Vào cuối thế kỷ này, chỉ còn Êpiquya và học trò của ông là Lucơrexơ là tiếp tục đường lối duy vật của Đê-mô-crít.Triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại đã đặt ra hầu hết các vấn đề triết học mà
Trang 1CHƯƠNG 1 ĐẠO ĐỨC HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI: SỰ HÌNH THÀNH VÀ CÁC TÁC GIA TIÊU BIỂU
1.1 Những điều kiện và tiền đề cho sự hình thành các tư tưởng đạo đức học Hy Lạp
cổ đại
1.1.1 Điều kiện tự nhiên:
Trong những nền văn minh cổ đại rực rỡ mà ngày nay người ta biết được thì nền văn minh Hy Lạp – La Mã xuất hiện muộn hơn cả, nhưng nó lại rất phong phú, đặc biệt là
về triết học Điều đó có thể giải thích bằng tính chất điển hình của chế độ chiếm hữu nô
lệ ở đây Hy Lạp và La Mã đã có một chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển tới hình thức cao, mang tính chất điển hình, biểu hiện ở các điểm sau đây:
– Sự phân hoá giai cấp trong xã hội hết sức rõ rệt thành hai giai cấp chủ yếu là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ Nô lệ có số lượng đông đảo trong xã hội và sống tập trung (có tài liệu cho biết: vào thế kỷ IV tr.CN, A – ten có số dân là 34 vạn, thì 25 vạn là nô lệ).– Nô lệ là lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội (trong sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và mậu dịch hàng hải)
– Tính chất chuyên chế của bộ máy nhà nước chủ nô thường xuất hiện dưới hình thức các thành bang (quốc gia thành thị) Nhà nước được tổ chức theo kiểu cộng hoà hay dânchủ; các kiểu nhà nước này đều là công cụ chuyên chính của giai cấp chủ nô
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội qua các thời kì lịch sử:
Mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ ngày càng gay gắt đã làm cho mức độ ác liệt của cuộc đấu tranh giữa nô lệ với chủ nô ngày càng tăng (tiêu biểu là cuộc nổi dậy của Xpác-ta-cu-xơ vào năm 70 tr.CN) Giai cấp chủ nô cũng phân hoá thành chủ nô quý tộc và chủ
nô dân chủ Chủ nô quý tộc gắn liền với sản xuất nông nghiệp, bảo thủ và chuyên chế Chủ nô dân chủ gắn liền với công thương nghiệp, tiến bộ hơn, thường đề xuất những chủ trương dân chủ chống lại chủ nô quý tộc Cuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học duy vật và duy tâm thời cổ đại Hy Lạp – La Mã chủ yếu là cuộc đấu tranh giữa chủ
nô dân chủ và chủ nô quý tộc
1.1.3 Sự giao lưu văn hóa, khoa học:
Chế độ chiếm hữu nô lệ Hy Lạp ra đời từ thế kỷ VI tr.CN và suy tàn vào thế kỷ V Sự phát triển của nó đã mở rộng sự phân công xã hội, tách lao động trí óc khỏi lao động chân tay, tạo điều kiện cho tầng lớp trí thức chủ nô nghiên cứu triết học, khoa học và sáng tạo văn học nghệ thuật Hơn nữa, qua cuộc chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư, nền văn hoá Hy Lạp – La Mã đã kế thừa được nhiều thành tựu văn hoá của phương Đông
Về văn học, sớm nhất là Ome (Homère) Về sử học, nổi tiếng nhất là nhà chép sử
Hêrôđốt (Hérodote) Về toán học và thiên văn học, có Talét (Thalès), Pitago
(Pythagore), Ơclít (Euclide) Về vật lý học, có Acsimét (Archimède) Về y – sinh học,
có Híppôcrát (Hippocrate) Về điêu khắc, có đền Páctênôn (Parthénon) của nhà điêu khắc Phiđiát (Phiđias) Về kiến trúc, có tượng thần Vệ nữ (Venus) của Praxiten Về hội hoạ, có bức Maratông trong chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư v.v
Tất cả những tiền đề kinh tế, xã hội, khoa học, văn học, nghệ thuật nói trên là những điều kiện cho sự phát triển rực rỡ của triết học cổ Hy Lạp Như Ăng-ghen nói, nếu không có chế độ nô lệ, thì cũng không có nhà nước Hy Lạp, không có khoa học và nghệthuật Hy Lạp
1.1.4 Tiền đề lý luận của những tư tưởng đạo đức ở Hy Lạp cổ đại:
Lịch sử triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại có thể chia làm ba thời kỳ Xuyên suốt ba thời
kỳ ấy là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm mà đỉnh cao là cuộc đấu tranh giữa đường lối duy vật của Đê-mô-crít và đường lối duy tâm của Pla-tôn
Trang 24.1 Thời kỳ thứ nhất (thế kỷ VI tr.CN): Đây là thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ mới hìnhthành Do sự phát triển của sản xuất, thế giới quan cũ có tính chất tôn giáo, thần thoại dần dần nhường chỗ cho những hiểu biết khoa học về con người, về vũ trụ Trên cơ sở
đó, triết học với tư cách là một khoa học bao quát mọi tri thức (khoa học của khoa học)
ra đời
a Ba nhà triết học duy vật thuộc trường phái Mi-lê (tên một đô thị cổ Hy Lạp) là Talét, Anaximăngđrơ và Anaximen cho rằng có những thực thể vật chất đầu tiên, vĩnh viễn vận động tạo ra mọi vật trên thế giới Theo Talét đó là nước, theo Anaximăngđrơ đó là một thực thể vô định và vô hạn, theo Anaximen đó là không khí
Hêraclít không thuộc trường phái nói trên, ông cũng cho rằng bản nguyên của vũ trụ là lửa, lửa thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập mà sinh ra vạn vật
