1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG TRƯỜNG PHÁI LÝ THUYẾT VĂN HÓA CHÍNH TRỊ TIÊU BIỂU CỦA THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

13 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 245,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo ông, chế độ quân chủ có một người cai trị sẽ biến thành chuyên chế, chế độ quý tộc với nhóm nhỏ cai trị sẽ biến thành chế độ quả đầu đầu sỏ, chỉ xã hội có tổ chức do nhiều người dân

Trang 1

NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG TRƯỜNG PHÁI LÝ THUYẾT VĂN HÓA CHÍNH TRỊ

TIÊU BIỂU CỦA THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Nguyễn Minh Giang

Học viên cao học Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM

1656110037@hcmussh.edu.vn

SĐT: 0393237799

Tóm tắt

Văn hóa chính trị là một bộ phận, phương tiện quan trọng của văn hóa tinh thần góp phần duy trì ổn định xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời củng cố lợi ích của giai cấp cầm quyền, song nó cũng đặc biệt chịu sự chi phối của nền tảng tư tưởng, đường lối của giai cấp cầm quyền Bài viết trình bày những nét khái quát về các trường phái lý thuyết nghiên cứu văn hóa chính trị trên thế giới, từ đó đánh giá, phân tích giá trị của các nội dung tiêu biểu của văn hóa chính trị có thể sử dụng làm cơ sở lý luận để kết hợp với cơ sở thực tiễn nhận diện và phân tích văn hóa chính trị của từng quốc gia, tổ chức, và cá nhân với tư cách là chủ thể của văn hóa chính trị.

1 Đặt vấn đề

Văn hóa là một phạm trù lịch sử - xã hội có hơn 400 định nghĩa theo thống kê

của Kroeber trong Culture, a critical review of concepts and definitions Ở phương

Đông, Mạnh Tử đã nói trong Tứ thư, Thánh nhân dùng văn hóa của Hoa Hạ để

thay đổi phong tục của người Di, Địch, chứ chưa ai nói người Hoa Hạ bị người Di, Địch giáo hóa lại Thời Tây Hán, Lưu Hướng cũng hiểu từ “văn hóa” gần với nghĩa

giáo hóa như Mạnh Tử: “Thánh nhân cai trị thiên hạ, trước dùng văn đức, sau dùng

vũ lực Phàm dùng vũ lực để đối phó với kẻ bất phục tùng, dùng văn hóa không đổi được thì sau đó sẽ dùng chinh phạt” Cuối những năm 90 của thế kỷ XX, nhà

nghiên cứu lịch sử văn hóa Trung Quốc Đàm Gia Kiện lại quan niệm: “ngoại diên

của văn hóa có rộng, có hẹp, …, song trong đó, các mặt chủ yếu không ngoài chế

độ điển chương, tập tục, văn học, nghệ thuật, triết học, tôn giáo, khoa học kĩ thuật”.

[Đàm Gia Kiện, 1993, tr.818] Ở Việt Nam, từ “văn hóa” được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa), hoặc trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn) Nội hàm của văn hóa có

rất nhiều nghĩa khác nhau Đề cương về văn hóa Việt Nam của Trường Chinh đã

xếp văn hóa (bao gồm khoa học, giáo dục, tư tưởng, học thuật, nghệ thuật) bên cạnh kinh tế và chính trị.[Trần Ngọc Thêm, 1994, tr.6] Trong khi đó, Nguyễn Đức Từ Chi lại xem văn hóa từ hai góc độ Góc độ thứ nhất là góc độ hẹp, mà ông gọi là

“góc nhìn báo chí” Theo góc nhìn này, văn hóa sẽ là kiến thức của con người và xã hội Nhưng, ông không mặn mà với cách hiểu này vì hiểu như thế thì người nông dân cày ruộng giỏi nhưng không biết chữ vẫn bị xem là “không có văn hóa” do tiêu chuẩn văn hóa ở đây là tiêu chuẩn kiến thức sách vở Còn góc nhìn thứ hai là “góc nhìn dân tộc học” Với góc nhìn này, văn hóa được xem là toàn bộ cuộc sống - cả vật chất, xã hội, tinh thần của từng cộng đồng [Nguyễn Đức Từ Chi, 2003, tr.565, 570] Dù nhìn theo khía cạnh nào của văn hóa, xét nội hàm của từ “văn hóa” theo

Trang 2

nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, văn hóa luôn có tính hệ thống, tính lịch sử, tính giá trị và tính nhân sinh nhờ đó giúp văn hóa ổn định xã hội, cung cấp cho xã hội những phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội, giúp xã hội duy trì trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện cho phù hợp với biến đổi của môi trường tự nhiên và xã hội Văn hóa cũng thực hiện chức năng giao tiếp, chức năng xã hội hóa, chức năng giáo dục, di truyền cho thế hệ sau mã ADN gen văn hóa phẩm chất đặc trưng của cộng đồng, cũng như góp phần hình thành nên nhân cách con người theo những giá trị chuẩn mực để con người hướng tới.[Trần Quốc Vượng, 1996, tr.100-103]

