1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Phân tích thơ hiện đại lớp 9

107 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 122 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích thơ 1,đồng chí,bài thơ về tiểu đội xe không kính Phân tích hình tượng người lính trong hai bài thơ Đồng chí (Chính Hữu) và Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật) để làm sáng tỏ nhận định trên Bài làm “Nhà thơ tư duy bằng hình tượng” (Biêlinxki) Văn học ở bất kì thời đại nào muốn phản ánh hiện thực đời sống đều phải thông qua các hình tượng nhân vật điển hình Nhà thơ tư duy bằng hình tượng, nhà văn cũng tư duy bằng hình tượng Thế giới thêm sắc màu, cuộc sống thêm âm điệu.

Trang 1

Phân tích thơ

1,đồng chí,bài thơ về tiểu đội xe không kính

Phân tích hình tượng người lính trong hai bài thơ "Đồng chí" (Chính Hữu) và "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" (Phạm Tiến Duật) để làmsáng tỏ nhận định trên

Bài làm

“Nhà thơ tư duy bằng hình tượng” (Biêlinxki) Văn học ở bất kì thời đại nào muốn phản ánh hiện thực đời sống đều phải thông qua các hình tượng nhân vật điển hình Nhà thơ tư duy bằng hình tượng, nhà văn cũng tư duy bằng hình tượng Thế giới thêm sắc màu, cuộc sống thêm âm điệu bởi những hình tượng độc đáo Nhưng đâu phải ngẫu nhiên mà đại thi hào Nguyễn Du trong biết bao tác phẩm đồ sộ của Trung Quốc lại chọn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân,một tác phẩm không một tiếng vang của nhà văn, để tái tạo và chuyểnsang thơ đầy sự sáng tạo và trở thành một kiệt tác văn học, vì chính trong tác phẩm ấy, nhà thơ đã bắt gặp một hiện thực xã hội Việt Nam đương thời biết bao bất công oan trái đã vùi dập thân phận người dân lương thiện xuống vũng lầy cuộc đời nghiệt ngã Không chỉ vậy, nhà thơ còn bắt gặp sự đồng cảm sâu sắc đối với nhân vật Thúy Kiều Điều đó cho ta thấy: “Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nhưng văn học không phản ánh thụ động, máy móc như một tấm gương mà thông qua tư tưởng tình cảm, cách nhìn, cách đánh giá của từng nhà văn” Và ta cũng bắt gặp điều này qua hình tượng người línhtrong hai bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu và “Bài thơ về tiểu đội

xe không kính” của Phạm Tiến Duật

Vậy chúng ta phải hiểu như thế nào về nhận định này? Trước hết, hình tượng là phương tiện của văn học để phản ánh hiện thực, đó là bức tranh sinh động về con người và cuộc sống “Hình tượng văn học

là sự tổng hợp những tư tưởng và say mê, là kết quả của một tấm lòngđầy thiết tha” (Biêlinxki) Hình tượng văn học không chỉ chứa đựng bức tranh sinh động của hiện thực cuộc sống, cung cấp đề tài để nhà văn tái hiện trong cuộc sống qua tác phẩm văn học để thông tin thẩm

Trang 2

mỹ đến người đọc, mà còn biểu hiện tư tưởng ở cách nhìn, cách nghĩ,

lý tưởng của nhà văn trước những vấn đề của cuộc sống Các nhà văn,nhà thơ đã gửi gắm những tình cảm, tư tưởng và thái độ của mình trênđầu ngọn bút để mỗi ngôn từ là mỗi tiếng lòng, là nỗi niềm tâm sự sâulắng Nghĩa là vừa có tính chung sâu sắc, vừa mang tính riêng độc đáo Lưu Quang Vũ trong bài thơ “Nói với mình và các bạn” đã viết:

“Thơ không phải là chứng minh

Không phải hào quang phản chiếu của tấm gương!”

Bởi vậy phân tích hình tượng văn học là làm nổi bật vẻ đẹp con

người, cuộc sống được thể hiện; qua đó, phát hiện sự đóng góp riêng của nhà văn trong việc chọn lựa các yếu tố để xây dựng hình tượng.Chính Hữu và Phạm Tiến Duật đều là những con người trưởng thành trong hàng ngũ quân đội Thơ Chính Hữu thể hiện một cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc, hàm súc Còn ở Phạm Tiến Duật,

ta bắt gặp một hồn thơ trẻ trung, sôi nổi, hồn nhiên, tinh nghịch nhưngrất sâu sắc Trong hai bài thơ “Đồng chí” và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, Chính Hữu và Phạm Tiến Duật đã xây dựng nên một hình tượng người lính trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ với những vẻ đẹp mộc mạc nhưng vô cùng dũng cảm Là những nhà thơ quân đội trưởng thành trong những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Chính Hữu và Phạm Tiến Duật từng sống, trải

nghiệm và thấm thía đời sống của người lính trên chiến trường Trên đôi bàn tay của hai nhà thơ không chỉ vững vàng những cây súng đánh giặc mà còn từng bung nở cho đời những vần thơ diệu kì về người lính Họ đã cùng khắc họa hình ảnh người lính trong lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh với các phẩm chất đáng quí Ta thấy ở họ có trái tim với một tình yêu nước cháy bỏng, cùng những lí tưởng cao đẹp, chiến đấu, hi sinh vì độc lập dân tộc như lời thơ của Lê Anh Xuân:

“Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất

Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Trang 3

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.”

(Dáng đứng Việt Nam)

Không chỉ có tình yêu nước nồng nàn, ở những người lính còn có sự đoàn kết, gắn bó trong tình đồng chí, đồng đội keo sơn Và đặc biệt hơn cả là sự dũng cảm, kiên cường vượt qua mọi gian khó, hiểm nguy

để sống, chiến đấu và chiến thắng Song trong mỗi bài thơ, các tác giảlại sử dụng ngòi bút sắc sảo để thể hiện sự phát hiện riêng về hình tượng người lính

Trước hết, trong bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu đã thể hiện hình tượng người lính với những vẻ đẹp giản dị, mộc mạc nhưng chân thựccùng vẻ đẹp tâm hồn là tình cảm đồng chí, đồng đội thắm thiết và sự thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ của nhà thơ trước hoàn cảnh và tình cảmcủa người lính Bài thơ đã làm nổi bật hình ảnh người chiến sĩ với vẻ đẹp giản dị, mộc mạc của người nông dân mặc áo lính trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Họ đều là những người nông dân áo vải, xuất thân từ những vùng quê nghèo khó:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.”

“Quê hương anh” và “Làng tôi” đều nghèo khổ, là nơi “nước mặn, đồng chua”, là xứ sở “đất cày lên sỏi đá” Tác giả sử dụng phép sóng đôi đối ứng, mượn tục ngữ, thành ngữ để nói về làng quê, nơi chôn rau cắt rốn của anh lính Họ là những người nông dân từ những vùng quê lam lũ nghèo đói, quanh năm chỉ biết đến con trâu, mảnh ruộng, nhưng các anh đã giã từ quê hương lên đường chiến đấu Chính Hữu

đã làm cho lời thơ bình dị, giọng điệu thơ thủ thỉ tâm tình, làm toát lên vẻ mộc mạc của những người trai cày ra trận đánh giặc Sự đồng cảnh, đồng cảm với nhau là cái gốc để hình thành tình bạn, tình đồng chí sau này Những chàng Thạch Sanh của đất nước không chỉ có cũng một xuất thân, cùng một giai cấp, mà ở họ ta còn thấy được một

sự chấp nhận cuộc sống quân ngũ đầy thiếu thốn:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Trang 4

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”

Kể sao kể xiết những gian khổ mà lính phải trải qua trong chiến đấu Nói về cái gian khổ của người lính trong kháng chiến chống Pháp, ta nhỡ đến cái rét xé thịt da trong bài “Lên Cẩm Sơn” của Thôi Hữu:

“Cuộc đời gió bụi pha sương máu

Đợi rét bao lần xé thịt da

Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật

Đâu còn tươi nữa những ngày hoa!

Lòng tôi xao xuyến tình thương xót

Muốn viết bài thơ thấm lệ nhòa”

Ta nhớ đến cái ác liệt của bệnh sốt rét trong “Tây Tiến” của Quang Dũng:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

Ta cũng có thể thấy cái buốt giá của núi rừng Việt Bắc, cái ớn lạnh toát mồ hôi trong những câu thơ của Chính Hữu Nhưng nếu như ThôiHữu viết về cái rét xé thịt da để khắc họa những con người chấp nhận

hi sinh “Đem thân xơ xác giữ sơn hà”, Quang Dũng nói đến sốt rét để

tô đậm vẻ bi tráng của những người chiến sĩ thì Chính Hữu nói về cái

ác nghiệt của sốt rét để miêu tả rõ nét cuộc sống chiến đấu gian khổ

và sự gắn bó của đồng đội keo sơn Sốt rét rừng trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng của những người lính khi hành quân trong rừng “Áo anh rách vai”, “Quần tôi có vài mảnh vá”, đó là hiện thực của những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, quần áo của người lính rách bươm, phải buộc túm lại nên người lính vệ quốc còn gọi là “vệ túm”.Hình ảnh người lính của Chính Hữu còn hiện lên với những vẻ đẹp tình cảm, tâm hồn Từ “đôi người xa lạ”, họ có cùng chung nhiệm vụ chiến đâu, chung lí tưởng, đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, những ngườilính từ phương trời xa lạ đã về đây tụ hội trong hàng ngũ quân sự rồi thành “đôi tri kỉ”, về sau kết thành tình “đồng chí” Những ngày đầu

Trang 5

đứng dưới lá quân kì: “Anh với tôi đôi người xa lạ/Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau” Và sự nghiệp chung của dân tộc đã khiến người chiến sĩ xóa bỏ khoảng cách xa lạ về không gian nơi sinh sống của mỗi người:

“Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí!”

