Quả bầu trong văn hóa các tộc người Việt Nam và Đông Nam Á cũng được xem như một biểu tượng cội nguồn cho sự hình thành của nhiều tộc người trong khu vực này.. Để hiểu rõ những nét đặc t
Trang 11
Đông Nam Á dưới góc nhìn Khu vực học
(Tạp chí Bảo tàng và Nhân học số 2/2018 Pp.42-56)
Nạn hồng thủy (Deluge trong tiếng Anh, Hong Shui-洪水 trong tiếng Hán,…) là một huyền
thoại phổ biến ở nhiều nền văn hóa, nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau trên thế giới đề cập đến một trận lụt hủy diệt Sau khi trận lụt rút đi chỉ còn lại một vài sinh linh sống sót theo sự sắp đặt của Thượng đế, từ đó mang đến sự hồi sinh của thế giới Tương tự như những quan niệm về Ngày tận thế (Doomdays), huyền thoại về nạn hồng thủy (NHT) có sức sống mãnh liệt trong văn hóa của nhiều tộc người trên thế giới Ở Việt Nam và Đông Nam Á, NHT được xem
như một huyền thoại tái sinh của nhân loại với “vật cứu tinh” là một quả bầu đã giúp họ thoát
khỏi trận lụt khủng khiếp Quả bầu trong văn hóa các tộc người Việt Nam và Đông Nam Á cũng được xem như một biểu tượng cội nguồn cho sự hình thành của nhiều tộc người trong khu vực này
Vì sao vật cứu tinh trong các huyền thoại về NHT ở Việt Nam và Đông Nam Á lại là một quả bầu mà không phải là những con thuyền (như thuyền Noah trong Kinh thánh) hay những
“vật nổi” khác? Vật cứu tinh này có phải là đặc trưng về địa lý nhân văn của Đông Nam Á hay
yếu tố đồng tộc (có chung nguồn gốc) như sự lý giải được nêu trong các huyền thoại? Yếu tố
địa chất, địa lý đóng vai trò như thế nào đối với mẫu số chung của các huyền thoại về NHT ở Việt Nam và Đông Nam Á? Để trả lời những câu hỏi này trước hết chúng ta cần đặt quả bầu
trong vai trò của một motif điển hình trong các huyền thoại tái sinh của nhân loại ở Đông Nam
Á Mặt khác, motif này phải có sự đối sánh với các khu vực khác trên thế giới để tìm hiểu sự khác biệt so với khu vực Đông Nam Á
Bên cạnh việc khảo sát các huyền thoại về NHT, nghiên cứu này cũng sẽ tìm hiểu các dấu tích địa chất (geology) và địa lý (geography) trên cơ sở những di vết còn sót lại trong quá trình biển tiến (transgression) và biển lùi (regression) ở Việt Nam và Đông Nam Á Từ đó, thử tìm những cách lý giải mới về NHT và motif quả bầu trong văn hóa ở khu vực này dưới góc nhìn khu vực học Xa hơn, nghiên cứu cũng muốn gợi mở một cách tiếp cận mới từ dấu tích huyền thoại và dấu tích địa chất và địa lý về NHT để tìm hiểu về di vết lục địa Sundaland – một nền văn minh cổ đại ở Đông Nam Á mà Stephen Openheimer1cho là đã bị nhấn chìm ở ngoài khơi biển Đông Nam Á hiện nay
1 Khu vực học với vấn đề nghiên cứu Đông Nam Á
Khu vực học (regional study) là một hướng tiếp cận mới trong nền học thuật thế giới vốn được định hình trong các bộ môn nghiên cứu khác và thực sự được sử dụng như một công cụ nghiên cứu chuyên biệt và có hiệu quả từ nửa sau của thế kỷ 20 Iwona Sagan đã thống kê các hướng tiếp cận khu vực học (KVH) thành ba hướng trọng yếu như sau: “Hướng tiếp cận niên đại, Khoa học Vùng (Regional Science) và các diễn giải về văn hóa và xã hội khu vực đương đại Mỗi hướng tiếp cận được thể hiện qua ba khía cạnh: lý thuyết, phương pháp luận và thực hành Những biến đổi về vai trò và vị trí của địa lý học cũng được đề cập trong các nghiên cứu KVH” (Sagan 2003: 5-19) Bước sang thế kỷ 21, nhân loại đã và đang chứng kiến những biến
1Ông chính là người có công trình nghiên cứu công phu đã được dịch ra tiếng Việt Địa đàng ở phương đông - Lịch sử huy
hoàng của lục địa Đông Nam Á bị chìm đề cập đến nền văn minh Đông Nam Á tiền sử mà chúng tôi sẽ phân tích kỹ hơn
trong mục 4.4 Hiện nay ông đang giảng dạy nhân học trong vai trò GS thỉnh giảng tại Đại học Oxford, Vương quốc Anh