Chức năng thẩm mỹ cũng là chức năng quan trọng của văn hóa vì văn hóa chứa giá trị chân - thiện - mỹ Mọi biểu hiện văn hóa đều hướng đến những giá trị,

vẻ đẹp Các sản phẩm thuộc văn hóa vật chất vẫn thường hàm chứa cả giá trị thẩm

mỹ Con người cũng luôn ứng xử, tự điều chỉnh bản thân theo hệ thống giá trị thẩm

mỹ chuẩn mực Nhìn chung, hoạt động của văn hóa đều vận động theo quy luật của giá trị thẩm mỹ Chức năng thẩm mỹ thường xuyên bị quên lãng khi xem xét, quản

lý văn hóa Song nó luôn gắn liền với nhu cầu hưởng thụ, hướng tới cái đẹp Con người lao động và cải tạo thế giới tự nhiên thứ nhất, phản ánh thực tại thành thế giới

tự nhiên thứ hai theo xu hướng hướng tới cái đẹp Vì vậy, có thể nói, văn hóa còn là sản phẩm do lao động sáng tạo của con người theo quy luật vận động của cái đẹp Chức năng không tách rời với chức năng giáo dục và chức năng thẩm mỹ của văn hóa chính là chức năng giải trí Trong cuộc sống, con người luôn có nhu cầu giải tỏa tinh thần, tâm lý Họ tìm đến các hoạt động văn hóa do nhu cầu giải trí Chẳng thế

mà sau mỗi mùa vụ của cư dân gốc nông nghiệp lúa nước, lễ hội được sinh ra để giải tỏa nhu cầu tâm linh tinh thần cũng như nhu cầu giải trí Nhận diện chính xác các chức năng của văn hóa chính là thừa nhận văn hóa có tính nhân sinh, văn hóa là động lực của sự phát triển xã hội nói chung và con người nói riêng.[Lê Văn Chưởng,

1999, tr.24]

Văn hóa chính trị là một bộ phận của văn hóa tinh thần, vì vậy cũng mang những chức năng của văn hóa nói chung Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại nhiều trường phái, khuynh hướng nghiên cứu khác nhau về văn hóa chính trị trên thế giới Đặc biệt, sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa làm cho các chính trị gia phương Tây vốn say sưa với giá trị dân chủ tự do đã buộc phải xem xét cơ sở hình thành của văn hóa chính trị độc tài phi dân chủ đó, những cơ sở văn hóa và hành vi giúp duy trì sự ổn định của nền văn hóa chính trị phi phương Tây, phi tư bản chủ nghĩa đó Đến thập niên 70 của thế kỷ 20, các học giả Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc cũng bắt đầu nghiên cứu về văn hóa chính trị [Văn Hải, 2001, tr.81-82]

2 Mối quan hệ giữa văn hóa và chính trị

Theo Hồ Chí Minh, “văn hóa ở trong chính trị (…) Văn hóa có liên hệ với

chính trị mật thiết”, “văn hóa và chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau Có chính

Trang 3

trị mới có văn hóa, chính trị bị đàn áp nên văn hóa của ta không nảy sinh được”.

[Phạm Duy Đức - Vũ Thị Phương Hậu, 2020, tr.33] Nói cách khác, văn hóa phải làm cho mục tiêu và hành động chính trị mang tính nhân văn, khoa học, dân chủ Chính trị cũng phải chuyển thành các giá trị, các hoạt động văn hóa để thâm nhập đời sống xã hội sâu sắc, từ đó thuyết phục quảng đại quần chúng nhân dân thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ chính trị [Phạm Duy Đức - Vũ Thị Phương Hậu, 2020, tr.34]

Văn hóa còn tạo khả năng cho các dân tộc bị áp bức xây dựng tình đoàn kết, vùng dậy với sức mạnh, khả năng sáng tạo và lòng dũng cảm để tiến hành sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Trong điều kiện Đảng cầm quyền, vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để ai cũng hiểu và thấm nhuần lý tưởng tự chủ, độc lập, tư

do, phải làm thế nào cho toàn thể quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung và quên lợi ích riêng Đồng thời, phải giúp cho nhà lành đạo quản lý và người cầm quyền thực thi quyền lực thông qua các giá trị văn hóa, đảm bảo các giá trị nhân văn thẩm thấu trong lãnh đạo cầm quyền, trong ứng xử với quần chúng nhân dân, đảm bảo cho chính trị và quyền lực chính trị không bị tha hóa, không bị

biến dạng… Với ý nghĩa đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng: “Văn hóa nghệ thuật

cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải trong kinh tế và chính trị” [Hồ Chí Minh, 2000, tr.368-369].

