“BÀI THU HOẠCH LỚP BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ QUẢN LÝ CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP” NĂM 2022 VÀ CÁC TÀI LIỆU TRẮC NGHIỆM, BÀI GIẢNG PPT CÁC MÔN CHUYÊN NGÀNH Y DƯỢC HAY NHẤT CÓ TẠI “TÀI LIỆU NGÀNH Y DƯỢC HAY NHẤT”. DÀNH CHO CÁN BỘ QUẢN LÝ, GIẢNG VIÊN, SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH Y DƯỢC VÀ CÁC NGÀNH KHÁC, GIÚP CÁN BỘ QUẢN LÝ, GIẢNG VIÊN, SINH VIÊN HỆ THỐNG, LÀM BÀI THU HOẠCH, ÔN TẬP VÀ HỌC TỐT KHI XEM TÀI LIỆU “BÀI THU HOẠCH LỚP BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ QUẢN LÝ CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP”
Trang 11 :
Câu 1: Theo vị trí việc làm của Thầy/Cô, giai đoạn từ năm 2022 đến năm 2030 có những cơ hội và thách thức nào? Phân tích nguyên nhân của những cơ hội và thách thức này?
Trả lời:
Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) với sứ mệnh đào tạo, bồi dưỡng, cung cấp nhân lực có kỹ năng cho lực lượng lao động Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần tăng năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng GDP, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đồng thời góp phần thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về “Phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động” và “Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới”
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nêu rõ định
hướng phát triển đất nước ta 10 năm tới và các năm tiếp theo là:“Đến năm 2025,
là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp Đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao Đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao" Đảng ta một lần nữa xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn
nhân lực chất lượng cao là một trong ba đột phá chiến lược
Ngày nay, kỹ năng lao động ngày càng được xác định là nhân tố quan trọng trong các nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng kinh tế đất nước Lần đầu tiên Thủ tướng Chính phủ đã quyết định lấy ngày 4 tháng 10 hằng năm là “Ngày Kỹ năng lao động Việt Nam” và ban hành Chỉ thị riêng về đẩy mạnh phát triển nhân lực có kỹ năng nghề, góp phần nâng cao năng suất lao động và tăng năng lực cạnh tranh quốc gia trong tình hình mới
Trong những năm qua, GDNN luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn xã hội, đã không ngừng đổi mới và có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là trong công tác quản lý nhà nước Chất lượng và hiệu quả đào tạo được nâng lên, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sử dụng nhân lực
có kỹ năng của doanh nghiệp cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xu thế của Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (Công nghiệp 4.0) đòi hỏi phải có đầy đủ nguồn nhân lực
về số lượng, đảm bảo về chất lượng và có trình độ cao Thêm vào đó, những vấn
đề bất cập hiện nay đối với GDNN thể hiện ở tình trạng mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ đào tạo và cơ cấu vùng miền Vấn đề này tác động bất lợi tới công tác dự báo nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
TRƯỜNG TRUNG CẤP Y TẾ
BÀI THU HOẠCH
LỚP BỒI DƯỠNG “NGHIỆP VỤ QUẢN LÝ CƠ SỞ
GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP”
Họ và tên:
Ngày tháng năm sinh:
Chức danh, chức vụ:
Đơn vị công tác: Trường Trung cấp Y tế
….…, tháng 07 năm 2022
Trang 2đất nước và hội nhập quốc tế Tác động trực tiếp tới đối tượng tham gia GDNN trong dự báo nhu cầu việc làm và nhu cầu đào tạo
GDNN giai đoạn từ năm 2022 đến năm 2030 có nhiều khó khăn, thách thức và cũng có không ít những cơ hội để nâng cao, phát triển do các nguyên nhân sau:
