Lời nói đầuHoạt động của doanh nghiệp thương mại có vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân, gắn sản xuất với tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của đời sống xã hội, thúc đẩy sả
Trang 1TRƯờNG ĐạI HọC THƯƠNG MạI
PGS.TS Phạm Công Đoàn - TS Nguyễn Cảnh Lịch
(Đồng chủ biên)
Giáo trình Kinh tế doanh nghiệp
Thương mại
(Tái bản lần 3 có bổ sung, sửa chữa)
Nhà xuất bản thống kê
Hà Nội, 2012
Trang 3Lời nói đầu
Hoạt động của doanh nghiệp thương mại có vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân, gắn sản xuất với tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của đời sống xã hội, thúc đẩy sản xuất
và các lĩnh vực khác của nền kinh tế phát triển, góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh
tế nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới, thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn
Trong cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, hoạt động của doanh nghiệp thương mại có những khác biệt rất cơ bản so với hoạt động của nó trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung Do đó, đòi hỏi phải có cách tiếp cận nghiên cứu doanh nghiệp thương mại cùng với hoạt động của nó cho phù hợp
Giáo trình “Kinh tế Doanh nghiệp Thương mại” giới thiệu
cho sinh viên những kiến thức cơ bản về hoạt động kinh tế của Doanh nghiệp Thương mại, để từ đó xử lý đúng đắn các vấn đề phát sinh trong kinh doanh và quản lý kinh tế Doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp Thương mại Giáo trình do tập thể giáo viên bộ môn Kinh tế Doanh nghiệp Thương mại biên soạn với sự tham gia của PGS.TS Phạm Công
Đoàn (chương mở đầu, chương II, IV, VIII, IX), TS Nguyễn Cảnh Lịch (chương V, VI, VII, X), GVC Đỗ Ngọc Bích (chương III), PGS
TS Hoàng Văn Hải (chương I)
Giáo trình do PGS TS Phạm Công Đoàn (chủ nhiệm bộ môn Kinh tế Doanh nghiệp Thương mại) và TS Nguyễn Cảnh Lịch là
đồng chủ biên
Trang 4Giáo trình Kinh tế Doanh nghiệp Thương mại là giáo trình
sử dụng cho sinh viên một số chuyên ngành thuộc ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế Thương mại, Kế toán Kiểm toán và Quản trị nhân lực thương mại trong trường Đại học Thương mại và là tài liệu tham khảo bổ ích cho sinh viên các chuyên ngành có liên quan của các trường kinh tế cũng như các nhà quản trị doanh nghiệp
Các tác giả xin chân thành cảm ơn những góp ý quý báu về nội dung và hình thức của giáo trình từ các đồng chí trong Hội đồng khoa học trường, khoa Quản trị doanh nghiệp và các đồng chí giáo viên trong bộ môn Kinh tế Doanh nghiệp Thương mại trong quá trình biên soạn, bổ sung, sửa chữa
Do thời gian, kiến thức và kinh nghiệm có hạn nên giáo trình
có thể còn những thiếu sót, hạn chế Chúng tôi rất mong nhận
được góp ý, phê bình về nội dung cũng như hình thức để lần xuất bản sau giáo trình sẽ hoàn chỉnh hơn
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc !
Các tác giả
Trang 5mục lục
Trang
mở đầu
ĐốI TƯợNG, NộI DUNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
MÔN HọC KINH Tế DOANH NGHIệP THƯƠNG MạI
Chương I
DOANH NGHIệP THƯƠNG MạI TRONG NềN KINH Tế THị TRƯờNG
1 DOANH NGHIệP THƯƠNG MạI: CHứC NĂNG, NHIệM Vụ, MụC TIÊU 17
1.3 Vai trò của doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế quốc dân 24
2 DOANH NGHIệP THƯƠNG MạI Là MộT ĐƠN Vị SảN XUấT Và PHÂN PHốI 25
3.2 Các quy luật kinh tế chủ yếu chi phối hoạt động của doanh nghiệp
Trang 64 CáC LOạI HìNH DOANH NGHIệP THƯƠNG MạI 34
tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại
1 Tầm quan trọng của tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp
4 các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến tiêu thụ hàng hoá
Trang 75 Mặt hàng kinh doanh 58
8.1 Mối tương quan giữa chi phí, khối lượng hàng hoá tiêu thụ
8.3 Tính toán khối lượng (doanh thu) cần thiết phải tiêu thụ
Chương III
CUNG ứNG HàNG HóA TRONG DOANH NGHIệP THƯƠNG MạI
Trang 83 MUA HàNG TRONG DOANH NGHIệP THƯƠNG MạI 93
Chương IV
dịch vụ trong doanh nghiệp thương mại 115
2.1 Khách hàng tiếp cận, tìm hiểu dịch vụ và đăng ký sử dụng dịch vụ 120
5.2 Các phương pháp cung ứng dịch vụ trong thương mại dịch vụ quốc tế 123
Trang 96 Một số loại dịch vụ chủ yếu của doanh nghiệp thương mại 124
Chương V
Các nguồn lực chủ yếu của doanh nghiệp Thương mại 1
Chương VI
Hiệu quả kinh tế trong Doanh nghiệp thương mại
1.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp thương mại 170
2 Hệ thống chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả kinh tế trong
2.2 Hệ thống chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp 172
3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí của doanh nghiệp thương mại 182
Trang 104 Lợi nhuận kinh doanh 187
4.2 Nguồn hình thành và phương pháp xác định lợi nhuận
4.4 Phân phối và sử dụng lợi nhuận trong các doanh nghiệp thương mại 197
Chương VII
kế hoạch hoá nội bộ doanh nghiệp
1 vai trò của kế hoạch hoá nội bộ và mục tiêu kế hoạch
1.1 Vai trò của kế hoạch hoá nội bộ đối với công tác quản lý doanh nghiệp 205
2 các nguyên tắc của kế hoạch hoá nội bộ doanh nghiệp 210
