Nhóm tác giả Tsupros, Kohler, và Hallinen 2009 cho rằng: “Gi o dục STEM là một phương ph p học tập tiếp cận liên ngành, ở đó những kiến thức hàn lâm được kết hợp chặt chẽ với các bài học
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về các biểu hiện của kĩ năng STEM đề xuất một số biện ph p sư phạm nhằm phát triển c c kĩ năng STEM cho học sinh thông qua dạy học nội dung thống kê ở trường phổ thông.
Khách th ể, đối tượ ng và ph ạ m vi nghiên c ứ u
3.1 Khách th ể nghiên c ứ u: Quá trình dạy học ở trường THPT
3.2 Đối tượ ng nghiên c ứ u: Nghiên cứu c c kĩ năng STEM và việc dạy thống kê ở trường phổ thông hiện nay
3.3 Ph ạ m vi nghiên c ứ u: HS ở trường THPT.
Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được một số biện ph p sư phạm phù hợp trong dạy học thống kê ở trường phổ thông thì sẽ phát triển kỹ năng STEM cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán ở trường THPT.
Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu c c quan điểm mang tính lí luận về STEM
2 Đề xuất một số biện ph p sư phạm trong dạy học nội dung thống kê ở trường phổ thông nhằm phát triển c c kĩ năng STEM cho học sinh
5.3 Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng và đ nh gi tính khả thi của giả thuyết khoa học
6.1 Phương ph p nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu về các vấn đề liên quan đến đề tài của luận văn.
6.2 Phương ph p điều tra - quan sát: Nghiên cứu thực trạng dạy và học nội dung thống kê tại một số trường THPT thông qua các hình thức sử dụng phiếu điều tra, quan sát hoặc phỏng vấn trực tiếp GV ở trường THPT
6.3 Phương ph p nghiên cứu trường hợp: Phỏng vấn, nghiên cứu một số nhóm HS lớp thực nghiệm
6.4 Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy thực nghiệm tại một số trường THPT để xem xét tính khả thi và hiệu quả của các biện ph p sư phạm đã đề xuất
6 Phương ph p thống kê toán học: Phân tích các số liệu điều tra thực trạng và số liệu thực nghiệm sư phạm
7 Đóng góp của luận văn
7.1 Nh ững đóng góp về m ặ t lý lu ậ n Đề xuất được một số biện ph p sư phạm mang tính khả thi nhằm tổ chức dạy học thống kê ở trường phổ thông một cách hiệu quả qua đó giúp học sinh phát triển c c kĩ năng STEM
7.2 Nh ững đóng góp về m ặ t th ự c ti ễ n
- Nâng cao hiệu quả dạy và học thống kê ởtrường THPT
- Kết quả luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên và HS trong quá trình giảng dạy và học tập ở trường THPT
- Làm cơ sở để phát triển những nghiên cứu sâu, rộng hơn về những vấn đề có liên quan trong luận văn
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần “Mở đầu”, “Kết luận” và “Danh mục tài liệu tham khảo”, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2 Một số biện ph p sư phạm nhằm phát triển kĩ năng STEM cho học sinh thông qua dạy học nội dung thống kê ở trường phổ thông
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Thuật ngữ STEM lần đầu tiên được giới thiệu bởi Quỹ Khoa học Mỹ vào năm
2001 Từ đó đến nay, giáo dục STEM được nhiều tổ chức, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu Ở ngữ cảnh giáo dục và trên bình diện thế giới, STEM được hiểu với nghĩa là gi o dục STEM (Nguyễn Thanh Nga) Giáo dục STEM có một số cách hiểu khác nhau
Theo Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (2007): “Gi o dục STEM là một chương trình nhằm cung cấp hỗ trợ, tăng cường, giáo dục Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học (STEM) ở tiểu học và trung học cho đến bậc sau đại học”.