1 Về vấn đề tuyển sinh đối với giáo dục nghề nghiệp
1.1 Thách thức
Với công tác tuyển sinh, mặc dù Luật GDNN có chiều hướng rất thuận lợi cho công tác tuyển sinh nhưng nếu các cấp chính quyền, các trường THCS, THPT không tích cực giải quyết phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp vào học nghề một cách bài bản thì các cơ sở đào tạo nghề khó mà tuyển đủ học sinh Thí sinh phải đối mặt với nhiều lựa chọn nhà đào tạo và ngành nghề đào tạo
Nhận thức của cấp ủy Đảng, chính quyền và các cơ quan chức năng về GDNN ở một số địa phương chưa đầy đủ, thậm chí còn coi nhẹ; một bộ phận xã hội vẫn chưa nhận thức đúng về vai trò quan trọng của GDNN trong đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội; tâm lý coi trọng bằng cấp vẫn còn nặng nề; việc định hướng nghề nghiệp, phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS, THPT không đạt mục tiêu đề ra
Cơ cấu trình độ đào tạo trong GDNN vẫn còn chưa hợp lý, chủ yếu vẫn là đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên, ngắn hạn (chiếm 75%), trình độ trung cấp, cao đẳng chỉ chiếm khoảng 25% trên tổng số tuyển sinh
Công tác tuyển sinh trong GDNN vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt đối với những ngành, nghề học nặng nhọc độc hại, ngành nghề đòi hỏi trình độ năng khiếu
Riêng đối với ngành Y tế, ngày 07/10/2015 Bộ Y tế, Bộ Nội vụ đã ban hành
03 Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y; Thông tư liên tịch số 27/2015/TTLT-BYT-BNV quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp dược và Thông tư liên tịch số 28/2015/TTLT-BYT-BNV quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp dinh dưỡng Các thông tư này tạo ra dư luận cho rằng việc ban hành quy định này là hình thức khai tử đối với các trường trung cấp
y, nhân viên y tế có trình độ trung học Cùng với đó, các nhân viên y tế có mã số trung học sẽ phải đi học hàm thụ thêm để lên trình độ từ cao đẳng trở lên Bắt đầu
từ 1/1/2025 sẽ không còn mã cán bộ có trình độ trung cấp y tế như hiện nay Đây
là thách thức và cũng là khó khăn vô cùng lớn đối với các trường Trung cấp Y tế cả nước và Trường Trung cấp Y tế Long An nói riêng sẽ rất khó tuyển sinh vì khi tốt nghiệp các đơn vị tuyển dụng trong hệ thống nhà nước công (các Bệnh viện, Trung tâm Y tế ) không tuyển dụng hệ trung cấp Với thông tin này các học sinh THPT sau khi tốt nghiệp muốn tham gia vào ngành Y bắt buộc phải chọn học nhóm ngành sức khoẻ từ hệ cao đẳng trở lên
Trang 3Đặc thù của Trường Trung cấp Y tế chỉ tuyển sinh đối tượng là học sinh đã tốt nghiệp Trung học phổ thông, không giống các trường trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp có phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp từ hệ THCS nên đối tượng tuyển sinh bị thu hẹp hơn
1.2 Cơ hội
Theo thống kê đến tháng 6/2021, mạng lưới cơ sở GDNN trên cả nước có 1.909 cơ sở GDNN (409 trường cao đẳng, 442 trường trung cấp và 1.058 trung tâm GDNN, trung tâm GDNN-GDTX); tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
đã có trường trung cấp, trường cao đẳng; đã quy hoạch mạng lưới trường nghề chất lượng cao và các nghề trọng điểm quốc gia, khu vực, quốc tế theo từng cơ sở GDNN, từng vùng, địa phương và trình độ đào tạo; hình thành và phát triển được một số trường nghề đặc thù để đào tạo cho người khuyết tật, người dân tộc thiểu số
và trường đào tạo các ngành năng khiếu (văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao), trường chính trị