b Ngược lại, một số nhà triết học thuộc trường phái Êlê (tên một đô thị cổ ở miền nam nước Ý) như Xênôphan, Pácmênít, Dênông và trường phái Pitago lại có những quan điểm duy tâm, siêu hình về nguồn gốc vũ trụ Họ cho rằng, thế giới là một tồn tại bất động và bất biến (trường phái Êlê), con số là bản nguyên của vũ trụ (trường phái
Pitago)
4.2 Thời kỳ thứ hai (bắt đầu từ thế kỷ V tr.CN): Đây là thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển đến hình thức cao và cũng là thời kỳ phồn vinh của triết học cổ đại Hy Lạp Thời kỳ này, đối tượng nghiên cứu của triết học được mở rộng sang các vấn đề về kết cấu của vật chất, nhận thức luận và đời sống chính trị Trong đó, kết cấu của vật chất là vấn đề trung tâm của nhiều trường phái triết học
a Theo khuynh hướng duy vật Ămpeđôclơ cho rằng, bản nguyên của vũ trụ không phảichỉ là một thực thể riêng biệt (như trường phái Milê) mà là gồm 4 thực thể: đất, nước, lửa, không khí Anaxago lại cho rằng, mọi vật đều được cấu tạo từ hạt cực nhỏ nhờ quá trình phân giải và đồng nhất của chúng.Đạt tới đỉnh cao nhất của chủ nghĩa duy vật thời
kì này là học thuyết về nguyên tử của Đêmôcrít Theo ông, tất cả mọi vật đều được cấu thành từ những nguyên tử Nguyên tử là những phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được, chúng vĩnh viễn vận động, không có điểm kết thúc
b Đối lập lại chủ nghĩa duy vật trên đây là chủ nghĩa duy tâm khách quan của Platôn Ông là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy tâm thời cổ đại Hy Lạp Ông đã xây dựng học thuyết về ý niệm để chống lại chủ nghĩa duy vật Theo ông, giới tự nhiên bắt nguồn
từ ý niệm
c Dao động giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của Platôn là Arixtốt Ông là một nhà triết học lớn, bộ óc bách khoa thời cổ đại Hy Lạp – La Mã, nhưng là một nhà triết học không triệt để Một mặt, ông bác bỏ thuyết ý niệm của
Platôn; mặt khác ông lại chủ trương hình thức là bản chất của mọi sự vật, mà hình thức của mọi hình thức là tư duy (hình thức thuần tuý)
4.3 Thời kỳ thứ ba (từ thế kỷ thứ III TCN): Đây là thời kỳ khủng hoảng và suy vong của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp – La Mã Cùng với sự suy tàn đó, nền văn hoá mà
nó sản sinh ra cũng suy tàn theo Vào cuối thế kỷ này, chỉ còn Êpiquya và học trò của ông là Lucơrexơ là tiếp tục đường lối duy vật của Đê-mô-crít.Triết học Hy Lạp – La Mã
cổ đại đã đặt ra hầu hết các vấn đề triết học mà người ta thường thấy mối quan hệ của
nó với các khuynh hướng, các trào lưu triết học sau này.Trong những thành tựu triết học
Hy Lạp-La Mã cổ đại, học thuyết về nguyên tử của Đêmôcrít, tư tưởng biện chứng của Hêraclít và lôgích học của Arixtốt là những cống hiến xuất sắc đối với sự phát triển của
tư tưởng triết học nhân loại.Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử triết học Hy Lạp-La Mã cổ đại chứng tỏ rằng, ngay từ đầu, lịch sử triếthọc là lịch sử đấu tranh giữa hai thế giới quan, hai phương pháp luận đối lập nhau Cuộc
Trang 3đấu tranh ấy phản ánh lợi ích của những tầng lớp, những giai cấp khác nhau trong xã hội
có giai cấp đối kháng
1.2 Khái niệm đạo đức học Hy Lạp cổ đại:
1.2.1 Vị trí tư tưởng đạo đức học Hy Lạp cổ đại:
Đạo đức học, hay luân lý học, là môn khoa học triết học về đạo đức, nghiên cứu bản chất, các quy luật xuất hiện và phát triển trong lịch sử, các chức năng đặc trưng và các giá trị của đạo đức trong đời sống xã hội.Trong nhiều ngôn ngữ, như tiếng Anh, từ ethics có gốc từ tiếng Hy Lạp cổ èthos, sau đó chuyển sang tiếng La Tinh thành ethica hay có gốc từ tiếng La Tinh mos, moris, moralis Hai từ này về mặt từ nguyên học có cùng nghĩa: nơi ở, chỗ ở chung, phong tục, luân lý dần dần được bổ sung thêm các nghĩa: thói quen, tính khí, tính cách, lối suy nghĩ Vào thế kỷ 3 trước Công Nguyên, từ ethica được Aritstốt dùng để chỉ ngành đạo đức học, tên gọi này vẫn dùng cho đến ngày nay Suốt từ thời cổ đại, đạo đức học bao giờ cũng là một bộ phận của triết học Những vấn đề của đạo đức học nhiều khi còn là vấn đề trung tâm của nhiều hệ thống triết học Các bộ phận khác như bản thể luận, nhận thức luận thường chỉ đóng vai trò cơ sở cho việc xây dựng hệ thống đạo đức học Điều này biểu hiện rõ nét trong triết học của
Platon, Aristotle, trường phái Êpiquya, trường phái ích kỉ, Spinôda, Kant, trong triết họccủa Khổng tử, Mạnh tử, Lão tử, Tuân tử và nhiều trường phái khác Tại sao vậy? Bởi vì đạo đức học chính là triết học của đời sống thực tiễn, mà lợi ích của đời sống thực tiễn thường lấn át lợi ích lý thuyết thuần túy.Tư tưởng đạo đức học của người Hy Lạp cổ đại chú trọng lý giải sự hình thành các chuẩn mực luân lý và tập tục, tìm cách phân biệt thật-giả, thiện-ác Đạo đức học lúc này được coi là học thuyết về phẩm hạnh.Người Trung Quốc cổ đại cũng có những quan niệm đạo đức học rất sớm Đạo ban đầu chỉ có nghĩa là con đường đã đi theo Thuyết Văn giải Tự, về sau có thêm nghĩa là con đường