Ngày cùng chung nhiệm vụ chiến đấu vai kề vai, súng bên súng, chia nhau gian khổ, nguy hiểm, đêm đắp chung một chiếc chăn chịu rét

“Súng bên súng” là cách nói hàm súc, hình tượng: cùng chung lí

tưởng chiến đấu; “anh với tôi” cùng ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước quê hương, vì độc lập, tự do và sự sống còn của dân tộc “Đầu sát bên đầu” là hình ảnh diễn tả ý hợp tâm đầu của đôi bạn tâm giao, nghĩa là có rất nhiều cái chung: “Không chỉ gần nhau về không gian

mà còn chung nhau ý nghĩ, lí tưởng” (“Đọc văn – Học văn” – Trần Đình Sử) Mục đích của họ tất cả là vì độc lập, tự do của Tổ quốc, những người lính đã gửi lại quê nhà tất cả:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Giang nhà không mặc kệ gió lung lay”

Tấm lòng của họ đối với đất nước thật cảm động, khi giặc đến các anh

đã gửi lại người bạn thân mảnh ruộng chưa cày, mặc kệ những gian nhà gió cuốn lung lay để ra đi Nhưng nếu không có một tình yêu đất nước sâu nặng thì không thể có một thái độ ra “mặc kệ” để ra đi như vậy Họ đã ra đi chiến đấu chỉ vì một lẽ giản dị: yêu nước Tình yêu đất nước, ý thức dân tộc là máu thịt, là cuộc đời của họ Nhưng khi ở nơi kháng chiến, người lính nông dân áo vải lại bận tâm lo lắng về mảnh ruộng chưa cày, với căn nhà bị gió lung lay:

“Giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính”

Chuyện làng quê có cổng gió, lũy tre làng, bờ ao, giếng nước… là những hình ảnh quen thuộc trong thơ ca:

“Giếng nước chưa kịp khử hết mùi phèn

Trang 6

Lòng ái ngại gót chân cô hàng xóm

Gió heo may thao thức chao cánh võng

Tiếng gà bộn bề nỗi nhớ gốc đa”

(“Hương” – Hoàng Đức Chính)

Đó là nỗi nhớ không tên luôn thường trực trong người lính trẻ Nhưngnỗi nhớ của người lính trong bài thơ “Đồng chí” lại là một nỗi nhớ haichiều Anh lính nhỡ về ruộng nương, nhớ ngôi nhà, nhớ giếng nước gốc đa; hay phải chăng chính giếng nước, gốc đa là người mẹ già, người vợ cùng đám con thơ đang trông mong ngóng chờ anh trở về

Có cả hai nỗi nhỡ ở hai phía chân trời, Và tình yêu quê hương ấy đã góp phần hình thành tình đồng chí, làm nên sức mạnh tình thần để người lính vượt qua mọi thử thách, gian lao, ác liệt thời máu lửa Cũng nói về nỗi nhớ ấy, Hoàng Trung Thông đã viết trong bài thờ

“Bao giờ trở lại”:

“Bấm tay tính buổi anh đi

Mẹ thường vẫn nhắc: biết khi nào về ?

Lúc xanh xanh ngắt chân đê,

Anh đi là để giữ quê quán mình

Cây đa giếng nước sân đình

Lời thề nhớ buổi mít tinh lên đường”

Nổi bật trong bài thơ “Đồng chí” là tình cảm đồng chí, đồng đội thấm đẫm sự sẻ chia, thấu hiểu và đồng cảm sâu sắc của tác giả Tình đồng chí thật sự đã được nảy sinh từ nhiều điểm chung của những người

“nông dân mặc áo lính”, họ cùng chung một xuất thân từ vùng quê nghèo khó, cùng lí tưởng chiến đấu vì hòa bình của dân tộc, để rồi trở thành một mối tình tri kỉ:

“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”

Nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” Câu thơ giúp ta hiểu “đôi người xa lạ” ấy đã nảy nở một tình cảm, sự gặn

Trang 7

kết không thể tách rời nhau – “đôi người tri kỉ” Giọng thơ đang tuôn liền mặc, nhẹ nhàng thì bị ngắt nhịp đột ngột: “Đồng chí!” Từ “đồng chí” được tách ra thành một câu riêng, gồm hai tiếng, một từ, một dấuchấm than; đó làm điểm sáng cao trào của bài thơ, là một phát hiện, một khẳng định và là bản lệ để khép lại cơ sở hình thành tình đồng chí

và mở ra biểu hiện tình đồng chí, đây còn là một mối quan hệ có ý nghĩa thời đại thiêng liêng bởi sau cách mạng tháng Tám, “đồng chí” trở thành từ xưng hô quen thuộc trong các cơ quan, đoàn thể, đơn vị

“Miệng cười buốt giá”, mặc dù vẫn mang hơi thở của cái lạnh nhưng

đã ấm lên, sáng lên tình đồng đội, tinh thần lạc quan của người chiến sĩ; rồi đến những cử chỉ thể hiện tình cảm thầm lặng mà gắn bó của người lính: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” “Nắm lấy bàn tay” làtruyền cho nhau hơi ấm, cho nhau sức mạnh, là sự cảm thông chia sẻ,

là lời động viên âm thầm, là tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng, sưởi

ấm, nâng đỡ những người lính cùng vượt qua những gian lao, thử thách của cuộc chiến Cái nắm tay ấy thay cho mọi lời nói, và Chính Hữu đã phát hiện ra sức mạnh của tinh thần dựa trên cơ sở cảm thông

và thấu hiểu sâu sắc, đã tạo nên chiều sâu và sự bền vững của thứ tìnhcảm thiêng liêng – tình đồng chí, đồng đội

Không chỉ dừng lại ở cung bậc tình cảm giữa những người lính, bài thơ “Đồng chí” còn mang ta đến với vẻ đẹp tâm hồn lãng mạn cao hơn ở cuối bài:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.”

Người lính không còn cô đơn lạnh lẽo vì bên anh đã có đồng đội và cây súng, là những người bạn tin cậy nhất, tình đồng chí đã sưởi ấm

Trang 8

lòng anh Người chiên sĩ toàn tâm toàn ý hướng theo mũi súng Chínhlúc ấy, các anh bắt gặp một hiện tượng kì lạ:

“Đầu súng trăng treo.”

Nét sáng tạo độc đáo thể hiện bản lĩnh nghệ thuật của của Chính Hữu qua bài thơ chính là hình ảnh này Từ tình đồng chí, trải qua những thử thách khác nhau, Chính Hữu đã tạo nên cái nhìn đầy chất thơ Nếuhai câu thơ trên không kết hợp với hình ảnh “đầu súng trăng treo” thì

nó khó có những giá trị đặc sắc Ngược lại, nếu không có sự nâng đỡ của của hai câu thơ đó thì hình ảnh sẽ bị coi là thi vị hoá cuộc sống chiến đấu người lính Sự hòa quyện nhuần nhuyễn giữa hiện thực và chất thơ lãng mạn, bay bổng đã làm cho “đầu súng trăng treo” trở thành một trong những hình ảnh đẹp nhất thơ ca kháng chiến chống Pháp Câu thơ chỉ vỏn vẹn bốn từ nhưng nó bao hàm cả cái tình, cái ý

và đặc biệt là sự cảm nhận tinh tế của Chính Hữu Nhờ sự liên tưởng thông minh tài tình, tâm hồn giàu cảm xúc, Chính Hữu đã gợi lên một không gian bát ngát giữa vũ trụ bao la, nó có cái gì đó rất bồng bềnh, huyền bí, khó tả Hình ảnh đó gây được ấn tượng thẩm mĩ sâu sắc với người đọc, đồng thời, nó trở thành hình tượng đa nghĩa độc đáo của thi ca “Đầu súng trăng treo” được xây dựng bằng bút pháp siêu thực, đầy chất thơ Tại sao vậy? Chúng ta thực sự đánh giá cao không gian nghệ thuật hiện thực của “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá”

và đặc biệt là không gian “rừng hoang sương muối”; nó đã góp phần

tô đẹp thêm hình tượng vầng trăng, cây súng Hai hình ảnh này đối lập nhau rất rõ Một bên là vầng trăng muôn thuở hấp dẫn và kì lạ, thanh bình với thi ca Nó biểu tượng cho cuộc sống tươi đẹp, hòa bình, hạnh phúc của nhân loại, đồng thời cũng là ước mơ cuộc sống tươi đẹp hòa bình hạnh phúc Nhưng trăng ở đây lại được đặt trong mối quan hệ với súng Một bên là súng, súng biểu tượng cho chiến tranh và cái chết nhưng súng cũng trở thành lí tưởng cao đẹp, tinh thần chiến đấu vì cuộc sống hòa bình dân tộc của người chiến sĩ

Trăng là vẻ đẹp lãng mạn, súng là hiện thực Tuy đối lập, nhưng hai hình tượng này đã tôn thêm vẻ đẹp cho nhau, tạo nên vẻ đẹp hoàn mĩ nhất Không phải ngẫu nhiên khi Chính Hữu đưa hai hình ảnh ngược nhau trong một câu thơ Qua đó ông muốn khẳng định cái khát vọng

Trang 9

về một cuộc sống yên lành đầy chất thơ: để cho vầng trăng kia sáng mãi, trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, mọi người phải cầm súng chiến đấu Có thể nói, hình ảnh “Đầu súng trăng treo” là một phát hiện thú vị, mới lạ độc đáo của Chính Hữu Chính hữu đã sử dụng bút pháp hiện thực để tạo nên hình ảnh thơ vừa hiện thực vừa lãng mạn Trăng và súng kết thành một không gian thơ trữ tình, là biểu tượng cho tình thần dũng cảm, hào hoa muôn thuở của dân tộc nói chung và người lính nói riêng:

“Hồi còn nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ”

(“Ánh trăng” – Nguyễn Duy)

Tóm lại, bài thơ “Đồng chí” vừa mang vẻ đẹp giản dị, bình dân khi nói về đời sống vật chất của người chiến sĩ, lại vừa mang vẻ đẹp cao

cả, thiêng liêng, thơ mộng khi nói về đời sống tâm hồn, về tình đồng chí của các anh – người lính binh nhì buổi đầu kháng chiến

Chúng ta không chỉ bắt gặp hình tượng người lính trong thơ của

Chính Hữu, mà hình tượng ấy cũng được Phạm Tiến Duật thể hiện trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” Hình tượng người lính trong bài thơ hiện lên với vẻ đẹp dũng cảm, tinh nghịch, tình đồng độigắn bó và tâm hồn phơi phới, sôi nổi, tinh nghịch, ngang tàng cùng tình cảm yêu quý, tự hào, gắn bó của nhà thơ đối với những người lính Chân dung người lái xe Trường Sơn được tác giả khắc họa qua hình ảnh những chiếc xe không kính và một giọng thơ ngang tàng, trẻ trung, gần gũi Cảm hứng về những chiếc xe không kính đã làm nền

để nhà thơ ghi lại những khám phá của mình về vẻ đẹp của những chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mỹ Đó là tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, đó còn là lòng lạc quan, yêu đời, tình đồng chí đồng đội thắm thiết và lòng yêu nước nồng nàn, lý

tưởng chiến đấu cao đẹp

Trang 10

Cái nhìn lạc quan của người lính về sự ác liệt của chiến tranh được thểhiện rất rõ qua cách lý giải về những chiếc xe không kính:

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Điệp từ “không” khiến câu thơ giãn ra, tạo nhịp điệu khoan thai, đặc biệt từ “rồi” khép lại câu thơ thứ hai đã làm nên một giọng điệu rất nhẹ Người lính nói về những chiếc xe không kính chính là nói về cuộc chiến khốc liệt mà họ phải trải qua Vậy mà người lính lái xe lại

kể về tất cả những điều ấy bằng một giọng thản nhiên đến lạ lùng Điều này cho thấy rất rõ cái nhìn bình thản của người lính về những mất mát của bom đạn mà kẻ thù đã gây ra Đó là cái nhìn lạc quan củabản lĩnh anh hùng