Công tác tuyên truyền về GDNN được chú trọng, nhận thức của người học, người dân và xã hội về GDNN đã có những chuyển biến nhất định; kết quả tuyển sinh trong 2 năm 2017, 2018 đã bắt đầu đạt và vượt chỉ tiêu đề ra Một phần do hệ thống GDNN đã vận hành ổn định Trong 3 năm (2017 - 2019) đã tuyển được hơn 2,2 triệu người/năm, trong đó: tuyển sinh CĐ, TC hơn 540 ngàn người/năm; tuyển sinh trình độ sơ cấp (SC) và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác hơn 1,6 triệu người/trên năm, đạt từ 100,2 - 100,5%
Trong đó, nhiều trường cao đẳng đã thực hiện tuyển sinh theo mô hình 9+ với đối tượng tốt nghiệp trung học cơ sở để học liên thông lên trình độ cao đẳng Người học vừa được học văn hóa THPT vừa được đào tạo nghề nghiệp Đây là mô hình đã triển khai thành công ở nhiều nước trên thế giới, giúp rút ngắn thời gian và chi phí đào tạo để người học sớm tham gia thị trường lao động Đây đang được xem là giải pháp đột phá cho GDNN trong thời gian tới và là hướng đi hiệu quả trong tháo gỡ nút thắt phân luồng sau trung học cơ sở tại Việt Nam
Phấn đấu đến năm 2025 thu hút 40 - 45% học sinh tốt nghiệp trung học cơ
sở và trung học phổ thông vào hệ thống giáo dục nghề nghiệp; học sinh, sinh viên
nữ đạt trên 30% trong tổng chỉ tiêu tuyển sinh mới
Phấn đấu đến năm 2030 thu hút 50 - 55% học sinh tốt nghiệp trung học cơ
sở và trung học phổ thông vào hệ thống giáo dục nghề nghiệp; học sinh, sinh viên
nữ đạt trên 40% trong tổng chỉ tiêu tuyển sinh mới
Nhiều trường Trung cấp đang phấn đấu nâng cấp lên Cao đẳng, đặc biệt là các trường Trung cấp Y tế để thuận lợi hơn trong công tác tuyển sinh và phù hợp với định hướng phát triển trong bối cảnh hội nhập với khu vực và quốc tế hiện nay
2 Về vấn đề đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp
2.1 Thách thức
Nhìn chung, về đào tạo nghề hiện nay, có thể chỉ ra nhiều vấn đề bất cập đó
là chương trình đào tạo nghề còn thiếu tính cập nhật, chất lượng chưa đáp ứng
Trang 4được yêu cầu về kiến thức và kỹ năng thực hành cho thị trường lao động Quy mô
và chất lượng đào tạo nghề vẫn còn thấp, trình độ ngoại ngữ của người tốt nghiệp còn yếu Nguồn đầu vào cho đào tạo nghề là học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông chưa được phân luồng một cách khoa học và hợp lý
Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn nhiều bất cập, chưa phân bố hợp
lý giữa các vùng, miền, chưa quy hoạch tới từng ngành, nghề, cấp trình độ đào tạo Việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp chưa được quan tâm đúng mức Cơ sở vật chất, thiết bị của nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu
Hiệu quả và hiệu lực của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực GDNN chưa cao; năng lực của cơ quan quản lý nhà nước về GDNN ở địa phương còn hạn chế; đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về GDNN thiếu về số lượng, chưa chuyên nghiệp và một bộ phận chưa đạt chuẩn; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản
lý, đào tạo trong lĩnh vực GDNN chưa đáp ứng được yêu cầu
Chương trình, giáo trình đào tạo nghề còn nhiều nội dung mang tính hình thức, chưa được thường xuyên cập nhật, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động Chất lượng, hiệu quả đào tạo của nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn thấp, chưa gắn bó hữu cơ với nhu cầu nhân lực của từng ngành, từng địa phương; mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp còn lỏng lẻo; học sinh, sinh viên tốt nghiệp còn yếu về ngoại ngữ và các kỹ năng mềm Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia chậm được ban hành; chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động
Thực tế đang đặt ra những đòi hỏi bức thiết về việc cần phải đổi mới cơ bản