3 Một số hướng lý thuyết nghiên cứu văn hóa chính trị trên thế giới

3.1 Một số hướng lý thuyết nghiên cứu văn hóa chính trị ở phương Tây

Ở phương Tây, Platon (428 - 328 trước Công nguyên) và Aristote (384 - 322 trước Công nguyên) là những người đầu tiên xem chính trị vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Mặc dù triết lý chính trị - xã hội của họ bị hạn chế bởi thời kỳ lịch sử đương thời, nhưng chúng vẫn chứa đựng cốt lõi hợp lý trong quan niệm về chính trị

Platon trong tác phẩm Nền Cộng hòa cho rằng, tất cả những chế độ chính trị theo

truyền thống như dân chủ, quân chủ, hay đầu sỏ (quả đầu) đều đã đồi bại, tham nhũng, và nhà nước nên được điều hành bởi những người cầm quyền là các tinh hoa được giáo dục tốt Các giới tinh hoa là những người được đào tạo từ thời trẻ và được lựa chọn dựa trên năng lực đặc biệt về quan sát tổng quan xã hội Trong khi đó,

học trò của Platon, Aristote trong tác phẩm Chính trị lại cho rằng bản chất con

người là động vật chính trị, luân lý đạo đức và chính trị luôn có liên kết chặt chẽ với nhau và một đời sống đạo đức thực sự chỉ có thể có ở những người tham gia trực tiếp vào chính trị [Aloun Bounximay, 2013, tr.13-14] Theo Aristote, sứ mệnh của nhà nước, của giới cầm quyền không chỉ đảm bảo cho mọi người sống bình thường

mà làm sao cho con người sống hạnh phúc, phải xây dựng cho người dân một cuộc

sống toàn diện đầy đủ về vật chất và đảm bảo công bằng xã hội “Mục đích của nhà nước là cuộc sống phúc lợi, bản thân nhà nước là sự giao thiệp giữa các quốc gia

và dân cư nhằm đạt được sự tồn tại một cách hoàn thiện và tự lập” Ông cũng cho

Trang 4

rằng hình thức đúng của nhà nước có thể biến thành hình thức nhà nước lệch lạc, thể chế bị mục nát Theo ông, chế độ quân chủ có một người cai trị sẽ biến thành chuyên chế, chế độ quý tộc với nhóm nhỏ cai trị sẽ biến thành chế độ quả đầu (đầu sỏ), chỉ xã hội có tổ chức do nhiều người dân cùng cai trị mới biến thành chế độ dân trị, hay nghĩa đen là thường dân cai trị.[Nguyễn Hữu Vui, 1998, tr.207]

Trong tác phẩm Quân vương, nhà lý luận chính trị người Ý Machiavelli đã

phản đối quan điểm đạo đức truyền thống đối với người cầm quyền, đưa ra tầm nhìn toàn cầu về chính trị, miêu tả hành vi chính trị xảo quyệt đề cập đến loại người thiếu đạo đức, hay sử dụng các thủ thuật mánh khóe để cố thủ quyền hành, biện hộ cho những hành động tàn bạo, và thực hiện các phương pháp chuyên quyền để giành

-giữ và thực thi quyền lực chính trị Tuy nhiên, phải đến tác phẩm Tư tưởng triết học

lịch sử của loài người của I.G.Gerzer, thuật ngữ văn hóa chính trị mới được nghiên

cứu chính thức, trong mối liên hệ gắn liền với tư tưởng, dư luận xã hội, tâm lý cá nhân và tính cách dân tộc, không phải trong mối liên hệ với lịch sử và đạo đức như những công trình nghiên cứu liên quan đến văn hóa chính trị của Monstequieur [Aloun Bounximay, 2013, tr.13-14]

Đến những năm 50 của thế kỷ XX, nhà chính trị học người Mỹ G.Almond, người sáng lập trường phái chủ nghĩa hành động trong khoa học chính trị ở Mỹ, đã đưa khái niệm văn hóa chính trị vào khoa học chính trị G.Almond đã tập trung nghiên cứu hành vi chính trị của các cá thể, phân tích xem động cơ hành động của

họ là gì, từ đó định nghĩa văn hóa chính trị là tập hợp lập trường và xu thế cá nhân

của những chủ thể tham gia trong một hệ thống nhất định, là lĩnh vực chủ quan làm

cơ sở hành động chính trị và làm cho hoạt động chính trị có ý nghĩa [Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2008, tr.216] G.Almond và S.Verba không chỉ phân tích một cách trừu tượng các vấn đề như tư tưởng chính trị, chế độ chính trị,

và sự vận hành chính trị vĩ mô mà còn chú trọng nghiên cứu hành vi hoạt động chính trị và gắn liền quá trình chính trị với hành vi của con người [Văn Hải, 2001, tr.81] Họ đã thực sự đặt nền móng cho những nghiên cứu hiện đại về văn hóa chính trị trên thế giới [Aloun Bounximay, 2013, tr.15] Hai nhà nghiên cứu Gabriel Almond và Sidney Verba đã so sánh năm nước Mỹ - Anh - Đức - Ý - Mexico từ việc phân tích các hình thức ứng xử chính trị khác nhau, phân loại các văn hóa và cấu trúc chính trị có chức năng tương ứng: văn hóa chính trị làng xã tập trung vào các lợi ích nhóm cục bộ tại địa phương tương ứng với cấu trúc chính trị truyền thống, văn hóa chính trị “bầu chủ - phụ thuộc” tập trung duy trì tính thụ động cấp độ

cá nhân tương ứng với cấu trúc chính trị dựa trên quyền lực, và văn hóa chính trị can dự tương ứng với cấu trúc chính trị dân chủ [Trần Ngọc Khánh, 2011]

