Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về tình hình thể lực và sự tăng trưởng thể lực trên một số đối tượng, chủ yếu là trẻ em lứa tuổi học đường2,3,4,5,6.. Nghiên cứu này được tiến hành
Trang 11 Đặt vấn đề
Dinh dưỡng ngày nay đã được coi là một trong
những chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội Sự phát
triển về thể chất của con người đồng thời cũng phản
ánh sự phát triển của kinh tế xã hội, điều này đã
được nêu lên từ năm 1829 bởi Louis- Réne Villermé
- Người sáng lập ra ngành y tế công cộng Pháp1 Sự
biến đổi của các chỉ số dinh dưỡng không những
chịu ảnh hưởng của những biến đổi sinh lý trong chu
kỳ vòng đời của con người mà còn chịu tác động của
xu thế phát triển của thời đại
Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về tình
hình thể lực và sự tăng trưởng thể lực trên một số
đối tượng, chủ yếu là trẻ em lứa tuổi học đường2,3,4,5,6
Nghiên cứu này được tiến hành như một bước
thăm dò sơ bộ tình hình phát triển thể lực của nhân
dân ở nông thôn Việt Nam ở các lứa tuổi khác nhau
cùng sinh sống trên một địa bàn thuần nhất, từ đó
cho phép ta thấy được một bức tranh toàn cảnh về
tình hình thể lực của các tầng lớp dân cư, những biến
đổi về thể chất do thời gian và ảnh hưởng của sự
phát triển kinh tế xã hội Kết quả nghiên cứu sẽ gợi
ý định hướng cho các can thiệp dinh dưỡng tại địa phương cũng như định hướng cho các nghiên cứu rộng hơn về tình hình thể lực có tính chất vùng miền trên phạm vi toàn quốc
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1.Thiết kế nghiên cứu - Địa điểm
Nghiên cứu mô tả dựa trên kết quả của một cuộc điều tra cắt ngang trên địa bàn 12 xã trung du thuộc tỉnh Phú Thọ tháng 8 năm 2004 Hầu hết các xã nằm bên tả sông Hồng và có trình độ phát triển kinh tế xã hội vào mức thấp so với mặt bằng chung của toàn tỉnh
2.2.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ dân cư từ 0 đến
60 tuổi có mặt tại thời điểm thu thập số liệu trên địa bàn nghiên cứu
2.3.Chọn mẫu
Tình hình phát triển thể lực ở nông thôn
trung du tỉnh Phú Thọ năm 2004
TS Từ Ngữ, ThS Huỳnh Nam Phương và cs
Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn nông thôn Phú Thọ nhằm đánh giá tình hình thể lực của các lớp tuổi ở cả hai giới nam và nữ trong một quần thể dân cư đồng thời tìm hiểu ảnh hưởng của
xu thế phát triển kinh tế xã hội đến tình trạng dinh dưỡng của người dân Số liệu nhân trắc được thu thập từ điều tra cắt ngang toàn bộ dân từ 0 đến 60 tuổi ở một đơn vị dân cư lựa chọn ngẫu nhiên ở 12 xã trung du Phú Thọ Kết quả cho thấy tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em và người trưởng thành trên địa bàn điều tra còn ở mức kém (suy dinh dưỡng nhẹ cân ở trẻ em 35.4%, thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ 20-29 tuổi 39.4%), chiều cao của người trưởng thành không có sự cải thiện đáng kể trong những năm qua
Từ khóa: tình trạng dinh dưỡng, trẻ em, người trưởng thành, Phú Thọ
This study was carried out in rural areas of Phu Tho province in order to evaluate the physical sta-tus of the population and to understand the impacts of socio-economic development tendency on its nutritional situation Anthropological data was collected from a cross-sectional survey involving people from 0 to 60 years of age randomly selected from 12 midland communes in Phu Tho The sur-vey findings show that there are a poor nutritional status of children, a chronic energy deficiency
of child-bearing age women in the age group of 20-29 years (39.4%) and there is no improvement with regards to the height of adults in rural areas.