Trang 2động vô cùng lớn về di dân, chủ nghĩa khủng bố hay biến đổi khí hậu có nguyên nhân từ con người Những biến đổi to lớn đó (bao gồm cả tích cực và tiêu cực) không chỉ đến từ những nguyên nhân có liên quan đến kinh tế chính trị hay công nghệ mà sâu xa hơn là nền tảng văn hóa
Trong khi châu Âu đang vật lộn với cuộc khủng hoảng di dân thì ở Đông Nam Á – một khu vực tưởng như bình yên – lại đang dậy lên những cơn sóng ngầm với các vấn đề tộc người và lãnh thổ Các chính sách công của nhiều cường quốc trên thế giới đối với khu vực Đông Nam
Á hiện nay (bao gồm cả chính sách Xoay trục của Mỹ) đa phần dựa trên các yếu tố địa chính
trị nhưng dường như lại đang thiếu đi yếu tố địa văn hóa Tuy nhiên, nghiên cứu này sẽ không
đề cập đến các vấn đề „nổi cộm‟ của Đông Nam Á như lãnh thổ hay biển đảo mà chỉ đi sâu tìm
hiểu các yếu tố cấu thành bản sắc Đông Nam Á – một trong những nền tảng tạo nên những đặc
tính tương đồng của khu vực này Từ đó xác định lại sự “thống nhất trong đa dạng” mà Đông Nam Á đã đạt được cũng như những thách thức trong quá trình xây dựng một Đông Nam Á bền vững và hiệu quả Nghiên cứu này cũng sẽ tìm hiểu những yếu tố giống nhau cũng như những sự khác biệt của văn hóa Đông Nam Á xưa và nay để hướng đến những nhận thức chung cho các quốc gia ASEAN đối với các vấn đề khu vực dưới góc nhìn KVH
Dưới góc nhìn KVH, Đông Nam Á là một khu vực địa lý cụ thể nằm ở đông nam của châu
Á chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Ấn Độ và Trung Hoa trong quá khứ cũng như phương Tây hiện nay Tuy nhiên, Đông Nam Á lại có những nét đặc trưng bản địa mà khó có thể tìm thấy ở một nơi nào trên thế giới Đó là một trong những khu vực có số lượng ngôn ngữ tộc người và các đặc tính văn hóa đa dạng nhưng lại có những nét chung của một khu vực địa lý, khí hậu đặc thù Để hiểu rõ những nét đặc trưng nói trên trong văn hóa Đông Nam Á, chúng tôi sẽ bắt đầu
từ một thành tố văn hóa cụ thể - đó là biểu tượng quả bầu - phổ biến khá rộng trong văn hóa của khu vực này gắn với một huyền thoại phổ quát của nhân loại, đó là nạn hồng thủy từ góc
nhìn KVH
2 Nạn Hồng thủy qua huyền thoại và dấu tích địa chất
2.1 Nạn hồng thủy qua các huyền thoại
Theo Kinh Cựu ước, Chúa phán với Noah rằng, “Ta cho hồng thủy đến trên cõi đất, mà hủy
hoại mọi xác thịt có sinh khí dưới gầm trời Mọi sự trên đất sẽ biến thành thây ma Nhưng với ngươi, Ta lập giao ước của Ta Và ngươi sẽ vào tàu, ngươi và con cái ngươi, vợ ngươi và vợ con cái ngươi làm một với ngươi Trong mọi sinh vật, mọi xác thịt, ngươi sẽ đem vào tàu mỗi loại hai con, để hộ sinh cho chúng, làm một với ngươi Chúng sẽ là một con đực, một con cái Thuộc chim chóc theo loại, thuộc thú vật theo loại, thuộc mọi côn trùng trên đất theo loại, phải
có mỗi thứ hai con đến với ngươi, hầu được độ sinh Còn ngươi, hãy lấy mọi thức ăn được, hãy
tích trữ lấy với ngươi Đó là lương thực của ngươi và của chúng nó” (Kinh Cựu ước: 5) Và
Noah đã làm y như vậy
Trong sử thi Gilgamesh, NHT được mô tả bằng một cột khói đen ở cuối đường chân trời Sau đó bầu trời tối sầm trong vòng một tuần và một cơn bão khủng khiếp đã gây nên một trận đại hồng thủy Người Sumer đã ghi lại rằng họ là những người sống sót sau một trận đại hồng thủy gây nên bởi Annunaki Trong nhiều thần thoại của Trung Quốc và Ấn Độ cũng kể về một
Trang 3trận lũ khủng khiếp diễn ra trên khắp thế gian Nhiều nền văn hóa ở Nam Mỹ và khu vực Thái Bình Dương cũng có những truyền thuyết tương tự
Ở Việt Nam, NHT “có ba motif quan trọng không thể thiếu là Lụt lớn, ít người may mắn
sống sót và sự tái sinh loài người Công thức cơ bản ổn định đó có thể vận động, biến đổi ở
