giai đoạn: Phục hưng (thế kỷ XV – XVI) và cận đại (thế kỷ XVII –XVIII) Tư tưởng triết học nói chung và tư tưởng triết học về con người thời kỳnày cũng được chia làm hai giai đoạn:

Trang 6

Thời kỳ phục hưng là thời kỳ khôi phục, phát triển những giá trị con người

và nền văn hóa Hy Lạp cổ đại sau đêm dài trung cổ Các nhà sử học gọi thời kỳnày là thời kỳ đầu tiên phát hiện ra con người trong thế giới và cả một thế giớitrong con người Chính thời kỳ này, ở Tây Âu đã sản sinh ra các học thuyết vềnguồn gốc ra lịch sử, sự phát triển các mặt của con người, về chủ nghĩa nhân văn,

về thuyết giải phóng cá nhân ra khỏi tín điều, quy định của nhà thờ, của giáo huấntôn giáo, của các đẳng cấp và tuyên bố bình đẳng của tất cả mọi người

Thời kỳ cận đại thế kỷ XVII – XVIII là thời kỳ giai cấp tư sản đã giànhđược thắng lợi chính trị Tiếp tục phát triển tư tưởng nhân đạo thời kỳ phụchưng, các nhà triết học Khai sáng lấy việc truyền bá tri thức tốt đẹp một cáchrộng rãi cho mọi người làm nhiệm vụ chính trị của mình Muốn vậy, họ phải đấutranh chống các quan điểm tôn giáo và siêu hình về sự tồn tại của Chúa và xâydựng nên hệ thống thế giới quan vô thần Họ cho rằng, vũ trụ là vật chất, vô tận,vĩnh hằng, luôn vận động Con người là một bộ phận của giới tự nhiên, là mộtđộng vật, suy nghĩ nhờ các giác quan (La Méttri) Con người là một thực thểthống nhất hữu cơ của hai mặt thể xác và tinh hồn (Điđơrô) Con người là sảnphẩm của hoàn cảnh xã hội của quan hệ phong kiến (Henvêtiuýt) Các nhà Khaisáng còn cho rằng, cơ sở để cải tạo xã hội hiện đại, vươn tới con người là lý tính

Lý tính của con người là sản phẩm do sự tác động của vật chất đến các giác quangây nên cảm giác Cảm giác là nguồn gốc của lý tính (Henvêtiuýt) Các nhà khaisáng còn cho rằng, bản tính của con người vốn không ác, sở dĩ có cái ác là do

sự khiếm khuyết của các quan hệ xã hội và nền giáo dục không đúng đắn Conngười được giáo dục đúng đắn tức là sự khai sáng…

Như vậy, kế thừa sự lý giải vấn đề con người trong lịch sử triết học từ thời

cổ đại đến cận đại thế kỷ XVII – XVIII, các nhà triết học cổ điển Đức đã cóbước nhận thức mới về con người

Can tơ qua các tác phẩm của mình đã coi “tất cả mọi người trên trái đất về bản chất mọi người trên trái đất về bản chất, đều thuộc một loài” Sự khác nhau

Trang 7

nhau… Theo đó, Can tơ chứng minh tính xã hội của loài người được hình thành

do vận động của các trạng thái tự nhiên – sinh học của các cá thể ở mỗi thế hệ,dần dần phát triển ý thức của các thế hệ mà các trạng thái đạo đức, tư tưởng xãhội được phát triển Can tơ rất quan tâm tới vai trò hoạt động cải tạo của conngười với tư cách là chủ thể của thế giới, bởi con người về bản chất là một thựcthể hoạt động tích cực Thực tiễn được Can tơ hiểu theo nghĩa hẹp là hoạt độngđạo đức, theo nghĩa rộng là hoạt động chính trị, lịch sử, pháp quyền, văn hóa

Trong tác phẩm Hiện tượng học tinh thần, Heghen với nguyên lý xuất

phát của triết học là sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần với thếgiới, coi thế giới và con người là hiện thân của tư duy, của tinh thần, tức là ýniệm tuyệt đối Với quan niệm như vậy, Heghen coi thế giới vật chất chính củacon người là vô cơ, con người ở giai đoạn chưa hình thành Còn con người bằngxương bằng thịt là con người đã phát triển đầy đủ, là con người trở về với chínhbản thân nó với tất cả những đặc tính vốn có của mình Phương pháp biện chứngcủa Heghen trong hiện tượng tinh thần học coi con người vừa là chủ thể, đồngthời là kết quả của quá trình hoạt động của mình; tư duy và trí tuệ của con ngườihình thành và phát triển trong chừng mực của con người nhận thức và cải tạonhận thức và cải tạo thế giới; ý thức của con người là sản phẩm của lịch sử xãhội, hoạt động của con người càng phát triển thì ý thức của nó càng mang bảnchất xã hội