Khi đánh giá văn hóa chính trị, các nhà chính trị học Hoa Kỳ thường đưa ra các tiêu chí đánh giá là phương thức quản lý xã hội (dân chủ, độc tài), phương thức thực hiện các quyết sách chính trị, phương thức phối hợp hành động giữa các thể

Trang 5

chế chính trị, các hệ thống chính trị, phương thức quản trị xung đột xã hội, mô hình bầu cử và phương thức bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc [Jukov - Krasnov, 1987, tr.695]

Almond và Powell đã đưa ra cấu trúc của văn hóa chính trị gồm ba yếu tố là Nội dung trọng tâm văn hóa chính trị, Các định hướng văn hóa chính trị, và Các mối quan hệ trong hệ thống các yếu tố này Trong đó, Nội dung trọng tâm được xem xét từ cả ba cấp độ là Hệ thống văn hóa chính trị, Tiến trình văn hóa chính trị,

và Chính sách văn hóa chính trị Các định hướng văn hóa chính trị cũng được xem xét từ ba cấp độ là Định hướng nhận thức, Định hướng cảm xúc, và Định hướng đánh giá Các mối quan hệ trong hệ thống các yếu tố này được xem xét tương tự như nhau giữa các yếu tố Theo đó, trong một cộng đồng người, thái độ, lòng tin, cảm giác và các đánh giá đối với các chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế, và vấn đề khác như thuế, giao thông công cộng, phân biệt chủng tộc không chỉ có liên quan với nhau mà còn giúp dự đoán được quan điểm đối với các vấn đề còn lại Giữa các nhóm cộng đồng người khác nhau, thái độ, lòng tin, cảm giác và các đánh giá lại cũng có mối liên hệ với nhau Ở cấp độ hệ thống văn hóa chính trị, thái độ của người dân đối với cộng đồng quốc gia - dân tộc và thể chế chính trị được thể hiện qua ba yếu tố là bản sắc dân tộc, tính chính đáng của chính quyền và tính hiệu quả của hoạt động của chính quyền Trong đó, yếu tố quan trọng nhất là tính chính đáng của chính quyền Nếu tính chính đáng của chính quyền thấp nghĩa là công dân của quốc gia đó chỉ sợ hãi mà không cảm thấy lý do cụ thể phải tuân thủ pháp luật

và chính sách của chính phủ Ngược lại, nếu tính chính đáng của chính quyền cao nghĩa là công dân của quốc gia đó tự giác tuân thủ pháp luật và chính sách của chính phủ [Nguyễn Xuân Tế, 2002, tr.213] Giới học giả Đức Heidelberg, trong

cuốn Từ điển Chính trị xuất bản vào năm 2007 đã viết: “Văn hóa chính trị là khái niệm dùng để chỉ chiều cạnh chủ quan (Subjektive Dimesion) của những cơ sở xã hội, của những hệ thống chính trị Văn hóa chính trị liên quan đến những bộ phận khác nhau của ý thức chính trị, những “phong thái”, những lối nghĩ và ứng xử

“ điển hình” của những nhóm xã hội hoặc của toàn xã hội Văn hóa chính trị bao gồm tất cả những đặc tính chính trị cá nhân của từng cá thể, tiềm ẩn trong những thái độ và các giá trị, bắt rễ trong những động cơ bẩm sinh (Praedispositionen) của hành vi chính trị và cả những hình thức bộc lộ có tính chất biểu tượng và những ứng xử chính trị cụ thể” [Phạm Hồng Tung, 2008, tr.24] Trong khi các nhà chính trị

học như A Almond, S Verba, D Divain, U Krasnov, L Dirtmer đồng nhất văn hóa chính trị với nội dung chủ quan của chính trị, hiểu văn hóa chính trị như tổng thể những biểu tượng, hiện tượng tinh thần, nhóm các nhà chính trị học S Vait, J Pleino, U Rodenbaum, I Sapiro, P Saran lại coi văn hóa chính trị là biểu hiện của những yêu cầu mang tính chuẩn tắc, là tổng thể những mô hình ứng xử điển hình, là phương thức hoạt động chính trị biểu thị bộ quy tắc nội tại của hành vi con người được thể hiện trong hoạt động thực tiễn [Nguyễn Lê Ngân Giang, 2015, tr.40]Nhìn