từng khu vực, quốc gia và dân tộc Nguyên nhân gây lụt trước hết được giải thích là ý định của thần thánh Lụt xuất hiện là do sự trả thù của trời và các vị thần trên trời đối với con người
do loài người vi phạm một quy định nào đấy hoặc do Thần lo sợ trước sức mạnh ngày càng lớn của loài người Lụt là biện pháp thần linh dùng để ngăn chặn sức mạnh của loài người, biểu hiện nỗi lo sợ của thần linh đối với loài người.” (Nguyễn Thị Minh Thu 2015)
Trên thực tế, các motif huyền thoại về những trận lụt lớn kể trên trong văn hóa Việt Nam cũng chính là một phần cơ bản trong các huyền thoại về sự ra đời các tộc người ở Đông Nam
Á Trong một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Văn hóa Dân gian Hoa Kỳ, Đại học
Illinois xuất bản năm 1993, GS Đặng Nghiêm Vạn đã tổng kết từ hơn 300 huyền thoại của các tộc người về NHT để đưa ra một lược đồ như sau:
Sơ đồ 1: Cấu trúc huyền thoại quả bầu và NHT trong văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á
Trận lụt lớn → Người đàn ông + Người đàn bà → Các tộc người
Nguồn: Đặng Nghiêm Vạn 1993
Theo ông, hầu hết các tộc người ở Đông Nam Á đều có các huyền thoại về NHT với một cốt truyện căn bản được mô tả là sau khi trận lụt lớn rút đi chỉ còn lại hai người sống sót, một đàn ông và một đàn bà, hai người này chính là tổ tiên của các tộc người Đông Nam Á Thông thường hai người sống sót này thường là anh em ruột hoặc một người với một con vật (chẳng hạn như chó) tạo nên một cuộc hôn nhân loạn luân hoặc bất bình thường Từ cuộc hôn nhân này sản sinh ra một quả bầu hoặc một vật tương tự là nơi ra đời của các tộc người Đông Nam
Á (Đặng Nghiêm Vạn1993: 304-337)
Vậy điều gì đã khiến cho các tộc người ở Đông Nam Á vốn hết sức đa dạng về ngôn ngữ và văn hóa lại có chung một huyền thoại về quả bầu? Tại sao huyền thoại về NHT ở Đông Nam Á lại coi các tộc người ở khu vực này là anh em (sinh ra từ một nguồn gốc – quả bầu)? Đây là những câu hỏi lớn, không dễ trả lời Đã có nhiều cách lý giải từ góc nhìn của lý thuyết khuyếch tán ngôn ngữ hay giao thoa văn hóa về nguồn gốc của NHT ở Đông Nam Á nhưng những cứ liệu về trận lụt lớn đó lại có quá ít trong các nghiên cứu được thực hiện từ khoảng giữa thế kỷ
20 trở về trước Đây chính là nút thắt của các nghiên cứu có liên quan đến NHT và motif quả bầu trong văn hóa Đông Nam Á mà cho đến gần đây mới được nhìn nhận một cách rõ nét hơn thông qua các nghiên cứu địa chất, địa lý, khảo cổ học, di truyền học và khu vực học
2.2 Nạn hồng thủy qua dấu tích địa chất – địa lý và khảo cổ học ở Đông Nam Á
Trong khi các huyền thoại về NHT tồn tại rộng khắp trên thế giới ở nhiều tộc người thì những di vết thực sự của nó lại vô cùng hiếm hoi trong các nền văn hóa Tuy nhiên, nếu chúng
ta ngược dòng thời gian tìm trở lại những sự kiện có thực đã từng xảy ra là giai đoạn biển tiến
và biển lùi thì lại có thể tìm thấy các chứng cứ có thực từ hàng nghìn năm, thậm chí đến hàng vạn năm trước qua những dấu tích địa chất – địa lý trên những vách đá còn tồn tại đến ngày hôm nay (xem H1)
Trang 4Cùng với các di vết địa chất – địa lý mà các nhà khoa học tự nhiên đã khám phá được ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều di chỉ khảo cổ học cũng dần được phát lộ ở các tầng văn hóa gần với di vết của các giai đoạn biển tiến và biển lùi đã đề cập ở trên Nếu so sánh các di chỉ khảo
cổ có tồn tại đời sống của loài người cổ xưa ở Việt Nam với di chỉ khảo cổ học đại dương ở ngoài khơi biển Đài Loan và Nhật Bản (xem H2) thì độ cao chênh nhau tới hàng chục, thậm chí là hàng trăm mét Vậy tại sao các di chỉ khảo cổ này lại có mức độ chênh lệch về độ cao lớn như vậy?