Phoiơbắc đối lập với Heghen, coi con người là sản phẩm cao nhất của tự

nhiên Ông đã giải thích tất cả đặc điểm, tính chất của con người bằng nguồngốc tự nhiên của chúng

Trước thành tựu mới của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, các nhàtriết học cổ điển Đức đã đề cao sức mạnh trí tuệ của con người Nhưng do chịuảnh hưởng của phương pháp tư duy siêu hình, nên các nhà triết học cổ điển Đức

đã đề cao sức mạnh trí tuệ của con người tới mức cực đoan Can tơ và Heghen đã

thần thánh hóa năng lực của con người dẫn đến quan niệm duy tâm, coi mọi sựvật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội là kết quả hoạt động của con người

Trang 8

Phoiơbắc lại hiểu con người theo nghĩa trần tục bằng xương, bằng thịt, đồng nhấttính sinh học vào bản chất con người, tách con người ra khỏi đời sống xã hội, hòatan bản chất con người vào bản chất tôn giáo, do đó đã không thấy được hoạtđộng tích cực của con người là hoạt động thực tiễn Tuy nhiên, thành tựu cơ bảncủa triết học cổ điển Đức về con người là khẳng định tư duy, ý thức chỉ phát triểntrong chừng mực con người nhận thức và cải tạo thế giới; con người là chủ thể, làkết quả hoạt động của một thời đại lịch sử nhất định; nghiên cứu lịch sử nhân loại,nghiên cứu quan hệ giữa con người với tự nhiên theo quan niệm biện chứng.

2 Quan điểm triết học Mác – Lênin về con người

Kế thừa tư tưởng triết học về con người trong lịch sử, C.Mác và Ăngghen

đã tạo bước ngoặt cách mạng trong quan niệm về con người, về bản chất conngười, về quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội, về vị trí, vai trò củacon người trong tiến trình phát triển của nhân loại, về sự nghiệp giải phóng conngười Với những thành quả đó, có thể nói, triết học Mác là học thuyết về conngười và giải phóng con người

2.1 Khái niệm con người và nhân tố con người

Trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử xã hội và về conngười, triết học Mác – Lênin đã đem lại một quan niệm hoàn chỉnh về con người

Theo quan điểm chung nhất, con người là thực thể sinh vật xã hội.

Con người là một sinh vật có tính xã hội, vừa là sản phẩm cao nhất trongquá trình tiến hoá của tự nhiên và lịch sử xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo mọithành tựu văn hoá trên trái đất Triết học Mác chỉ rõ hai mặt, hai yếu tố cơ bảncấu thành con người là mặt sinh học và mặt xã hội Con người có mặt tự nhiên,vật chất, nhục thể, sinh vật, tộc loại…Đồng thời, con người có mặt xã hội, tinhthần, ngôn ngữ, ý thức, tư duy, lao động, giao tiếp, đạo đức…Hai mặt đó hợpthành một hệ thống năng động, phức tạp, luôn luôn biến đổi, phát triển

Quan niệm về con người của triết học Mác – Lênin đã bao hàm trong đó

sự khẳng định vai trò chủ thể lịch sử xã hội của con người Điều đó đòi hỏi tất

Trang 9

yếu từ quan niệm chung về con người, cần phải có một quan niệm cụ thể hơn vềnhân tố con người Nhân tố con người là hệ thống các thuộc tính, các đặc trưngquy định vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo của con người, bao gồm mộtchỉnh thể thống nhất giữa mặt hoạt động với tổng hoà những đặc trưng về phẩmchất, năng lực của con người trong quá trình phát triển lịch sử Triết học Mác –Lênin đã chỉ ra sự thống nhất giữa hai mặt là hoạt động và phẩm chất, năng lực

của con người Hoạt động của con người bao gồm hoạt động nhận thức và hoạt

động thực tiễn; hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần

Triết học Mác – Lênin đã chỉ ra vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo củacon người Chính vì vậy, nhân tố con người là cội nguồn của mọi sự phát triển, củamọi nền văn minh xã hội