có chí hướng nhất định, hướng dẫn hành vi con người theo một phương hướng nào đó Nói tóm lại: đạo là con đường sống của con người trong xã hội Đức trong nghĩa thông dụng của người Trung Quốc cổ đại chỉ đức hạnh tốt, phần tốt đẹp, thẳng thắn của con người Đức thường được hiểu là biểu hiện của đạo Nói đạo đức liền nhau thường để chỉnhững yêu cầu, những nguyên tắc cuộc sống đặt ra, đòi hỏi mọi người tuân theo
1.2.2 Một số nhà đạo đức học tiêu biểu triết học Hy Lạp cổ đại:
2.1 Đêmôcrít (460-370 tr.CN) sinh trưởng trong một gia đình chủ nô dân chủ ở Ápđerơ (Hy Lạp) Ông đã đến Ai Cập, Ba Tư, Ấn Độ, nên đã có dịp tiếp xúc với nền văn hoá phương Đông cổ đại Ông am hiểu toán học, vật lý học, sinh vật học cũng như mỹ học, ngôn ngữ học và âm nhạc v.v Ông có đến 70 tác phẩm nghiên cứu về các lĩnh vực khoa học nói trên Ông được Mác và Ăng -ghen coi là bộ óc bách khoa đầu tiên của người HyLạp.Đê-mô-crít là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật cổ đại Hy Lạp Thuyết
nguyên tử là cống hiến nổi bật của ông đối với chủ nghĩa duy vật Ngoài ra, ông còn có nhiều đóng góp quý giá về lý luận nhận thức
a Thuyết nguyên tử
Thuyết nguyên tử đã được Lơxíp (Leucippe) nêu lên từ trước Nhưng phải đến Đêmôcríthọc thuyết đó mới trở lên chặt chẽ Theo ông, vũ trụ được cấu thành từ hai thực thể đầu tiên: nguyên tử và chân không.Nguyên tử là những hạt vật chất cực nhỏ, không nhìn thấy được, không thể phân chia nhỏ hơn được nữa Nguyên tử không biến đổi, tồn tại vĩnh viễn và vận động không ngừng Nguyên tử không khác nhau về chất, chúng có mùi
vị, âm thanh và mầu sắc Nguyên tử chỉ khác nhau về hình thức, kích thước, vị trí và trình tự kết hợp của chúng Có những nguyên tử hình cầu, hình tam giác, hình móc câu, hình lõm v.v., nhờ đó chúng mới có thể bám dính được với nhau Mọi vật thể đều do sự kết hợp giữa các nguyên tử nên nếu tách rời chúng ra thì vật thể bị tiêu diệt
Trang 4Linh hồn của con người cũng do những nguyên tử hình cầu, nhẹ, và nóng tạo nên Khi người ta chết, linh hồn sẽ không còn; chúng rời thể xác và tồn tại như những nguyên tử khác.Chân không là khoảng không gian trống rỗng Với Đêmôcrít, chân không cũng cầnthiết như nguyên tử, nhờ nó nguyên tử mới vận động được Nếu tất cả là đặc sệt các nguyên tử thì sẽ không có điều kiện cho vận động Khác với nguyên tử có kích thước, hình dáng, chân không thì vô hạn và không có hình dáng.Trong vũ trụ có hằng hà sa số những nguyên tử vận động theo nhiều hướng, khi thì tản ra, khi tụ lại Khi tụ vào một điểm nào đó, chúng va chạm vào nhau tạo thành một cơn xoáy tròn (cơn lốc nguyên tử).Cơn lốc này đẩy những nguyên tử nhỏ, nhẹ ra ngoài chu vi, còn những nguyên tử to, nặng quy vào tâm, nhờ đó các hành tinh, kể cả trái đất được hình thành Những hành tinh xuất hiện và mất đi một cách tự nhiên, không do thần thánh hoặc một ai tạo
ra.Những phán đoán trên đây về nguyên tử tuy còn nhiều điểm hạn chế (hạt vật chất nhỏnhất, không thể phân chia được), nhưng nó đã khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, vũ trụ là vô cùng, vô tận Hơn nữa, mặc dù Đêmôcrít chưa giải thích được nguyên nhân của vận động, nhưng ông đã gắn liền vận động với nguyên tử, và nó cũng vô cùng,
vô tận như nguyên tử Đó là một đóng góp hết sức quan trọng đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên và triết học duy vật Chính vì quan niệm duy vật và vô thần ấy, ông
đã bị tầng lớp thống trị coi là phủ nhận thần linh và trục xuất ông khỏi quê hương
b Lý luận về nhận thức
Đêmôcrít đã có công đưa lý luận nhận thức lên một bước mới Ông và tiếp theo ông là Arixtốt, kể cả Platôn đã rất chú ý đến nhận thức lý tính, đến lôgíc học.Theo ông, nhận thức của người ta bắt nguồn từ cảm giác Nhờ sự vật tác động vào các giác quan mà ta
có cảm giác về chúng Những cảm giác này có nội dung chân thật, nhưng không đầy đủ,không sâu sắc, nó chỉ là sự phản ánh cái vỏ bên ngoài của sự vật, chưa phản ảnh được bản chất của sự vật Bởi vì, nó chỉ phản ánh được mùi vị, âm thanh, mầu sắc, hình dáng của sự vật, mà không phản ánh được nguyên tử và chân không Hơn nữa, mọi nguyên tửđều giống nhau về chất, bản thân chúng không có mùi vị, mầu sắc, âm thanh và không trông thấy được Bởi vậy, những cảm giác này chỉ là chủ quan của con người Theo ông,muốn nhận thức được nguyên tử và chân không, tức là muốn nhận thức bản chất của sự vật, con người ta không được dừng lại ở cảm giác, mà phải biết quy nạp, so sánh, phán đoán, tức là phải đẩy tới nhận thức lý tính Do đó, ông chia nhận thức làm hai dạng: dạng nhận thức “mờ tối”(nhận thức cảm tính) và dạng nhận thức “trí tuệ” Theo ông, dạng nhận thức thứ hai là chủ yếu, đáng tin cậy hơn.Mặt tích cực trong quan điểm trên đây là ở chỗ, ông coi đối tượng của nhận thức là thế giới khách quan do nguyên tử và chân không tạo ra Tuy chưa nhận thức được sự chuyển hoá giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, nhưng