và toàn diện, tạo sự đột phá về chất lượng đào tạo giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là đào tạo chất lượng cao; phát triển quy mô tương ứng với các điều kiện đảm bảo chất lượng; đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa các cấp trình độ đào tạo; xây dựng hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi đối tượng người học; phát triển các trường chất lượng cao, nghề trọng điểm quốc gia, khu vực và quốc tế Đổi mới giáo dục nghề nghiệp theo hướng gắn chặt chẽ với thị trường lao động và xã hội, chuyển mạnh đào tạo gắn kết với việc làm và tạo việc làm bền vững, xuất khẩu lao động và an sinh xã hội Tạo điều kiện thu hút mọi nguồn lực của xã hội để đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo; tăng cường khả năng tự chủ của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập
Công tác quản lý và kiểm soát chất lượng GDNN còn hạn chế; tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia ban hành còn chậm; việc tổ chức đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề chưa triển khai được rộng rãi
Việc chuẩn bị đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 còn có những khó khăn và chưa triển khai được nhiều
Việc huy động các nguồn lực đầu tư cho GDNN chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; ngân sách nhà nước đầu tư cho GDNN những năm gần đây tuy có tăng
Trang 5nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa tương xứng với mục tiêu nhiệm vụ đề ra; nhiều địa phương chưa ưu tiên nguồn lực đầu tư cho phát triển GDNN
Mục tiêu tổng quát đặt ra là phải đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp; người học ra trường phải đáp ứng yêu cầu thị trường lao động, có việc làm và thu nhập tốt hơn; người đáp ứng yêu cầu và có nguyện vọng học cần được theo học các chương trình liên thông; không để tình trạng đào tạo ra không
có việc làm, thất nghiệp, lãng phí nguồn lực xã hội
2.2 Cơ hội
Hệ thống GDNN đã và đang thực hiện đổi mới khá mạnh mẽ, đồng bộ, nhất
là trong việc xây dựng văn bản QPPL Chỉ trong thời gian ngắn (3 năm), gần một trăm văn bản QPPL đã được ban hành, kịp thời hướng dẫn triển khai thi hành Luật Giáo dục nghề nghiệp, tạo điều kiện tốt nhất về pháp lý để thực hiện đổi mới và nâng cao chất lượng GDNN
Các điều kiện bảo đảm chất lượng GDNN (chương trình đào tạo, nhà giáo,
cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo) được cải thiện, từng bước chuẩn hóa, hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của đổi mới GDNN; nhiều cơ sở GDNN đã có những nghề đạt tiêu chí kiểm định của Úc, Đức và Tổ chức ABET (Mỹ)
Chất lượng và hiệu quả GDNN có bước chuyển biến tích cực; kỹ năng nghề nghiệp của người tốt nghiệp các cơ sở GDNN đã được nâng lên Ở nhiều nghề, kỹ năng nghề của lao động Việt Nam đã đạt chuẩn quốc tế Lao động qua đào tạo nghề nghiệp tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và đã đảm nhận được các vị trí, công việc phức tạp mà trước đây phải do chuyên gia nước ngoài thực hiện; trên 80% người học tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp, ở một số nghề và một số cơ sở GDNN tỷ lệ này đạt gần 100%
Bắt đầu hình thành mô hình đào tạo chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế thông qua các chương trình đào tạo chuyển giao; đáp ứng yêu cầu về lao động chất lượng cao cho thị trường lao động trong nước (các doanh nghiệp FDI) và cho thị trường lao động ngoài nước (lao động kỹ sư)
Chuyển giao, hiệu chỉnh 07 tiêu chuẩn năng lực, chương trình, giáo trình theo tiêu chuẩn Pháp; chuyển giao tiêu chuẩn năng lực quốc gia và xây dựng chương trình, giáo trình cho 8 nghề theo tiêu chuẩn Hàn Quốc