2.2 Sự tồn tại hiện thực của con người

Phạm trù “con người hiện thực” và định nghĩa kinh điển về bản chất con

người là một trong những tư tưởng đặc sắc trong triết học Mác làm nên cuộccách mạng trong lịch sử triết học

Trong suốt quá trình lịch sử lâu dài trước khi triết học Mác ra đời, chủnghĩa duy tâm giữ vai trò chi phối trọng việc nhận thức về con người và đờisống xã hội của con người C.Mác cho rằng, triết học Đức vào đầu thế kỷ XIXvẫn lấy “sự thống trị của tôn giáo” làm tiền đề C Mác coi phương pháp tiếp cận

ấy là “đã đi đầu xuống đất”., làm đảo ngược bức tranh hiện thực của lịch sử

Từ sự phê phán đó, C.Mác chọn điểm xuất phát mới trong nghiên cứu xãhội là xuất phát từ con người hiện thực – tức là xuất phát từ đời sống hiện thựccủa họ Xuất phát từ đời sống hiện thực của con người, C Mác đã đi đến xácđịnh tiền đề đầu tiên của mọi tồn tại của con người và do đó là tiền đề của lịch

sử đó là: “Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”.Như vậy, hành vi đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn nhữngnhu cầu đó, sản xuất ra đời sống vật chất” 1

1 C Mác và Ăngghen, toàn tập, t 13, tr 40

Trang 10

C Mác cũng đã phát hiện ra các quy định hành vi lịch sử đầu tiên và là

động lực thúc đẩy con người hoạt động vì nhu cầu lợi ích Nhu cầu là động lực

bên trong thúc đẩy con người hoạt động Hoạt động của con người thỏa mãnđược nhu cầu này lại làm nảy sinh nhu cầu khác Việc nảy sinh nhu cầu mới làđộng lực thúc đẩy con người hoạt động, là động lực phát triển của xã hội

Như vậy, trong quan niệm của các nhà sáng lập triết học Mác, tính hiệnthực của con người được thể hiện trước hết ở chỗ con người tồn tại khách quantrong hoạt động thực tiễn của nó và sự tồn tại của con người là tồn tại hiện thực,hiển nhiên, chứ không phải cái gì đó mang tính trìu tượng

2.3 Con người là thực thể “sinh vật – xã hội – tinh thần”

Với tư cách là thực thể sinh vật, thể xác con người trước hết thuộc về giới

tự nhiên Ph Ăngghen khẳng định: “…thể xác con người khác về thể chất so vớitất cả các động vật, thể xác con người là cấu trúc sinh vật hoàn thiện ở trình độcao với bộ óc và hệ tế bào thần kinh hoàn chỉnh cùng với khối lượng cực lớn cácmối liên hệ, quan hệ… thể xác con người tồn tại trong sự tồn tại và phát triểncủa xã hội” Như vậy, trong thể xác con người không chỉ có hoạt động củanhững nhu cầu và quy luật tự nhiên, mà còn có hoạt động của những nhu cầu vàquy luật sinh lý – tâm lý, tình cảm của xã hội sâu sắc

Với tư cách là thực thể xã hội, con người luôn có nhu cầu xã hội và chịutác động, chi phối bởi các quy luật xã hội Chính vì vậy, khi nói đến con người

là con người xã hội và khi nói đến xã hội là xã hội con người Theo C.Mác, conngười tạo ra xã hội và là thành viên của xã hội, mọi biểu hiện sinh hoạt của conngười là biểu hiện và là sự khẳng định xã hội Và nhờ có cấu trúc “sinh vật – xãhội” và hoạt động thực tiễn, mà con người phản ánh một cách tích cực, sáng tạohiện thực khách quan vào bộ óc và hình thành nên ý thức của toàn bộ đời sốngtinh thần phong phú của mình

Với tư cách là một thực thể tinh thần, con người luôn có nhu cầu tinh thầnnhư nhu cầu hiểu biết, nhu cầu tình cảm… và chịu tác động, chi phối bởi các

Trang 11

quy luật tinh thần như quy luật tâm lý, quy luật nhận thức….