Phẩm chất anh hùng của một người lái xe Trường Sơn ngời sáng qua

tư thế ung dung:

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái

Trang 11

Không còn kính chắn gió, người lái xe lại có cái thú vị là được tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài Qua khung cửa không còn kính, không chỉ mặt đất mà cả bầu trời với “sao trời” và “cánh chim” cũng như “ùa vào buồng lái” Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã miêu tả rất chínhxác cái cảm giác mạnh và đột ngột khi ngồi trên chiếc xe không kính lao nhanh về phía trước Nhịp thơ dồn dập, khỏe khoắn, vừa gợi cảm giác về tốc độ của tiểu đội xe không kính, vừa mở ra tâm trạng hồ hởi,háo hức của người lính trên đường ra trận Với người chiến sỹ TrườngSơn “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” Bởi niềm hạnh phúc lớn nhất

là được có mặt trên trận tuyến đánh quân thù Với những câu thơ này, Phạm Tiến Duật đã làm dậy khí thế của tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mỹ

Cái nhìn của người lính lái xe vào thiên nhiên vũ trụ là cái nhìn đậm chất lãng mạn chỉ có ở những người can đảm, biết vượt lên những thửthách khốc liệt Lái xe không kính không phải là không gặp những khó khăn nào là “Gió vào xoa mắt đắng”, rồi những thứ bên ngoài như quăng như quật vào người lái xe nhưng chủ yếu vẫn là cảm giác thú vị về thiên nhiên vũ trụ bỗng trở nên thật gần gũi Hóa thân vào những người chiến sĩ lái xe, tác giả đã nhìn hiện thực chiến tranh bằngcon mắt của người lính Đó là cái nhìn lãng mạn, trẻ trung, yêu đời.Trước những thách thức khốc liệt do những chiếc xe không kính

mang lại, người lính đã tỏ thái độ bất chấp, coi thường hiểm nguy.Không có kính ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Không có kính ừ thì ướt áo

Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

Chưa cần thay lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi

Trang 12

Hai khổ thơ đầy ắp những chi tiết hiện thực, đó là một kiểu hút thuốc

“phì phèo” rất lính, rồi tiếng cười “ha ha” vô tư, sảng khoái, đó là

“bụi phun”, “mưa tuôn”, “mưa xối” Những chi tiết rất thực rất sống động ấy mà đưa ta đến cuộc sống gian khổ nhưng đầy ắp niềm vui và tiếng cười của những người lính trẻ Hiện thực đời lính đã được PhạmTiến Duật tái hiện bằng những câu thơ đậm chất văn xuôi và một giọng thơ ngang tàng, hồn nhiên rất lính

Thực tế những bánh xe lăn là những gian khổ, những hiểm nguy Đó

là những thách thức rất thực mà những người lính lái xe không kính

đã trải qua trên đường và chiến trường Nhưng với họ, gian khổ chả

có ý nghĩa gì Điệp từ “ừ thì” và “chưa cần” đã làm bật lên thái độ thách thức, bất chấp hiểm nguy của người lái xe Đây là thái độ của con người đứng cao hơn hoàn cảnh, coi thử thách là cơ hội để thể hiệnmình Không phải là người lính gồng mình lên để vượt qua gian khổ,

mà các anh đã chiến thắng thử thách khốc liệt một cách hết sức nhẹ nhàng bằng tiếng cười “ha ha” đầy sảng khoái Đó là tiếng cười của niềm lạc quan yêu đời, chất chứa trong đó biết bao hồn nhiên, trong sáng tuổi trẻ Bằng ống kính điện ảnh, nhà thơ đã ghi lại được những khoảnh khắc xúc động của tình đồng chí, đồng đội giữa những người lính Trường Sơn

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi

Phạm Tiến Duật đã khéo léo đưa những chiếc xe không kính vào thơ

để làm cơ sở nảy nở tình cảm giữa những người lính lái xe Mới đầu chỉ là những chiếc xe không kính, nhưng về sau đã hợp thành cả một tiểu đội xe không kính Từ “tiểu đội” cho ta hiểu rằng tình cảm giữa những người chiến sĩ lái xe trước hết là tình đồng đội giữa những con người cùng chung nhiệm vụ chiến đấu, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Qua hình ảnh tiểu đội xe không kính, nhà thơ vừa gợi

Trang 13

được sự ác liệt của chiến tranh, vừa tạo ra được tình huống để người lính lái xe bộc lộ tình đồng chí đồng đội.

Nhờ xe không có kính mà người lính dễ dàng giao lưu với nhau hơn Không kính tưởng như thô sơ, hỏng hóc nhưng đến đây đã làm bật lên

vẻ đẹp riêng của nó Gặp nhau trên con đường Trường Sơn huyết mạch, người lính bắt tay nhau qua cửa kính vỡ như một cách bộc lộ tình cảm Cái bắt tay nồng ấm tình đồng chí này không nhẹ nhàng nhưcái nắm tay giữa những người nông dân trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu mà có một cái gì đó thật mạnh mẽ và ngang tàng Đây cái bắt tay này còn có cả những tiếng cười hồn nhiên trong sáng và cái sôinổi của tuổi trẻ mang theo vào chiến trường

Đầu tiên giữa những người lính lái xe chỉ là tình đồng đội giữa những người cùng một tiểu đội, về sau đã phát triển thành bạn bè và hơn thế nữa thành tình cảm gia đình

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Bếp Hoàng Cầm là bếp dã chiến do anh nuôi tên là Hoàng Cầm chế tạo ra Đây là loại bếp được đặt sâu trong lòng đất để hạn chế sự tỏa khói, tránh bị địch phát hiện Nhưng đi vào trang thơ Phạm Tiến Duật,cái bếp của người lính đã được “dựng giữa trời”, thật sừng sững, thật ngang tàng như thách thức kẻ thù Trong thơ Phạm Tiến Duật, bếp Hoàng Cầm đã trở thành tín hiệu của sự sum họp, đoàn tụ Ở nơi nào

có bếp Hoàng Cầm là nơi đó có một gia đình lính, bởi theo họ “chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy” Câu thơ có giọng điệu rất dí dỏm và thoáng nụ cười hồn nhiên rất chất lính Ở đây tác giả đã có một cách định nghĩa rất độc đáo về gia đình Đối với những người lính lái xe, không nhất thiết phải chung huyết thống mà chỉ cần chung bát, chung đũa thì đã là gia đình rồi Bát đũa bình thường giản dị mà đã trở thànhvật thiêng liêng gắn kết tình cảm giữa những người lính xa nhà chỉ cần được quay quần xung quanh bếp Hoàng Cầm, cùng chia sẻ bữa cơm đạm bạc là họ đã được tận hưởng cảm giác ấm cùng của gia đình Dường như với những người lính Trường Sơn, tình đồng chí đồng đội cũng đẹp đẽ, thiêng liêng chẳng khác nào tình cảm gia đình

Trang 14

Lý tưởng chiến đấu cao đẹp và niềm tin vào chiến thắng của dân tộc ởngười lính lái xe được thể hiện thật chân thành và xúc động trong những vần thơ giản dị.

“Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi lại đi trời xanh thêm”

Tác giả đã miêu tả hết sức chân thực giấc ngủ của người lính lái xe Giấc ngủ “chông chênh” vì đường xe chạy gập ghềnh, từ láy “chông chênh” đã góp phần tô đậm cuộc sống gian khổ của người lính

Trường Sơn

Câu thơ cuối ngắt nhịp 2/2/3 đã làm nên âm hưởng phơi phới Đặc biệt điệp ngữ “lại đi” khiến câu thơ như một tiếng reo vui, chất chứa trong đó là bao nhiêu hồ hởi, háo hức của người lính lúc lên đường ra trận Người lính hiểu mỗi chuyến xe vào chiến trường là để cho “trời xanh thêm” Hình ảnh “trời xanh” là ẩn dụ cho hòa bình, cho độc lập,

tự do của Tổ quốc, cho ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Đến đây lí tưởng chiến đấu của người lính Trường Sơn đã sáng ngời Người chiến sĩ thấy “trời xanh thêm” là đã tin tưởng vào ngày chiến thắng đang đến gần, niềm tin ấy đã làm nên nguồn sức mạnh tinh thần lớn lao cho cả tiểu đội xe không kính

Vẻ đẹp của người lính lái xe Trường Sơn kết đọng ở lòng yêu nước cháy bỏng và ý chí chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam:Không có kính, rồi xe không có đèn

Chỉ cần trong xe có một trái tim

Điệp ngữ “không có” đã làm nên âm điệu nhanh, mạnh, khỏe khoắn, dồn dập cho cả đoạn thơ Ta cảm nhận thấy trong nhịp điệu ấy khí thếkhẩn trương, hối hả của những đoàn xe ra trận và cả sự ác liệt trong cuộc chiến Tác giả đã sử dụng thành công nghệ thuật liệt kê “không

có kính”, đồng nghĩa với sự chồng chất những mất mát, hi sinh của người lính Đến đây hình tượng những chiếc xe không kính đã phát triển ở mức cao hơn Xe không chỉ “không có kính”, mà còn “không

Trang 15

có đèn”, “không có mui xe”, chiếc xe đã trở lên hỏng hóc, méo mó và biến dạng như một thứ đồ phế thải.

Tưởng chừng xe không thể chạy được, nhưng thật kì diệu “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước” Đây là một điều bất ngờ, hơn thế nữa

là những phi thường, là một sự bất chấp đầy thách thức Tại sao lại có điều kì diệu ấy? Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã phát hiện rằng: “Chỉ cần trong xe có một trái tim” thì dù thế nào xe vẫn cứ chạy Không có cách lí giải nào cụ thể và thuyết phục hơn thể “Chỉ cần” có nghĩa là yếu tố duy nhất để xe vẫn cứ chạy chính là trái tim người lính Chỉ có trái tim quả cảm, giàu lòng yêu nước của người chiến sĩ lái xe thì có mọi khó khăn đã lùi lại phía sau Đặc biệt nhà thơ đã phát hiện ra cả tiểu đội xe không kính vẫn chạy vì “miền Nam phía trước”, vì một nửa đất nước đang dưới gót giày xâm lược của đế quốc Mỹ Ý chí chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước của người lính Trường Sơn đến đây đã ngời sáng

Đẹp nhất trong bài thơ là “trái tim” người lính Hình ảnh này được đặttrong thể đối lập với ba cái “không”: “không kính”, “không đèn”,

“không mui” Đây chính là sự đối lập giữa cái ác liệt của cuộc chiến với tinh thần, khí phách, tấm lòng của người lính lái xe Hình ảnh