Trang 6

chung, ở Hoa Kỳ thường quan niệm “văn hóa chính trị là một hệ thống quan niệm,

chính kiến, cảm xúc, thái độ và chuẩn mực hành vi cũng như mô hình chức năng của các thể chế chính trị được thể hiện qua hoạt động của các chủ thể trong quá trình chính trị, vì vậy, văn hóa chính trị có tính lịch sử, tính bền vững tương đối, tính quyết định đối với khuynh hướng, hình thức, sự tiến hóa của đời sống chính trị”

[Batalov, 1990, tr.1]

Karl Marx và Engels tuy chưa đưa ra khái niệm đầy đủ về văn hóa chính trị nhưng đã đề cập mục đích của văn hóa chính trị xã hội chủ nghĩa là hình thành những người cộng sản chân chính có tri thức chính trị cơ bản lấy những nguyên lý

cơ bản của chủ nghĩa Marxist Leninist làm cốt lõi [Aloun Bounximay, 2013, tr.16-17] Dưới cách tiếp cận của chủ nghĩa Marxist, văn hóa chính trị là một bộ phận của văn hóa trong xã hội có giai cấp, là trình độ tổ chức hệ thống quyền lực theo chuẩn giá trị xã hội nhất định, biểu hiện khả năng tổ chức và hoàn thiện hệ thống tổ chức quyền lực của con người nhằm bảo vệ lợi ích giai cấp cầm quyền và hiện thực hóa lợi ích dân tộc tiến tới thực thi các mục tiêu chính trị xã hội khác [Phạm Minh Trí 2019] Trường phái chính trị học Nga, trong đó tiêu biểu là học giả E.A.Đôđin, đưa

ra định nghĩa: “Văn hóa chính trị là quá trình xã hội hóa chính trị, suy cho cùng là quá trình phổ cập những giá trị và những quy tắc chính trị nhất định”, và “quá trình xã hội hóa trong chừng mực nào đó đưa đến sự ra đời các thiết chế xã hội, các giá trị và những chuẩn mực hành vi phù hợp với tiến trình phát triển” [Viện

Khoa học chính trị Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1999, tr.64,65]

Từ cách tiếp cận xem chính trị là lĩnh vực hoạt động gắn liền với những quan

hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các tập đoàn xã hội khác nhau mà hạt nhân là vấn

đề giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc nhà nước,

sự qui định các hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước được xem như là cái quan trọng nhất của chính trị Từ đó chúng ta có thể đưa ra quan niệm

chung nhất về văn hóa chính trị đó là: “Văn hoá chính trị là tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành trong thực tiễn chính trị, nó góp phần chi phối hoạt động của các cá nhân, các nhà chính trị, góp phần định hướng hoạt động của họ trong việc tham gia vào đời sống chính trị để phục vụ lợi ích căn bản của một giai cấp nhất định Rộng hơn, nó là một trong những cơ sở định hình và định hướng cho các phong trào chính trị, cho từng nền chính trị khác nhau trong lịch sử chính trị” [Viện Khoa học chính trị Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1999,

tr.17]

3.2 Một số hướng lý thuyết nghiên cứu văn hóa chính trị ở phương Đông

Ở phương Đông, Khổng Tử (551-471 trước Công nguyên) là một trong những nhà tư tưởng chính trị đầu tiên đề cập văn hóa chính trị dưới góc nhìn triết học đạo đức Vấn đề căn bản trong học thuyết của Khổng Tử là người quân tử với những chuẩn mực ứng xử cần thiết trong chính trị Niềm tin của ông gắn liền với luân

Trang 7

thường đạo lý và đạo đức cá nhân Khổng Tử cho rằng chỉ những người quân tử liêm khiết, tuân theo Đạo được xem là có văn hóa mới được cầm quyền, và có tư cách kiên định với địa vị trong xã hội Học thuyết đạo đức chính trị của Khổng Tử

thể hiện văn hóa chính trị qua những nội dung chủ yếu của các phạm trù như nhân,

lễ, chính danh, thượng hiền, v.v đều chứa đựng những giá trị nhân văn và ý nghĩa

thời đại sâu sắc, gắn liền với Trung Hoa và các nước phương Đông.[Aloun Bounximay, 2013, tr.12-13] Khổng Tử rất tin ở sức hấp dẫn và tác động của đạo

đức biểu hiện qua quan niệm “việc chính trị cốt ở chính tâm của người trị dân” [V.I.Lenin, 1981, tr.429] hay “dùng đức trị làm chính cũng ví như ngôi sao Bắc đẩu

ở trên vị trí của mình mà các tinh tú đều tụ vào” [K.Marx - F.Engels, 1995, tr.6]