Như vậy, con người là thực thể “ sinh vật – xã hội – tinh thần”, trong đó,

sự vận động đan xen của ba hệ thống nhu cầu (sinh vật, xã hội, tinh thần) và ba

hệ thống quy luật (sinh học, xã hội, tinh thần) Mỗi hệ thống nhu cầu và hệthống quy luật có vị trí, vai trò nhất định trong quá trình phát triển của conngười, song hệ thống nhu cầu và quy luật xã hội cơ bản nhất, luôn ở vị trí trungtâm và giữ vai trò quyết định, đồng thời là cơ sở của sự tồn tại, phát triển conngười và của loài người

2.4 Nguồn gốc và bản chất của con người

Khi xem xét con người với tư cách là những cá nhân sống, C Mác khôngphủ nhận mặt tự nhiên và mặt sinh học của nó Kế thừa tư tưởng triết học lịch sử

và các thành tựu khoa học, C Mác và Ph Ăngghen thừa nhận con người là độngvật cao cấp nhất, sản phẩm của sự tiến hóa lâu dài của giới sinh vật Mặc dù vậy,

C Mác không thừa nhận quan điểm cho rằng, cái duy nhất tạo nên bản chất conngười là đặc tính sinh vật học, là bản năng sinh học của con người Con ngườivốn là một sinh vật có đầy đủ những đặc trưng của sinh vật, nhưng có nhiềuđiểm khác biệt với các sinh vật khác

C Mác và Ph Ăngghen coi điều kiện quyết định hình thành con người là

lao động Ph Ăngghen chỉ rõ: “Người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động

mà thoát khỏi trạng thái thuần túy là loài vật” 2 Phân tích vai trò của lao động sảnxuất đối với con người C Mác viết: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng

ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân conngười bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay từ khi co người bắt đầu sản xuất ranhững tư liệu sinh hoạt của mình… Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình,như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”

Lao động xuất hiện đánh dấu sự chuyển biến từ tổ tiên động vật thành conngười Trong lao động, con người thường xuyên làm biến đổi những điều kiện

2 C Mác và Ăngghen, toàn tập, t 20, tr 641

Trang 12

tồn tại của mình, cải tạo chúng cho phù hợp với những nhu cầu thường xuyên,xây dựng nên thế giới văn hóa, vật chất và tinh thần Nền văn hóa này do conngười sáng tạo như thế nào thì bản thân con người do nền văn hóa đó hình thànhtrong chừng mực nào đó.

Về mặt tâm lý, lao động đưa đến sự cải tạo các bản năng trên hai bìnhdiện đó là bình diện đè nén, kìm hãm bản năng, bắt phục tùng, chịu sự kiểm soátcủa lý trí và bình diện diện cải tạo bản năng thành trạng thái mới về chất củahoạt động nhận thức thuần túy của con người

Về mặt xã hội, lao động đưa đến sự hình thành những chất mới, chất xãhội của con người như ngôn ngữ, tư duy, giao tiếp, quan niệm, định hướng giátrị, thế giới quan…

Tất cả lao động trên của xã hội đánh dấu sự xuất hiện một loài sinh vậtmới – “người khôn”, ngay từ đầu đã xuất hiện dưới hai nguyên thể gắn bó vớinhau, đó là con người có lý tính và con người mang bản chất xã hội Để nhấnmạnh tính phổ biến của yếu tố xã hội trong con người, C Mác đã viết: “Bản chấtcon người không phải là cái gì trìu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trongtính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”.Bản chất của con người không phải cái gì trìu tượng như người ta nghĩ, mà cótính lịch sử - cụ thể, có nghĩa là nội dung của bản chất đó tuy về căn bản là cótính xã hội, song lại biến đổi tùy theo nội dung cụ thể của thời đại, của hình thái,của hoàn cảnh xã hội và văn hóa sinh hoạt… Khi nói: “Trong tính hiện thực của

nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”, theo tôi hiểu thì

“những quan hệ xã hội” đó thể hiện trong hoạt động cụ thể của con người.Không có con người trừu tượng, mà chỉ có những con người sống, hoạt độngtrong một xã hội nhất định, một thời đại nhất định Điều đó có nghĩa là nhữngcon người cùng với xã hội mình khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội, pháttriển ý thức Chỉ trong toàn bộ những quan hệ xã hội cụ thể đó, con người mớibộc lộ và thực hiện được bản chất thực sự của mình