Key words: nutrition status, children, adult, Phu Tho
Trang 2Xuất phát từ công thức để đánh giá thể lực của
trẻ em n = 4 σ2 / e2
Với độ lệch chuẩn σ = 5 cm qua các cuộc điều
tra trước và e = 0,5 cm thì số trẻ dưới 5 tuổi cần được
cân đo sẽ là 400 trẻ
Với ước tính số trẻ này bằng 10% dân số, tổng
số mẫu dân cư cần cân đo sẽ là 4000 người Cuộc
điều tra được tiến hành ở 12 xã trung du Mỗi xã
chọn 1 đến 2 thôn (mẫu ngẫu nhiên đơn) để có dân
số khoảng 450-500 người, trừ số vắng nhà (30-40%
dân số - theo điều tra sơ bộ), mỗi cụm sẽ đạt được
mẫu khoảng 350 người
2.4.Thu thập số liệu
- Cân nặng: cân nặng của trẻ dưới 2 tuổi được
thu thập bằng cân Seca lòng máng, cân nặng của trẻ
lớn và người lớn được thu thập bằng cân Seca điện
tử với độ chính xác là 0,1kg Các cân được kiểm tra
2 lần/ngày
- Chiều cao: Chiều dài nằm của trẻ dưới 2 tuổi
được đo bằng thước gỗ đo chiều dài nằm của
UNICEF Chiều cao đứng được đo bằng thước
microtoise Với độ chính xác là 0,1cm
- Tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi: dựa
theo phân loại của WHO (W/A, H/A, W/H), sử dụng
quần thể tham khảo NCHS
- Tình trạng dinh dưỡng tuổi học đường và người
trưởng thành: cân nặng, chiều cao trung bình, chỉ số
BMI (theo phân loại của WHO 1995)
2.5.Xử lý số liệu
Các số liệu được làm sạch và xử lý trên
EPI-INFO 6.0
3.Kết quả nghiên cứu
3.1.Mô tả mẫu
Tổng số người được điều tra thể lực là 4388
người thuộc 1371 hộ gia đình ở 12 xã trong đó nam
là 1878 và nữ là 2510, số trẻ em dưới 15 tuổi là 939
nam và 960 nữ Số người trong độ tuổi điều tra
không ra cân (không có hoặc có lí do, ví dụ như: ốm,
đi học, đi bộ đội, đi làm xa) chiếm tỷ lệ 30% tập
trung chủ yếu vào lứa tuổi lao động, nam nhiều hơn
nữ Trên thực tế nhân khẩu, tỷ lệ nam giới vắng nhà
khá cao nên cân bằng giới ở nông thôn Phú Thọ
đang bị thay đổi
3.2.Tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
Hình 1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi
phân theo nhóm tuổi
Ở trẻ dưới 5 tuổi trên địa bàn nghiên cứu, tỷ lệ nhẹ cân là 35.4%; tỷ lệ còi cọc là 31.5% ; và tỷ lệ
gày còm là 7.4% (Hình 1) Tỷ lệ SDD tăng cao đột
biến ở lứa tuổi 12-24 tháng (tỷ lệ nhẹ cân tăng từ 10.1% lên 35.5%) Sau 24 tháng, tỷ lệ SDD tiếp tục tăng, cho đến lớp tuổi 48-60 tháng thì cứ 2 trẻ là có
1 trẻ bị SDD
3.3.Thể lực của trẻ em 0-15 tuổi
Nhìn chung, trẻ nam có chiều cao tương đương với trẻ nữ, chỉ số trung bình có cao hơn một chút hoặc bằng so với trẻ nữ ở các lớp tuổi (trừ độ tuổi 12 - 13,
do ở độ tuổi này trẻ gái dậy thì trước trẻ trai và chiều cao của trẻ gái phát triển trước)
Hình 2 So sánh chiều cao trung bình của trẻ nam
0-15 tuổi ở Phú Thọ năm 2004 với các số liệu khác.
Hình 2 và 3 so sánh chiều cao trung bình của trẻ
em nam và nữ 0-15 tuổi theo kết quả điều tra tại Phú Thọ với các số liệu thể lực trước đây cũng của Phú Thọ7, với hằng số sinh học Việt Nam3và quần thể tham khảo NCHS
60 80 100 120 140 160 180
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15
tuoi
PT2004 VN1975 NCHS PT1999
tuổi (năm)
Trang 3Hình 3 So sánh chiều cao trung bình của trẻ nữ 0 -15
tuổi ở Phú Thọ năm 2004 với các số liệu khác
3.4.Tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành.