Với Khổng Tử, việc quan trọng bậc nhất khi làm chính trị là phải thực hiện chính danh Đó chính là văn hóa chính trị Có nghĩa là, bản thân người cầm quyền phải thực hiện cho đúng danh phận của mình Vua phải làm tròn bổn phận của vua, bề tôi

phải làm tròn bổn phận của bề tôi, Vua có “hiền” thì Tôi mới “trung” Vua phải là

bậc minh quân mới mong có bề tôi tài giỏi Như vậy, có thể thấy Khổng Tử là bậc thầy về nghệ thuật chính trị Ông chủ trương dùng đạo đức, văn hóa để cai trị thiên

hạ Khổng Tử từng nói:“Làm chính trị mà dùng đức cảm hóa dân ví tựa như sao bắc đẩu ở một nơi mà các ngôi sao khác hướng về cả” [Nguyễn Văn Huyên, 2009,

tr.58] Trong khi đó, Lão Tử (580 - 500 trước Công nguyên) là nhà tư tưởng đề cập đến đạo trị nước theo phương châm “vô vi nhi trị” dựa trên cơ sở nhận thức và hành động theo Đạo là quy luật vận động và phát triển tự nhiên của xã hội Tuy chưa đề cập đến khái niệm văn hóa chính trị, nhưng Lão Tử khi bàn về chính trị, hoạt động chính trị đã thể hiện quan điểm về các nội dung của chính trị, về văn hóa chính trị

Phương châm “vô vi nhi trị” của Lão Tử thực chất đã thể hiện một quan niệm mới

về văn hóa chính trị, thể hiện trong cách trị nước theo yêu cầu về các chuẩn mực ứng xử của người trị nước ở tầm của văn hóa chính trị.[Aloun Bounximay, 2013, tr.12-13]

Trong khi đó, giáo sư Nhật Bản Toh Goda, đại diện tiêu biểu cho giới học giả

nhân học chính trị phương Đông lại cho rằng: “Văn hóa chính trị là một hệ thống

hoàn chỉnh các tổ chức, giá trị, diễn ngôn, hành vi và hệ thống tín ngưỡng về quyền lực” [Toh Goda, 2008, tr.11] Và theo quan niệm trong từ điển Bách khoa thư chính trị học cho rằng “Văn hóa chính trị là kinh nghiệm lịch sử, ký ức cộng đồng xã hội,

là phong tục tập quán, thói quen của cá nhân hoặc nhóm xã hội và các xu hướng ảnh hưởng hành vi cá nhân và nhóm xã hội đó trong sinh hoạt chính trị” Khái niệm

văn hóa chính trị từ chỗ giống như “tâm lý dân tộc” đã thành công nhờ định hướng

so sánh Chẳng hạn, hiểu được cái gì là thuận lợi và khó khăn đối với việc vận dụng thiết chế một cách hiệu quả, từ đó cho thấy hệ thống chính trị luôn tồn tại đặc thù [Trần Ngọc Khánh, 2011] Văn hóa chính trị ở mỗi quốc gia đã rất khác nhau, trong một quốc gia lại cũng có sự khác biệt về văn hóa chính trị của giới tinh hoa với của quần chúng nhân dân, của các dân tộc, khu vực, tôn giáo khác nhau Khi sự khác

Trang 8

biệt của một nhóm cộng đồng người đủ mạnh, cộng đồng người đó đã hình thành một tiểu văn hóa chính trị riêng của họ Vào đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, hai trong số những người đầu tiên nghiên cứu về văn hóa chính trị ở Việt Nam là PGS.TS Phạm Ngọc Quang và PGS.TS Nguyễn Hồng Phong đã có những ý kiến

đáng chú ý về văn hóa chính trị Nguyễn Hồng Phong cho rằng: “Phạm trù cốt lõi của chính trị và quyền lực, nhưng quyền lực nằm trong tay ai, để phục vụ cho lợi ích nào, phương pháp thực thi quyền lực ra sao, đặc biệt vai trò của dân đối với quyền lực chính trị đến mức độ nào? Những vấn đề ấy là một phức hợp tạo thành những truyền thống văn hóa chính trị khác nhau trong lịch sử đời sống nhân loại, trong đó có Việt Nam” [Nguyễn Hồng Phong, 1996, tr.8] PGS.TS Phạm Ngọc Quang cũng đưa ra định nghĩa về văn hóa chính trị:“là một phương diện của văn hóa, nó nói lên tri thức, năng lực sáng tạo trong hoạt động chính trị dựa trên sự nhận thức sâu sắc các quan hệ chính trị hiện thực cùng thiết chế chính trị tiến bộ được lập ra để thực hiện lợi ích chính trị cơ bản của giai cấp hay của nhân dân phù hợp với sự phát triển của lịch sử Văn hóa chính trị nói lên phẩm chất và hình thức hoạt động chính trị của con người cùng những thiết chế chính trị mà họ lập ra để thực hiện những lợi ích giai cấp cơ bản của chủ thể tương ứng” [Phạm Ngọc Quang,

1995, tr 19] Dựa trên quan điểm Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu lý luận Việt Nam đã đưa ra một số định nghĩa như: khái niệm theo quan