Trang 13

Đây là luận điểm nổi tiếng, tiêu biểu cho triết học Mác về bản chất củacon người Luận điểm này trở thành cơ sở lý luận khoa học cho chủ nghĩa Mác

và các khoa học khi nghiên cứu, giải quyết vấn đề về con người

2.5 Con người là chủ thể của lịch sử

Với tư cách là thực thể “sinh vật – xã hội – tinh thần”, con người hiệndiện trong thế giới và thể hiện mình không chỉ là sản phẩm của lịch sử, mà còntrở thành chủ thể của lịch sử

Trong quan niệm mác xít về lịch sử, lịch sử hiện ra như quá trình tự nhiên,tức là quá trình được tạo ra bởi con người theo những quy luật khách quan nhấtđịnh Một mặt, trong lịch sử không có cái gì được thực hiện, được diễn ra một cách

tự động, tự phát ở bên ngoài hoạt động của con người; mặt khác “Lịch sử như nódiễn ra từ trước đến nay giống như quá trình tự nhiên, và về thực chất, tuân theochính những quy luật của sự vận động” Tuy nhiên, với tư cách là quá trình xã hội,lịch sử của nó có đặc trưng về chất để phân biệt với lịch sử tự nhiên

Trong Hệ tư tưởng Đức, C Mác và Ăngghen đã chỉ ra rõ rằng, sản xuấtvật chất mang tính tất yếu lịch sử và sự phát triển tất cả các mặt khác của xã hộixét cho cùng đều do sản xuất vật chất quy định, cũng mang tính tất yếu lịch sử;đằng sau sự phát triển của sản xuất vật chất và tất cả các mặt khác nhau của xãhội chính là con người hiện thực – chủ thể của hiện thực Bởi vì “Lịch sử khônglàm gì cả”, nó “không có tính phong phú vô tận nào cả”, nó “ không chiến đấutrong trận nào cả”! Không phải “lịch sử” mà chính con người thực sự, nhữngcon người sống mới là kẻ làm ra tất cả những cái đó, có tất cả những cái đó vàđấu tranh cho tất cả những cái đó

Như vậy, con người nhờ vào thực thể “sinh vật – xã hội – tinh thần” củamình và bằng chính hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn của mình mà sángtạo ra lịch sử trở thành chủ thể của lịch sử

2.6 Con người với tư cách là nhân cách

Nhân cách được hiểu là tài và đức, là năng lực thể chất và tinh thần riêng

Trang 14

của mỗi con người, đó là sản phẩm của tất cả cái tự nhiên, cái xã hội và cái tôi ởbản thân con người Mỗi cá nhân do có vị trí xã hội khác nhau mà có nhân cáchkhác nhau.

Nhân cách được hình thành trong quá trình hoạt động giao tiếp Nói cáchkhác, quá trình hình thành nhân cách là quá trình xã hội hóa cá nhân Qúa trình

xã hội hóa đòi hỏi cá nhân phải tích cực thực sự, thể hiện trong việc thườngxuyên điều chỉnh hành động, hành vi, cử chỉ của mình Đến lượt nó, quá trìnhnày đòi hỏi phát triển năng lực tự đánh giá, tự ý thức Tự đánh giá, tự ý thức làcốt lõi của nhân cách

Nhân cách có ba thành tố: tư chất di truyền sinh học, sự tác động của nhân

tố xã hội và “cái tôi”, trong đó, yếu tố bản chất của nhân cách là “cái tôi”

“Cái tôi” tựa như là cái xã hội bên trong của nhân cách, cái xã hội đã trởthành hiện tượng tâm lý và quy định tính cách của nhân cách, phạm vi động cơbiểu lộ theo một hướng nhất định, phương thức liên hệ lợi ích của mình đối vớilợi ích xã hội, trình độ, hoài bão, cơ sở hình thành niềm tin, định hướng giá trịthế giới quan

Thuộc tính chủ yếu của nhân cách là thế giới quan Thế giới quan là đặcquyền con người vươn tới tầm cao của tinh thần Sau khi con người trao dồiđược thế giới quan này hay thế giới quan khác, nhân cách mới tự khẳng địnhmình trong cuộc sống, có khả năng hành động một cách có mục đích, có ý thức

2.7 Sự nghiệp giải phóng con người

C Mác và Ăngghen đã xem xét con người trong mối quan hệ xã hội của

Ngày đăng: 23/07/2022, 08:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w