“trái tim” chính là hoán dụ cho người chiến sĩ Trường Sơn yêu nước dũng cảm Với hình ảnh giàu ý nghĩa này, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã

mở ra một góc nhìn mới cho hình tượng người lính lái xe không kính Phải chăng “trái tim” là cội nguồn sức mạnh của cả tiểu đội xe không kính, gốc rễ phẩm chất anh hùng của người lính Trường Sơn Từ hình ảnh “trái tim” cầm lái, nhà thơ đã khẳng định một chân lí của thời đại chống Mĩ, đó là sức mạnh quyết định chiến thắng không phải là

phương tiện, vũ khí mà là con người với trái tim yêu nước nồng nàn

và ý chí kiên cường dũng cảm Có thể nói hình ảnh “trái tim” đã làm bật lên chủ đề của bài thơ và làm ngời sáng vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe Trường Sơn thời chống Mĩ

Tóm lại, Bài thơ về Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật đã thành công trong việc khắc hoạ hình tượng những chiến sĩ lái xe trên đường Trường Sơn đầy gay go thử thách, một lực lượng tiêu biểu cho

Trang 16

thế hệ trẻ Việt Nam trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

Cả hai bài thơ “Đồng chí” và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” đều mang những nét nghệ thuật đặc sắc Với “Đồng chí”, ngôn ngữ thơ thật hàm súc, mộc mạc như tiếng nói của người lính trong tâm sự, tâmtình Tục ngữ, thành ngữ, ca dao được Chính Hữu vận dụng rất linh hoạt, tạo nên chất thơ dung dị, hồn nhiên, đậm dà Sự kết hợp giữa bútpháp hiện thực và màu sắc lãng mạn đúc nên hồn thơ chiến sĩ Còn với “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, Phạm Tiến Duật đã khéo léo đưa vào những chi tiết, hình ảnh đặc sắc cùng giọng điệu, ngôn từ và lối thơ văn xuôi khắc đậm hình tượng người lính Mặc dù đều xây dựng hình tượng người lính trong những năm tháng chiến tranh nhưnghai nhà thơ không phản ánh máy móc, thụ động như một tấm gương

mà thông qua tư tưởng, tình cảm, cách nhìn, cách đánh giá của từng nhà thơ

Như vậy, nhận định "Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng ( ) Nhưng văn học không phản ánh máy móc, thụ động như một tấm gương mà thông qua tư tưởng, tình cảm, cách nhìn, cách đánh giá của từng nhà văn" là hoàn toàn đúng đắn Nghệ sĩ là kẻ làm công việc

“khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao) Viết văn là một quá trình khai phá những vỉa quặng của cuộc đời nhưng mỗi thứ kim loại quý hiếm nhà văn tìm thấy lại lấp lánh một sắc màu riêng biệt Có phải đó là sắc màu của những hình tượng nhân vật điển hình được nhà văn nhặt nhạnh ở cuộc đời, nhào nặn trong tư tưởng và đưa vào tác phẩm dưới lớp áo chủ quan độc đáo?

Và Chính Hữu cùng Phạm Tiến Duật đã thể hiện xuất sắc điều đó, khiến bài thơ “Đồng chí” và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” trở thành những bài thơ tiêu biểu của Văn học Việt Nam thời chống Pháp

và chống Mỹ Hai bài thơ đã kết thúc, hai tác giả cũng đã đi xa nhưng chừng nào độc giả chưa đánh mất đi bản năng của mình: sự rung độngthì những bài thơ vẫn còn sống mãi Quả thật văn chương đã tạo ra cho mình một thế đứng riêng còn mạnh mẽ hơn cả lịch sử

Bài làm

Trang 17

“Nhà thơ tư duy bằng hình tượng” (Biêlinxki) Văn học ở bất kì thời đại nào muốn phản ánh hiện thực đời sống đều phải thông qua các hình tượng nhân vật điển hình Nhà thơ tư duy bằng hình tượng, nhà văn cũng tư duy bằng hình tượng Thế giới thêm sắc màu, cuộc sống thêm âm điệu bởi những hình tượng độc đáo Nhưng đâu phải ngẫu nhiên mà đại thi hào Nguyễn Du trong biết bao tác phẩm đồ sộ của Trung Quốc lại chọn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân,một tác phẩm không một tiếng vang của nhà văn, để tái tạo và chuyểnsang thơ đầy sự sáng tạo và trở thành một kiệt tác văn học, vì chính trong tác phẩm ấy, nhà thơ đã bắt gặp một hiện thực xã hội Việt Nam đương thời biết bao bất công oan trái đã vùi dập thân phận người dân lương thiện xuống vũng lầy cuộc đời nghiệt ngã Không chỉ vậy, nhà thơ còn bắt gặp sự đồng cảm sâu sắc đối với nhân vật Thúy Kiều Điều đó cho ta thấy: “Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nhưng văn học không phản ánh thụ động, máy móc như một tấm gương mà thông qua tư tưởng tình cảm, cách nhìn, cách đánh giá của từng nhà văn” Và ta cũng bắt gặp điều này qua hình tượng người línhtrong hai bài thớ “Đồng chí” của Chính Hữu và “Bài thơ về tiểu đội

xe không kính” của Phạm Tiến Duật

Vậy chúng ta phải hiểu như thế nào về nhận định này? Trước hết, hình tượng là phương tiện của văn học để phản ánh hiện thực, đó là bức tranh sinh động về con người và cuộc sống “Hình tượng văn học

là sự tổng hợp những tư tưởng và say mê, là kết quả của một tấm lòngđầy thiết tha” (Biêlinxki) Hình tượng văn học không chỉ chứa đựng bức tranh sinh động của hiện thực cuộc sống, cung cấp đề tài để nhà văn tái hiện trong cuộc sống qua tác phẩm văn học để thông tin thẩm

mỹ đến người đọc, mà còn biểu hiện tư tưởng ở cách nhìn, cách nghĩ,

lý tưởng của nhà văn trước những vấn đề của cuộc sống Các nhà văn,nhà thơ đã gởi gấm những tình cảm, tư tưởng và thái độ của mình trênđầu ngọn bút để mỗi ngôn từ là mỗi tiếng lòng, là nỗi niềm tâm sự sâulắng Nghĩa là vừa có tính chung sâu sắc, vừa mang tính riêng độc đáo Lưu Quang Vũ trong bài thơ “Nói với mình và các bạn” đã viết:

“Thơ không phải là chứng minh

Không phải hào quang phản chiếu của tấm gương!”

Trang 18

Bởi vậy phân tích hình tượng văn học là làm nổi bật vẻ đẹp con

người, cuộc sống được thể hiện; qua đó, phát hiện sự đóng góp riêng của nhà văn trong việc chọn lựa các yếu tố để xây dựng hình tượng.Chính Hữu và Phạm Tiến Duật đều là những con người trưởng thành trong hàng ngũ quân đội Thơ Chính Hữu thể hiện một cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc, hàm súc Còn ở Phạm Tiến Duật,

ta bắt gặp một hồn tho trẻ trung, sôi nổi, hồn nhiên, tinh nghịch nhưngrất sâu sắc Trong hai bài thơ “Đồng chí” và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, Chính Hữu và Phạm Tiến Duật đã xây dựng nên một hình tượng người lính trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ với những vẻ đẹp mộc mạc nhưng vô cùng dũng cảm Là những nhà thơ quân đội trưởng thành trong những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Chính Hữu và Phạm Tiến Duật từng sống, trải

nghiệm và thấm thía đời sống của người lính trên chiến trường Trên đôi bàn tay của hai nhà thơ không chỉ vững vàng những cây súng đánh giặc mà còn từng bung nở cho đời những vần thơ diệu kì về người lính Họ đã cùng khắc họa hình ảnh người lính trong lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh với các phẩm chất đáng quí Ta thấy ở họ có trái tim với một tình yêu nước cháy bỏng, cùng những lí tưởng cao đẹp, chiến đấu, hi sinh vì độc lập dân tộc như lời thơ của Lê Anh Xuân:

“Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất

Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.”

(Dáng đứng Việt Nam)

Không chỉ có tình yêu nước nồng nàn, ở những người lính còn có sự đoàn kết, gắn bó trong tình đồng chí, đồng đội keo sơn Và đặc biệt hơn cả là sự dũng cảm, kiên cường vượt qua mọi gian khó, hiểm nguy

để sống, chiến đấu và chiến thắng Song trong mỗi bài thơ, các tác giảlại sử dụng ngòi bút sắc sảo để thể hiện sự phát hiện riêng về hình tượng người lính

Trang 19

Trước hết, trong bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu đã thể hiện hình tượng người lính với những vẻ đẹp giản dị, mộc mạc nhưng chân thựccùng vẻ đẹp tâm hồn là tình cảm đồng chí, đồng đội thắm thiết và sự thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ của nhà thơ trước hoàn cảnh và tình cảmcủa người lính Bài thơ đã làm nổi bật hình ảnh người chiến sĩ với vẻ đẹp giản dị, mộc mạc của người nông dân mặc áo lính trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Họ đều là những người nông dân áo vải, xuất thân từ những vùng quê nghèo khó:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.”

“Quê hương anh” và “Làng tôi” đều nghèo khổ, là nơi “nước mặn, đồng chua”, là xứ sở “đất cày lên sỏi đá” Tác giả sử dụng phép sóng đôi đối ứng, mượn tục ngữ, thành ngữ để nói về làng quê, nơi chôn rau cắt rốn của anh lính Họ là những người nông dân từ những vùng quê lam lũ nghèo đói, quanh năm chỉ biết đến con trâu, mảnh ruộng, nhưng các anh đã giã từ quê hương lên đường chiến đấu Chính Hữu

đã làm cho lời thơ bình dị, giọng điệu thơ thù thỉ tâm tình, làm toát lên cẻ mộc mạc của những người trai cày ra trận đánh giặc Sự đồng cảnh, đồng cảm với nhau là cái gốc để hình thành tình bạn, tình đồng chí sau này Những chàng Thạch Sanh của đất nước không chỉ có cũng một xuất thân, cùng một giai cấp, mà ở họ ta còn thấy được một

sự chấp nhận cuộc sống quân ngũ đầy thiếu thốn:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”

Kể sao kể xiết những gian khổ mà lính phải trải qua trong chiến đấu Nói về cái gian khổ của người lính trong kháng chiến chống Pháp, ta nhỡ đến cái rét xé thịt da trong bài “Lên Cẩm Sơn” của Thôi Hữu:

“Cuộc đời gió bụi pha sương máu

Đợi rét bao lần xé thịt da

Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật

Trang 20

Đâu còn tươi nữa những ngày hoa!