Nếu xem xét các di chỉ ở cao độ thấp nhất chúng ta có thể thấy rằng các tầng văn hóa này nằm ở các vùng bình địa hiện đã chìm sâu dưới biển Nhưng nếu như đặt giả thuyết rằng mực nước biển hiện nay rút xuống vài chục mét thì đó chính là vùng đất màu mỡ ven bờ biển để cư dân có thể sinh sống tập trung thành những cộng đồng lớn Vì vậy, chúng ta có thể đặt ra một giả thuyết là ở giai đoạn biển lùi thì vùng đất nơi tồn tại di chỉ khảo cổ học đại dương ở Đài Loan hay Nhật Bản là một vùng bình địa màu mỡ mà con người có thể đã sinh sống và xây dựng nên một nền văn minh đủ lớn để có thể xây nên những công trình lớn như chúng ta thấy ngày hôm nay qua các di chỉ khảo cổ học dưới nước
Nếu xem xét các di chỉ ở vùng núi với cao độ như văn hóa Hòa Bình ở Việt Nam, chúng ta
có thể nhận thấy các cư dân cổ đại ở đây phải vật lộn với một đời sống hết sức khó khăn với địa hình hiểm trở và thật khó để tìm kiếm thức ăn chứ chưa nói tới việc phát triển một nền văn minh cao ở một khu vực tập trung đông dân cư trên một diện tích hẹp như vậy Có lẽ vì lý do này mà các di chỉ văn hóa Hòa Bình được tìm thấy ở nhiều nơi với một khu vực phân bố rộng lớn ở nhiều quốc gia Đông Nam Á Một điểm đáng lưu ý là các di chỉ thuộc nền văn hóa này thường có độ cao khá lớn so với mực nước biển và độ cao của các di chỉ này tương đối giống nhau Liệu đây có phải là do mực nước biển ở giai đoạn biển tiến đã buộc các cư dân thuộc nền văn hóa Hòa Bình phải dời lên vùng núi cao để tồn tại?
Trả lời được câu hỏi này có thể giúp chúng ta tiến gần hơn đến một giả thuyết về giai đoạn biển tiến - biển lùi buộc con người cổ đại từ những vùng bình nguyên màu mỡ ven biển phải di
cư lên núi cao Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần phải bổ sung thêm các chứng cứ khác ngoài các di vết địa chất – địa lý và khảo cổ học để chứng minh cho sự hồi sinh của con người sau NHT từ những huyền thoại tộc người đã đề cập ở trên Một trong những di vết đáng chú ý là những vật
„cứu tinh‟ của loài người trong NHT
2.3 Vật “cứu tinh” của loài người trong nạn hồng thủy
Khác với các huyền thoại khai thiên lập địa (thường gắn với các vị thần hoặc những anh hùng huyền thoại “đội đất vá trời,” các huyền thoại tái tạo thế giới nói chung và NHT nói riêng thường gắn với các vật biểu tượng mà cụ thể ở đây là những con thuyền trong văn hóa phương tây hay quả bầu trong văn hóa Đông Nam Á Vật cứu tinh nổi bật trong văn hóa phương tây
gắn liền với truyền thuyết về thuyền Noah được ghi lại trong những trang đầu tiên của Kinh
Cựu ước Trải qua hàng nghìn năm tồn tại và phát triển của đạo Do thái và đạo Thiên chúa,
huyền thoại về thuyền Noah vẫn chỉ được xem như một câu chuyện hoang đường tựa như việc Chúa tạo ra người đàn bà bằng “chiếc xương sườn thứ bảy” của người đàn ông
Tuy nhiên, mọi việc đã thay đổi khi vào năm 1977, một nhà khoa học người Mỹ tên là Ron Wyatt đã tới địa danh mà đại úy Llhan Durupinar thuộc quân đội Thổ Nhĩ Kỳ tìm ra năm 1959 Ron Wyatt và những cộng sự đã nghiên cứu kỹ lưỡng khu vực này trong nhiều năm Cuối
Trang 5cùng, ông và các nhà khoa học đồng nghiệp khẳng định di vết mà họ đang tìm hiểu là một con tàu thời cổ đại có kích thước cực lớn nhưng lại nằm cheo leo trên sườn núi ở độ cao hơn 2.000m trên mực nước biển Đối chiếu với kích thước và các dữ liệu được ghi lại trong Kinh thánh, sử thi Gilgamesh, Kinh Quran và nhiều cuốn sách cổ có đề cập đến thuyền Noah, các nhà khoa học đã xác định đây chính là con tàu Noah huyền thoại Ngày 20/6/1987, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã chính thức xác nhận đây là xác thuyền Noah Thậm chí, ngay bây giờ chúng ta
có thể chiêm ngưỡng trực tiếp con tàu huyền thoại này từ bản đồ của Google (xem H3)