Tình trạng thiếu năng lượng trường diễn (CED)
với BMI <18,5 ở người trưởng thành (nam và nữ) ở
Phú Thọ phân bố theo lớp tuổi và so sánh với số liệu
thể lực của tổng điều tra toàn quốc năm 2006 được
thể hiện theo hình 4 dưới đây
Hình 4 Tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở người
trưởng thành Phú Thọ phân theo giới và
lớp tuổi, so sánh với số liệu toàn quốc
Hình 4 trên đây cho ta thấy ở nữ, tình trạng suy
dinh dưỡng trường diễn phổ biến ở lớp tuổi sinh đẻ
(20-49), cao nhất ở lứa tuổi 35-39 và có xu hướng
giảm dần sau 49 tuổi Tình trạng suy dinh dưỡng ở
nam gần như không có biến động trong lứa tuổi
trưởng thành (20-49), nhưng có xu hướng tăng cao
sau 49 tuổi Còn ở phụ nữ tình trạng suy dinh dưỡng
khá cao ở lứa tuổi 20 -29 (39.4%), BMI trung bình
đạt cao nhất ở lứa 21 tuổi (khoảng thời gian sinh con
đầu lòng) và giảm dần không có xu hướng hồi phục
trong giai đoạn này Trong độ tuổi này, không có
người phụ nữ nào có BMI đạt cao hơn 23
3.5.Tình trạng thừa cân:
Ở trẻ em dưới 5 tuổi trên địa bàn nông thôn Phú
Thọ, tình trạng thừa cân rất hiếm gặp (2/517 trẻ = 0.4%), mà chủ yếu vẫn là thể nhẹ cân với WAZ score trung bình chỉ đạt 1.52 (1.06) Hình 5 trình bày
sơ đồ biến thiên của chỉ số WAZ trung bình theo các lớp tháng tuổi Như vậy đối với trẻ em nông thôn Phú Thọ, suy dinh dưỡng thiếu cân vẫn là mối quan tâm hàng đầu
Hình 5 Biến thiên của chỉ số WAZ ở trẻ em 0-5
tuổi theo lớp tuổi
Hình 6 Tỷ lệ thừa cân ở Nam và Nữ trưởng thành
Phú Thọ , so sánh với kết quả tổng điều tra toàn quốc
Đối với người trưởng thành ở Phú Thọ, nếu tính tỷ lệ thừa cân theo phân loại của WHO (1995) với BMI 25 thì tỉ lệ thừa cân ở cả nam và nữ hầu như không đáng kể trong độ tuổi lao động (20-49 tuổi),
so sánh với các số liệu về tỷ lệ thừa cân toàn quốc6
4 Bàn luận
Nhìn lại phân bố mẫu, thấy rõ sự chênh lệnh về giới do phân bố nhân khẩu hiện tại ở nông thôn Phú Thọ Do thiếu công việc, thiếu đất, người dân nông thôn đổ xô ra thành thị kiếm việc làm và đa phần là nam giới khoẻ mạnh Sinh sống tại nông thôn chủ yếu là nam giới sức khoẻ không tốt, nhà neo người, còn đa phần là phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi Xét về tình hình dinh dưỡng, sự phân bố này ảnh hưởng đến các kết quả điều tra nhân trắc học trên thực địa
vì những đối tượng nam giới đi làm việc xa này
60
80
100
120
140
160
180
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15
Tuổi
PT2004 VN1975 NCHS PT1999
0
10
20
30
40
50
60
70
20-24 25-29 30-34 35-39 40-44 45-49 50-54 55-60
Lớp tuổi
Nam PT Nam VN
Nu PT
Nu VN
W AZ score
-0.45
-2.01 -1.86
-1.7 -1.66
-2.5 -2 -1.5 -1 -0.5
0 0-12 12-24 24-36 36-48 48-60
Tháng tuổi
0 2 4 6 8 10 12
20-24 25-29 30-34 35-39 40-44 45-49 50-54 55-60
Lớp tuổi
Nam PT
Nu PT Nam VN
Nu VN Tuổi (năm)
Lớp tuổi (năm)
Lớp tuổi (năm)
Trang 4thường là đối tượng bị bỏ sót trong các cuộc điều tra
(họ không có mặt ở nông thôn nhưng lại không đăng
ký nhân khẩu tại thành thị) Điều đó có khả năng
gây ra sai số về chọn mẫu và chiều cao trung bình
của nam giới trưởng thành tại nông thôn điều tra
được có thể có xu hướng thấp hơn so với chiều cao
thực Đứng trên góc độ kinh tế xã hội, sự mất cân
bằng về giới có khả năng ảnh hưởng nhiều đến sinh
hoạt và thu nhập của người dân nông thôn, và điều