ông đã thấy được vị trí của từng dạng nhận thức, đặc biệt là nhận thức lý tính Song mặt hạn chế trong quan niệm này là ở chỗ, ông coi các thuộc tính khách quan của sự vật như âm thanh, mùi vị, mầu sắc chỉ là những quy ước chủ quan của con người Hạn chế này đã mở đường cho những quan niệm duy tâm cho rằng chất tách rời sự vật, chất có trước và chất có sau của sự vật v.v.Từ chỗ coi trọng vai trò của nhận thức lý tính, Đêmôcrít đã có một công lao to lớn nữa đối với triết học, đó là lôgíc học (Tác phẩm “Bàn về lôgíc học” (Canon); tác phẩm này đã bị thất lạc, người ta chỉ biết về nó một cách gián tiếp qua lời của Arixtốt, Platôn) Theo đó thì ông đã nêu ra nhiều vấn đề về lôgíc học như định nghĩa khái niệm, phương pháp so sánh, quy nạp, giả thiết.v.v, trong đó phương pháp quy nạp có vị trí nổi bật Arixtốt đã coi Đêmôcrít là tiền bối của mình về lôgíc học, là người đầu tiên nghiên cứu lôgíc của khái niệm, lôgíc quy nạp
Trang 5c Quan niệm về con người
Theo ông, linh hồn không phải là cái siêu vật chất, mà là cái bản nguyên bằng lửa trong
cơ thể; nó cũng được cấu tạo từ các nguyên tử hình cầu giống như lửa và có tốc độ vận động lớn hơn các nguyên tử khác.Sự sống và con người không phải do thần thánh tạo ra
mà là kết quả của quá trình biến đổi của chính tự nhiên, được phát sinh từ những vật thể
ẩm ướt dưới tác động của nhiệt độ Theo ông, con người là một loại động vật, nhưng về khả năng có thể học được bất kỳ cái gì nhờ có tay chân, cảm giác và năng lực trí tuệ trợ giúp.Đêmôcrit đứng trên lập trường vô thần phủ nhận thượng đế và thần linh; thần chỉ là
sự nhân cách hóa hiện tượng tự nhiên hay thuộc tính của con người
d Quan điểm chính trị – xã hội
Đêmôcrit đứng trên lập trường của chủ nô dân chủ, bảo vệ nền dân chủ Aten chống lại chế độ chuyên chính Ông cho rằng “cái nghèo trong chế độ dân chủ cũng quý hơn cái hạnh phúc của công dân dưới thời quân chủ y như là tự do quý hơn nô lệ” Nhưng do xuất thân từ tầng lớp chủ nô nên ông chỉ đề cập đến dân chủ của chủ nô và công dân tự do; còn nô lệ phải biết tuân theo người chủ.Ông coi nhà nước là trụ cột của xã hội, cần phải xử lý nghiêm khắc những kẻ vi phạm pháp luật hay các chuẩn mực đạo đức
Tóm lại, triết học Đêmôcrít là sự kế thừa và phát triển lên một trình độ cao các quan điểm duy vật (của trường phái Milê) và tư tưởng biện chứng (của Hêraclít) trước đó, đưa triết học của ông trở thành đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật thời cổ đại Sau này, Êpiquya và Lucơrexơ đã khắc phục những hạn chế của ông và phát triển học thuyết nguyên tử hơn nữa Lơxíp, Đêmôcrít, Êpiquya trở thành những tên tuổi đại biểu cho phái nguyên tử luận thời cổ đại Hy Lạp – La Mã
2.2 Pla-tôn (427 – 347 TCN)
Pla-tôn xuất thân trong một gia đình chủ nô quý tộc ở A-ten Tên thật của ông là
Aristôclơ Theo Arixtốt, lúc đầu Platôn là học trò của Cratin (người theo thuyết tương đối), sau đó là học trò của Xôcrát (nhà triết học duy lý, duy tâm chủ nghĩa) Khi Xôcrát
bị kết án tử hình vì tội hoạt động chống lại chế độ dân chủ chủ nô, Platôn rời Aten đến sống ở miền nam nước Italia Trong thời gian này ông có liên hệ với phái Pitago và Ơclít Sau này ông trở lại Hy Lạp, lập trường dạy học ở Aten, gọi là Viện hàn lâm
(Académie) Đây là trường Đại học tổng hợp đầu tiên ở châu Âu, học trò rất đông, trong
đó có nhà triết học nổi tiếng Arixtốt Ngót 40 năm giảng dạy và trước tác, ông đã để lại
34 thiên đối thoại và nhiều bức thư triết học Tác phẩm “Nước cộng hoà” (République)
có vị trí đặc biệt trong triết học của ông.Platôn là nhà triết học duy tâm khách quan, đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy vật đương thời Khi nói về hai đường lối, hai trường phái trong triết học, Lênin đã chỉ ra sự đối lập giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đườnglối duy tâm của Platôn Tư tưởng triết học của Platôn chịu ảnh hưởng sâu sắc các yếu tố duy tâm trong triết học của Pitago và Xôcrát.Ngoài những cống hiến của ông về phép biện chứng của ý niệm, vai trò của ý thức xã hội trong việc hình thành nhân cách và ý thức cá nhân, triết học của ông tiêu biểu cho chủ nghĩa duy tâm thời cổ đại
a Học thuyết về ý niệm
Như đã nói ở trên, Pla-tôn chịu ảnh hưởng sâu sắc khuynh hướng duy lý trong triết học
Hy Lạp cổ đại (lý luận về cái duy nhất của trường phái Êlê, lý luận về con số của trườngphái Pitago, lý luận về cái phổ biến của Xôcrát) Vì vậy ông xem nhẹ vai trò của nhận thức cảm tính, tuyệt đối hoá vai trò của nhận thức lý tính, của khái niệm Từ đó ông chiathế giới thành hai loại: thế giới của những ý niệm (khái niệm) và thế giới của những sự vật cảm tính.Theo ông, thế giới của những ý niệm là tồn tại chân thực, vĩnh viễn, tuyệt đối, bất biến, nó là cơ sở tồn tại của thế giới các sự vật cảm tính Còn thế giới các sự vậtcảm tính là tồn tại không chân thực, phụ thuộc vào thế giới của các ý niệm, nó là cái