Lòng tôi xao xuyến tình thương xót

Muốn viết bài thơ thấm lệ nhòa”

Ta nhớ đến cái ác liệt của bệnh sốt rét trong “Tây Tiến” của Quang Dũng:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

Ta cũng có thể thấy cái buốt giá của núi rừng Việt Bắc, cái ớn lạnh toát mồ hôi trong những câu thơ của Chính Hữu Nhưng nếu như ThôiHữu viết về cái rét xé thịt da để khắc họa những con người chấp nhận

hi sinh “Đem thân xơ xác giữ sơn hà”, Quang Dũng nói đến sốt rét để

tô đậm vẻ bi tráng của những người chiến sĩ thì Chính Hữu nói về cái

ác nghiệt của sốt rét để miêu tả rõ nét cuộc sống chiến đấu gian khổ

và sự gắn bó của đồng đội keo sơn Sốt rét rừng trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng của những người lính khi hành quân trong rừng “Áo anh rách vai”, “Quần tôi có vài mảnh vá”, đó là hiện thực của những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, quần áo của người lính rách bươn, phải buộc túm lại nên người lính vệ quốc còn gọi là “vệ túm”.Hình ảnh người lính của Chính Hữu còn hiện lên với những vẻ đẹp tình cảm, tâm hồn Từ “đôi người xa lạ”, họ có cùng chung nhiệm vụ chiến đâu, chung lí tưởng, đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, những ngườilính từ phương trời xa lạ đã về đây tụ hội trong hàng ngũ quân sự rồi thành “đôi tri kỉ”, về sau kết thành tình “đồng chí” Những ngày đầu đứng dưới lá quân kì: “Anh với tôi đôi người xa lạ/Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau” Và sự nghiệp chung của dân tộc đã khiến người chiến sĩ xóa bỏ khoảng cách xa lạ về không gian nơi sinh sống của mỗi người:

“Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí!”

Trang 21

Ngày cùng chung nhiệm vụ chiến đấu vai kề vai, súng bên súng, chia nhau gian khổ, nguy hiểm, đêm đắp chung một chiếc chăn chịu rét

“Súng bên súng” là cách nói hàm súc, hình tượng: cùng chung lí

tưởng chiến đấu; “anh với tôi” cùng ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước quê hương, vì độc lập, tự do và sự sống còn của dân tộc “Đầu sát bên đầu” là hình ảnh diễn tả ý hợp tâm đầu của đôi bạn tâm giao, nghĩa là có rất nhiều cái chung: “Không chỉ gần nhau về không gian

mà còn chung nhau ý nghĩ, lí tưởng” (“Đọc văn – Học văn” – Trần Đình Sử) Mục đích của họ tất cả là vì độc lập, tự do của Tổ quốc, những người lính đã gửi lại quê nhà tất cả:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Giang nhà không mặc kệ gió lung lay”

Tấm lòng của họ đối với đất nước thật cảm động, khi giặc đến các anh

đã gửi lại người bạn thân mảnh ruộng chưa cày, mặc kệ những gian nhà gió cuốn lung lay để ra đi Nhưng nếu không có một tình yêu đất nước sâu nặng thì không thể có một thái độ ra “mặc kệ” để ra đi như vậy Họ đã ra đi chiến đấu chỉ vì một lẽ giản dị: yêu nước Tình yêu đất nước, ý thức dân tộc là máu thịt, là cuộc đời của họ Nhưng khi ở nơi kháng chiến, người lính nông dân áo vải lại bận tâm lo lắng về mảnh ruộng chưa cày, với căn nhà bị gió lung lay:

“Giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính”

Chuyện làng quê có cổng gió, lũy tre làng, bờ ao, giếng nước… là những hình ảnh quen thuộc trong thơ ca:

“Giếng nước chưa kịp khử hết mùi phèn

Lòng ái ngại gót chân cô hàng xóm

Gió heo may thao thức chao cánh võng

Tiếng gà bộn bề nỗi nhớ gốc đa”

(“Hương” – Hoàng Đức Chính)

Đó là nỗi nhớ không tên luôn thường trực trong người lính trẻ Nhưngnỗi nhớ của người lính trong bài thơ “Đồng chí” lại là một nỗi nhớ hai

Trang 22

chiều Anh lính nhỡ về ruộng nương, nhớ ngôi nhà, nhớ giếng nước gốc đa; hay phải chăng chính giếng nước, gốc đa là người mẹ già, người vợ cùng đám con thơ đang trông mong ngóng chờ anh trở về

Có cả hai nỗi nhỡ ở hai phía chân trời, Và tình yêu quê hương ấy đã góp phần hình thành tình đồng chí, làm nên sức mạnh tình thần để người lính vượt qua mọi thử thách, gian lao, ác liệt thời máu lửa Cũng nói về nỗi nhớ ấy, Hoàng Trung Thông đã viết trong bài thờ

“Bao giờ trở lại”:

“Bấm tay tính buổi anh đi

Mẹ thường vẫn nhắc: biết khi nào về ?

Lúc xanh xanh ngắt chân đê,

Anh đi là để giữ quê quán mình

Cây đa giếng nước sân đình

Lời thề nhớ buổi mít tinh lên đường”

Nổi bật trong bài thơ “Đồng chí” là tình cảm đồng chí, đồng đội thấm đẫm sự sẻ chia, thấu hiểu và đồng cảm sâu sắc của tác giả Tình đồng chí thật sự đã được nảy sinh từ nhiều điểm chung của những người

“nông dân mặc áo lính”, họ cùng chung một xuất thân từ vùng quê nghèo khó, cùng lí tưởng chiến đấu vì hòa bình của dân tộc, để rồi trở thành một mối tình tri kỉ:

“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”

Nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” Câu thơ giúp ta hiểu “đôi người xa lạ” ấy đã nảy nở một tình cảm, sự gặn kết không thể tách rời nhau – “đôi người tri kỉ” Giọng thơ đang tuôn liền mặc, nhẹ nhàng thì bị ngắt nhịp đột ngột: “Đồng chí!” Từ “đồng chí” được tách ra thành một câu riêng, gồm hai tiếng, một từ, một dấuchấm than; đó làm điểm sáng cao trào của bài thơ, là một phát hiện, một khẳng định và là bản lệ để khép lại cơ sở hình thành tình đồng chí

và mở ra biểu hiện tình đồng chí, đây còn là một mối quan hệ có ý nghĩa thời đại thiêng liêng bởi sau cách mạng tháng Tám, “đồng chí”

Trang 23

trở thành từ xưng hô quen thuộc trong các cơ quan, đoàn thể, đơn vị

“Miệng cười buốt giá”, mặc dù vẫn mang hơi thở của cái lạnh nhưng

đã ấm lên, sáng lên tình đồng đội, tinh thần lạc quan của người chiến sĩ; rồi đến những củ chỉ thể hiện tình cảm thầm lặng mà gắn bó của người lính: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” “Nắm lấy bàn tay” làtruyền cho nhau hơi ấm, cho nhau sức mạnh, là sự cảm thông chia sẻ,

là lời động viên âm thầm, là tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng, sưởi

ấm, nâng đỡ những người lính cùng vượt qua những gian lao, thử thách của cuộc chiến Cái nắm tay ấy thay cho mọi lời nói, và Chính Hứu đã phát hiện ra sức mạnh của tinh thần dựa trên cơ sở cảm thông

và thấu hiểu sâu sắc, đã tạo nên chiều sâu và sự bền vững của thứ tìnhcảm thiêng liêng – tình đồng chí, đồng đội

Không chỉ dừng lại ở cung bậc tình cảm giữa những người lính, bài thơ “Đồng chí” còn mang ta đến với vẻ đẹp tâm hồn lãng mạn cao hơn ở cuối bài:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.”

Người lính không còn cô đơn lạnh lẽo vì bên anh đã có đồng đội và cây súng, là những người bạn tin cậy nhất, tình đồng chí đã sưởi ấm lòng anh Người chiên sĩ toàn tâm toàn ý hướng theo mũi súng Chínhlúc ấy, các anh bắt gặp một hiện tượng kì lạ:

“Đầu súng trăng treo.”

Nét sáng tạo độc đáo thể hiện bản lĩnh nghệ thuật của của Chính Hữu qua bài thơ chính là hình ảnh này Từ tình đồng chí, trải qua những thử thách khác nhau, Chính Hữu đã tạo nên cái nhìn đầy chất thơ Nếuhai câu thơ trên không kết hợp với hình ảnh “đầu súng trăng treo” thì

Trang 24

nó khó có những giá trị đặc sắc Ngược lại, nếu không có sự nâng đỡ của của hai câu thơ đó thì hình ảnh sẽ bị coi là thi vị hoá cuộc sống chiến đấu người lính Sự hòa quyện nhuần nhuyễn giữa hiện thực và chất thơ lãng mạn, bay bổng đã làm cho “đầu súng trăng treo” trở thành một trong những hình ảnh đẹp nhất thơ ca kháng chiến chống Pháp Câu thơ chỉ vỏn vẹn bốn từ nhưng nó bao hàm cả cái tình, cái ý

và đặc biệt là sự cảm nhận tinh tế của Chính Hữu Nhờ sự liên tưởng thông minh tài tình, tâm hồn giàu cảm xúc, Chính Hữu đã gợi lên một không gian bát ngát giữa vũ trụ bao la, nó có cái gì đó rất bồng bềnh, huyền bí, khó tả Hình ảnh đó gây được ấn tượng thẩm mĩ sâu sắc với người đọc, đồng thời, nó trở thành hình tượng đa nghĩa độc đáo của thi ca “Đầu súng trăng treo” được xây dựng bằng bút pháp siêu thực, đầy chất thơ Tại sao vậy? Chúng ta thực sự đánh giá cao không gian nghệ thuật hiện thực của “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá”

và đặc biệt là không gian “rừng hoang sương muối”; nó đã góp phần

tô đẹp thêm hình tượng vầng trăng, cây súng Hai hình ảnh này đối lập nhau rất rõ Một bên là vầng trăng muôn thuở hấp dẫn và kì lạ, thanh bình với thi ca Nó biểu tượng cho cuộc sống tươi đẹp, hòa bình, hạnh phúc của nhân loại, đồng thời cũng là ước mơ cuộc sống tươi đẹp hòa bình hạnh phúc Nhưng trăng ở đây lại được đặt trong mối quan hệ với súng Một bên là súng, súng biểu tượng cho chiến tranh và cái chết nhưng súng cũng trở thành lí tưởng cao đẹp, tinh thần chiến đấu vì cuộc sống hòa bình dân tộc của người chiến sĩ

Trăng là vẻ đẹp lãng mạn, súng là hiện thực Tuy đối lập, nhưng hai hình tượng này đã tôn thêm vẻ đẹp cho nhau, tạo nên vẻ đẹp hoàn mĩ nhất Không phải ngẫu nhiên khi Chính Hữu đưa hai hình ảnh ngược nhau trong một câu thơ Qua đó ông muốn khẳng định cái khát vọng

về một cuộc sống yên lành đầy chất thơ: để cho vầng trăng kia sáng mãi, trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, mọi người phải cầm súng chiến đấu Có thể nói, hình ảnh “Đầu súng trăng treo” là một phát hiện thú vị, mới lạ độc đáo của Chính Hữu Chính hữu đã sử dụng bút pháp hiện thực để tạo nên hình ảnh thơ vừa hiện thực vừa lãng mạn Trăng và súng kết thành một không gian thơ trữ tình, là biểu tượng cho tình thần dũng cảm, hào hoa muôn thuở của dân tộc nói chung và người lính nói riêng:

Trang 25

“Hồi còn nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ”

(“Ánh trăng” – Nguyễn Duy)