Như vậy, vật cứu tinh trong NHT của văn hóa phương tây đã được xác nhận một cách chính thức thông qua các phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại Tuy nhiên, ngoài những người trên thuyền Noah sống sót qua NHT thì vẫn còn nhiều người khác thuộc các chủng tộc khác thoát khỏi NHT bằng những vật cứu tinh khác mà không lệ thuộc vào thuyền Noah Bên cạnh các huyền thoại quả bầu và NHT trong văn hóa Đông Nam Á thì trong văn hóa Trung Hoa đã ghi lại nhiều huyền thoại của các tộc người đề cập đến NHT và những quả bầu hồ lô như sau:
Bảng 1: Thần thoại hồ lô cứu sinh (Nguyễn Ngọc Thơ 2007)
STT Tộc
người Nhân vật thủy tổ Thủy tai và hồ lô cứu sinh Phối hôn, sản sinh nhân loại
1 Đồng,
Cách
Lao,
Thổ
Gia
Tổ mẫu ấp trứng, sinh Tùng Tang (松桑nam) và Tùng
Tư (松斯nữ) Hai thần kết hôn, sinh lôi, rồng, hổ, rắn, nhân thần 12 loại thần, trong đó Na Huynh Na Muội (傩兄傩妹) nhỏ nhất
Các thần tranh chấp, lôi lên trời, rồng xuống biển, hổ lên rừng, rắn vào động Lôi dâng
lũ trả thù, tiêu diệt con cháu nhân thần Na Huynh Na Muội được thần mách, trốn trong hồ lô, thoát nạn
Na Huynh Na Muội kết hôn, 3 năm sinh ra túi thịt, chặt thành mảnh, mỗi mảnh biến thành một tộc người: thịt người Đồng (da trắng); ruột Miêu (thẳng tính); xương Dao (rắn rỏi, lao khổ); tim Hán (khôn lanh)…
2 Thủy Á Oa (亚娲) sáng tạo ra lôi,
rồng, hổ và người Nhân thần tranh giành Lôi thần dâng nước báo thù Chỉ
hai anh em trú trong hồ lô do
Á Oa tạo ra, thoát nạn
Hai anh em kết hôn sinh túi thịt, chặt thành mảnh Gan biến thành người Thủy; phổi Bố Y; ruột Miêu; xương Hán
Trang 63 Miêu Cây phong sinh Hồ Điệp
Ma Ma (mẹ bướm), kết hôn với bọt biển (泡沫) sinh 12 trứng, nở ra Khương (姜, anh), Ương (央, em gái), lôi, hổ, rồng…
Nhân thần tranh chấp, lôi dâng lũ tiêu diệt loài người
Khương, Ương nấp trong hồ
lô thoát nạn
Khương, Ương kết hôn sinh ra túi thịt Chặt mảnh, mỗi mảnh hóa thân thành một tộc người
4 Bạch Thiên thần A Tỷ (阿仳) báo
cho loài người biết về trận hồng thủy sắp tới nhưng mọi người không tin
Duy chỉ có hai anh em A Công (阿公), A Bà (阿婆 )nghe theo, nấp trong quả hồ lô nên thoát mạng
Hai anh em kết hôn, tái sinh nhân loại
5 Hán Một người đàn ông có hai
con trai, gái Người anh em của ông này vì hận thù đã cho dâng nước để trả thù
Hai anh em vì được tiên mách bảo (hoặc bằng dự đoán) nấp vào trong hồ lô mà thoát nạn
Hai anh em kết hôn, tái tạo nhân sinh
Có thể nói, các huyền thoại về quả bầu và NHT ở Đông Nam Á bao gồm cả nam Trung Hoa cũng chính là những di vết “khảo cổ học nhân văn” quan trọng cần được tìm hiểu và nghiên cứu một cách kỹ lưỡng như thuyền Noah trong văn hóa phương tây
3 Motif quả bầu trong đời sống và trong huyền thoại các tộc người ở Việt Nam và Đông
Nam Á
3.1 Quả bầu trong đời sống cư dân
Bầu là loài dây leo thân thảo lá rộng, có lông, hoa đơn tính, quả có vỏ dày, vỏ già sẽ trở nên cứng do hoá gỗ Bầu thuộc họ bầu bí với vô số giống, loài khác nhau Có loại tròn, có loại dài, lại có loại hình nậm rượu (hồ lô), với nhiều kích thước khác nhau, hương vị khác nhau và thành phần dinh dưỡng khác nhau Bầu là một trong những loại rau quả thông dụng nhất hiện nay bởi đặc tính dễ trồng, cho năng suất cao, dễ bảo quản, dễ vận chuyển và có thể ăn được cả
lá, hoa, quả và hạt Với sự phong phú về chủng loại và nhiều ưu điểm như trên, bầu đã và đang được trồng và sử dụng phổ biến khắp các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Bầu bí trở thành một loài cây gần gũi thân thiết với mọi người dân và gắn bó với họ không chỉ như một loại thực phẩm có giá trị mà còn là những sản phẩm văn hóa có liên quan đến đời sống thường ngày cũng như âm nhạc và nghệ thuật
Quả bầu có một đặc tính vô cùng quan trọng đối với đời sống con người khi xưa nhưng hiện nay lại ít được nhắc tới đó là đặc tính có thể bảo quản trong điều kiện tự nhiên trong nhiều tháng, thậm chí là hàng năm Chính vì đặc tính này mà chúng được dùng làm thực phẩm dự trữ