điểm giá trị của Hoàng Chí Bảo đưa ra : “Văn hoá chính trị là chất lượng tổng hợp

của tri thức và kinh nghiệm hoạt động chính trị, là tình cảm và niềm tin của mỗi cá nhân tạo thành ý thức chính trị công dân, thúc đẩy họ tới những hành động chính trị tích cực phù hợp với lý tưởng chính trị của xã hội Văn hóa chính trị còn là nhu cầu và thói quen tham gia một cách tự giác, chủ động vào các hoạt động chính trị

xã hội, trở thành giá trị của công dân, góp phần hướng dẫn họ trong cuộc đấu tranh vì lợi ích chung của xã hội” [Khoa Chính trị học, 1999, tr.115-116] Ở Việt

Nam, tác giả Hoàng Chí Bảo, Lưu Văn Quảng, Nguyễn Văn Huyên, Phan Xuân Sơn của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xem văn hóa chính trị gồm nhận thức, thái độ, hành vi và các giá trị Trong khi đó, các tác giả Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Hoài Văn coi cấu trúc văn hóa chính trị gồm nền tảng văn hóa, tri thức chính trị, hệ

tư tưởng, lý tưởng, niềm tin, ý thức chính trị, năng lực chính trị, phương thức hoạt động chính trị và các giá trị chính trị [Phan Xuân Sơn - Chu Thị Huyền, 2016, tr.40]

PGS.TS Hoàng Văn Việt định nghĩa “văn hóa chính trị là một dạng đặc thù của

con người, là thuộc tính của sản phẩm văn hóa tinh thần Nó là biểu hiện của hoạt động văn hóa của con người trong lĩnh vực chính trị.” [Hoàng Văn Việt, 2007,

tr.9-10] Nói cách khác, văn hóa chính trị là sản phẩm của văn hóa tinh thần, phản ánh năng lực, phẩm chất và trình độ của các chủ thể chính trị trong hoạt động chính trị,

đó cũng là những nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động chính trị của một cộng đồng [Nguyễn Đình Ngọc Vân, 2013, tr.20] Vì vậy, văn hóa chính trị mang tính động, không ngừng vận động và phát triển theo trình độ nhận thức của chủ thể

Trang 9

chính trị Từ đó, hình thành văn hóa chính trị phương Đông và văn hóa chính trị phương Tây, văn hóa chính trị phong kiến và văn hóa chính trị dân chủ tư sản, văn hóa chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa, văn hóa chính trị truyền thống và văn hóa

chính trị hiện đại Trong đó, ở phương Đông nói chung “các thành tố của văn hóa

chính trị đã trở thành các nguyên tắc đạo đức – luân lí và tiêu chuẩn pháp lí xã hội, biểu hiện qua các luật tục, các nguyên tắc quan hệ chính trị của xã hội; qua các phương thức sản xuất vật chất, các hình thái của tổ chức nhà nước và cách thức, biện pháp, phương pháp quản lý xã hội của các cộng đồng cư dân”[Hoàng Văn

Việt, 2007, tr.10] Văn hóa chính trị bao gồm các giá trị, niềm tin, thái độ và tình cảm của các thành viên trong cộng đồng Đó là những niềm tin được chia sẻ, được chấp nhận một cách phổ biến Từ đó, văn hóa chính trị có chức năng định hướng về nhận thức, tình cảm, thái độ, định hướng về cấu trúc bộ máy nhà nước, về nhận thức chính trị, về vai trò của truyền thông đối với niềm tin trong hoạt động chính trị của chủ thể chính trị Nói cách khác, không có hệ thống chính trị nào không gắn liền với một cách định hướng của văn hóa chính trị Văn hóa chính trị chỉ xuất hiện khi xã hội bắt đầu có sự phân tầng giai cấp Tính giai cấp của văn hóa chính trị thể hiện qua bản chất cấu trúc và hoạt động của nhà nước Văn hóa chính trị ảnh hưởng, tác động lớn đến hệ thống chính trị, song cũng chịu sự chi phối bởi tư tưởng chính trị của giới cầm quyền, lãnh đạo chính trị, văn hóa chính trị của xã hội nào sẽ nảy sinh trên nền tảng cơ tầng tư tưởng chính trị của giai cấp thống trị nấy, đồng thời là công

cụ hỗ trợ phục vụ đắc lực cho giai cấp thống trị đấy [Nguyễn Thị Thu Hằng, 2017, tr.23-24] Ngoài ra, văn hóa chính trị vừa mang tính dân tộc vừa mang tính thời đại bởi vì đó là kết tinh sản phẩm của văn hóa tinh thần của các chủ thể chính trị trong quá trình tham gia hoạt động chính trị Văn hóa chính trị thể hiện sự khác biệt giữa các cộng đồng người trong xã hội nói chung, quyết định vận mệnh dân tộc trước thời cơ và thách thức do thời đại đặt ra Đó là nguyên nhân sinh ra văn hóa chính trị chủ nô, văn hóa chính trị phong kiến, văn hóa chính trị dân chủ tư sản, văn hóa chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa Vì vậy, có thể nói, không có văn hóa chính trị nào không mang tính thời đại [Trần Thị Mây, 2014, tr.22-23] Nguyễn Lê Ngân Giang và Nguyễn Văn Huyên nhận định văn hóa chính trị là một hiện tượng cấu trúc đa cấp độ, các mối liên hệ đa dạng đa tầng của văn hóa chính trị với các quá trình chính trị đan xen quy định cấu trúc phức tạp của văn hóa chính trị Cấu trúc nội tại vừa đa dạng vừa đa tầng lớp, phản ánh tính đa tầng lớp của quá trình chính trị cũng như của sự hình thành hành vi chính trị của các chủ thể Cấu trúc của văn hóa chính trị có thể xác định các phương thức định hướng giá trị khác nhau của con người trên cấp độ thế giới quan (các quan niệm chính trị hình thành nên thế giới quan chính trị của các cá nhân), cấp độ giá trị (thái độ đối với các hình thức cầm quyền cụ thể của thể chế chính trị cũng như đối với các đối thủ và liên minh chính trị cụ thể), cấp độ cá nhân (trình độ nhận thức về địa vị thống trị của các công dân,