45 Hiệu trưởng/Phó hiệu trưởng các trường cao đẳng CLC và 582 nhà giáo
đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài để giảng dạy cho các nghề nhận chuyển giao từ nước ngoài (gồm: 318 nhà giáo đi đào tạo tại Úc và 264 nhà giáo đi đào tạo tại Đức)
21 trường triển khai xây dựng Đề án triển khai chương trình chất lượng cao với 103 chương trình trình độ cao đẳng, trung cấp
07 trường CĐ được cấp giấy chứng nhận liên kết đào tạo với nước ngoài theo Nghị định số 15/2019/NĐ-CP ngày 1/2/2019 với 19 chương trình đào tạo (18 chương trình trình độ cao đẳng, 1 chương trình trình độ sơ cấp), 19/19 chương trình đều cấp bằng của nước ngoài
Trang 6Đến năm 2025, bảo đảm quy mô, cơ cấu ngành, nghề đào tạo cho phục hồi
và phát triển kinh tế - xã hội đất nước; chất lượng đào tạo của một số trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4, trong đó một số nghề tiếp cận trình độ các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới; góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 30% Với một số chỉ tiêu nổi bật sau đây:
- Đào tạo lại, đào tạo thường xuyên cho khoảng 25% lực lượng lao động
- Tỷ lệ lao động là người dân tộc thiểu số qua đào tạo nghề nghiệp đạt 45%
- Tỷ lệ lao động là người khuyết tật còn khả năng lao động được học nghề phù hợp đạt 35%
- Tỷ lệ lao động có các kỹ năng công nghệ thông tin đạt 80%
- Phấn đấu có ít nhất 30% cơ sở giáo dục nghề nghiệp và 50% chương trình đào tạo các ngành, nghề trọng điểm đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng
- Phấn đấu 100% nhà giáo đạt chuẩn; khoảng 80% cán bộ quản lý được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng quản lý - quản trị hiện đại
- Phấn đấu khoảng 80% ngành, nghề đào tạo được xây dựng, cập nhật chuẩn đầu ra theo Khung trình độ quốc gia
- Phấn đấu có khoảng 70 trường chất lượng cao, trong đó: 03 trường thực hiện chức năng trung tâm quốc gia đào tạo và thực hành nghề chất lượng cao, 06 trường thực hiện chức năng trung tâm vùng đào tạo và thực hành nghề chất lượng cao, 40 trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4 và 03 trường tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20; khoảng 150 ngành, nghề trọng điểm, trong đó
05 -10 ngành, nghề có năng lực cạnh tranh vượt trội trong các nước ASEAN-4
Đến năm 2030, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục nghề nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực có kỹ năng nghề cho quốc gia đang phát triển, có công nghiệp hiện đại; chủ động tham gia vào thị trường đào tạo nhân lực quốc tế; một số trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4, trong đó một số nghề tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20; góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40% Với một số chỉ tiêu nổi bật sau đây:
- Đào tạo lại, đào tạo thường xuyên cho khoảng 50% lực lượng lao động
- Tỷ lệ lao động là người dân tộc thiểu số qua đào tạo nghề nghiệp đạt 50%
- Tỷ lệ lao động là người khuyết tật còn khả năng lao động được học nghề phù hợp đạt 40%
- Tỷ lệ lao động có các kỹ năng công nghệ thông tin đạt 90%
- Phấn đấu có ít nhất 70% cơ sở giáo dục nghề nghiệp và 100% chương trình đào tạo các ngành, nghề trọng điểm đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng
- Phấn đấu 100% nhà giáo đạt chuẩn; khoảng 90% cán bộ quản lý được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng quản lý - quản trị hiện đại
Trang 7- Phấn đấu khoảng 90% ngành, nghề đào tạo được xây dựng, cập nhật chuẩn đầu ra theo Khung trình độ quốc gia