mùa mưa lụt Bầu canh phơi khô, bí xanh, bầu lào (hay bí ngô) luôn được tích trữ trên chạn
(giống như một gác xép ở các ngôi nhà gỗ trước đây, đặc biệt là ở khu vực miền trung) trong mùa bão lụt cùng với lúa gạo là nguồn thức ăn cho cả gia đình suốt mùa mưa bão
Bầu già hóa gỗ:
Trang 7Để chế tác được những vật dụng bằng đá hay bằng kim loại, con người thời cổ đại phải mất rất nhiều công sức mới có được một công cụ cho mình Trong khi đó, việc sử dụng một đặc tính sẵn có của quả bầu (hóa gỗ) xem ra nhàn hạ hơn nhiều Họ có thể nắn chỉnh quả bầu từ lúc còn non hoặc cưa cắt quả bầu đã già một cách dễ dàng và linh hoạt để tạo thành các vật dụng như bầu đựng nước, đựng rượu, làm gáo, làm bát, làm nhạc cụ, Do được hóa gỗ nên quả bầu già phơi khô (nếu được gác bếp thì càng tốt) trở thành một vật dụng vừa nhẹ vừa chịu nước lại không dễ bị nứt vỡ và bị mối mọt như các loại gỗ thông thường mà lại dễ chế tác (xem H5) Đây chính là những đặc tính mà các chuyên gia đóng tàu rất cần cho những con tàu, con thuyền của họ Phải chăng vì những lý do này mà cư dân Đông Nam Á đã chọn quả bầu làm
„vật cứu tinh‟ trong NHT? Nghiên cứu sẽ trở lại câu hỏi này trong các mục sau
Bầu làm thức ăn dự trữ:
Trong điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng ở Đông Nam Á,việc tích trữ thức ăn lâu dài là một vấn đề cực kỳ nan giải Do khí hậu ẩm lại nắng gắt mưa nhiều nên hầu hết các loại thức ăn tươi đều nhanh chóng bị phân hủy và thức ăn khô lại thường bị nấm mốc Một giải pháp dự trữ khác hay được áp dụng là muối các món như dưa, cà cho đến thịt muối, các loại thực phẩm ướp muối được áp dụng hết sức phổ biến trong không gian văn hóa Đông Nam Á Tuy nhiên, thời gian bảo quản các món ướp muối này phải tỉ lệ thuận với độ mặn nên chúng thường là thức ăn mặn chứ khó có thể thay thế cho món ăn thông thường như rau quả và ngũ cốc
Trước những thách thức đó, quả bầu trở thành một loại thức ăn dự trữ vô cùng hữu hiệu với
vỏ cứng dễ vận chuyển, có hàm lượng dinh dưỡng cao (no lâu) vừa có nhiều vitamin (như bí xanh) lại vừa có nhiều tinh bột và đường (như bí đỏ),… giúp con người có thể sống sót qua mùa lụt kéo dài hàng tháng, thậm chí là nhiều tháng trong năm Rõ ràng, quả bầu ở đây không thể hiện rõ là „vật cứu tinh‟ trong lũ lụt nhưng chắc chắn là „vật cứu đói‟ hết sức hiệu quả trong hoàn cảnh này Vì vậy mà quả bầu từ vị trí của một danh từ riêng (một loại quả có tên gọi là bầu) đã biến thành một danh từ chung chỉ một vật dụng phổ biến trong đời sống: bầu rượu, bầu nước,… Như vậy, đặc tính bầu già hóa gỗ và bầu làm thức ăn dự trữ mùa mưa lụt chính là những nét đặc trưng khu vực ở Việt Nam và nhiều nơi khác ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở những vùng thường xảy ra lũ lụt (xem H4)
Trong vô số huyền thoại tộc người ở Việt Nam và Đông Nam Á, motif quả bầu dường như đang chiếm vị trí chủ đạo với mức độ phổ biến rộng và mức độ thống nhất khá cao “Thần thoại các dân tộc còn lưu giữ nhiều ký ức về trận lụt lớn, về nạn đại hồng thuỷ, nó giống như một đại hoạ khủng khiếp khiến cho loài người bị tuyệt diệt và cùng với đó là ký ức về sự tái sinh của con người nhờ những quả bầu kỳ lạ (…) Sau trận hồng thuỷ, con người đã được tái sinh Hệ thống thần thoại các dân tộc đã lưu truyền rộng rãi những câu chuyện kể về Quả bầu
nở ra hàng vạn người con với nhiều giống người Loại truyện Quả bầu này có trong kho tàng dân gian Đông Nam Á và nó đã được dân tộc hoá tuỳ theo sự sáng tạo của từng dân tộc” (Nguyễn Thị Huế 2008) Trong bảng dưới đây, chúng tôi đã tập hợp sơ bộ thành hệ thống các huyền thoại tộc người ở Việt Nam và Đông Nam Á có liên quan đến NHT như sau:
Bảng 2: Tổng hợp một số huyền thoại tộc người có liên quan đến NHT
Tên gọi Tên nhân vật
chính Tộc người Nhóm ngôn
ngữ Địa bàn cư trú hiện nay