Trang 6bóng của ý niệm.Để minh hoạ cho quan niệm thế giới các sự vật cảm tính được sinh ra
từ thế giới các ý niệm như thế nào, Platôn đã đưa ra ví dụ “Hang động” như sau: Ở ngoài cửa của một cái hang tối có một đoàn người đi qua; ánh sáng mặt trời chiếu vào cửa hang làm cho bóng của đoàn người được in lên vách đá Nếu nhìn lên vách hang bên trong, người ta sẽ thấy những bóng người đi qua Những bóng này chỉ là hình ảnh của đoàn người, chứ không phải bản thân đoàn người Thế giới các sự vật cảm tính cũngvậy, nó chỉ là cái bóng của ý niệm đã có từ trước mà thôi.Như vậy, khi giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học, Platôn cho rằng ý niệm là cái có trước, là nguyên nhân, là bản chất của sự vật Còn sự vật chỉ là cái có sau, là cái bắt chước, cái mô
phỏng, là bản sao của ý niệm.Từ thế giới quan trên đây, Platôn đã quan niệm một cách duy tâm, thần bí về linh hồn Theo ông, thể xác của con người được cấu tạo từ đất, nước, lửa và không khí, nó chỉ là nơi trú ngụ tạm thời của linh hồn Linh hồn của con người là sản phẩm của linh hồn vũ trụ được Thượng đế tạo ra từ lâu Sau khi được tạo
ra, mỗi linh hồn trú ngụ ở một vì sao trên trời, sau đó dùng cánh bay xuống trần gian và nhập vào thể xác con người Khi nhập vào thể xác con người thì nó quên hết mọi quá khứ, do đó nhận thức của con người chỉ là sự hồi tưởng lại những gì mà linh hồn đã có nhưng bị lãng quên
b Lý luận về nhận thức
Từ cách giải quyết duy tâm khách quan như trên về mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học, khi giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học, Platôn cũng rơi vào quan niệm duy tâm, thần bí.Theo ông, đối tượng của nhận thức không phải là các sự vật cảm tính khách quan bên ngoài, mà là thế giới ý niệm Nhận thức cảm tính không phải là nguồn gốc của tri thức; tri thức chân thực chỉ có thể đạt được bằng nhận thức lý tính, được thể hiện ở các khái niệm Bởi vì, mỗi sự vật đều có một ý niệm về nó; sự vật có thể mất đi, nhưng ý niệm về sự vật không bao giờ mất Ví dụ cái nhà có thể sụp đổ, hư nát, không còn là cái nhà, nhưng ý niệm về cái nhà (khái niệm nhà) thì không mất
Bằng cách nào để có được nhận thức chân thực, đạt được chân lý? Bằng cách hồi tưởng lại những gì linh hồn đã trải qua, nhưng khi nhập vào thể xác con người nó đã bị lãng quên Tóm lại, Platôn đã quy toàn bộ quá trình nhận thức thành quá trình hồi tưởng của linh hồn bất tử, rất thần bí
c Học thuyết về chính trị – xã hội
Trong tác phẩm Nước cộng hoà (Chính thể cộng hoà), Pla-tôn chia linh hồn làm ba bộ phận: lý tính hay trí tuệ, xúc cảm và cảm tính Tương ứng với ba bộ phận ấy là ba hạng trong xã hội Hạng thứ nhất, là các nhà triết học, nhà thông thái Hạng này lý tính giữa vai trò chủ đạo, thích hợp với việc lãnh đạo nhà nước Hạng thứ hai, là những người lính, võ sĩ mà linh hồn của họ tràn đầy xúc cảm gan dạ, biết phục tùng lý trí và nghĩa vụ,thích hợp với việc bảo vệ an ninh của nhà nước cộng hoà Hạng thứ ba, là đại chúng, gồm những người nông dân, thợ thủ công và thương nhân Hạng này linh hồn của họ không đi xa hơn những khát vọng cảm tính thích nghi với lao động chân tay, làm ra của cải vật chất phục vụ cuộc sống của nước cộng hoà Vì vậy, công lý là ở chỗ mọi người phải sống đúng vị trí của mình.Để duy trì trật tự xã hội, Platôn cho rằng sự tồn tại của nhà nước là cần thiết, nhưng ba hình thức nhà nước hiện nay đều xấu Một là nhà nước của bọn vua chúa xây dựng trên khát vọng làm giầu, ham danh vọng, đưa đến chiến tranh Hai là, nhà nước quân phiệt của một số ít người giầu có, áp bức số đông, đưa đến tội ác Ba là, nhà nước dân chủ đem lại quyền lực cho số đông; đó là một nhà nước tồi tệ.Platôn nêu lên mô hình một nhà nước mà ông cho là lý tưởng, đó là nhà nước cộng hoà Trong nhà nước ấy, quan hệ bất bình đẳng giữa các hạng người phải được duy trì, bởi vì nó hợp với tự nhiên, hợp với sự phân công trong xã hội Sự tồn tại của nhà nước
Trang 7lý tưởng phải dựa trên sự phát triển của sản xuất vật chất và sự phân công hài hoà giữa các nghề trong xã hội Để khắc phục sự phân chia giàu nghèo, cần xoá bỏ gia đình và tư hữu Trẻ con sinh ra được đưa vào các cơ quan giáo dục riêng, lựa chọn những đứa trẻ khỏe mạnh, nuôi dưỡng chúng để trở thành vệ binh Các nhà thông thái, triết học sẽ được lựa chọn trong số vệ binh này.Quan niệm về một nhà nước lý tưởng trên đây của Platôn chứa đựng nhiều mâu thuẫn Một mặt, ông muốn xoá bỏ tư hữu, mặt khác, ông lại chủ trương duy trì sự bất bình đẳng giữa các hạng người Một mặt, ông đề cao hình thức cộng hoà, mặt khác ông lại ra sức bảo vệ lợi ích của giai cấp chủ nô quý tộc, chốnglại nhà nước dân chủ Aten Nhà nước mà ông coi là lý tưởng, thực chất chỉ là sự biện hộcho giai cấp chủ nô quý tộc Đúng như nhận xét của Mác, nó chỉ là lý tưởng hoá chế độ đẳng cấp của Aicập vào Aten mà thôi.