5 quá trình xây dựng kế hoạch của doanh nghiệp thương mại 218
Trang 11Chương VIII
Tăng trưởng trong doanh nghiệp thương mại
đầu tư trong doanh nghiệp thương mại
1 khái niệm và vai trò của đầu tư trong doanh nghiệp thương mại 251
3 Các yếu tố cơ bản tác động đến đầu tư trong doanh nghiệp
3.4 Khả năng ứng phó của doanh nghiệp trước những diễn biến
Trang 124 Các phương pháp lựa chọn phương án đầu tư 259
Chương X
tài trợ trong doanh nghiệp thương mại
3 Tài trợ cho chu kỳ đầu tư của doanh nghiệp thương mại 279
Trang 13mở đầu
ĐốI TƯợNG, NộI DUNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU MÔN HọC KINH Tế DOANH NGHIệP THƯƠNG MạI
1 KINH DOANH THƯƠNG MạI
Từ lâu kinh doanh được hiểu như là một công việc, là một nghề Song kinh doanh không chỉ đơn thuần là một nghề, mà còn
là mối quan hệ giữa người và người Trong kinh tế tất cả các hoạt
động kinh doanh đều liên quan tới việc sử dụng công sức và tiền vốn để tạo ra sản phẩm (hàng hoá hay dịch vụ) và cung ứng cho thị trường nhằm mục đích kiếm lời
Kinh doanh đũi hỏi phải có chiến lược và chiến thuật Chiến lược kinh doanh đó là tối đa hoá lợi ích (thu nhập, lợi nhuận, sự sống còn) Mục tiêu chiến thuật là thực hiện các mục tiêu chiến lược đã xác định trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể
Kinh doanh thể hiện những nét đặc trưng cơ bản:
Là sự trao đổi hàng hóa giữa các chủ thể kinh tế mà mỗi cá nhân tham gia vào quá trình này đều hướng tới đạt được lợi ích của mình
Kinh doanh là công việc khó khăn phức tạp và luôn chứa
đựng những yếu tố rủi ro do tính phức tạp và bất định từ phía môi trường, do đó đòi hỏi nhà kinh doanh phải có kiến thức, kinh nghiệm, óc sáng kiến cùng với lòng dũng cảm và sự sáng suốt
Từ nhận thức trên đây để đảm bảo kinh doanh có hiệu quả cần thiết phải:
Trang 14- Có đầy đủ các nguồn lực cho kinh doanh (lao động, tiền vốn, cơ sở vật chất, công nghệ, thông tin…)
- Có khả năng và biết cách tiến hành các hoạt động kinh doanh, xử lý đúng đắn các mối quan hệ kinh tế trong quá trình kinh doanh phù hợp với quy luật trong những hoàn cảnh thực tế
cụ thể để đạt được các mục tiêu đã dự định
Kinh doanh thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác
Doanh nghiệp thương mại là một tổ chức kinh tế được thành lập với mục đích chủ yếu là tiến hành các hoạt động thương mại
Do đó, để thực hiện kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp thương mại cần phải đáp ứng các yêu cầu trên
2 ĐốI TƯợNG Và NộI DUNG MÔN HọC
Kinh tế doanh nghiệp thương mại là môn học của khoa học xã hội và nhân văn Đối tượng nghiên cứu của kinh tế doanh nghiệp thương mại là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh thương mại Những quan hệ này luôn tồn tại và vận động theo những quy luật nhất định Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế, hệ thống chính sách và luật pháp của Nhà nước cũng như các yếu tố môi trường kinh doanh khác Do đó việc nghiên cứu và nhận thức
đúng đắn các yếu tố trên đây và vận dụng chúng một cách khoa học linh hoạt trong từng tình huống cụ thể trong kinh doanh để
đưa ra các quyết định kịp thời, chính xác, có khả năng xử lý tốt các mối quan hệ kinh tế và các lợi ích kinh tế của các thành phần tham gia kinh doanh là yếu tố cơ bản bảo đảm sự thành công của doanh nghiệp thương mại
Kinh tế doanh nghiệp thương mại cung cấp cho các nhà quản
lý doanh nghiệp thương mại các quy tắc để ra quyết định kinh tế tối ưu trong quá trình hoạt động kinh doanh thương mại
Trang 15Với cách tiếp cận như vậy, kinh tế doanh nghiệp thương mại
được kết cấu thành 11 chương Trong đó, chương mở đầu giới thiệu cách tiếp cận nghiên cứu môn học Chương I giới thiệu những vấn
đề chung về doanh nghiệp thương mại: khái niệm, chức năng, mục tiêu, nhiệm vụ, các điều kiện đảm bảo cho doanh nghiệp thương mại hoạt động, các loại hình doanh nghiệp thương mại chủ yếu và cơ chế hoạt động của nó trong nền kinh tế thị trường có điều tiết vĩ mô của Nhà nước Các chương II, III, IV đi sâu trình bày các hoạt
động chủ yếu của doanh nghiệp thương mại (tiêu thụ, cung ứng và dịch vụ thương mại và cung ứng dịch vụ khác cho thị trường) Tính toán chi phí và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại (chương V, VI) Từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm cần thiết trong quản lý chỉ đạo kinh doanh, là cơ
sở quan trọng cho công tác kế hoạch hóa doanh nghiệp - một công
cụ chủ yếu của quản lý doanh nghiệp (chương VII) Mong muốn tồn tại và phát triển trong cạnh tranh luôn là mục đích tự thân của mỗi doanh nghiệp Nghiên cứu tăng trưởng (các phương thức tăng trưởng và các điều kiện đảm bảo cho tăng trưởng) (chương VIII) giúp cho doanh nghiệp thương mại biết cách thực hiện một cách có hiệu quả mục đích của mình Để đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động và không ngừng tăng trưởng, doanh nghiệp thương mại cần thiết phải thực hiện sự đầu tư (chương IX) và tìm kiếm nguồn tài trợ cũng như cách thức tài trợ hữu hiệu (chương X)
Kinh tế doanh nghiệp thương mại là môn học thuộc khối kiến thức ngành trong chương trình đào tạo cử nhân kinh tế ngành quản trị Kinh doanh chuyên ngành kế toán kiểm toán và kinh tế