Nhóm tác giả Tsupros, Kohler, và Hallinen (2009) cho rằng: “Gi o dục STEM là một phương ph p học tập tiếp cận liên ngành, ở đó những kiến thức hàn lâm được kết hợp chặt chẽ với các bài học thực tế thông qua việc HS được áp dụng những kiến thức Khoa học,
Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học vào trong những bối cảnh cụ thể tạo nên một kết nối giữa nhà trường, cộng đồng và các doanh nghiệp cho phép người học phát triển những kĩ năng STEM và tăng khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế mới”
C c nước phát triển như Mỹ, Anh, Australia, Canada,…luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất về chính sách nhằm thúc đẩy giáo dục STEM tại quốc gia mình Chẳng hạn, c c chương trình tài trợ, tuyển dụng tài năng khoa học người nước ngoài, c c chương trình gắn kết hoạt động STEM trong trường học, dạy nghề và giáo dục đại học với ngành công nghiệp, kinh doanh và các ngnahg nghề khác trong xã hội Những chương trình này thường được chính phủ tạo điều kiện hoặc thông báo bởi các viện, trung tâm hoặc c c cơ quan kh c nằm trong chương trình nghị sự quốc gia về STEM Ví dụ tại Hoa Kì, công dân thông thạo trong các lĩnh vực STEM là một phần quan trọng trong chương trình gi o dục công cộng của quốc gia Tại Australia có c c chương trình cấp quốc gia về giáo dục STEM như chương trình iSTEM
(2009) với mục tiêu làm giiauf tri thức cho HS trung học ở Sydney Bên cạnh những thuận lợi về chính s ch, c c nước dù có nền tảng về chính trị, kinh tế - xã hội cũng như truyenf thống giáo dục, nhưng để thành công trong giáo dục STEM đều có những điểm tương đồng nhất định (Tổng kết Dự án nghiên cứu giáo dục STEM của gần 20 nước năm 2013) Đầu tiên là sự coi trọng dành cho GV giảng dạy STEM, điển hình như Phần Lan, mọi gi o viên đều phải có bằng thạc sĩ trở lên, hay những giáo viên giỏi nhất sẽ được điều động tới dạy ở các vùng khó khăn của đ t nước Tại Trung Quốc, việc tăng lương hay thăng tiến của GV không đơn thuần theo thâm niên công tác mà phụ thuộc vào năng lực thực sự của GV, được đ nh giá qua các tiêu chuẩn và c c chương trình ph t triển chuyên môn liên tục Ở c c nước phát triển mạnh về giáo dục, STEM cho thấy có sự cải c ch chương trình và phương ph p giảng dạy, trong đó có tập trung vào việc làm cho khoa học và toán học trở nên hấp dẫn và thiết thực hơn thông qua học tập dựa trên vấn đề, yêu cầu và nhấn mạnh vào sự sáng tạo, tư duy phê phán Một số quốc gia, điển hình như Hoa Kì đã xây dựng xong Chuẩn khoa học thế hệ mới NGSS và khung chương trình STEM ( p dụng tại một số bang), với mục tiêu hướng dẫn
GV cách phát triển chương trình dạy học chất lượng cao theo định hướng STEM Chuẩn khoa học thế hệ mới NGSS được xem như nền tảng quan trọng và thuận lợi để đưa gi o dục STEM vào nhà trường phổthông đối với hình thức giáo dục chính khóa Một hình thức giáo dục STEM khác khá phổ biến ở c c nước phát triển (Mỹ, Anh, Australia,…) là c c chương trình ngoại khóa độc lập, do c c trường đại học hoặc c c đơn vị bên ngoài phối hợp tổ chức cùng trường phổ thông C c chương trình này thường không thu phí (nếu có thì cũng rất thấp) Trên thực tế, HS rất hào hứng tham gia vào các buổi học ngoại khóa này, các chủ đề trong khóa học cũng thể hiện rõ tư tưởng của giáo dục STEM, phần nào do ít bịgiưới hạn về mặt thời gian và nội dung so với chương trình chính khóa Ngoài ra còn có một số hình thức triển khai kh c như: Hội chợ khoa học các cấp, các câu lạc bộ khoa học, các dự án học tập STEM…cũng góp phần đưa gi o dục STEM vào nhà trường phổ thông Như vậy có thể thấy rằng, trên thế giới c c nước đặc biệt là c c nước phát triển rất chú trọng phát triển giáo dục STEM, luôn tạo những điều kiện tốt nhất để đưa gi o dục STEM vào trường học
Giáo dục STEM du nhập vào Việt Nam không phải bắt nguồn từ các nghiên cứu khoa học giáo dục hay từ chính s ch vĩ mô về nguồn nhân lực mà bắt nguồn từ các cuộc thi Robot dành cho học sinh phổ thông do các công ty công nghệ tại Việt Nam triển khai cùng với các tổ chức nước ngoài Ví dụ cuộc thi Robotics của công ty DTT Eduspec được tổ chức từ những năm 2012 (STEM, 2012) tới nay, cùng với đó là những hội thảo chính thức do công ty DTT Eduspec tổ chức với định hướng giáo dục STEM tập trung vào các môn học mới như robot, khoa học dữ liệu Từ đó đến nay giáo dục STEM đã bắt đầu có sự lan toả với nhiều hình thức khác nhau, nhiều cách thức thực hiện khác nhau, nhiều tổ chức hỗ trợ khác nhau
Từ năm học 2014-201 , phương thức giáo dục STEM đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào c c văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học và từ đó đến nay tiếp tục chỉ đạo c c địa phương trên toàn quốc tích hợp STEM trong việc thực hiện chương trình phổ thông hiện hành ở những môn có liên quan, đồng thời triển khai thí điểm giáo dục
STEM tại một sốtrường lựa chọn
Các trường học đang hưởng ứng mạnh mẽ chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo bằng cách tổ chức các ngày hội STEM Tại sự kiện này, học sinh sẽ có cơ hội tham gia vào những trải nghiệm thử nghiệm thú vị và sáng tạo.
Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng đưa ra c c quan điểm khác nhau về STEM
Tác giả Lê Xuân Quang (2017) cho rằng: “Gi o dục STEM là một quan điểm dạy học theo tiếp cận liên ngành từ hai trong c c lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học trở lên Trong đó nội dung học tập được gắn với thực tiễn, PPDH theo quan điểm dạy học định hướng hành động” (Lê Xuân Quang (2017), Dạy học môn công nghệ phổ thông theo định hướng STEM, Luận án Tiến sỹ Khoa học Giáo dục, Trường Đại học sư phạm Hà Nội.)
Tác giả Nguyễn Thanh Nga (2017), đã đưa ra rằng: “STEM được dùng trong 2 ngữ cảnh đó là: Ngữ cảnh GD và ngữ cảnh nghề nghiệp Ngữ cảnh GD là quan điểm nhấn mạnh đến việc nâng cao năng lực của HS, quan tâm nền GD của các môn Khoa học,Công nghệ,