2.3 Arixtốt (384 – 322 TCN)
Arixtốt là con một thầy thuốc, thuộc xứ Maxêđoan, bắc Hy Lạp Năm 17 tuổi ông đến Aten học ở Việt hàn lâm của Platôn và trở thành giáo viên của Viện Khi Platôn qua đời,ông rời Aten đi chu du nhiều nơi thuộc vùng Tiểu Á Trong thời gian này ông được mời dạy học cho hoàng tử Alếchxăngđrơ (Alexandre) con vua Philíp (Philippe) xứ
Maxêđoan (Macédoine) Năm 336 tr.CN, ông trở về Aten lập ra trường phái triết học riêng của mình Học thức của ông hết sức uyên bác, được Mác coi là nhà tư tưởng vĩ đạinhất của thời cổ đại Ông đã để lại cho nhân loại nhiều công trình khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Về triết học, có tác phẩm “Siêu hình học” Về lôgíc học, có tác phẩm “Oóc ga-nôn” Về khoa học tự nhiên, có tác phẩm “Vật lý học” Về khoa học xã hội, có tác phẩm “Đạo đức học”, “Chính trị học”, “Thi ca học” v v.Cống hiến nổi bật của Arixtốt là ông đã phê phán một cách cặn kẽ học thuyết về ý niệm của Platôn, đã đặt nền móng cho khoa học lôgíc thời cổ đại Nhưng vì dao động giữa hai đường lối duy vật
và duy tâm, nên triết học của ông mang tính chất chiết trung, không triệt để
a Thế giới quan triết học của A-ri-xtốt
A-rít-xtốt là học trò xuất sắc của Platon, nhưng chính ông lại nhận ra sai lầm của thầy học mình về học thuyết ý niệm Sai lầm của Platôn là ở chỗ, ông đã tách rời bản chất khỏi cái có bản chất đó, và biến ngay cái chung (khái niệm) thành cái riêng bên cạnh thếgiới cảm tính, quyết định thế giới cảm tính Nghĩa là, Platôn đã biến những khái niệm được hình thành trong quá trình nhận thức thành một thế giới riêng biệt, siêu cảm giác, tồn tại một cách độc lập đối với những sự vật được phản ánh.Như vậy thì, một là, thế giới của các ý niệm (khái niệm) là tồn tại tối cao, còn thế giới các sự vật cảm tính chỉ là một tồn tại cấp thấp Hai là, nếu thế giới các ý niệm độc lập và tách rời thế giới các sự vật cảm tính, thì các khái niệm, phạm trù chẳng có vai trò gì đối với nhận thức cả Ba là,nếu cho rằng thế giới của các ý niệm là độc lập đối với các sự vật, nhưng các sự vật lại
là cái bóng, là bản sao của ý niệm, thì rõ ràng là tự mâu thuẫn với mình, vì như thế là chúng có chỗ tương đồng Sự phê phán trên đây của Arixtốt đối với thuyết ý niệm của Platôn đã vạch ra một cách tài tình căn nguyên nhận thức luận của chủ nghĩa duy tâm nói chung.Theo Arixtốt, bản chất tồn tại (chứa đựng) ngay trong bản thân sự vật Nhữngbản chất này được nhận thức của con người khái quát thành những cái chung, cái phổ biến dưới dạng, các khái niệm, các phạm trù, các quy luật Vì vậy, không phải khái niệmphạm trù, quy luật là cái có trước, sinh ra sự tồn tại của sự vật, mà ngược lại Trong tác phẩm “Các phạm trù”, Arixtốt khẳng định: “Khái niệm không bao giờ lại là nguyên nhân của sự tồn tại của sự vật, mà sự vật, có thể gọi là nguyên nhân chân chính của kháiniệm” Quan niệm đó được Lênin đánh giá là đã tiến sát đến chủ nghĩa duy vật
Trang 8Trên cơ sở phê phán học thuyết ý niệm của Platôn, Arixtốt đã xây dựng hệ thống triết học riêng của mình, ông thừa nhận giới tự nhiên tồn tại một cách khách quan với những
sự vật hết sức đa dạng Vật lý học nghiên cứu các dạng tồn tại cụ thể của nó; ông coi đây cũng là triết học, nhưng là “triết học thứ hai”.Siêu hình học nghiên cứu bản chất củatồn tại nói chung và được ông coi là “triết học thứ nhất”.Khi giải thích về bản chất của tồn tại, của sự vật, ông thường đặt các câu hỏi (vì sao, vì cái gì) để giải thích nguyên nhân tồn tại của chúng Từ đó ông đưa ra 4 nguyên nhân của tồn tại nói chung: Nguyên nhân vật chất, nguyên nhân hình dạng, nguyên nhân vận động, nguyên nhân mục đích
Ví dụ, cái nhà mà có được, là nhờ vật liệu (vật chất), hình thức của nó (hình dạng), hoạt động của thợ (vận động), nhà để ở (mục đích) Trong những nguyên nhân ấy, nguyên nhân thứ nhất và thứ hai là cơ bản, trong đó, nguyên nhân hình dạng là cái quyết định, làcái bản chất của sự vật Thí dụ, bức tượng bằng đồng, cái chén bằng bạc Đồng và bạc chỉ là vật liệu tham gia vào sự vật, còn cái quyết định là hình dạng Sở dĩ nó là bức tượng, cái chén, vì nó có hình dáng bức tượng, hình dáng cái chén Nếu ta đem đồng và bạc làm cái khác thì nó không còn là bức tượng, cái chén nữa Và theo ông, hình thức của mọi hình thức là tư duy, là lý tính, sự suy nghĩ, là thượng đế Quan niệm trên đây của Arixtốt cho thấy ông đã dao động, do dự giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, hoà nhập vào thần học, trở lại gần gũi với Platôn, thầy học của ông
Về vấn đề linh hồn, Arixtốt cho rằng con người có phần linh hồn và phần thể xác, tựa như mỗi sự vật đều được hình thành từ vật chất và hình thức Ông phê phán Platôn xem
“thể xác chỉ là nơi trú ngụ tạm thời của linh hồn bất tử “ Theo ông, linh hồn không có trong cơ thể chết; không thể có linh hồn nếu không có vật chất Nhưng ông lại chia linh hồn làm 3 loại: linh hồn thực vật có hoạt động nuôi dưỡng và sinh sản; linh hồn động vật có khả năng cảm ứng với môi trường xung quanh; linh hồn con người có hoạt động