và là môn chuyên môn bổ trợ cho một số chuyên ngành khác của trường Đại học Thương mại
Trang 16mại Từ đó doanh nghiệp đưa ra các quyết định kinh tế phù hợp với yêu cầu của các quy luật kinh tế trong mỗi khung cảnh cụ thể Phép biện chứng duy vật cho thấy: Mọi sự vật và hiện tượng
đều có mối liên quan mật thiết tác động qua lại lẫn nhau và tồn tại trong một thể thống nhất, đòi hỏi khi tiến hành hoạt động thương mại cần phải có cách nhìn tổng thể, toàn diện và có quan
điểm hệ thống Các bộ phận của doanh nghiệp cũng như các hoạt
động của nó cần phải tuân theo một trật tự logic chặt chẽ, tính
đến tác động của các yếu tố có liên quan bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp, cả trước mắt cũng như lâu dài Mọi sự vật và hiện tượng đều vận động và phát triển không ngừng, đòi hỏi khi nghiên cứu hiện tượng, quá trình kinh tế không được dập khuôn một cách giáo điều, cứng nhắc mà phải có cách nhìn “động”, phải
có quan điểm tình huống trong xử lý các vấn đề cụ thể nảy sinh trong hoạt động thương mại của doanh nghiệp
Phép duy vật biện chứng đòi hỏi trong nghiên cứu các quá trình kinh tế phải đi từ hiện tượng đến bản chất, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, khái quát hoá, tổng quát hoá để tìm hiểu bản chất và tính quy luật của sự phát triển của các hiện tượng hay quá trình kinh tế Nhận thức đúng đắn vấn đề này có ý nghĩa to lớn trong chỉ đạo kinh doanh thương mại
Kinh tế doanh nghiệp thương mại sử dụng phương pháp mô hình hoá và các công cụ định lượng làm tăng cơ sở khoa học cho các quyết định kinh tế
Kinh tế doanh nghiệp thương mại cũng sử dụng những kiến thức của các môn học liên quan: Kinh tế chính trị Mác - Lênin Kinh tế học, Luật, Marketing, Quản trị, Toán kinh tế và Phân tích kinh tế, Thống kê… trong quá trình nghiên cứu
Trang 17Từ góc độ luật pháp, doanh nghiệp được hiểu như là “một tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
ký theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh” Trong đó kinh doanh là việc thực hiện một, một
số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất tới tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời
Theo cách tiếp cận vi mô, doanh nghiệp được xem như là một hình thức sản xuất theo đó trong cùng một sản nghiệp người ta phối hợp giá của nhiều yếu tố khác nhau do các tác nhân khác cùng với chủ sở hữu doanh nghiệp đem lại nhằm bán ra trên thị trường hàng hoá hay dịch vụ và đạt được một khoản thu nhập tiền
tệ từ mức chênh lệch giữa hai giá
Từ góc độ nghiên cứu của Giáo trình này, có thể định nghĩa về doanh nghiệp như sau:
Trang 18Doanh nghiệp là một cộng đồng người liên kết với nhau để sản xuất ra của cải hoặc dịch vụ và cùng nhau thừa hưởng thành quả
do việc sản xuất đó đem lại
Cộng đồng người trong doanh nghiệp liên kết với nhau chủ yếu trên cơ sở lợi ích kinh tế Con người trong doanh nghiệp được xem như là “con người kinh tế” Chủ doanh nghiệp muốn tối đa hoá lợi nhuận, người lao động vì tiền công mà hợp tác với chủ doanh nghiệp
Doanh nghiệp còn là phạm trù lịch sử, nó xuất hiện cùng với
sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hoá: đầu tiên là các doanh nghiệp đơn giản, quy mô nhỏ, dần dần xuất hiện các loại hình doanh nghiệp phức tạp như công ty, tập đoàn đa quốc gia Doanh nghiệp là một tổ chức sống giống như con người, có một chu trình sống (mang tính lý thuyết) và được thành lập bởi ý chí của các nhà sáng lập; phát triển và tiến tới độ trưởng thành, đôi khi hoạt động của nó sa sút dẫn đến suy thoái hoặc thậm chí bị phá sản
1.1.2 Doanh nghiệp thương mại
Doanh nghiệp thương mại là doanh nghiệp chủ yếu thực hiện các hoạt động thương mại
Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác
Hàng hóa bao gồm:
- Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
- Những vật gắn liền với đất đai
Doanh nghiệp thương mại có thể thực hiện một hoặc nhiều hoạt động thương mại Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm thực hiện một hay một số hành vi thương mại (Luật Thương mại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005)
Trang 19Doanh nghiệp thương mại cũng có thể thực hiện các hoạt động khác như sản xuất, cung ứng dịch vụ, đầu tư,… nhưng hoạt động thương mại vẫn là chủ yếu
Doanh nghiệp thương mại là một tổ chức độc lập, có phân công lao động rõ ràng, được quản lý bằng một bộ máy chính thức: doanh nghiệp thương mại có thể thực hiện các hoạt động thương mại một cách độc lập với các thủ tục đơn giản, nhanh chóng
1.2 Chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu của doanh nghiệp thương mại
1.2.1 Chức năng và nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại
Chức năng là một phạm trù khách quan, nó lý giải sự tồn tại của doanh nghiệp Chức năng là một tập hợp những nhiệm vụ, chứ không phải là tập hợp những biên chế Nhận thức đúng đắn chức năng của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong quản lý
điều hành doanh nghiệp