Tóm lại, bài thơ “Đồng chí” vừa mang vẻ đẹp giản dị, bình dân khi nói về đời sống vật chất của người chiến sĩ, lại vừa mang vẻ đẹp cao

cả, thiêng liêng, thơ mộng khi nói về đời sống tâm hồn, về tình đồng chí của các anh – người lính binh nhì buổi đầu kháng chiến

Chúng ta không chỉ bắt gặp hình tượng người lính trong thơ của

Chính Hữu, mà hình tượng ấy cũng được Phạm Tiến Duật thể hiện trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” Hình tượng người lính trong bài thơ hiện lên với vẻ đẹp dũng cảm, tinh nghịch, tình đồng độigắn bó và tâm hồn phơi phới, sôi nổi, tinh nghịch, ngang tàng cùng tình cảm yêu quý, tự hào, gắn bó của nhà thơ đối với những người lính Chân dung người lái xe Trường Sơn được tác giả khắc họa qua hình ảnh những chiếc xe không kính và một giọng thơ ngang tàng, trẻ trung, gần gũi Cảm hứng về những chiếc xe không kính đã làm nền

để nhà thơ ghi lại những khám phá của mình về vẻ đẹp của những chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mỹ Đó là tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, đó còn là lòng lạc quan, yêu đời, tình đồng chí đồng đội thắm thiết và lòng yêu nước nồng nàn, lý

tưởng chiến đấu cao đẹp

Cái nhìn lạc quan của người lính về sự ác liệt của chiến tranh được thểhiện rất rõ qua cách lý giải về những chiếc xe không kính:

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Điệp từ “không” khiến câu thơ giãn ra, tạo nhịp điệu khoan thai, đặc biệt từ “rồi” khép lại câu thơ thứ hai đã làm nên một giọng điệu rất nhẹ Người lính nói về những chiếc xe không kính chính là nói về cuộc chiến khốc liệt mà họ phải trải qua Vậy mà người lính lái xe lại

Trang 26

kể về tất cả những điều ấy bằng một giọng thản nhiên đến lạ lùng Điều này cho thấy rất rõ cái nhìn bình thản của người lính về những mất mát của bom đạn mà kẻ thù đã gây ra Đó là cái nhìn lạc quan củabản lĩnh anh hùng.

Phẩm chất anh hùng của một người lái xe Trường Sơn ngời sáng qua

tư thế ung dung:

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái

Không còn kính chắn gió, người lái xe lại có cái thú vị là được tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài Qua khung cửa không còn kính, không chỉ mặt đất mà cả bầu trời với “sao trời” và “cánh chim” cũng như “ùa vào buồng lái” Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã miêu tả rất chínhxác cái cảm giác mạnh và đột ngột khi ngồi trên chiếc xe không kính lao nhanh về phía trước Nhịp thơ dồn dập, khỏe khoắn, vừa gợi cảm giác về tốc độ của tiểu đội xe không kính, vừa mở ra tâm trạng hồ hởi,háo hức của người lính trên đường ra trận Với người chiến sỹ TrườngSơn “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” Bởi niềm hạnh phúc lớn nhất

Trang 27

là được có mặt trên trận tuyến đánh quân thù Với những câu thơ này, Phạm Tiến Duật đã làm dậy khí thế của tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mỹ.

Cái nhìn của người lính lái xe vào thiên nhiên vũ trụ là cái nhìn đậm chất lãng mạn chỉ có ở những người can đảm, biết vượt lên những thửthách khốc liệt Lái xe không kính không phải là không gặp những khó khăn nào là “Gió vào xoa mắt đắng”, rồi những thứ bên ngoài như quăng như quật vào người lái xe nhưng chủ yếu vẫn là cảm giác thú vị về thiên nhiên vũ trụ bỗng trở nên thật gần gũi Hóa thân vào những người chiến sĩ lái xe, tác giả đã nhìn hiện thực chiến tranh bằngcon mắt của người lính Đó là cái nhìn lãng mạn, trẻ trung, yêu đời.Trước những thách thức khốc liệt do những chiếc xe không kính

mang lại, người lính đã tỏ thái độ bất chấp, coi thường hiểm nguy.Không có kính ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Không có kính ừ thì ướt áo

Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

Chưa cần thay thái trăm cây số nữa

Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi

Hai khổ thơ đầy ắp những chi tiết hiện thực, đó là một kiểu hút thuốc

“phì phèo” rất lính, rồi tiếng cười “ha ha” vô tư, sảng khoái, đó là

“bụi phun”, “mưa tuôn”, “mưa xối” Những chi tiết rất thực rất sống động ấy mà đưa ta đến cuộc sống gian khổ nhưng đầy ắp niềm vui và tiếng cười của những người lính trẻ Hiện thực đời lính đã được PhạmTiến Duật tái hiện bằng những câu thơ đậm chất văn xuôi và một giọng thơ ngang tàng, hồn nhiên rất lính

Thực tế những bánh xe lăn là những gian khổ, những hiểm nguy Đó

là những thách thức rất thực mà những người lính lái xe không kính

Trang 28

đã trải qua trên đường và chiến trường Nhưng với họ, gian khổ chả

có ý nghĩa gì Điệp từ “ừ thì” và “chưa cần” đã làm bật lên thái độ thách thức, bất chấp hiểm nguy của người lái xe Đây là thái độ của con người đứng cao hơn hoàn cảnh, coi thử thách là cơ hội để thể hiệnmình Không phải là người lính gồng mình lên để vượt qua gian khổ,

mà các anh đã chiến thắng thử thách khốc liệt một cách hết sức nhẹ nhàng bằng tiếng cười “ha ha” đầy sảng khoái Đó là tiếng cười của niềm lạc quan yêu đời, chất chứa trong đó biết bao hồn nhiên, trong sáng tuổi trẻ Bằng ống kính điện ảnh, nhà thơ đã ghi lại được những khoảnh khắc xúc động của tình đồng chí, đồng đội giữa những người lính Trường Sơn

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi

Phạm Tiến Duật đã khéo léo đưa những chiếc xe không kính vào thơ

để làm cơ sở nảy nở tình cảm giữa những người lính lái xe Mới đầu chỉ là những chiếc xe không kính, nhưng về sau đã hợp thành cả một tiểu đội xe không kính Từ “tiểu đội” cho ta hiểu rằng tình cảm giữa những người chiến sĩ lái xe trước hết là tình đồng đội giữa những con người cùng chung nhiệm vụ chiến đấu, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Qua hình ảnh tiểu đội xe không kính, nhà thơ vừa gợi được sự ác liệt của chiến tranh, vừa tạo ra được tình huống để người lính lái xe bộc lộ tình đồng chí đồng đội

Nhờ xe không có kính mà người lính dễ dàng giao lưu với nhau hơn Không kính tưởng như thô sơ, hỏng hóc nhưng đến đây đã làm bật lên

vẻ đẹp riêng của nó Gặp nhau trên con đường Trường Sơn huyết mạch, người lính bắt tay nhau qua cửa kính vỡ như một cách bộc lộ tình cảm Cái bắt tay nồng ấm tình đồng chí này không nhẹ nhàng nhưcái nắm tay giữa những người nông dân trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu mà có một cái gì đó thật mạnh mẽ và ngang tàng Đây cái

Trang 29

bắt tay này còn có cả những tiếng cười hồn nhiên trong sáng và cái sôinổi của tuổi trẻ mang theo vào chiến trường.

Đầu tiên giữa những người lính lái xe chỉ là tình đồng đội giữa những người cùng một tiểu đội, về sau đã phát triển thành bạn bè và hơn thế nữa thành tình cảm gia đình

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Bếp Hoàng Cầm là bếp dã chiến do anh nuôi tên là Hoàng Cầm chế tạo ra Đây là loại bếp được đặt sâu trong lòng đất để hạn chế sự tỏa khói, tránh bị địch phát hiện Nhưng đi vào trang thơ Phạm Tiến Duật,cái bếp của người lính đã được “dựng giữa trời”, thật sừng sững, thật ngang tàng như thách thức kẻ thù Trong thơ Phạm Tiến Duật, bếp hoàng cầm đã trở thành tín hiệu của sự sum họp, đoàn tụ Ở nơi nào

có bếp Hoàng Cầm là nơi đó có một gia đình lính, bởi theo họ “chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy” Câu thơ có giọng điệu rất dí dỏm và thoáng nụ cười hồn nhiên rất chất lính Ở đây tác giả đã có một cách định nghĩa rất độc đáo về gia đình Đối với những người lính lái xe, không nhất thiết phải chung huyết thống mà chỉ cần chung bát, chung đũa thì đã là gia đình rồi Bát đũa bình thường giản dị mà đã trở thànhvật thiêng liêng gắn kết tình cảm giữa những người lính xa nhà chỉ cần được quay quần xung quanh bếp Hoàng Cầm, cùng chia sẻ bữa cơm đạm bạc là họ đã được tận hưởng cảm giác ấm cùng của gia đình Dường như với những người lính Trường Sơn, tình đồng chí đồng đội cũng đẹp đẽ, thiêng liêng chẳng khác nào tình cảm gia đình

Lý tưởng chiến đấu cao đẹp và niềm tin vào chiến thắng của dân tộc ởngười lính lái xe được thể hiện thật chân thành và xúc động trong những vần thơ giản dị

“Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi lại đi trời xanh thêm”

Tác giả đã miêu tả hết sức chân thực giấc ngủ của người lính lái xe Giấc ngủ “chông chênh” vì đường xe chạy gập ghềnh, từ láy “chông

Trang 30

chênh” đã góp phần tô đậm cuộc sống gian khổ của người lính

Trường Sơn

Câu thơ cuối ngắt nhịp 2/2/3 đã làm nên âm hưởng phơi phới Đặc biệt điệp ngữ “lại đi” khiến câu thơ như một tiếng reo vui, chất chứa trong đó là bao nhiêu hồ hởi, háo hức của người lính lúc lên đường ra trận Người lính hiểu mỗi chuyến xe vào chiến trường là để cho “trời xanh thêm” Hình ảnh “trời xanh” là ẩn dụ cho hòa bình, cho độc lập,

tự do của Tổ quốc, cho ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Đến đây lí tưởng chiến đấu của người lính Trường Sơn đã sáng ngời Người chiến sĩ thấy “trời xanh thêm” là đã tin tưởng vào ngày chiến thắng đang đến gần, niềm tin ấy đã làm nên nguồn sức mạnh tinh thần lớn lao cho cả tiểu đội xe không kính

Vẻ đẹp của người lính lái xe Trường Sơn kết đọng ở lòng yêu nước cháy bỏng và ý chí chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam:

Không có kính, rồi xe không có đèn

Chỉ cần trong xe có một trái tim

Điệp ngữ “không có” đã làm nên âm điệu nhanh, mạnh, khỏe khoắn, dồn dập cho cả đoạn thơ Ta cảm nhận thấy trong nhịp điệu ấy khí thếkhẩn trương, hối hả của những đoàn xe ra trận và cả sự ác liệt trong cuộc chiến Tác giả đã sử dụng thành công nghệ thuật liệt kê “không

có kính”, đồng nghĩa với sự chồng chất những mất mát, hi sinh của người lính Đến đây hình tượng những chiếc xe không kính đã phát triển ở mức cao hơn Xe không chỉ “không có kính”, mà còn “không

có đèn”, “không có mui xe”, chiếc xe đã trở lên hỏng hóc, méo mó và biến dạng như một thứ đồ phế thải

Tưởng chừng xe không thể chạy được, nhưng thật kì diệu “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước” Đây là một điều bất ngờ, hơn thế nữa

là những phi thường, là một sự bất chấp đầy thách thức Tại sao lại có điều kì diệu ấy? Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã phát hiện rằng: “Chỉ cần trong xe có một trái tim” thì dù thế nào xe vẫn cứ chạy Không có cách lí giải nào cụ thể và thuyết phục hơn thể “Chỉ cần” có nghĩa là

Trang 31

yếu tố duy nhất để xe vẫn cứ chạy chính là trái tim người lính Chỉ có trái tim quả cảm, giàu lòng yêu nước của người chiến sĩ lái xe thì có mọi khó khăn đã lùi lại phía sau Đặc biệt nhà thơ đã phát hiện ra cả tiểu đội xe không kính vẫn chạy vì “miền Nam phía trước”, vì một nửa đất nước đang dưới gót giày xâm lược của đế quốc Mỹ Ý chí chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước của người lính Trường Sơn đến đây đã ngời sáng.