- Phấn đấu có khoảng 90 trường chất lượng cao, trong đó: 06 trường thực hiện chức năng trung tâm quốc gia đào tạo và thực hành nghề chất lượng cao, 12 trường thực hiện chức năng trung tâm vùng đào tạo và thực hành nghề chất lượng cao, 60 trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4 và 06 trường tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20; khoảng 200 ngành, nghề trọng điểm, trong đó
15 - 20 ngành, nghề có năng lực cạnh tranh vượt trội trong khu vực ASEAN và thế giới
3 Về vấn đề việc làm của học sinh, sinh viên (HSSV)
3.1 Thách thức
Riêng đối với ngành Y tế, trên thực tế khảo sát tại nhiều bệnh viện cả khu vực công và tư nhân, chúng tôi nhận thấy sự thiếu hụt các kỹ năng làm việc thực hành chính là rào cản lớn nhất khiến đơn vị sử dụng lao động phải tiến hành tái đào tạo lại lực lượng lao động mới ra trường, mà điều này càng đặc biệt đúng khi đối tượng của các HSSV của trường là sức khỏe con người Tuy vậy với tình hình hiện tại tại trường, nếu không thể thành lập được một cơ sở y tế thực hành để nâng cao tính thực tiễn trong đào tạo, nâng cao chất lượng nhân lực thì việc HSSV ra trường (nếu có thể tiếp tục tuyển sinh) sẽ lại thất nghiệp là điều có thể nhìn thấy trước
Hiện có nhiều quốc gia chấp nhận các lao động có kỹ năng của nước ngoài vào lao động nhằm bù đắp sự thiếu hụt của lao động bản địa, đặc biệt là điều dưỡng trong các cơ sở y tế, các nhà dưỡng lão tại Châu Âu và Bắc Mỹ, Nhật Bản tuy vậy yêu cầu về kỹ năng ngoại ngữ và kỹ năng điều dưỡng thực sự là rào cản lớn nhất đối với các điều dưỡng được đào tạo tại Việt Nam Yếu tố sống còn của việc xuất khẩu lao động là điều dưỡng là nâng cao chuẩn đào tạo cho tiệm cận với yêu cầu của các quốc gia có nhu cầu sử dụng lao động thông qua việc hợp tác với các cơ sở y tế nước ngoài, xây dựng chương trình đào tạo phù hợp, kết hợp với nâng cao kỹ năng ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nhật
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp của sinh viên (SV) ra trường, dưới đây là một số những nguyên nhân chính:
Chất lượng giáo dục, đào tạo: Chất lượng đào tạo của chúng ta còn nhiều
hạn chế trong đó hạn chế nhất là nội dung học chưa đi sâu vào thực tế, cơ bản nặng
về lý thuyết, ít về thực hành Dường như các môn học trong chương trình đào tạo
đã không còn phù hợp với đòi hỏi thực tế của thị trường, nội dung nặng lý thuyết, thiếu thực hành, thiếu trang bị kỹ năng làm việc nên nhiều SV ra trường không xin được việc làm hoặc có việc làm nhưng không đảm nhiệm được vị trí công tác, phải đào tạo lại
Thiếu khả năng thực: Nhiều SV đăng ký dự tuyển vào một trường nào đó
không phải vì ham mê, yêu thích hay có năng khiếu mà chỉ vì vào đại lấy một trường để đi học Cũng có nhiều SV có năng khiếu về chuyên ngành mình theo học nhưng trong suốt mấy năm học đã không chịu khó học hành, rèn luyện kĩ năng,
Trang 8học hỏi kinh nghiệm nên khi ra trường không tránh khỏi việc lúng túng khi tiếp cận với công việc Trong khi xã hội ngày càng đòi hỏi người thực sự có khả năng làm việc hiệu quả, có chất lượng thì tất yếu những người không có khả năng sẽ bị xã hội tự đào thải
Định hướng không rõ ràng: Định hướng nghề nghiệp không rõ ràng của sinh
viên có ảnh hưởng lớn đến việc tiếp thu kiến thức trong quá trình học cũng cơ hội kiếm được việc làm của SV ra trường Nhiều nhà quản lý nhân sự ở các công ty
nước ngoài có chung nhận định: “Lao động trẻ thiếu và yếu về ngoại ngữ cũng như sự tự tin trong giao tiếp Quan trọng hơn là họ chưa có định hướng nghề nghiệp rõ ràng Đại đa số có tư tưởng xin việc vì quyền lợi bản thân chứ chưa nghĩ nhiều về công việc, chưa thật sự tâm huyết và sống chết vì nó…”.