Doanh nghiệp thương mại ra đời do sự phân công lao động xã hội, một bộ phận của sản xuất được tách ra và chuyên môn hoá trong việc trao đổi và mua bán Từ đó bộ phận này có một chức năng riêng biệt, độc lập với bộ phận sản xuất Chức năng này chính là: Tổ chức lưu thông hàng hoá thông qua trao đổi, mua bán Chức năng cơ bản này được thể hiện thông qua các chức năng
cụ thể sau:
Chức năng chuyên môn kỹ thuật: Doanh nghiệp thương mại thực hiện việc lưu thông hàng hoá và tiếp tục quá trình sản xuất trong lĩnh vực lưu thông, doanh nghiệp thương mại tổ chức quá trình vận động hàng hoá từ sản xuất đến tiêu dùng, đây là hoạt
động mang tính chuyên môn hoá, đồng thời trong quá trình đó doanh nghiệp thương mại còn tiếp tục một số hoạt động mang tính sản xuất như: bao gói, phân loại, chọn lọc, chỉnh lý hàng hoá biến mặt hàng của sản xuất thành mặt hàng của tiêu dùng
Trang 20Chức năng thương mại: Doanh nghiệp thương mại thực hiện giá trị hàng hoá bằng cách mua bán Doanh nghiệp thương mại mua hàng hoá từ các nhà sản xuất, nhập khẩu sau đó bán lại cho người tiêu dùng Thông qua chức năng này hàng hoá được thực hiện giá trị cũng như giá trị sử dụng Đây là chức năng chủ yếu của doanh nghiệp thương mại, nó được sinh ra từ bản chất của thương mại
Chức năng tài chính: Để đảm bảo các hoạt động của mình, doanh nghiệp thương mại cần có các nguồn tài chính vì vậy chức năng tài chính sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp thương mại có các nguồn tài chính cũng như phân bổ và sử dụng các nguồn tài chính một cách có hiệu quả
Chức năng quản trị: Chức năng này đảm bảo cho các hoạt
động của doanh nghiệp thương mại được phối hợp, ăn khớp và không đi chệch các mục tiêu dự định
Nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại được hình thành chủ yếu xuất phát từ các chức năng của nó và nhằm thực hiện chức năng, đồng thời phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội của từng giai đoạn Nhiệm vụ là sự quy định cụ thể công việc phải hoàn thành trong từng thời kỳ nhất định, nó thay đổi tuỳ thuộc vào sự thay đổi những điều kiện thực hiện chức năng, cụ thể:
- Chức năng của doanh nghiệp thương mại: Mỗi một chức năng sẽ được cụ thể hoá thành một tập hợp các nhiệm vụ Ví dụ từ chức năng thương mại có thể hình thành nên các nhiệm vụ liên quan đến mua, bán, thanh toán, nghiên cứu thị trường… Tóm lại nhiệm vụ thay đổi tuỳ thuộc vào thay đổi những điều kiện thực hiện chức năng
- Các đặc điểm kinh tế - xã hội của từng giai đoạn: Nhiệm vụ không những cụ thể hoá chức năng mà còn bao gồm những nội dung ngoài chức năng là do đặc điểm kinh tế - xã hội của từng thời kỳ quyết định Ví dụ: Trong giai đoạn hiện nay các doanh nghiệp thương mại có các nhiệm vụ nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước
Trang 21- Các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp: Nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp thương mại cũng khác nhau trong từng thời kỳ hoạt động của nó Ví dụ trong giai đoạn mới thành lập doanh nghiệp thương mại có các nhiệm vụ khác với giai đoạn phát triển hay suy thoái
1.2.2 Mục tiêu của doanh nghiệp thương mại
Mục tiêu của doanh nghiệp phụ thuộc vào mục đích, chức năng và nhiệm vụ của nó Mục tiêu là biểu hiện mục đích của doanh nghiệp Mục đích của doanh nghiệp thể hiện thiên hướng
và lý do tồn tại của chính nó Doanh nghiệp thương mại thường theo đuổi những mục đích chủ yếu sau đây: Bảo đảm hoạt động ổn
định, bền vững, tìm kiếm lợi nhuận, phục vụ khách hàng Mục tiêu là những tiêu chí mà doanh nghiệp hướng tới đạt được trong một thời gian nhất định Tiêu chí cần được xác định cả về mặt lượng lẫn mặt chất Một mục tiêu được coi là đúng đắn khi nó đáp ứng được những yêu cầu sau: Cụ thể, linh hoạt, đo được, khả thi, nhất quán và hợp lý
Tính cụ thể: Một mục tiêu đúng đắn phải là một mục tiêu cụ
thể, nó phải chỉ rõ những giới hạn về số lượng, thời gian thực hiện
và những kết quả cuối cùng cần đạt được Mục tiêu càng cụ thể thì càng dễ dàng cho mọi người vạch ra các giải pháp tác nghiệp để thực hiện nó
Tính linh hoạt: Mục tiêu tuy phải cụ thể nhưng không cứng
nhắc Mỗi khi mục tiêu đã được xác định thì đòi hỏi phải phấn đấu thực hiện, nhưng khi môi trường có biến đổi doanh nghiệp có thể
điều chỉnh nó một cách thuận lợi
Tính đo được: Mục tiêu cần phải được định ra dưới dạng các
chỉ tiêu có thể định lượng và có thể đánh giá được Điều này giúp cho việc thực hiện cũng như là tiêu chuẩn để kiểm tra đánh giá công tác thực hiện mục tiêu
Trang 22Tính khả thi: Mục tiêu phải thực hiện nghĩa là nó phải có khả
năng đạt được, nếu mục tiêu đề ra không thể thực hiện được thì nó
có thể phản tác dụng, ngược lại nếu mục tiêu được đề ra quá thấp làm cho việc đạt được nó một cách dễ dàng thì sẽ không phát huy
được tính tích cực và sáng tạo của người lao động cũng như đội ngũ quản lý, thậm chí gây ra lãng phí
Tính thống nhất: Các mục tiêu của doanh nghiệp phải phù
hợp với nhau, mục tiêu này là cơ sở để mục tiêu kia thực hiện và ngược lại, mục tiêu bộ phận phải phục tùng mục tiêu tổng thể, giữa các mục tiêu không được mâu thuẫn và triệt tiêu lẫn nhau
