1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tài liệu Tình hình phát triển thể lực ở nông thôn trung du tỉnh Phú Thọ năm 2004 pot

5 493 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 122,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về tình hình thể lực và sự tăng trưởng thể lực trên một số đối tượng, chủ yếu là trẻ em lứa tuổi học đường2,3,4,5,6.. Nghiên cứu này được tiến hành

Trang 1

1 Đặt vấn đề

Dinh dưỡng ngày nay đã được coi là một trong

những chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội Sự phát

triển về thể chất của con người đồng thời cũng phản

ánh sự phát triển của kinh tế xã hội, điều này đã

được nêu lên từ năm 1829 bởi Louis- Réne Villermé

- Người sáng lập ra ngành y tế công cộng Pháp1 Sự

biến đổi của các chỉ số dinh dưỡng không những

chịu ảnh hưởng của những biến đổi sinh lý trong chu

kỳ vòng đời của con người mà còn chịu tác động của

xu thế phát triển của thời đại

Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về tình

hình thể lực và sự tăng trưởng thể lực trên một số

đối tượng, chủ yếu là trẻ em lứa tuổi học đường2,3,4,5,6

Nghiên cứu này được tiến hành như một bước

thăm dò sơ bộ tình hình phát triển thể lực của nhân

dân ở nông thôn Việt Nam ở các lứa tuổi khác nhau

cùng sinh sống trên một địa bàn thuần nhất, từ đó

cho phép ta thấy được một bức tranh toàn cảnh về

tình hình thể lực của các tầng lớp dân cư, những biến

đổi về thể chất do thời gian và ảnh hưởng của sự

phát triển kinh tế xã hội Kết quả nghiên cứu sẽ gợi

ý định hướng cho các can thiệp dinh dưỡng tại địa phương cũng như định hướng cho các nghiên cứu rộng hơn về tình hình thể lực có tính chất vùng miền trên phạm vi toàn quốc

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1.Thiết kế nghiên cứu - Địa điểm

Nghiên cứu mô tả dựa trên kết quả của một cuộc điều tra cắt ngang trên địa bàn 12 xã trung du thuộc tỉnh Phú Thọ tháng 8 năm 2004 Hầu hết các xã nằm bên tả sông Hồng và có trình độ phát triển kinh tế xã hội vào mức thấp so với mặt bằng chung của toàn tỉnh

2.2.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ dân cư từ 0 đến

60 tuổi có mặt tại thời điểm thu thập số liệu trên địa bàn nghiên cứu

2.3.Chọn mẫu

Tình hình phát triển thể lực ở nông thôn

trung du tỉnh Phú Thọ năm 2004

TS Từ Ngữ, ThS Huỳnh Nam Phương và cs

Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn nông thôn Phú Thọ nhằm đánh giá tình hình thể lực của các lớp tuổi ở cả hai giới nam và nữ trong một quần thể dân cư đồng thời tìm hiểu ảnh hưởng của

xu thế phát triển kinh tế xã hội đến tình trạng dinh dưỡng của người dân Số liệu nhân trắc được thu thập từ điều tra cắt ngang toàn bộ dân từ 0 đến 60 tuổi ở một đơn vị dân cư lựa chọn ngẫu nhiên ở 12 xã trung du Phú Thọ Kết quả cho thấy tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em và người trưởng thành trên địa bàn điều tra còn ở mức kém (suy dinh dưỡng nhẹ cân ở trẻ em 35.4%, thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ 20-29 tuổi 39.4%), chiều cao của người trưởng thành không có sự cải thiện đáng kể trong những năm qua

Từ khóa: tình trạng dinh dưỡng, trẻ em, người trưởng thành, Phú Thọ

This study was carried out in rural areas of Phu Tho province in order to evaluate the physical sta-tus of the population and to understand the impacts of socio-economic development tendency on its nutritional situation Anthropological data was collected from a cross-sectional survey involving people from 0 to 60 years of age randomly selected from 12 midland communes in Phu Tho The sur-vey findings show that there are a poor nutritional status of children, a chronic energy deficiency

of child-bearing age women in the age group of 20-29 years (39.4%) and there is no improvement with regards to the height of adults in rural areas.