Trang 81 Đẻ đất đẻ nước Chim ây cái ứa Mường Nh óm Việt
– Mường Việt Nam
2 Ẩm ẹt luông Hai anh em ruột Thái Nhóm Tày
Thái
Nam Trung Hoa, Việt Nam, Lào
3 Quả bầu mẹ Hai anh em ruột Kh‟Mú Nhóm
Môn-Kh‟mer Việt Nam, Lào
Môn-Kh‟mer Nam Trung Hoa, Việt Nam
– Tạng Nam Trung Hoa, Việt Nam
6 Nạn hồng thủy Hai anh em ruột Giáy Tày Thái Nam Trung Hoa,
Việt Nam
Môn-Kh‟mer Việt Nam, Lào
Môn-Kh‟mer Việt Nam, Lào
Dao
Nam Trung Hoa, Việt Nam
10 Cơi Maisrĩh Mỏq Vila,
Kay Misiriq, Muq Pila
Hai người thượng Raglei Mã Lai đa
đảo Việt Nam, Lào,
11 Hồng thủy Hai anh em ruột Lôlô Hán – Tạng Nam Trung Hoa,
Việt Nam
12 Hồng thủy Hai anh em ru ột H‟Mông H‟Mông -
Dao
Nam Trung Hoa, Việt Nam, Lào
…
Thông qua bảng tổng hợp trên chúng ta dễ dàng nhận thấy vật cứu tinh hay vật biểu tượng
có liên quan đến quả bầu trong NHT có mặt ở hầu hết các nhóm ngôn ngữ tộc người Đông Nam Á Điều đó khẳng định những chức năng phổ biến của quả bầu trong đời sống của cư dân
cổ đại trong nền văn minh thực vật ở Đông Nam Á (thuật ngữ của Piere Gourou 2015, 1936)
Thậm chí, quả bầu còn phổ biến rộng hơn ở hầu khắp khu vực Nam Trung Hoa, đặc biệt là các nhóm cư dân cư trú ở bờ nam sông Dương Tử Với vai trò và vị trí quan trọng trong đời sống
cư dân Đông Nam Á, quả bầu đã đi vào huyền thoại của các tộc người Đông Nam Á một cách hết sức tự nhiên Tuy nhiên, để trở thành một motif điển hình được phổ biến rộng rãi như vậy thì cần phải trải qua quá trình biểu tượng hóa và tôn giáo hóa mà chúng tôi sẽ đề cập đến trong các chuyên mục dưới đây
4 Luận giải về motif quả bầu và NHT ở Việt Nam và Đông Nam Á
4.1 Motif quả bầu và NHT từ góc nhìn chức năng luận
Để tìm hiểu căn nguyên vì sao motif quả bầu lại phổ biến ở mức độ rộng khắp khu vực Đông Nam Á như vậy, chúng ta cần tìm hiểu chức năng của quả bầu thông qua phương pháp tiếp cận hệ thống Theo đó, quả bầu trong nền văn minh thực vật ở Đông Nam Á nổi bật với ba chức năng sau:
Vật nổi
Trang 9Thức ăn giàu dinh dưỡng
Thực phẩm tích trữ
Đây là những chức năng quan trọng gắn với một loài thực vật mang những đặc trưng địa lý nhân văn và cả những đặc trưng của tiểu vùng khí hậu của khu vực Đông Nam Á [hiện tượng gió mùa (monsoon) và hiện tượng lũ lụt xảy ra thường niên]
Có thể thấy, Đông Nam Á là lưu vực của một trong những con sông lớn nhất thế giới - Mekong - nơi sản xuất gạo đứng đầu thế giới Đây cũng là nơi tập hợp những vùng đồng bằng châu thổ nhỏ hơn của nhiều con sông có độ dốc cao như sông Ayeyarwady (Myanmar), sông Hồng (Việt Nam), sông Chao Phraya (Thái Lan),… Vì độ dốc cao này mà hiện tượng lũ lụt là một trong những mối lo thường trực của cư dân khu vực Đông Nam Á mà đại đa số là những
cư dân nông nghiệp Ở Việt Nam, hệ thống đê sông Hồng được xây đắp trong hàng nghìn năm qua được xem như công trình thủy lợi vĩ đại nhất của người Việt Trong một bối cảnh địa lý và khí hậu đặc thù như vậy, các cư dân Đông Nam Á cần phải tự thích nghi để tồn tại Bên cạnh chức năng làm thức ăn thì quả bầu trở thành một chiếc phao cứu sinh hay một “công cụ” trong giao thông thủy vô cùng tiện lợi đã được ghi lại trong nhiều sử sách.2
Sự thích nghi với lũ lụt đã khiến cho kỹ năng sinh tồn của cư dân Đông Nam Á tự hoàn thiện theo thời gian Một trong những kỹ năng quan trọng nhất đó là thích nghi với lũ lụt – đây
cũng là căn nguyên ra đời câu thành ngữ: Sống chung với lũ – ngụ ý phải chấp nhận thực tế
khó khăn mà không thể thay đổi được Trong bối cảnh đó, cùng với những con thuyền gỗ hay thuyền nan của các ngư dân thì một quả bầu rỗng để làm một chiếc phao trong mùa mưa lũ dường như là một lựa chọn hợp lý nhất để sinh tồn của mọi người dân bình thường khi chưa có các vật dụng tiện ích như chúng ta thấy ngày hôm nay Rất có thể, kỹ năng sinh tồn này được nhiều người sử dụng nên vật nổi – quả bầu giống như một chiếc phao cứu sinh trở thành một vật dụng thiết yếu của đa số người dân