Đẹp nhất trong bài thơ là “trái tim” người lính Hình ảnh này được đặttrong thể đối lập với ba cái “không”: “không kính”, “không đèn”,

“không mui” Đây chính là sự đối lập giữa cái ác liệt của cuộc chiến với tinh thần, khí phách, tấm lòng của người lính lái xe Hình ảnh

“trái tim” chính là hoán dụ cho người chiến sĩ Trường Sơn yêu nước dũng cảm Với hình ảnh giàu ý nghĩa này, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã

mở ra một góc nhìn mới cho hình tượng người lính lái xe không kính Phải chăng “trái tim” là cội nguồn sức mạnh của cả tiểu đội xe không kính, gốc rễ phẩm chất anh hùng của người lính Trường Sơn Từ hình ảnh “trái tim” cầm lái, nhà thơ đã khẳng định một chân lí của thời đại chống Mĩ, đó là sức mạnh quyết định chiến thắng không phải là

phương tiện, vũ khí mà là con người với trái tim yêu nước nồng nàn

và ý chí kiên cường dũng cảm Có thể nói hình ảnh “trái tim” đã làm bật lên chủ đề của bài thơ và làm ngời sáng vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe Trường Sơn thời chống Mĩ

Tóm lại, Bài thơ về Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật đã thành công trong việc khắc hoạ hình tượng những chiến sĩ lái xe trên đường Trường Sơn đầy gay go thử thách, một lực lượng tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước

Cả hai bài thơ “Đồng chí” và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” đều mang những nét nghệ thuật đặc sắc Với “Đồng chí”, ngôn ngữ thơ thật hàm súc, mộc mạc nhu tiếng nói của người lính trong tâm sự, tâmtình Tục ngữ, thành ngữ, ca dao được Chính Hữu vận dụng rất linh hoạt, tạo nên chất thơ dung dị, hồn nhiên, đậm dà Sự kết hợp giữa bútpháp hiện thực và màu sắc lãng mạn chung đúc nên hồn thơ chiến sĩ Còn với “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, Phạm Tiến Duật đã khéo

Trang 32

léo đưa vào những chi tiết, hình ảnh đặc sắc cùng giọng điệu, ngôn từ

và lối thơ văn xuôi khắc đậm hình tượng người lính Mặc dù đều xây dựng hình tượng người lính trong những năm tháng chiến tranh nhưnghai nhà thơ không phản ánh máy móc, thụ động như một tấm gương

mà thông qua tư tưởng, tình cảm, cách nhìn, cách đánh giá của từng nhà thơ

Như vậy, nhận định "Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng ( ) Nhưng văn học không phản ánh máy móc, thụ động như một tấm gương mà thông qua tư tưởng, tình cảm, cách nhìn, cách đánh giá của từng nhà văn" là hoàn toàn đúng đắn Nghệ sĩ là kẻ làm công việc

“khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao) Viết văn là một quá trình khai phá những vỉa quặng của cuộc đời nhưng mỗi thứ kim loại quý hiếm nhà văn tìm thấy lại lấp lánh một sắc màu riêng biệt Có phải đó là sắc màu của những hình tượng nhân vật điển hình được nhà văn nhặt nhạnh ở cuộc đời, nhào nặn trong tư tưởng và đưa vào tác phẩm dưới lớp áo chủ quan độc đáo?

Và Chính Hữu cùng Phạm Tiến Duật đã thể hiện xuất sắc điều đó, khiến bài thơ “Đồng chí” và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” trở thành những bài thơ tiêu biểu của Văn học Việt Nam thời chống Pháp

và chống Mỹ Hai bài thơ đã kết thúc, hai tác giả cũng đã đi xa nhưng chừng nào độc giả chưa đánh mất đi bản năng của mình: sự rung độngthì những bài thơ vẫn còn sống mãi Quả thật văn chương đã tạo ra cho mình một thế đứng riêng còn mạnh mẽ hơn cả lịch sử

2,đoàn thuyền đánh cá

Huy Cân là một trong những cây đại thụ của nền văn học Việt Nam thế kỉ XX Trước cách mạng tháng Tám, Huy Cận thường viết về nỗi buồn, nỗi cô đơn rợn ngợp của con người khi nhận ra sự nhỏ bé của mình trước vũ trụ bao la rộng lớn Nhưng kể từ sau cách mạng tháng Tám, đất nước hồi sinh, hồn thơ Huy Cận như sống lại và có nhiều chuyển biến Thơ ông không còn ưu sầu, ảo não nữa mà chan chứa niềm vui, niềm tin yêu vào cuộc sống, vào những con người mới Năm 1958, sau một chuyến đi khảo sát thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh, được sống và chứng kiến không khí lao động hăng say, khẩn trương sôi nổi của nhân dân ta trong những ngày xây dựng Chủ

Trang 33

nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhờ thơ vui cùng mừng vui, xúc động Từ

đó ông sáng tác nên bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” như một bản hùng

ca ca ngợi cuộc sống mới, thiên nhiên đất nước con người bao la rộng lớn, nên thơ tươi đẹp

Ngay mở đầu bài thơ ta đã nghe thấy âm hưởng bài ca lao động ngân vang, khoẻ khoắn trong cảnh đoàn thuyền ra khơi Đó là cảnh ra khơi trong buổi hoàng hôn thật huy hoàng, tráng lệ, đầy sức sống:

“Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hát căng buồm cùng gió khơi”

Biện pháp so sánh độc đáo gợi lên hình ảnh mặt trời như một hòn lửa khổng lồ đang từ từ lặn sâu vào lòng biển cả để lại trên mặt biển

những tia sáng đỏ ối, báo hiệu một ngày mới đã trôi qua, hoàng hôn bắt đầu buông xuống Sang đến câu 2, hình ảnh thơ càng trở nên mới

lạ độc đáo, thể hiện một trí tưởng tượng vô cùng phong phú của nhà thơ: “Sóng đã cài then, đêm sập cửa”

Trong cách cảm nhận của Huy Cận, vũ trụ giống như một ngôi nhà lớn, còn những con sóng lăn tăn trên mặt biển chính là cái then cài khoá chặt cánh cửa của màn đêm Câu thơ gợi cho ta cảm giác vũ trụ như đang chìm trong trạng thái nghỉ ngơi, và bóng tối bắt đầu bao trùm lên thiên nhiên cảnh vật nhưng đó lại chính là lúc:

“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hát căng buồm cùng gió khơi”

Trang 34

Đêm tối vạn vật chìm trong giấc ngủ Đó cũng là lúc con người lại bắtđầu lao động, bắt đầu một cuộc hành trình mới Hình ảnh thơ nói lên

sự cần cù nhiệt tình lao động, chịu thương chịu khó của những người dân vùng biển

Công việc đánh cá nhọc nhằn vất vả, hiểm nguy nhưng đoàn thuyền lại ra khơi trong tiếng hát Tiếng hát khoẻ khoắn vang vọng khắp cả một vùng sông nước bao la, rộng lớn và cả trong lòng người thể hiện một niềm vui tươi, phấn khởi, đầy lạc quan tin tưởng của người đánh

cá lúc ra khơi Và chính tiếng hát đó không chỉ làm cho công việc lao động đỡ nhọc nhằn vất vả mà nó còn tạo nên một sức mạnh vật chất

vô cùng to lớn cùng với gió biển đưa con thuyền lao nhanh về phía trước Cả đoàn thuyền ra khơi trong một khí thế vô cùng mạnh mẽ đầy tin tưởng trong cuộc hành trình chinh phục biển cả

“Hát rằng cá bạc biển Đông lặng

Cá thu biển Đông như đoàn thoi

Đêm ngày dệt biển muôn luồn sáng

Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi”!

Những câu thơ thể hiện trực tiếp khúc ca say mê của người đánh cá

Họ mong muốn trời yên biển lặng để đánh cá được nhiều, để cuộc sống được đủ đầy no ấm Biện pháp so sánh “Cá thu biển Đông như đoàn thoi” cho ta cảm nhận biển Đông bao la rộng lớn, trù phú, chất chứa trong mình biết bao nhiêu là cá Nhìn từng đàn cá thu bơi lội thành từng đàn, những con cá với những chiếc vẩy bạc nối tiếp nhau

di chuyển trong nước tạo thành những luồng sáng lấp lánh trên mặt biển tối đen, nhà thơ cảm nhận mặt biển như biến thành khung cửi khổng lồ còn những con cá kia chẳng khác nào những chiếc thoi đưa thoăn thoát đang ngày đêm âm thầm dệt nên tấm áo choàng rực rỡ cho

vũ trụ về đêm

Trang 35

Cách so sánh vô cùng độc đáo, sự xuất hiện của những đoàn cá thu như làm sáng bừng lên cả một không gian biển cả bao la rộng lớn làmcho cảnh vật ngời sáng, lung linh, lấp lánh Ánh sáng ấy gieo vào longngười một niềm vui mừng, hân hoan khôn xiết cho nên cái cách mà người nông dân gọi cá “Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi” nghe có gì đó thânthương, trìu mến ẩn chứa trong đó một niềm khát khao, ước vọng mong muốn đánh bắt thật nhiều cá, hải sản quý hiếm để góp phần làmgiàu cho quê hương, cho tổ quốc thân yêu.