Key words: nutrition status, children, adult, Phu Tho

Trang 2

Xuất phát từ công thức để đánh giá thể lực của

trẻ em n = 4 σ2 / e2

Với độ lệch chuẩn σ = 5 cm qua các cuộc điều

tra trước và e = 0,5 cm thì số trẻ dưới 5 tuổi cần được

cân đo sẽ là 400 trẻ

Với ước tính số trẻ này bằng 10% dân số, tổng

số mẫu dân cư cần cân đo sẽ là 4000 người Cuộc

điều tra được tiến hành ở 12 xã trung du Mỗi xã

chọn 1 đến 2 thôn (mẫu ngẫu nhiên đơn) để có dân

số khoảng 450-500 người, trừ số vắng nhà (30-40%

dân số - theo điều tra sơ bộ), mỗi cụm sẽ đạt được

mẫu khoảng 350 người

2.4.Thu thập số liệu

- Cân nặng: cân nặng của trẻ dưới 2 tuổi được

thu thập bằng cân Seca lòng máng, cân nặng của trẻ

lớn và người lớn được thu thập bằng cân Seca điện

tử với độ chính xác là 0,1kg Các cân được kiểm tra

2 lần/ngày

- Chiều cao: Chiều dài nằm của trẻ dưới 2 tuổi

được đo bằng thước gỗ đo chiều dài nằm của

UNICEF Chiều cao đứng được đo bằng thước

microtoise Với độ chính xác là 0,1cm

- Tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi: dựa

theo phân loại của WHO (W/A, H/A, W/H), sử dụng

quần thể tham khảo NCHS

- Tình trạng dinh dưỡng tuổi học đường và người

trưởng thành: cân nặng, chiều cao trung bình, chỉ số

BMI (theo phân loại của WHO 1995)

2.5.Xử lý số liệu

Các số liệu được làm sạch và xử lý trên

EPI-INFO 6.0

3.Kết quả nghiên cứu

3.1.Mô tả mẫu

Tổng số người được điều tra thể lực là 4388

người thuộc 1371 hộ gia đình ở 12 xã trong đó nam

là 1878 và nữ là 2510, số trẻ em dưới 15 tuổi là 939

nam và 960 nữ Số người trong độ tuổi điều tra

không ra cân (không có hoặc có lí do, ví dụ như: ốm,

đi học, đi bộ đội, đi làm xa) chiếm tỷ lệ 30% tập

trung chủ yếu vào lứa tuổi lao động, nam nhiều hơn

nữ Trên thực tế nhân khẩu, tỷ lệ nam giới vắng nhà

khá cao nên cân bằng giới ở nông thôn Phú Thọ

đang bị thay đổi

3.2.Tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi

Hình 1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi

phân theo nhóm tuổi

Ở trẻ dưới 5 tuổi trên địa bàn nghiên cứu, tỷ lệ nhẹ cân là 35.4%; tỷ lệ còi cọc là 31.5% ; và tỷ lệ

gày còm là 7.4% (Hình 1) Tỷ lệ SDD tăng cao đột

biến ở lứa tuổi 12-24 tháng (tỷ lệ nhẹ cân tăng từ 10.1% lên 35.5%) Sau 24 tháng, tỷ lệ SDD tiếp tục tăng, cho đến lớp tuổi 48-60 tháng thì cứ 2 trẻ là có

1 trẻ bị SDD

3.3.Thể lực của trẻ em 0-15 tuổi

Nhìn chung, trẻ nam có chiều cao tương đương với trẻ nữ, chỉ số trung bình có cao hơn một chút hoặc bằng so với trẻ nữ ở các lớp tuổi (trừ độ tuổi 12 - 13,

do ở độ tuổi này trẻ gái dậy thì trước trẻ trai và chiều cao của trẻ gái phát triển trước)

Hình 2 So sánh chiều cao trung bình của trẻ nam

0-15 tuổi ở Phú Thọ năm 2004 với các số liệu khác.