Trong môi trường làm việc mà xu thế cạnh tranh đang ngày càng phát triển, nếu không có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, làm sao SV có thể bảo đảm yếu tố gắn bó với công việc ở các cơ quan tuyển dụng Một điều chắc chắn rằng, cơ quan tuyển dụng sẽ không tuyển nếu không nhìn thấy ở ứng viên niềm say mê và tâm huyết nghề nghiệp mà họ đã chọn
Thiếu kỹ năng cơ bản: Theo đánh giá của nhiều các nhà tuyển dụng thì đa số
SV mới tốt nghiệp thiếu những kỹ năng thực hành cơ bản như: Kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xin việc, kỹ năng ngoại ngữ, vi tính v.v…
Đào tạo chưa gắn với nhu cầu xã hội: Hiện nay, có nhiều ngành nghề trong
các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tuyển sinh và đào tạo ồ ạt, chỉ tiêu đào tạo vượt quá chỉ tiêu tuyển dụng Dẫn đến hiện trạng nguồn cung nhân lực vượt quá cầu nhân lực Đây là một trong những nguyên nhân dẫn tình trạng thất nghiệp của
SV mới ra trường Cũng vì thế nhiều SV cầm tấm bằng “đỏ” mà vẫn bị loại trong
các đợt xét tuyển là điều dễ hiểu
3.2 Cơ hội
HSSV sau khi tốt nghiệp có việc làm đúng ngành, nghề đào tạo đạt tỷ lệ cao
và có thu nhập ổn định đã tác động tốt đến tâm lý của người học và xã hội, góp phần làm thay đổi quan điểm và cách nhìn nhận của xã hội về học nghề, lập nghiệp
Việc tăng cường gắn kết với doanh nghiệp trong tổ chức đào tạo, giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau tốt nghiệp bước đầu đi vào chiều sâu, hoạt động hiệu quả; cơ chế phối hợp 3 bên: Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp bắt đầu hình thành và vận hành khá tốt trong thực tiễn
Nhiều HSSV được theo học các chương trình chất lượng cao, chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài nên chất lượng đào tạo sau khi tốt nghiệp bước đầu tiệm cận được với các nước tiên tiến trong khu vực ASEAN và thế giới, HSSV dễ xin được việc làm tốt và có thu nhập cao
Hội nhập quốc tế sâu rộng trong cộng đồng kinh tế ASEAN, cùng với việc thực hiện các Hiệp định thương mại tự do đa phương, song phương sẽ tạo ra thị
Trang 9trường lao động mở, có khả năng tạo thêm nhiều việc làm mới tại Việt Nam Ngoài việc làm trong nước, xu thế xuất khẩu lao động có chuyên môn, kỹ thuật càng tạo nhiều cơ hội việc làm ở nước ngoài cho HSSV
GDNN giai đoạn từ năm 2022 đến năm 2030 có nhiều khó khăn, thách thức và một số giải pháp để khắc phục:
Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về GDNN; thúc đẩy xã hội hóa GDNN
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội về GDNN
Nâng cao chất lượng kỹ năng nghề cho lao động trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0; Đổi mới, nâng cao chất lượng Giáo dục nghề nghiệp theo hướng
mở, linh hoạt, tạo cơ hội tiếp cận đối với mọi người dân, phục vụ học tập suốt đời
Chuyển đổi mô hình từ đào tạo truyền thống sang việc tăng cường gắn kết với doanh nghiệp, nâng cao chuyên môn đội ngũ lao động nhằm đảm bảo Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả
Yêu cầu đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính, trong đó tự chủ tài chính trong trường công lập phải triển khai trong thời gian sớm nhất