lý tính, đây là loại linh hồn cao nhất Trong con người có cả ba loại linh hồn nói trên Khi người ta chết, riêng linh hồn lý tính còn tồn tại bất diệt Quan niệm về linh hồn như trên chứng tỏ rằng Arixtốt là nhà triết học không triệt để, vừa phê phán Platôn, vừa kế thừa quan điểm duy tâm của Platôn
b Lý luận nhận thức của Arixtốt
Lý luận về nhận thức của Arixtốt là đỉnh cao của sự phát triển các tư tưởng về nhận thứcluận thời cổ đại Hy Lạp Ông đã đặt ra những vấn đề hệ trọng về nhận thức luận, như các vấn đề: đối tượng của nhận thức, khả năng nhận thức của con người, vấn đề chân lý
và khoa học về tư duy Điểm đặc sắc trong lý luận nhận thức của ông là phương pháp suy luận ba bước (tam đoạn luận) của lôgíc hình thức
Khác với Platôn coi ý niệm là đối tượng của nhận thức, ông khẳng định rằng thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức, là nguồn gốc của kinh nghiệm; tự nhiên là tính thứ nhất, tri thức là tính thứ hai Theo ông, mọi tri thức đều bắt nguồn từ cảm giác về những sự vật đơn nhất được khái quát lại mà có Ông kịch liệt phê phán quan niệm của Platôn coi nhận thức chỉ là sự hồi tưởng của linh hồn Ông khẳng định rằng, nhận thức của con người không có tính chất bẩm sinh, linh hồn con người khi mới sinh ra hoàn toàn không có tri thức, nó tựa như một tấm bảng sạch chưa có vết phấn (nguyên lý Tabula rasa).Ông là người có quan niệm rành mạch về quá trình nhận thức đi từ cảm tính đến lý tính Tuy hết sức coi trọng nhận thức cảm tính, nhưng theo ông nhận thức cảm tính không có khả năng đi sâu vào bản chất của sự vật Nếu chỉ bằng cảm giác, con người ta không thể nắm được định lý về tổng các góc của một tam giác bằng hai góc vuông và không giải thích được các hiện tượng nhật thực, nguyệt thực Vì vậy, để đạt đến chân lý, nhận thức phải đi từ cảm tính đến lý tính Đó là quá trình đi từ những cảm giác đơn lẻ, ngẫu nhiên đến cái chung, cái phổ biến, cái bản chất dưới dạng khái niệm,
Trang 9phạm trù, quy luật Nhưng như đã nói ở trên, ông đã tuyệt đối hoá vai trò của nhận thức
lý tính, coi lý tính là hình thức của mọi hình thức, quyết định bản chất của sự vật
Trên con đường tư duy lý tính, Arixtốt rất quan tâm đến phương pháp tư duy: theo ông, cái được coi là chân lý phải là cái phù hợp giữa tư tưởng và thực tế Muốn vậy, mọi tư duy đáng tin cậy phải được diễn đạt chính xác, có nội dung đáng tin cậy và vững chắc
Từ đó, ông đã nêu lên những nguyên tắc rất cơ bản để xây dựng khái niệm, phạm trù Ông cũng đã nêu lên những quy luật cơ bản của tư duy logíc (quy luật đồng nhất, quy luật cấm mâu thuẫn trong tư duy, quy luật loại trừ cái thứ ba) Ông đã nêu lên phương pháp suy luận ba bước (tam đoạn luận) Trong đó, kết luận được rút ra từ hai tiền đề đã
có (Nếu A thuộc B, B thuộc C, thì A thuộc C Ví dụ: Đồng là kim loại, mọi kim loại đều dẫn điện, vậy đồng cũng dẫn điện).Tuy mới đề cập được một số nguyên tắc của tư duy lôgíc, nhưng ông được coi là người sáng tạo ra lôgíc hình thức cổ điển Những nguyên tắc lôgíc học của ông, sau này được Bêcơn, Đềcác và các nhà triết học cổ điển Đức kế thừa và phát triển lên một trình độ cao hơn
Tóm lại: Arixtốt là nhà triết học vĩ đại nhất của Hy Lạp cổ đại Ph Ăngghen đã gọi ông
là con người có “ khối óc toàn diện nhất” Còn C Mác đã đánh giá: “ tư tưởng thâm thúy của Arixtốt vạch ra những vấn đề trừu tượng nhất một cách thật đáng kinh ngạc…”
Tư tưởng của ông coa ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của triết học và khoa học tự nhiện sau này
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ PHẠM TRÙ CƠ BẢN VÀ Ý NGHĨA NHẬN THỨC HIỆN THỜI CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
2.1 Một số phạm trù đạo đức học cơ bản
2.1.1 Thiện và ác:
Mặc dù lịch sử về nguồn gốc của việc sử dụng khái niệm và ý nghĩa của 'thiện' rất đa dạng, các cuộc thảo luận đáng chú ý của Plato và Aristotle về chủ đề này đã có tác dụng lịch sử quan trọng Các tài liệu tham khảo đầu tiên có mặt trong The Republic to the Form of the Good của Plato nằm trong cuộc trò chuyện giữa Glaucon và Socrates
(454c-d) Khi cố gắng trả lời những câu hỏi khó như vậy liên quan đến định nghĩa của công lý, Plato xác định rằng chúng ta không nên giới thiệu mọi hình thức khác biệt và giống nhau trong tự nhiên, thay vào đó chúng ta phải tập trung vào "một hình thức giống nhau và khác biệt có liên quan đến cụ thể cách sống của chính mình, đó là hình thức của Thiện Hình thức này là cơ sở để hiểu tất cả các hình thức khác, nó là những gì cho phép chúng ta hiểu mọi thứ khác Thông qua cuộc trò chuyện giữa Socrates và Glaucon (508a-c) Plato đồng nghĩa hình thức của Thiện với Mặt Trời vì đó là thứ cho phép chúng ta nhìn thấy mọi thứ Ở đây, Plato mô tả cách Mặt Trời cho phép chúng ta nhìn Nhưng ông tạo ra một sự khác biệt rất quan trọng, Mặt trời không phải là cảnh tượng mà là chính nguyên nhân của cảnh tượng đó Vì Mặt trời ở cõi hữu hình, hình thức của Thiện nằm trong cõi thông minh Đó là những gì mang lại sự thật cho những điều đã biết và sức mạnh để biết với người biết Nó không chỉ là nguyên nhân của kiến thức và sự thật, nó còn là một đối tượng của kiến thức.Plato xác định cách thức để hình thức của Thiện cho phép nhận thức hiểu được các khái niệm khó khăn như công lý Ôngxác định kiến thức và sự thật là quan trọng, nhưng thông qua Socrates (508d, e) nói, thì Thiện vẫn được đánh giá cao hơn Sau đó, ông tiếp tục giải thích về vấn đề "mặc dù Thiện không phải là sự tồn tại, đó là sự vượt trội so với cấp bậc và sức mạnh, đó là những gì cung cấp cho ta kiến thức và sự thật".Trái ngược với Plato, Aristotle thảo luận