đó lại có ảnh hưởng ngược lại đối với tình trạng
dinh dưỡng của họ, đặc biệt là đối tượng trẻ em và
phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ
Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi trên
địa bàn điều tra ở mức cao (W/A 35.4%; H/A
31.5%; W/H 7.4%) Tỷ lệ này cũng tương đương với
tỷ lệ chung của tỉnh Phú Thọ, tương ứng là 34.4%;
38.5% và 12.5% (theo Niên giám thống kê y tế
2001) Theo một mô hình chung về thay đổi tỷ lệ
suy dinh dưỡng theo lớp tuổi, suy dinh dưỡng tăng
cao ở trẻ 12-24 tháng và tiếp tục duy trì ở mức cao
Nguyên nhân chủ yếu có thể là do chuyển chế độ
ăn từ bú mẹ sang ăn bổ sung, thiếu chăm sóc trực
tiếp của mẹ và tình trạng nhiễm khuẩn cao cũng như
chăm sóc trẻ bệnh kém (W/H tăng từ 0.9% ở 1 tuổi
lên đến 14% ở 2 tuổi)
Chiều cao trẻ em nam và nữ Phú Thọ ở lứa tuổi
0-5 tuổi thấp hơn so với hằng số sinh học người Việt
Nam 1975 Chiều cao có sự cải thiện rõ rệt khi trẻ
bước vào tuổi học đường (6 tuổi)
So với năm 1984, 1993, 1999, chiều cao trẻ nam
và nữ ở Phú Thọ năm 2004 đều có sự cải thiện ở
lứa tuổi cấp một và cấp hai7,8 Ở thời điểm điều tra,
đã thấy được gia tốc tăng trưởng sau 10 năm (2004
so với 1993) khi sự cải thiện chiều cao có ý nghĩa
thống kê với (p<0.05) còn khi so sánh với số liệu
cách đây 5 năm (1999), cũng như so sánh số liệu của
khoảng cách 10 năm từ 1984 đến 1993 thì sự cải
thiện này còn chưa có ý nghĩa
Ở lứa tuổi cuối cấp 2 (ở nữ) và đầu cấp 3 (ở cả
nữ và nam), chiều cao trẻ em Phú Thọ năm 1999 có
phần tốt hơn so với trẻ cùng giới cùng tuổi năm
2004 Tuy nhiên, có một điểm cần lưu ý rằng, mẫu
điều tra năm 2004 là trẻ ở cộng đồng còn mẫu 1999
là trẻ em ở trường học, do đó có khả năng trẻ còn
có điều kiện đi học (yếu tố kinh tế, xã hội, gia đình)
có tình trạng dinh dưỡng tốt hơn trẻ ở cộng đồng nói
chung Để tìm hiểu rõ ràng hơn về sự liên quan giữa
học đường và thể lực, loại trừ yếu tố nhiễu do kinh
tế gia đình hoặc sức khoẻ, một cuộc điều tra trên đối tượng này với cỡ mẫu lớn hơn cần được tiến hành Phân tích các số liệu thể lực của người trưởng thành ở Phú Thọ, ta thấy chiều cao trung bình của nam là 162,2 cm, và của nữ là 152,4 cm Những con số này tương đương với kết quả tổng điều tra năm
2000 của toàn quốc (tương ứng là 162,3 cm và 152,3 cm)6 So sánh chiều cao trưởng thành của các lớp tuổi từ 20-24 đến 55-60 ở cả nam và nữ đều không thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các thế hệ Điều đó cho thấy gần như không có sự biến đổi về tầm vóc của người dân ở Phú Thọ trong khoảng thời gian cách đây từ 20 đến 60 năm Một điều đáng suy nghĩ là chiều cao của nữ giới bắt đầu tăng từ khi trẻ bước vào lứa tuổi dậy thì (ở địa bàn này là vào khoảng 12-13 tuổi), tăng nhanh nhất vào khoảng 12-18 tháng sau khi xuất hiện kinh nguyệt và kéo dài tiếp đến 7 năm sau, quan trọng hơn cả là vài năm sau khi chiều cao không phát triển nữa thì xương chậu vẫn còn phát triển thêm9 Với đặc điểm là tuổi dậy thì ở nông thôn thường muộn hơn so với thành thị, điều đó cũng tương ứng là chiều cao tối đa của phụ nữ ở nông thôn sẽ đạt được muộn hơn so với thành thị Nhưng có một thực tế là phụ nữ nông thôn thường kết hôn sớm hơn và tuổi sinh con đầu lòng trung bình là 20 - 21 tuổi, khi mà cấu trúc cơ thể vẫn chưa phát triển đến mức tối