Hình 2 và 3 so sánh chiều cao trung bình của trẻ

em nam và nữ 0-15 tuổi theo kết quả điều tra tại Phú Thọ với các số liệu thể lực trước đây cũng của Phú Thọ7, với hằng số sinh học Việt Nam3và quần thể tham khảo NCHS

60 80 100 120 140 160 180

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15

tuoi

PT2004 VN1975 NCHS PT1999

tuổi (năm)

Trang 3

Hình 3 So sánh chiều cao trung bình của trẻ nữ 0 -15

tuổi ở Phú Thọ năm 2004 với các số liệu khác

3.4.Tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành.

Tình trạng thiếu năng lượng trường diễn (CED)

với BMI <18,5 ở người trưởng thành (nam và nữ) ở

Phú Thọ phân bố theo lớp tuổi và so sánh với số liệu

thể lực của tổng điều tra toàn quốc năm 2006 được

thể hiện theo hình 4 dưới đây

Hình 4 Tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở người

trưởng thành Phú Thọ phân theo giới và

lớp tuổi, so sánh với số liệu toàn quốc

Hình 4 trên đây cho ta thấy ở nữ, tình trạng suy

dinh dưỡng trường diễn phổ biến ở lớp tuổi sinh đẻ

(20-49), cao nhất ở lứa tuổi 35-39 và có xu hướng

giảm dần sau 49 tuổi Tình trạng suy dinh dưỡng ở

nam gần như không có biến động trong lứa tuổi

trưởng thành (20-49), nhưng có xu hướng tăng cao

sau 49 tuổi Còn ở phụ nữ tình trạng suy dinh dưỡng

khá cao ở lứa tuổi 20 -29 (39.4%), BMI trung bình

đạt cao nhất ở lứa 21 tuổi (khoảng thời gian sinh con

đầu lòng) và giảm dần không có xu hướng hồi phục

trong giai đoạn này Trong độ tuổi này, không có

người phụ nữ nào có BMI đạt cao hơn 23

3.5.Tình trạng thừa cân:

Ở trẻ em dưới 5 tuổi trên địa bàn nông thôn Phú

Thọ, tình trạng thừa cân rất hiếm gặp (2/517 trẻ = 0.4%), mà chủ yếu vẫn là thể nhẹ cân với WAZ score trung bình chỉ đạt 1.52 (1.06) Hình 5 trình bày

sơ đồ biến thiên của chỉ số WAZ trung bình theo các lớp tháng tuổi Như vậy đối với trẻ em nông thôn Phú Thọ, suy dinh dưỡng thiếu cân vẫn là mối quan tâm hàng đầu

Hình 5 Biến thiên của chỉ số WAZ ở trẻ em 0-5

tuổi theo lớp tuổi

Hình 6 Tỷ lệ thừa cân ở Nam và Nữ trưởng thành

Phú Thọ , so sánh với kết quả tổng điều tra toàn quốc

Đối với người trưởng thành ở Phú Thọ, nếu tính tỷ lệ thừa cân theo phân loại của WHO (1995) với BMI 25 thì tỉ lệ thừa cân ở cả nam và nữ hầu như không đáng kể trong độ tuổi lao động (20-49 tuổi),

so sánh với các số liệu về tỷ lệ thừa cân toàn quốc6

4 Bàn luận

Nhìn lại phân bố mẫu, thấy rõ sự chênh lệnh về giới do phân bố nhân khẩu hiện tại ở nông thôn Phú Thọ Do thiếu công việc, thiếu đất, người dân nông thôn đổ xô ra thành thị kiếm việc làm và đa phần là nam giới khoẻ mạnh Sinh sống tại nông thôn chủ yếu là nam giới sức khoẻ không tốt, nhà neo người, còn đa phần là phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi Xét về tình hình dinh dưỡng, sự phân bố này ảnh hưởng đến các kết quả điều tra nhân trắc học trên thực địa

vì những đối tượng nam giới đi làm việc xa này

60

80

100

120

140

160

180

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15

Tuổi

PT2004 VN1975 NCHS PT1999

0

10

20

30

40

50

60

70

20-24 25-29 30-34 35-39 40-44 45-49 50-54 55-60

Lớp tuổi

Nam PT Nam VN

Nu PT

Nu VN

W AZ score

-0.45

-2.01 -1.86

-1.7 -1.66

-2.5 -2 -1.5 -1 -0.5

0 0-12 12-24 24-36 36-48 48-60

Tháng tuổi

0 2 4 6 8 10 12

20-24 25-29 30-34 35-39 40-44 45-49 50-54 55-60

Lớp tuổi

Nam PT

Nu PT Nam VN

Nu VN Tuổi (năm)