về các hình thức của Thiện về mặt quan trọng nhiều lần trong cả hai tác phẩm đạo đức quan trọng còn sót lại của ông, Đạo đức Eudppy và Nic gastean Aristotle lập luận rằng Hình thức cái Thiện của Plato không áp dụng cho thế giới vật chất, vì Plato không gán
Trang 10cái thiện cho bất cứ điều gì trong thế giới hiện có Bởi vì Hình thức cái Thiện của Plato không giải thích các sự kiện trong thế giới vật chất, con người không có lý do gì để tin rằng Hình thức cái Thiện tồn tại và Hình thức cái Thiện là không liên quan đến đạo đức của con người.Plato và Aristotle không phải là những người đóng góp đầu tiên ở Hy Lạp cổ đại để nghiên cứu về 'cái Thiện' và thảo luận trước đó có thể được tìm thấy giữa các nhà triết học tiền Socrates Trong nền văn minh phương Tây, các ý nghĩa cơ bản củaκακός và αθός là "xấu, hèn nhát" và "tốt, dũng cảm, có khả năng", và ý nghĩa tuyệt đối của chúng chỉ xuất hiện vào khoảng năm 400 TCN, với triết lý tiền Socrates, đặc biệt là Democritos Đạo đức theo nghĩa tuyệt đối này củng cố vững chắc trong các cuộc đối thoại của Plato, cùng với sự xuất hiện của tư tưởng độc thần (đáng chú ý là ở
Euthyphro, trong đó suy ngẫm về khái niệm đạo đức (Ý tưởng này được tiếp tục phát triển trong Hậu kỳ cổ đại bởi những người theo thuyết Neoplaton, Gnostics và Giáo Phụ
2.1.2 Tự do:
2.1.Tất yếu và tự do trong triết học Đêmôcrít
Đêmôcrít (khoảng 460 - 370 TCN.) là một trong các nhà duy vật lớn nhất thời cổ đại Ông là nhà triết học "chẳng những không lảng xa thế giới mà trái lại, nghiên cứu một cách thực nghiệm giới tự nhiên và là một bộ óc bách khoa đầu tiên trong những người
Hy Lạp"(1) Ông đã xây dựng học thuyết về cấu tạo nguyên tử của vật chất mà ở nhiều điểm, rất khác với những quan niệm của các nhà duy vật trước đó (Hêraclít, Anaxago)
Ở một số điểm quan trọng, như Vũ trụ luận, học thuyết về xã hội và đặc biệt là lý luận nhận thức, ông đã đưa ra những tư tưởng biện chứng mới mẻ.Đêmôcrít là nhà triết học
đã khẳng định tính phổ biến và tính khách quan, là đại biểu cho quan niệm về tính tất yếu tự nhiên trong triết học Hy Lạp cổ đại Trong học thuyết về nguyên tử và Vũ trụ, ông đã dành một phần thích đáng để nói về tính tất yếu ấy trên cơ sở luận giải bản chất của tồn tại Ông giải thích thế giới từ những nguyên nhân vật chất Theo ông, thế giới khách quan là do những phần tử nhỏ nhất của vật chất - nguyên tử - tạo thành Mọi sự vật và quá trình diễn ra trong đó chỉ là sự hợp tan của các nguyên tử Nguyên tử là các phần tử nhỏ nhất của vật chất, trong nó có tính quy định và tính tích cực nội tại Vận động của nguyên tử là vĩnh viễn, nguyên tử vận động theo nhiều hướng khác nhau và trong khi vận động, chúng kết hợp với nhau để hình thành nên những cơn lốc nguyên tử; những cơn lốc này, đến lượt nó, đã hình thành nên Vũ trụ V.I.Lênin cho rằng, "trongnguyên tử luận,chúng ta tìm thấy ngay quan niệm về tồn tại tự nó của giới tự nhiên nói chung".Đêmôcrít cho rằng, tính đa dạng của các nguyên tử dẫn đến tính đa dạng của thếgiới, kể cả thế giới của con người Ông thừa nhận sự tồn tại của các quy luật phổ biến trong tự nhiên, thừa nhận tính chất phổ biến của nguyên nhân, gắn nguyên nhân với tínhtất yếu Theo ông, không một sự vật nào lại xuất hiện mà không có nguyên nhân, mọi cái đều xuất hiện trong mối liên hệ nhân quả và do tính tất yếu chi phối Tuy nhiên, quan niệm về tính tất yếu ở ông chỉ mang ý nghĩa vật lý, nhằm giải thích các hiện tượng
tự nhiên về mặt vật lý học Khác với Êpiquya, ông coi nguyên tử chỉ là một giả thiết củavật lý học, một công cụ phụ trợ để giải thích các hiện tượng, hoàn toàn giống như việc giải thích tỷ lệ hoá hợp trong hoá học cận đại Vì vậy, tư tưởng về tính tất yếu ở ông chủyếu là tư tưởng về tính tất yếu tự nhiên, khi ông giải thích tất yếu là "lực cản, sự vận động và xung lực của vật chất" Chính ông đã gọi tính tất yếu là "cơn lốc" và coi dòng xoáy lốc của các nguyên tử là nguyên nhân xuất hiện của các vật thể trong thế
giới.Đêmôcrít đã phát triển học thuyết triết học cho rằng, mọi trật tự diễn ra trong thế giới đều phục tùng tính tất yếu, phục tùng các quy luật khách quan Ông cho rằng, trật
tự tất yếu là hình thức phản chiếu hiện thực, nó tác động trong toàn bộ thế giới, mọi cái