đa để có thể mang thai và sinh con thuận lợi Điều đó ảnh hưởng đến kết quả của thai nghén (nguy cơ sinh con nhẹ cân, đẻ non cao) và gây những cản trở nhất định khi sinh (do mẹ thấp, khung chậu hẹp) Như vậy, can thiệp để tăng tuổi sinh con lần đầu ở nông thôn cần được quan tâm
Như vậy có thể nói rằng trên địa bàn nghiên cứu, suy dinh dưỡng ở hầu hết tuổi trong quần thể dân cư vẫn là phổ biến và cần được ưu tiên hàng đầu để giải quyết trong các vấn đề dinh dưỡng Tình trạng thừa cân ở cả trẻ em và người lớn lứa tuổi lao động chưa phải là vấn đề quan trọng
Tóm lại, chúng tôi thấy cần quan tâm đến việc giải quyết ưu tiên vấn đề suy dinh dưỡng ở phụ nữ tuổi sinh đẻ, chủ yếu ở nhóm 20-29 tuổi Vấn đề chọn mẫu trên cộng đồng so sánh với chọn mẫu tại các trường học, công sở cần phải đặt ra trong việc phân tích kết quả các cuộc điều tra về thể lực Trên thực tế, rất nảy sinh sai số chọn mẫu do người khoẻ mạnh thường đi làm xa, đi học, đi bộ đội nên vắng mặt tại địa phương vào thời điểm điều tra Số vắng
Trang 5mặt chiếm tới hơn 30% dân số (nam nhiều hơn nữ),
gợi ý một hình ảnh nông thôn thiếu việc làm và
thừa lao động Để đảm bảo sự cân bằng về gia đình
và dân số nông thôn, các biện pháp tạo công ăn việc làm tại chỗ để tăng thu nhập gia đình cần được đẩy mạnh ở nông thôn Phú Thọ
Tác giả: TS.BS Từ Ngữ, Trưởng khoa dinh dưỡng ứng
dụng, Viện Dinh dưỡng Địa chỉ: 48 Tăng Bạt Hổ, Hai Bà
Trưng, Hà Nội E.mail: tungu.nin@gmail.com
Ths.Bs Huỳnh Nam Phương, khoa dinh dưỡng ứng dụng,
Viện Dinh dưỡng E.mail: hnphuong@gmail.com
Tài liệu tham khảo
1 Lê Nam Trà 1997 Tăng trưởng trẻ em Trong "Bàn về
đặc điểm tăng người Việt Nam" Chương trình KHCN cấp
nhà nước Đề tài KX07-07 Hà Nội.
2 Huard P., Bigot A 1938 Les caractéristiques
anthropo-biologiques des Indochinois Trav De l'Inst Anat De l'
école sup de Méd de l' Ind Tome IV Hanoi: 15-46.
3 Bộ Y tế 1975 Hằng số sinh học của người Việt Nam Nhà
xuất bản Y học Hà Nội.
4 Hà Huy Khôi, Bùi Thị Như Thuận 1988 Assessment of
some physical measures of rural and Hanoi children at present
time Proceedings of the International conference on Applied
Nutrition National Institute of Nutrition UNICEF Hanoi.
5 Lê Thị Hợp 2006 Xu hướng tăng trưởng về thể lực và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ sơ sinh đến 17 tuổi - nghiên cứu theo chiều dọc tại Hà Nội Báo cáo Hội thảo khoa học
"Cải thiện dinh dưỡng và gia tăng tăng trưởng ở người Việt Nam" Hội Dinh dưỡng Hà Nội.
6 Bộ Y tế - Viện Dinh dưỡng 2002 Tổng điều tra dinh dưỡng 2000 Nhà xuất bản Y học Hà Nội.
7 Từ Ngữ, Huỳnh Nam Phương và cộng sự 1999 Tìm hiểu tình hình thể lực trẻ em lứa tuổi học đường Báo cáo Hội nghị khoa học Viện Dinh dưỡng Hà Nội.
8 Trần Văn Dần 1997 Một số nhận xét về sự phát triển thể lực của học sinh ở lứa tuổi từ 8-14 trên một số vùng dân cư miền Bắc Việt Nam trong thập kỷ 90 Trong: Lê Nam Trà (chủ biên) "Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam" Chương trình KHCN cấp nhà nước KX-07 Hà Nội
9 ACC/SCN 2001 What Works? A Review of the Efficacy and Effectiveness of Nutrition Interventions, Allen LH and Gillespie SR ACC/SCN: Geneva in collaboration with the Asian Development Bank, Manila: 16-22.