Tính hợp lý: Mục tiêu hợp lý là mục tiêu được những người
chịu trách nhiệm thực hiện và các đối tượng hữu quan chấp nhận
được Thông thường tính hợp lý được thừa nhận một cách gián tiếp
và dẫn đến việc cam kết thực hiện của lãnh đạo và người lao động trong doanh nghiệp
Mục tiêu của doanh nghiệp thương mại rất đa dạng Căn cứ vào thời gian người ta có thể phân biệt 3 loại mục tiêu: dài hạn, trung hạn và ngắn hạn Những mục tiêu dưới 1 năm thường được coi là ngắn hạn, từ 1 năm đến 3 năm được coi là trung hạn, trên 3 năm được coi là dài hạn Căn cứ vào bản chất của mục tiêu có mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội Căn cứ vào nội dung mục tiêu có mục tiêu doanh số, chất lượng dịch vụ, lợi nhuận, v.v Theo chức năng thì có mục tiêu thương mại, mục tiêu tài chính, nhân sự, v.v Tuy nhiên, các mục tiêu của doanh nghiệp thương mại có mối quan hệ hữu cơ với nhau, hình thành nên cây mục tiêu của
nó (Hình 1.1)
Trang 23Hình 1.1: Hệ thống mục tiêu của doanh nghiệp thương mại
Mục tiêu của doanh nghiệp thương mại phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của nó: mục tiêu trong giai đoạn mới thành lập khác với mục tiêu của giai đoạn phát triển
Mục tiêu của doanh nghiệp thương mại không đồng nhất hoàn toàn với mục tiêu của chủ doanh nghiệp vì ngoài mục tiêu của chủ
sở hữu còn có những mục tiêu của những người tham gia vào đời sống doanh nghiệp như: nhà quản lý, người lao động, đối thủ cạnh tranh, công đoàn, Nhà nước, v.v…
Hệ thống mục tiêu của doanh nghiệp được xem như một cơ
cấu vừa mang tính tĩnh tại vừa mang tính năng động: Tính tĩnh
thể hiện ở chỗ mục tiêu là những đích cụ thể cần phải đạt được Tính năng động thể hiện ở chỗ mỗi một mục tiêu lại hướng tới mục
Mục tiêu trung hạn
Mục tiêu trung hạn
Mục tiêu ngắn hạn
Mục tiêu ngắn hạn
Mục tiêu ngắn hạn
Mục tiêu ngắn hạn
Mục tiêu ngắn hạn
Mục tiêu ngắn hạn
Trang 241.3 Vai trò của doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế quốc dân
Doanh nghiệp thương mại là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân Với vị trí là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa sản xuất và sản xuất, doanh nghiệp thương mại có những vai trò chính sau:
- Phục vụ nhu cầu tiêu dùng: Doanh nghiệp thương mại thông qua các hoạt động thương mại và dịch vụ thương mại cung cấp cho xã hội lượng hàng hoá đáp ứng nhu cầu, địa điểm, thời gian Doanh nghiệp thương mại làm cho hàng hoá được đưa từ nơi thừa tới nơi thiếu làm cho nhu cầu của người tiêu dùng luôn
được thoả mãn
- Kích thích sản xuất phát triển: Doanh nghiệp thương mại mua các sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất tạo điều kiện cho sản xuất thu hồi vốn nhanh, tập trung vốn, nhân lực cho sản xuất, tiếp tục chu trình sản xuất của mình Doanh nghiệp thương mại còn cung ứng các dịch vụ đầu tư vào cho sản xuất để thúc đẩy sản xuất phát triển
Doanh nghiệp thương mại phản hồi những nhu cầu nảy sinh trên thị trường làm cho sản xuất có thể nhanh chóng đáp ứng nhu cầu mới, phát triển thị trường mới
- Thúc đẩy sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ: doanh nghiệp thương mại làm cho nhu cầu tiêu dùng bị kích thích dẫn đến xuất hiện các nhu cầu mới đòi hỏi sản xuất phải đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như công nghệ mới vào sản xuất sản phẩm
Doanh nghiệp thương mại cũng làm cho sự du nhập khoa học
kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất một cách dễ dàng thông qua con đường xuất nhập khẩu
- Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế: buôn bán thường làm cho khoảng cách về không gian không còn là vấn đề lớn nữa Chính doanh nghiệp thương mại qua hoạt động buôn bán đã làm cho hàng hoá xuất khẩu ra nước ngoài hoặc nhập khẩu hàng hoá từ
Trang 25nước ngoài từ đó tạo ra các mối quan hệ kinh tế quốc tế có lợi cho cả hai bên
- Tạo tích luỹ: cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, doanh nghiệp thương mại cũng đầu tư vốn, lao động để thực hiện kinh doanh nên nó cũng được hưởng lợi nhuận, từ lợi nhuận này doanh nghiệp thương mại có thể tăng tích luỹ đóng góp cho ngân sách quốc gia
2 DOANH NGHIệP THƯƠNG MạI Là MộT ĐƠN Vị SảN XUấT
Và PHÂN PHốI
Như ở mục 1.1 đã đề cập, doanh nghiệp là một cộng đồng người liên kết với nhau để sản xuất ra của cải hoặc dịch vụ và thừa hưởng thành quả do việc sản xuất đó đem lại Từ đó có thể thấy rằng hoạt động của mọi doanh nghiệp có thể chia thành 2
đoạn phân biệt:
Một là: Hoạt động sản xuất, tạo ra của cải vật chất hoặc các
dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
Hai là: Hoạt động phân phối của cải cho các thành viên tương
ứng với sự đóng góp vào việc sản xuất ra của cải vật chất hoặc dịch vụ
2.1 Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất
2.1.1 Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất dịch vụ
Doanh nghiệp là một đơn vị trực tiếp biến các đầu vào thành
đầu ra thông qua các hoạt động kinh doanh Đầu vào bao gồm:
- Nguồn nhân lực
- Vốn, trang thiết bị kỹ thuật (máy móc, trang thiết bị, phương tiện vận chuyển bốc xếp và bảo quản hàng hoá, nhà kho, cửa hàng…)