Bên cạnh chức năng vật nổi thì quả bầu chính là một loại thức ăn phù hợp nhất cho mùa mưa bão vì nó có thể đáp ứng được cho số đông người dân Quả bầu dễ trồng và dễ thích nghi với các địa hình phức tạp nên mọi người dân đều có thể tự trồng, tự thu hoạch và tự bảo quản Đây chính là điểm quan trọng để quả bầu được xem như một loại thực phẩm đắc dụng nhất của mọi người dân trong những hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là trong mùa mưa lũ Ngoài đặc tính
dễ trồng, dễ sử dụng và dễ vận chuyển thì một trong những ưu điểm lớn nhất của loại thực phẩm này (đã được chúng tôi đề cập ở mục 3.1) là dễ tích trữ vì đặc tính tươi lâu và giàu dinh dưỡng nên quả bầu trở thành loại thức ăn không thể thiếu trong mùa mưa lũ Như vậy, với các chức năng nổi bật của một vật nổi được và là loại thực phẩm đắc dụng nhất của địa phương,
2 „Nhờ đặc điểm rỗng ruột, chỉ cần bịt kín phần miệng, hồ lô sẽ trở thành một loại “phao” đặc biệt Các sách Kinh Thi,
Trang Tử, Quốc Ngữ đều có nhắc đến loại “công cụ” giúp người qua sông, suối này Dân gian Trung Hoa gọi loại “công
cụ” đặc biệt này là “thuyền eo” (腰舟yếu chu) Ngày nay, vùng nông thôn Hà Nam, Sơn Đông, Tứ Xuyên vẫn còn dùng loại công cụ này khi qua sông, suối nhỏ Người Khách Gia ở Quảng Đông khi đánh cá dưới sông đeo quanh eo vài chiếc hồ
lô cứu sinh Trẻ em đeo vài chiếc hồ lô nhỏ quanh thân ngụ ý trừ tà, đồng thời sẽ giúp cứu trẻ trong trường hợp bị rơi xuống nước Ở đảo Hải Nam, người Lê dùng một quả hồ lô to rỗng, bịt kín miệng, thả xuống sông, suối, ôm trầm lấy mà bơi qua
Ở Đài Loan, người Amei, người Cao Sơn cũng làm cách này [Tống Triệu Lân 2001: 19-20, 38-39] Ở một số vùng khác, người ta làm bè hồ lô qua vượt qua những khúc sông có quá nhiều ghềnh thác Trong thần thoại, hồ lô rỗng với đặc tính nổi trên mặt nước đã được mượn làm biểu tượng cứu sống nhân loại Học giả Văn Nhất Đa (1899-1946) tiến hành phân tích 49 thần thoại hồng thủy của các dân tộc thiểu số kết luận rằng hồ lô là dụng cụ cứu sinh phổ biến nhất‟ (Nguyễn Ngọc Thơ 2007)
Trang 10quả bầu trở thành một phần không thể thiếu của cư dân Đông Nam Á trong điều kiện, hoàn cảnh của cư dân Đông Nam Á trong mùa mưa lũ
4.2 Motif quả bầu và NHT từ góc nhìn biểu tượng luận
Mặc dù quả bầu hội tụ đầy đủ những chức năng quan trọng nhất cho điều kiện và hoàn cảnh của cư dân Đông Nam Á như đã nêu ở trên nhưng để trở thành một vật biểu tượng mang tính phổ quát đối với một vùng văn hóa đa dạng và phức tạp như Đông Nam Á thì quả bầu cần phải
có thêm những đặc tính vượt trội so với những thành tố văn hóa khác Có lẽ vì vậy mà trước khi trở thành một vật cứu tinh trong NHT, quả bầu phải được biểu tượng hóa thành một biểu tượng trọng tâm của văn hóa Đông Nam Á Điều này cần đến vai trò không thể thiếu của văn hóa dân gian truyền miệng, đặc biệt là các huyền thoại đã góp phần đưa một vật/vật phẩm bình thường trong văn hóa Đông Nam Á trở thành một biểu tượng văn hóa của các tộc người ở Đông Nam Á
Khi quả bầu đã trở thành một biểu tượng trọng tâm trong văn hóa Đông Nam Á thì con
đường đưa biểu tượng trọng tâm này từ một vật biểu tượng (cái biểu đạt) thành một vật cứu
tinh (cái được biểu đạt) sánh ngang với thuyền Noah trong văn hóa phương tây dường như là một quá trình tất yếu Có thể tóm tắt quá trình biểu tượng hóa quả bầu trong văn hóa Đông Nam Á thành một vật cứu tinh trong NHT qua mô hình sau:
Sơ đồ 2: Quá trình biểu tượng hóa quả bầu trong văn hóa Đông Nam Á thành một vật cứu tinh
Tuy nhiên, để có thể „biến‟ thành một vật cứu tinh huyền thoại như thuyền Noah thì quả bầu trong vai trò của một biểu tượng trọng tâm của văn hóa Đông Nam Á cần phải có thêm một yếu tố không thể thiếu, đó là những đặc tính của tôn giáo, tín ngưỡng
4.3 Motif quả bầu và NHT từ góc nhìn tôn giáo tín ngưỡng