Từng bước xây dựng Giáo dục doanh nghiệp mở trên cơ sở áp dụng mạnh tiến bộ của công nghệ thông tin trong dạy và học, triển khai đào tạo trực tuyến, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động cập nhật, nâng cao kỹ năng suốt cuộc đời
Phát triển đội ngũ nhà giáo, nghệ nhân, chuyên gia, người dạy nghề và cán
bộ quản lý trong giáo dục nghề nghiệp
Quy hoạch, sắp xếp lại mạng lưới cơ sở GDNN
Chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng trong hệ thống GDNN; phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng, đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Nghiên cứu ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ; hướng nghiệp, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo
Truyền thông, nâng cao hình ảnh, thương hiệu và giá trị xã hội của giáo dục nghề nghiệp
Chủ động và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế về giáo dục nghề nghiệp
Hỗ trợ các trường Trung cấp phấn đấu nâng cấp lên trường Cao đẳng, đặc biệt là các trường Trung cấp Y tế
Câu 2: Trên cơ sở đó xây dựng Kế hoạch hành động để phát triển cơ quan/đơn vị của Thầy/Cô đến năm 2030?
Trả lời:
Phần 1: Sứ mệnh tầm nhìn và các giá trị cốt lõi của Nhà trường
1 Sứ mệnh
Trang 10Đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn năng lực ASEAN đáp ứng nhu cầu xã hội và hội nhập quốc tế
Tạo môi trường học tập bình đẳng và hiệu quả; lấy chất lượng làm thước đo, làm mục tiêu tồn tại và phát triển Xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ giảng viên đạt chuẩn quốc gia Đào tạo người học giỏi kiến thức, thành thạo kỹ năng, thái
độ chuẩn mực, thân thiện và học tập suốt đời Tập trung nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và sáng tạo
2 Tầm nhìn đến năm 2030
Phấn đấu nâng cấp thành Trường Cao đẳng Y tế trước năm 2025 và phát triển trở thành Trường Cao đẳng Y tế đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao
3 Giá trị cốt lõi
- Uy tín
- Chất lượng
- Đoàn kết
- Đột phá
- Sáng tạo
- Phát triển bền vững
Phần 2: Bối cảnh và thực trạng của Nhà trường (1979 - 2030)
Tên trường: TRƯỜNG TRUNG CẤP Y TẾ LONG AN
Cơ quan quản lý trực tiếp: UBND TỈNH LONG AN
Địa chỉ trường: Số 93, Quốc Lộ 62, Phường 6, TP Tân An, tỉnh Long An
Số điện thoại liên hệ: 0272.3826 349 – 0272.3828 851
Số Fax: 0272.3522 335
Website: www.tcytlongan.edu.vn
Quyết định số 1209/QĐ-UBND ngày 26/5/1979 của Ủy Ban nhân dân tỉnh Long An về việc thành lập Trường Trung học Y tế Long An
Quyết định số 773/QĐ-UBND ngày 27/03/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Long An về việc đổi tên Trường Trung học Y tế trở thành Trường Trung cấp Y tế Loại hình trường đào tạo: Công lập
Trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển nhà trường đã hội tụ đầy đủ các điều kiện về: Cơ sở hạ tầng, quy mô, cơ cấu ngành nghề, chương trình đào tạo, trình độ đội ngũ, cơ sở vật chất, tài chính, để nâng cấp trường trở thành Trường Cao đẳng Y tế Long An Với truyền thống, kinh nghiệm và năng lực sẵn có, đã từng bước khẳng định được hình ảnh, uy tín trong đào tạo đạt chuẩn về phẩm chất đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp và tay nghề cao đáp ứng nhu cầu thị trường lao động trong tỉnh và các tỉnh, thành phố lân cận (TP.HCM) Để tiếp tục khẳng định được vị trí, thương hiệu và nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ y tế, đáp ứng yêu