- Tiêu dùng trung gian: những của cải (hàng hoá, nguyên vật liệu, bao bì đóng gói, năng lượng…) và những dịch vụ (vận tải, quảng cáo…) gắn liền trong quá trình dự trữ, bảo quản và chuẩn
bị bán hàng Chúng tương ứng với mọi của cải hoặc dịch vụ của
Trang 26doanh nghiệp mua từ ngoài vào, còn đầu ra của doanh nghiệp là dịch vụ lưu thông hàng hóa Cụ thể, quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra được thể hiện ở sơ đồ sau:
Dịch vụ lưu thông hàng hoá
và dịch vụ khác
2.1.2 Doanh nghiệp thương mại là một đơn vị sản xuất giá trị gia tăng
Doanh nghiệp nào trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng phải tính đến giá thành của sản phẩm hoặc dịch vụ để từ đó định
ra giá bán hợp lý nhằm thu được giá trị gia tăng đảm bảo trang trải được chi phí bỏ ra và thu lợi nhuận Giá trị gia tăng của doanh nghiệp là phần chênh lệch giữa giá bán sản phẩm (của cải hoặc dịch vụ) mà doanh nghiệp tạo ra với giá trị tiêu dùng trung gian của doanh nghiệp
Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác (trừ doanh nghiệp công ích) doanh nghiệp thương mại tham gia kinh doanh bất cứ mặt hàng nào cũng phải tính đến giá trị gia tăng mà nó có thể đạt
được Giá trị gia tăng (Value Added viết tắt là VA) mà doanh nghiệp thương mại tạo ra là khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình lưu thông hàng hoá Giá trị gia tăng là chênh lệch giữa giá trị sản xuất của doanh nghiệp (Gross Output, viết tắt là GO) với tiêu dùng trung gian (Intermediate Consumption, viết tắt là IC) được thực hiện trong
Trang 272.2 Doanh nghiệp thương mại là đơn vị phân phối
2.2.1 Doanh nghiệp thương mại là đơn vị phân phối
Doanh nghiệp thương mại là đơn vị tham gia trực tiếp vào quá trình thay đổi hình thái giá trị của hàng hóa, biến tiền thành hàng và biến hàng thành tiền theo công thức T - H - T’ Doanh nghiệp thương mại tiến hành thực hiện chức năng lưu thông hàng hóa nên nó vừa là nhà cung cấp đầu vào cho các doanh nghiệp sản xuất vừa là nhà phân phối sản phẩm cho các doanh nghiệp này Bên cạnh đó, doanh nghiệp thương mại cũng tiến hành phân phối kết quả kinh doanh của mình như các doanh nghiệp khác Toàn bộ quá trình này được thể hiện ở hình 1.2
Hình 1.2: Quá trình phân phối trong doanh nghiệp thương mại
Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là doanh thu bán hàng được thể hiện bằng thước đo tiền
tệ, tức là doanh nghiệp bán các của cải dịch vụ (đầu ra) để thu
về những nguồn tài chính (tiền mặt, ngoại tệ, séc, giấy báo nợ của khách hàng,…) Doanh nghiệp thương mại sử dụng doanh thu bán hàng để:
Để dự trữ
Được phân phối
Tiêu dùng trung gian
Giá trị gia tăng
Trang 28 Thanh toán cho các yếu tố sản xuất đã sử dụng vào quá trình sản xuất
Đóng góp vào các khoản thuế và ngân sách Nhà nước
Trích một khoản hợp lý giành cho hoạt động tương lai
2.2.2 Doanh nghiệp thương mại là một đơn vị phân phối giá trị gia tăng
Sau khi chi trả các khoản cho người cung ứng, phần còn lại của doanh thu bán hàng là giá trị gia tăng doanh nghiệp sử dụng để:
- Trả công cho người lao động
- Nộp thuế và các nghĩa vụ xã hội
- Trả lợi tức tiền vay (các tổ chức tài chính, ngân hàng hoặc cá nhân)
- Chia cho chủ sở hữu (số tiền trích này tùy thuộc vào phần lãi thu được trong quá trình sản xuất kinh doanh)
- Phần còn lại doanh nghiệp dùng để đổi mới tư liệu sản xuất,
đầu tư vào phát triển, mở rộng doanh nghiệp nhằm hy vọng một khả năng sinh lời theo kỳ hạn và trong một thời kỳ nhất định Như vậy, doanh nghiệp thương mại là đơn vị sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng và là một đơn vị phân phối giá trị gia tăng
3 CƠ CHế HOạT ĐộNG CủA DOANH NGHIệP THƯƠNG MạI
3.1 Doanh nghiệp thương mại là một hệ thống
Doanh nghiệp là sự liên kết phức tạp chặt chẽ giữa các bộ phận cũng như các thành viên với nhau hình thành một chỉnh thể thống nhất Để hiểu được đầy đủ sự liên kết cũng như cách thức
mà chỉnh thể này hoạt động cần phải tiếp cận thông qua lý thuyết
hệ thống
Hệ thống là một tập hợp các yếu tố có mối liên hệ logíc nhằm thực hiện một mục tiêu chung Thuật ngữ “hệ thống” để chỉ một cái gì đó hợp lý, được tổ chức trong một trật tự chính xác Có nhiều
định nghĩa về hệ thống, nhưng định nghĩa sau đây được coi là đầy
đủ nhất:
Trang 29Hệ thống là tập hợp những phần tử có mối liên hệ và quan hệ với nhau, tác động chi phối lên nhau theo luật nhất định để trở thành một chỉnh thể, từ đó làm xuất hiện những thuộc tính mới gọi là “tính trồi” của hệ thống mà từng phần tử riêng biệt không có hoặc có nhưng không đáng kể
Ví dụ: Một máy vi tính cá nhân PC (Personal computer) sẽ
cung cấp được thông tin với một lượng hạn chế và chỉ cho một người, nhưng một hệ thống máy tính PC có thể cung cấp thông tin cho nhiều người trong cùng một lúc
Hệ thống có những đặc điểm cơ bản như: Các phân tử của hệ thống có quan hệ qua lại với nhau: bất kỳ phần tử nào cũng ảnh hưởng đến phần tử còn lại và ngược lại Hoạt động của các phần tử mang tính tương hỗ Hoạt động của các phần tử đều hướng tới một mục tiêu chung của hệ thống làm xuất hiện “tính trồi” của hệ thống