Lớp tuổi (năm)

Lớp tuổi (năm)

Trang 4

thường là đối tượng bị bỏ sót trong các cuộc điều tra

(họ không có mặt ở nông thôn nhưng lại không đăng

ký nhân khẩu tại thành thị) Điều đó có khả năng

gây ra sai số về chọn mẫu và chiều cao trung bình

của nam giới trưởng thành tại nông thôn điều tra

được có thể có xu hướng thấp hơn so với chiều cao

thực Đứng trên góc độ kinh tế xã hội, sự mất cân

bằng về giới có khả năng ảnh hưởng nhiều đến sinh

hoạt và thu nhập của người dân nông thôn, và điều

đó lại có ảnh hưởng ngược lại đối với tình trạng

dinh dưỡng của họ, đặc biệt là đối tượng trẻ em và

phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ

Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi trên

địa bàn điều tra ở mức cao (W/A 35.4%; H/A

31.5%; W/H 7.4%) Tỷ lệ này cũng tương đương với

tỷ lệ chung của tỉnh Phú Thọ, tương ứng là 34.4%;

38.5% và 12.5% (theo Niên giám thống kê y tế

2001) Theo một mô hình chung về thay đổi tỷ lệ

suy dinh dưỡng theo lớp tuổi, suy dinh dưỡng tăng

cao ở trẻ 12-24 tháng và tiếp tục duy trì ở mức cao

Nguyên nhân chủ yếu có thể là do chuyển chế độ

ăn từ bú mẹ sang ăn bổ sung, thiếu chăm sóc trực

tiếp của mẹ và tình trạng nhiễm khuẩn cao cũng như

chăm sóc trẻ bệnh kém (W/H tăng từ 0.9% ở 1 tuổi

lên đến 14% ở 2 tuổi)

Chiều cao trẻ em nam và nữ Phú Thọ ở lứa tuổi

0-5 tuổi thấp hơn so với hằng số sinh học người Việt

Nam 1975 Chiều cao có sự cải thiện rõ rệt khi trẻ

bước vào tuổi học đường (6 tuổi)

So với năm 1984, 1993, 1999, chiều cao trẻ nam

và nữ ở Phú Thọ năm 2004 đều có sự cải thiện ở

lứa tuổi cấp một và cấp hai7,8 Ở thời điểm điều tra,

đã thấy được gia tốc tăng trưởng sau 10 năm (2004

so với 1993) khi sự cải thiện chiều cao có ý nghĩa

thống kê với (p<0.05) còn khi so sánh với số liệu

cách đây 5 năm (1999), cũng như so sánh số liệu của

khoảng cách 10 năm từ 1984 đến 1993 thì sự cải

thiện này còn chưa có ý nghĩa

Ở lứa tuổi cuối cấp 2 (ở nữ) và đầu cấp 3 (ở cả

nữ và nam), chiều cao trẻ em Phú Thọ năm 1999 có

phần tốt hơn so với trẻ cùng giới cùng tuổi năm

2004 Tuy nhiên, có một điểm cần lưu ý rằng, mẫu

điều tra năm 2004 là trẻ ở cộng đồng còn mẫu 1999

là trẻ em ở trường học, do đó có khả năng trẻ còn

có điều kiện đi học (yếu tố kinh tế, xã hội, gia đình)

có tình trạng dinh dưỡng tốt hơn trẻ ở cộng đồng nói

chung Để tìm hiểu rõ ràng hơn về sự liên quan giữa

học đường và thể lực, loại trừ yếu tố nhiễu do kinh

tế gia đình hoặc sức khoẻ, một cuộc điều tra trên đối tượng này với cỡ mẫu lớn hơn cần được tiến hành Phân tích các số liệu thể lực của người trưởng thành ở Phú Thọ, ta thấy chiều cao trung bình của nam là 162,2 cm, và của nữ là 152,4 cm Những con số này tương đương với kết quả tổng điều tra năm