cơ quan quyền lực nhà nước) Trong đó, tiểu cấu trúc văn hóa chính trị của giới cầm

Trang 10

quyền có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống chính trị, nhất là trong giai đoạn chuyển tiếp chính trị xã hội, vì văn hóa chính trị của giai cấp cầm quyền vừa mang tính đại diện tiêu biểu cho xu hướng chính trị chủ đạo của quốc gia, vừa là nguồn sức mạnh của mọi quá trình chính trị Các tác giả Nguyễn Lê Ngân Giang và Nguyễn Văn Huyên cũng cho rằng những chức năng quan trọng nhất của văn hóa chính trị là chức năng đồng nhất hóa chỉ ra nhu cầu nhận thức nhóm của con người

và xác định những phương thức tham gia biểu thị - bảo vệ lợi ích của nhóm con người đó, chức năng định hướng phản ánh mục đích của các hiện tượng chính trị, thấu hiểu khả năng của bản thân khi thực hiện các quyền tự do của cá nhân trong hệ thống chính trị nhất định, chức năng thích nghi với điều kiện thực hiện các thẩm quyền của con người, chức năng xã hội hóa thu nhận những thói quen nhất định để thực hiện các quyền - chức năng - lợi ích chính trị của con người trong một hệ thống quyền lực nhất định, chức năng giao tiếp bảo đảm sự tương tác giữa các chủ thể -thể chế quyền lực trên cơ sở sử dụng những thuật ngữ, biểu tượng, khuôn mẫu, phương tiện thông tin và giao tiếp [Nguyễn Lê Ngân Giang, 2015, tr.43] Khái quát

lại, Nguyễn Xuân Tế định nghĩa văn hóa chính trị như sau “Văn hóa chính trị là một

phương diện của văn hóa trong xã hội có giai cấp, nói lên tri thức, năng lực sáng tạo trong hoạt động chính trị dựa trên nhận thức sâu sắc các quan hệ chính trị hiện thực cùng những thiết chế tiến bộ được lập ra để thực hiện lợi ích chính trị cơ bản của giai cấp hay của nhân dân phù hợp với sự phát triển của lịch sử” [Nguyễn

Xuân Tế, 1998, tr.278]

4 Nhận xét

Thứ nhất, hầu hết các trào lưu tư tưởng chính trị cổ đại ở phương Đông và phương Tây đều chỉ phản ánh chủ thể chính của văn hóa chính trị là giới nắm quyền lãnh đạo đất nước (Khổng Tử gọi là người quân tử, Lão Tử gọi là người trị nước, Platon, Aristote thì gọi là giới tinh hoa) Chỉ đến khi xuất hiện các trào lưu tư tưởng chính trị hiện đại, chủ thể của văn hóa chính trị mới được thừa nhận là con người cá nhân nói chung (ở các trào lưu tư tưởng chính trị phương Tây) và giai cấp hoặc cộng đồng (ở các trào lưu tư tưởng chính trị phương Đông) Sự phát triển nhận thức

về chủ thể chính của văn hóa chính trị cũng gắn bó mật thiết với sự phát triển nhận thức về cấp độ phân tích văn hóa chính trị từ cấp độ cá nhân (Khổng Tử, Lão Tử, Platon, Aristote, Gabriel Almond, Verba) đến cấp độ tập thể / cộng đồng/ giai cấp (Powell, Karl Marx, Engels, Phạm Ngọc Quang, Nguyễn Hồng Phong) Sự phát triển trong nhận thức đó là phù hợp với quá trình chính trị nói chung trên thế giới, khi vai trò của quần chúng nhân dân ngày càng được nâng cao

Thứ hai, hầu hết các trào lưu tưởng chính trị cổ đại trên thế giới đều coi văn hóa chính trị là một hệ thống có hai cơ sở hình thành Chẳng hạn, Khổng Tử coi hai

cơ sở hình thành văn hóa chính trị của người quân tử là đạo đức và địa vị Aristote, Platon coi đó là cơ sở đạo đức cá nhân và cơ sở hình thức tổ chức nhà nước Trường

Ngày đăng: 22/07/2022, 14:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w