Cảnh đoàn thuyền đánh bắt cá trong đêm:

“Thuyền ta lái gió với buồm trăng,

Lướt giữa mây cao với biển bằng

Ra đậu dặm xa dò bụng biển

Dàn đan thế trận lưới vây giăng”

“Lái gió”, “buồm trăng” là những cách nói vô cùng sáng tạo, mới lạ độc đáo đem đến cho câu thơ những hình ảnh vừa lãng mạn, bay bổngvừa nên thơ, kì vĩ, tráng lệ Đọc câu thơ người ta cảm nhận người, thuyền, thiên nhiên như hoà hợp làm một Con thuyền ra khơi, lướt đi giữa lớp mây cao, biển bằng thật hùng dũng hiên ngang nó ra khơi không phải chỉ với khí thế hăm hở do người cầm lái mà còn được thiên nhiên nâng đỡ chở che

Ở đây gió trở thành bánh lái của con thuyền Chính con thuyền có thể lái cả gió điều khiển nó theo ý muốn của mình Cánh buồm tuy nhỏ bẻnhưng có thể mang theo cả vầng trăng trên cao trong suốt cả một hànhtrình dài Ánh trăng lung linh bang bạc chiếu sáng cả không gian làm cho cảnh vật trở nên nên thơ, huyền ảo Ở đây ta nhận ra con thuyền

Trang 36

tuy ra khơi giữa không gian biển cả bao la rộng lớn mà không hề nhỏ

bé Nó “lướt” đi vun vút như một con tuấn mã băng băng tiến về phía trước mà không hề sợ hãi Xung quanh nó là gió trăng làm bầu bạn Một cảnh tượng thật nên thơ, hùng dũng biết bao Con người hoàn toàn làm chủ thiên nhiên, cảnh vật:

“Ra đậu dặm xa dò bụng biển

Dàn đan thế trận lưới vây giăng”

Hai câu thơ gợi lên những cuộc đánh bắt cá xa bờ đầy những gian khổhiểm nguy Nhưng không vì thế khiến lòng người nao núng Bởi họ mang trong mình nỗi khát khao chinh phục biển cả, thám hiểm, thăm

dò “bụng biển” để tìm kiếm những luồng cá lớn

Dưới ngòi bút miêu tả tài hoa, sáng tạo, lãng mạn của Huy Cận, cuộc đánh bắt cá của ngư dân trên biển bỗng trở thành những cuộc thuỷ chiến đầy gay go, quyết liệt Con người dùng chính trí tuệ và sức mạnh của mình để chinh phục đại dương, biển cả Thế trận con người bày ra bằng những tấm lưới chắc chắn đan vào nhau, bủa vây sẵn sàngchờ đón cá Vừng bước, từng bước con người dành lấy từ bàn tay vĩ đại của thiên nhiên những nguồn khoáng sản, những gì quý giá nhất

để góp phần làm giàu thêm quê hương đất nước, hàn gắn những vết thương của chiến tranh

“Cá nhụ, cá chim, cùng cá đé

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng

Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé

Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long”

Trang 37

Biện pháp liệt kê: “cá nhụ, cá chim cùng cá đé / Cá song lấp lánh đuốc đen hồng” gợi lên sự trù phú, giàu có của biển cả nước ta Có biết bao loài tôm cá, hải sản quý hiếm mà đâu phải nơi mênh mông làm rực sáng cả một biển trời Những con cá tung tăng bơi lội, đùa giỡn, tắm mình dưới ánh sáng của vầng trăng và những chiếc đuôi nhỏ bé của nó như đang quẫy đạp vào ánh trăng vàng đang lung linh trong mặt nước.

Một cảnh tượng thiên nhiên thật thơ mộng, ánh trăng bàng bạc chiếu sáng khắp cả không gian lung linh, huyền ảo Ta ngồi đây mà nghe xung quanh mình những nhịp thở đều đặn màn đêm của đại dương bao la rộng lớn: Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long

Đêm thở, lại một cách dùng từ rất sáng tạo, độc đáo của nhà thơ Huy Cận Ngòi bút nhân hoá của ông đã khiến cho màn đêm trở thành một sinh vật khổng lồ, có sự sống như con người Nhịp thở của màn đêm chính là âm thanh của những cơn sóng tràn bờ đều đặn, liên tục,

không ngừng nghỉ

Đó không chỉ là tiếng sóng, là những âm vang từ ngoại cảnh mà đó còn là những âm vang, những rung động, cảm xúc trong lòng người, thấy mình với vũ trụ không còn ngăn cách Mỗi bước đi sự chuyển mình của thiên nhiên, trời đất, vũ trụ con người dường như đều cảm nhận được một cách kì diệu, tinh tế Câu thơ không chỉ gợi lên âm thanh mà tràn đầy hình ảnh, những vì sao lung linh toả sáng như từng bước từng bước xô đẩy con sóng vào bờ, mặt biển lấp lánh ánh trăng sao êm đềm, sáng trong, dịu mát

Sang khổ thơ thứ 5, con người – chủ thể của bức tranh thiên nhiên nênthơ tươi đẹp được miêu tả trong tư thế lao động miệt mài, thoải mái khoan thai với những lời ca câu hát vút cao, trong trẻo:

Trang 38

“Ta hát bài ca gọi cá vào

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao

Biển cho ta cá như lòng mẹ

Nuôi lớn đời ta tự thuở nào”

Tiếng hát lại một lần nữa vút cao bay bổng, sảng khoái ung dung Ánhtrăng lung linh in xuống dòng nước rồi theo những cơn sóng lăn tăn đánh nhẹ vào mạn thuyền hoà cùng nhịp gõ cá của ngư dân Hiện thựccuộc sống chỉ thế nhưng qua cách cảm nhận, miêu tả của Huy Cận thì cảnh vật hiện ra bỗng trở nên có hồn Ánh trăng trên cao như muốn hoà mình, gởi những tia sáng vàng óng ả để nâng đỡ giúp cho công việc đánh bắt của người dân đỡ phần nhọc nhằn vất vả

Biển cho ta cá như lòng mẹ: câu thơ ví von so sánh như một lần nữa khẳng định tấm lòng bao la của biển cả như người mẹ hiền ngày đêm đem hết sự sống của mình để nuôi dưỡng con khôn lớn trưởng thành Biển cả đã bao đời nay hào phóng ban tặng cho con người biết bao tài nguyên, hải sản quý hiếm để nuôi dưỡng sự sống của mỗi người

chúng ta Con người cứ ngày đêm khai thác lấy đi từ lòng đại dương biết bao nguồn lợi lớn nhưng biển cả thì giống như người mẹ hiền cứ cho đi mà không hề nuối tiếc Câu thơ thể hiện lòng trân trọng, biết ơnsâu sắc của con người đối với thiên nhiên, bờ biển quê mình đã nuôi dưỡng đem lại cho con người cuộc sống tốt đẹp, đủ đầy no ấm

Sau một ngày lao động nhọc nhằn vất vả, gờ đây khi sao mờ đi, bình minh ló dạng, mặt trời vươn mình khỏi mặt biển để đón chào ngày mới cũng là lúc họ khẩn trương xếp lưới, căng buồm trở về nhà:

“Sao mờ kéo lười kịp trời sáng

Trang 39

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

Vẩy bạc, đuôi vàng loé rạng đông

Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng”

Từ ngữ gợi tả độc đáo “kéo xoăn tay chùm cá nặng” giúp ta hình dungnhững thân hình vạm vỡ đang ra sức kéo mẻ lưới cuối cùng Cá nằm trong lưới nặng đến mức những bắp tay của học nổi lên cuồn cuộn Cáchi chít san sát nhau như một chùm quả gợi lên trong lòng người biết bao niềm vui mừng hạnh phúc khi nhìn thấy những chùm cá tươi roi rói – kết quả khả quan của một ngày lao động nhọc nhằn vất vả Họ ra

đi trong tiếng hát và trở về với một khoan thuyền đầy cá nặng

Nhưng có lẽ đẹp nhất là hình ảnh “vẩy bạc, đuôi vàng loé rạng đông”.Dưới ánh sáng bình minh loé lên, những con cá mắc vào lưới càng trởnên rực rỡ Dường như ngoài bản chất nhà thơ, Huy Cận còn mang trong mình tố chất của người hoạ sĩ Cách phối màu “bạc, vàng” đượcvận dùng tài tình khéo léo, tô đậm thêm thành quả lao động của ngườidân vùng biển

✏Nếu Xuân Diệu là cái tôi rạo rực, đắm say, vồ vập, cuống quýt trước thanh âm cuộc đời, “là nguồn sống dào dạt ở chốn nước non lặng lẽ này” (Hoài Thanh), thì Huy Cận đắm chìm trong “mộng”, trong cái mênh mông, vô biên của vũ trụ, của thời gian, đầy chất suy

tư, triết lý

✏Nếu Xuân Diệu xuất hiện trong Thơ Mới với “y phục thơ tối tân”, rất Tây, thì Huy Cận bên cạnh sự tiếp thu, ảnh hưởng của thơ Pháp còn thấm đẫm chất Đường thi, thấm đẫm mạch nguồn thơ ca truyền thống

✏Nếu trước cách mạng, nhà thơ cảm thấy cô đơn rợn ngợp trước không gian vũ trụ mênh mông, hoang vắng: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” thì sau cách mạng, vẫn là cảm hứng vũ trụ, nhưng là

Trang 40

để khẳng định tư thế mới của con người làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời.

✏Xuân Diệu tinh tế cảm nhận và đặc biệt đề cao các đặc tính hương

vị - màu sắc - cảm giác của hồn thơ Huy Cận: “Huy Cận đa tình, tâm hồn ông là một cô gái xưa rón rén ung dung, trông rất nết na dè dặt,

kỳ thực hay liếc trộm và ưa viết thư tình Ông thu hợp cái rụt rè của ÁĐông và cái tươi đậm của Âu Tây, để làm nên cái "mạnh thầm" đặc biệt của Huy Cận Ông yêu biết bao, yêu mãnh liệt, nhưng hay giấu, rồi khi "tình mất", ông ngồi trách mình sao đã quá rụt rè Huy Cận góp bao nhiêu đẹp tốt của Á Đông, nhất là cái lửa tro nồng ấm ở bên trong, và cái xa vắng mênh mông của thời cũ”

✏Xuân Diệu nhấn mạnh chất thơ với “nỗi buồn mênh mang của thời gian”, “một cái hay rất mênh mông” và “bao nhiêu bâng khuâng thương nhớ” trong thơ Huy Cận: “Với những câu thơ cổ kính, phảng phất một linh hồn Đường thi, Huy Cận thành thực nhớ và ngơ ngẩn yêu những cái vu vơ mờ mịt Ông gợi cảnh cũ, không biết rõ là cảnh Tàu hay Việt Nam, chỉ thấy xưa, thấy xa, thấy vắng lặng: đó là cả nỗi buồn mênh mang của thời gian:

Buồn gieo theo gió veo hồ,

Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa

✏Hoài Thanh và Hoài Chân từng viết: “Huy Cận đi lượm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não

Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường thi nhân lại có thể đúc thành bao nhiêu châu ngọc (…) Nhưng con

Ngày đăng: 22/07/2022, 16:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w