Hệ thống khác với tổng số của từng phần tử, điều này có nghĩa
là 1 + 1 = 2 (nếu chưa là hệ thống), nhưng lại trở thành 1 + 1 >2 (khi kết lại thành một hệ thống) Hệ thống không tồn tại riêng rẽ
mà thường có mối quan hệ với môi trường gọi là môi trường của hệ thống
Khi xem xét doanh nghiệp thương mại như một hệ thống là nhằm tiếp cận nó một cách tổng thể, từ đó hiểu rõ được cơ chế hoạt động của doanh nghiệp thương mại như một chỉnh thể
Trong doanh nghiệp thương mại, phần tử của hệ thống có thể là một yếu tố của kinh doanh (lao động, vốn, trang thiết bị kĩ thuật hàng hóa,…), có thể là một bộ phận…
Doanh nghiệp thương mại là một hệ thống: Bất kỳ một bộ
phận nào của hệ thống cũng tác động đến tổng thể: hàng hoá lên giá, người lao động bị ốm, thiết bị bị hỏng, đều tác động đến hoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp chính là tập hợp các yếu tố sản xuất - kinh doanh được kết hợp lại, mà “tính trồi” của
nó cung cấp được hàng hoá và dịch vụ nhiều hơn so với từng cá nhân, từng bộ phận riêng rẽ của doanh nghiệp cộng lại
Trang 30Doanh nghiệp thương mại là một hệ thống mở: Doanh nghiệp
mua hàng hoá và dịch vụ từ các thị trường đầu vào sau đó bán chúng ở các thị trường đầu ra Như vậy, doanh nghiệp là một hệ thống mở, có mối liên hệ với môi trường kinh doanh, và do vậy hoạt động của doanh nghiệp thương mại phải thích ứng với sự thay
đổi của môi trường
Doanh nghiệp thương mại là một hệ thống mở có mục tiêu và quản lý: Doanh nghiệp thương mại là một hệ thống có các phần tử
có thể theo đuổi những mục tiêu khác nhau: Chủ doanh nghiệp muốn tối đa hoá lợi nhuận; người lao động muốn tiền lương cao; nhà quản lý mong được đề bạt, v.v Tuy nhiên, các phần tử này
đều hợp lực với nhau để thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp và thông qua mục tiêu chung của doanh nghiệp để đạt các mục tiêu riêng của mình và để thực hiện mục tiêu thì đòi hỏi phải
có sự phối hợp và kết hợp các hoạt động, do đó phải có quản lý
Doanh nghiệp thương mại là một hệ thống bao gồm nhiều phân hệ có mối quan hệ qua lại:
+ Nếu căn cứ vào quan hệ quản lý thì doanh nghiệp có hai phân hệ: phân hệ quản lý và phân hệ bị quản lý Phân hệ quản lý tác động lên phân hệ bị quản lý bằng mệnh lệnh, thông tin và các cơ chế quản lý khác, ngược lại phân hệ bị quản lý cũng tác động ngược trở lại đến phân hệ quản lý thông qua phản hồi thông tin + Căn cứ theo chức năng, doanh nghiệp có các phân hệ: chuyên môn kỹ thuật, thương mại, tài chính, quản trị Phân hệ tài chính, quản trị tạo điều kiện để phân hệ thương mại, chuyên môn
kỹ thuật hoạt động, ngược lại phân hệ thương mại, chuyên môn kỹ thuật bù đắp các chi phí Mỗi phân hệ tự tìm những phương tiện nhằm thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp
Doanh nghiệp thương mại là một hệ thống “động”: Doanh
nghiệp thương mại phải thay đổi để thích nghi với môi trường biến
động, trong quá trình hoạt động các phần tử của nó thay đổi cả về lượng, chất làm cho chỉnh thể phát triển cả về quy mô, chất lượng bởi các lực lượng vô hình và hữu hình đó là hoạt động của doanh
Trang 31nghiệp thương mại trong nền kinh tế chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường và sự điều tiết vĩ mô của nhà nước
3.2 Các quy luật kinh tế chủ yếu chi phối hoạt động của doanh nghiệp thương mại
Nền kinh tế nước ta vận hành theo “cơ chế thị trường có sự
điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
do vậy, doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thương mại nói riêng đều chịu chi phối bởi:
Một là: Các quy luật của kinh tế thị trường mà tập chung là
quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh
Hai là: Sự điều tiết của Nhà nước thông qua hệ thống luật
pháp, chính sách và đòn bẩy kinh tế v.v
Doanh nghiệp thương mại chịu sự tác động của rất nhiều các quy luật kinh tế, tuy nhiên có 3 quy luật đặc trưng của kinh tế thị trường đóng vai trò quyết định đối với cơ chế hoạt động của nó: (1) Quy luật giá trị; (2) Quy luật cung cầu; (3) Quy luật cạnh tranh
3.2.1 Quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá Quy luật này yêu cầu sản xuất và trao đổi dựa trên cơ sở lượng giá trị của hàng hoá và thời gian lao động xã hội cần thiết Sản phẩm được trao đổi trên nguyên tắc ngang giá Quy luật giá trị có tác dụng điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá, kích thích lực lượng sản xuất phát triển, thực hiện sự bình tuyển
tự nhiên Quy luật giá trị tác động đến hoạt động của doanh nghiệp theo kiểu “bàn tay vô hình” Doanh nghiệp thương mại cần nhận thức khách quan, đúng đắn đối với quy luật giá trị đồng thời phát hiện sự tác động đặc thù của quy luật trên từng thị trường cụ thể để từ đó có những chính sách đầu tư kinh doanh “thuận” theo quy luật nhằm tránh những tổn thất không cần thiết cũng như thu được lợi nhuận tối đa Doanh nghiệp thương mại cũng cần cải tiến phương thức kinh doanh, tổ chức lao động khoa học theo hướng giảm chi phí cá biệt để có thể giảm giá tăng sức cạnh tranh trên thị trường Vận dụng quy luật giá trị doanh nghiệp thương