2000 của toàn quốc (tương ứng là 162,3 cm và 152,3 cm)6 So sánh chiều cao trưởng thành của các lớp tuổi từ 20-24 đến 55-60 ở cả nam và nữ đều không thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các thế hệ Điều đó cho thấy gần như không có sự biến đổi về tầm vóc của người dân ở Phú Thọ trong khoảng thời gian cách đây từ 20 đến 60 năm Một điều đáng suy nghĩ là chiều cao của nữ giới bắt đầu tăng từ khi trẻ bước vào lứa tuổi dậy thì (ở địa bàn này là vào khoảng 12-13 tuổi), tăng nhanh nhất vào khoảng 12-18 tháng sau khi xuất hiện kinh nguyệt và kéo dài tiếp đến 7 năm sau, quan trọng hơn cả là vài năm sau khi chiều cao không phát triển nữa thì xương chậu vẫn còn phát triển thêm9 Với đặc điểm là tuổi dậy thì ở nông thôn thường muộn hơn so với thành thị, điều đó cũng tương ứng là chiều cao tối đa của phụ nữ ở nông thôn sẽ đạt được muộn hơn so với thành thị Nhưng có một thực tế là phụ nữ nông thôn thường kết hôn sớm hơn và tuổi sinh con đầu lòng trung bình là 20 - 21 tuổi, khi mà cấu trúc cơ thể vẫn chưa phát triển đến mức tối

đa để có thể mang thai và sinh con thuận lợi Điều đó ảnh hưởng đến kết quả của thai nghén (nguy cơ sinh con nhẹ cân, đẻ non cao) và gây những cản trở nhất định khi sinh (do mẹ thấp, khung chậu hẹp) Như vậy, can thiệp để tăng tuổi sinh con lần đầu ở nông thôn cần được quan tâm

Như vậy có thể nói rằng trên địa bàn nghiên cứu, suy dinh dưỡng ở hầu hết tuổi trong quần thể dân cư vẫn là phổ biến và cần được ưu tiên hàng đầu để giải quyết trong các vấn đề dinh dưỡng Tình trạng thừa cân ở cả trẻ em và người lớn lứa tuổi lao động chưa phải là vấn đề quan trọng

Tóm lại, chúng tôi thấy cần quan tâm đến việc giải quyết ưu tiên vấn đề suy dinh dưỡng ở phụ nữ tuổi sinh đẻ, chủ yếu ở nhóm 20-29 tuổi Vấn đề chọn mẫu trên cộng đồng so sánh với chọn mẫu tại các trường học, công sở cần phải đặt ra trong việc phân tích kết quả các cuộc điều tra về thể lực Trên thực tế, rất nảy sinh sai số chọn mẫu do người khoẻ mạnh thường đi làm xa, đi học, đi bộ đội nên vắng mặt tại địa phương vào thời điểm điều tra Số vắng

Trang 5

mặt chiếm tới hơn 30% dân số (nam nhiều hơn nữ),

gợi ý một hình ảnh nông thôn thiếu việc làm và

thừa lao động Để đảm bảo sự cân bằng về gia đình

và dân số nông thôn, các biện pháp tạo công ăn việc làm tại chỗ để tăng thu nhập gia đình cần được đẩy mạnh ở nông thôn Phú Thọ

Tác giả: TS.BS Từ Ngữ, Trưởng khoa dinh dưỡng ứng

dụng, Viện Dinh dưỡng Địa chỉ: 48 Tăng Bạt Hổ, Hai Bà

Trưng, Hà Nội E.mail: tungu.nin@gmail.com

Ths.Bs Huỳnh Nam Phương, khoa dinh dưỡng ứng dụng,

Viện Dinh dưỡng E.mail: hnphuong@gmail.com

Tài liệu tham khảo

1 Lê Nam Trà 1997 Tăng trưởng trẻ em Trong "Bàn về

đặc điểm tăng người Việt Nam" Chương trình KHCN cấp

nhà nước Đề tài KX07-07 Hà Nội.

2 Huard P., Bigot A 1938 Les caractéristiques

anthropo-biologiques des Indochinois Trav De l'Inst Anat De l'

école sup de Méd de l' Ind Tome IV Hanoi: 15-46.

3 Bộ Y tế 1975 Hằng số sinh học của người Việt Nam Nhà

xuất bản Y học Hà Nội.

4 Hà Huy Khôi, Bùi Thị Như Thuận 1988 Assessment of

some physical measures of rural and Hanoi children at present

time Proceedings of the International conference on Applied

Nutrition National Institute of Nutrition UNICEF Hanoi.

5 Lê Thị Hợp 2006 Xu hướng tăng trưởng về thể lực và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ sơ sinh đến 17 tuổi - nghiên cứu theo chiều dọc tại Hà Nội Báo cáo Hội thảo khoa học

"Cải thiện dinh dưỡng và gia tăng tăng trưởng ở người Việt Nam" Hội Dinh dưỡng Hà Nội.

6 Bộ Y tế - Viện Dinh dưỡng 2002 Tổng điều tra dinh dưỡng 2000 Nhà xuất bản Y học Hà Nội.

7 Từ Ngữ, Huỳnh Nam Phương và cộng sự 1999 Tìm hiểu tình hình thể lực trẻ em lứa tuổi học đường Báo cáo Hội nghị khoa học Viện Dinh dưỡng Hà Nội.

8 Trần Văn Dần 1997 Một số nhận xét về sự phát triển thể lực của học sinh ở lứa tuổi từ 8-14 trên một số vùng dân cư miền Bắc Việt Nam trong thập kỷ 90 Trong: Lê Nam Trà (chủ biên) "Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam" Chương trình KHCN cấp nhà nước KX-07 Hà Nội

9 ACC/SCN 2001 What Works? A Review of the Efficacy and Effectiveness of Nutrition Interventions, Allen LH and Gillespie SR ACC/SCN: Geneva in collaboration with the Asian Development Bank, Manila: 16-22.

Ngày đăng: 27/02/2014, 07:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.  Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi - Tài liệu Tình hình phát triển thể lực ở nông thôn trung du tỉnh Phú Thọ năm 2004 pot
Hình 1. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi (Trang 2)
Hình 2. So sánh chiều cao trung bình của trẻ nam - Tài liệu Tình hình phát triển thể lực ở nông thôn trung du tỉnh Phú Thọ năm 2004 pot
Hình 2. So sánh chiều cao trung bình của trẻ nam (Trang 2)
Hình 4.  Tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở người - Tài liệu Tình hình phát triển thể lực ở nông thôn trung du tỉnh Phú Thọ năm 2004 pot
Hình 4. Tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở người (Trang 3)
Hình 3. So sánh chiều cao trung bình của trẻ nữ 0 -15 - Tài liệu Tình hình phát triển thể lực ở nông thôn trung du tỉnh Phú Thọ năm 2004 pot
Hình 3. So sánh chiều cao trung bình của trẻ nữ 0 -15 (Trang 3)
Sơ đồ biến thiên của chỉ số WAZ trung bình theo các lớp tháng tuổi. Như vậy đối với trẻ em nông thôn Phú Thọ, suy dinh dưỡng thiếu cân vẫn là mối quan tâm hàng đầu. - Tài liệu Tình hình phát triển thể lực ở nông thôn trung du tỉnh Phú Thọ năm 2004 pot
Sơ đồ bi ến thiên của chỉ số WAZ trung bình theo các lớp tháng tuổi. Như vậy đối với trẻ em nông thôn Phú Thọ, suy dinh dưỡng thiếu cân vẫn là mối quan tâm hàng đầu (Trang 3)
Hình 4 trên đây cho ta thấy ở nữ, tình trạng suy - Tài liệu Tình hình phát triển thể lực ở nông thôn trung du tỉnh Phú Thọ năm 2004 pot
Hình 4 trên đây cho ta thấy ở nữ, tình trạng suy (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w