Trang 32mại cũng cần phải tránh xu hướng sùng bái quy luật cũng như vận dụng quy luật giá trị trong sự tương tác các quy luật kinh tế khác trong khuôn khổ luật pháp của Nhà nước
3.2.2 Quy luật cung cầu
Cung và cầu là hai phạm trù kinh tế quan trọng của nền kinh
tế thị trường Cung và cầu không tồn tại độc lập mà có quan hệ biện chứng với nhau: Cầu làm xuất hiện cung, cung thúc đẩy cầu Người ta có thể nhận biết cung qua cầu và ngược lại Quan hệ cung cầu là quan hệ bản chất lặp đi lặp lại của kinh tế thị trường
Nó trở thành quy luật kinh tế cơ bản của nền kinh tế thị trường Theo quy luật cung cầu nếu cung lớn hơn cầu thì giá sẽ giảm kéo theo cung giảm và cầu tăng, ngược lại nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá sẽ tăng làm cho cung tăng và cầu giảm, giá cả sẽ cân bằng ổn
định khi cung ăn khớp với cầu Doanh nghiệp thương mại cần nắm bắt chính xác quan hệ cung cầu để kinh doanh những mặt hàng vừa đáp ứng được nhu cầu vừa thu được lợi nhuận cao Trong khi vận dụng quy luật cung cầu cần lưu ý rằng trong điều kiện ngày nay cầu có xu hướng quyết định cung, “Bán cái gì thị trường cần không phải bán cái DN có” tuy nhiên không quá nặng
về vai trò của cầu mà xem nhẹ vai trò của cung Doanh nghiệp thương mại cũng phải nắm bắt tín hiệu của thị trường thông qua
sự vận động của cung cầu và giá cả để từ đó đưa ra các quyết định thương mại, tránh rủi ro và tổn thất trong tương lai đồng thời tăng khả năng thành công trên thương trường
3.2.3 Quy luật cạnh tranh
Tự do kinh doanh là nguồn gốc dẫn tới cạnh tranh Cạnh tranh là quy luật của kinh tế thị trường, nó là động lực thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá phát triển Cạnh tranh trên thị
trường rất đa dạng và phức tạp, giữa những chủ thể có lợi ích và
chủ thể có lợi ích đối lập nhau: cạnh tranh giữa các nhà sản xuất,
giữa những người bán, giữa những người mua, giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp nước ngoài, v.v Các doanh nghiệp thương mại cần phải nhận thức đúng đắn về cạnh tranh để một mặt chấp nhận cạnh tranh theo khía cạnh tích cực để từ đó luôn
Trang 33phát huy nội lực nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, mặt khác cạnh tranh bất hợp pháp dẫn đến làm tổn hại lợi ích của cộng đồng cũng như làm suy yếu chính mình Doanh nghiệp thương mại do tính đặc thù phải chịu sự cạnh tranh quyết liệt hơn
so với loại hình doanh nghiệp khác
3.3 Sự điều tiết của Nhà nước đối với doanh nghiệp thương mại
Doanh nghiệp không chỉ chịu sự tác động của cơ chế thị trường mà còn phải chịu sự quản lý điều tiết của Nhà nước Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước luôn là vấn đề cốt lõi của các quốc gia, đồng thời là một chủ đề lớn trong các cuộc tranh luận
ở nhiều nước Nhà nước xem doanh nghiệp như là đối tượng của quản lý và cũng là đối tác Nhà nước là người cầm lái các doanh nghiệp là người chèo thuyền Nhà nước quản lý điều tiết các doanh nghiệp bằng hệ thống luật pháp và các công cụ vĩ mô nhằm hướng nền kinh tế phát triển theo mục tiêu đã xác định
3.3.1 Hệ thống pháp luật
Nhà nước ban hành các đạo luật nhằm tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động và đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật của mọi loại hình doanh nghiệp Ở Việt Nam, Nhà nước đã ban hành một loạt các luật liên quan đến quy chế hoạt động của doanh nghiệp như: Luật Thuế xuất nhập khẩu (1990), Luật Phá sản doanh nghiệp (1993); Luật Thương mại (1996), Luật Doanh nghiệp (2000); Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003) v.v Bên cạnh các luật được ban hành, Chính phủ còn có các Nghị định, Thông tư (các văn bản dưới luật) nhằm cụ thể hóa các điều luật
để doanh nghiệp thuận lợi trong việc áp dụng Nhà nước quy
định rõ địa vị pháp lý của các doanh nghiệp, đảm bảo sự tự do kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như quy định các nghĩa
vụ của doanh nghiệp
3.3.2 Chính sách, công cụ điều tiết vĩ mô
Trong từng giai đoạn cụ thể, Nhà nước sẽ ban hành các chính sách vĩ mô (chính sách thương mại, chính sách lao động và tiền
Trang 34lương, chính sách tài chính, tín dụng, chính sách đầu tư…) để
điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp sao cho phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội của quốc gia trong giai đoạn đó Thông qua các công cụ như: thuế, lãi suất, hạn ngạch Nhà nước sẽ khuyến khích hoặc hạn chế một số lĩnh vực kinh doanh, một số hàng hoá
và dịch vụ nhất định
Thông qua chính sách nói chung và chính sách phát triển thương mại nói riêng, Nhà nước có thể khuyến khích hoặc hạn chế các hoạt động thương mại theo các mục tiêu kinh tế - xã hội của
đất nước Chẳng hạn, Chính phủ có thể ban hành các Thông tư nhằm hướng dẫn, chỉ đạo điều hành công tác xuất nhập khẩu để
đảm bảo cho các doanh nghiệp thực hiện xuất nhập khẩu đúng hướng, thuận lợi
Như vậy, doanh nghiệp thương mại cần phải nắm vững và tuân thủ luật pháp và chính sách của Nhà nước, không được vi phạm pháp luật và trốn tránh các nghĩa vụ phải đóng góp theo luật định Bên cạnh đó, một nhiệm vụ rất quan trọng đặt ra cho các nhà quản lý doanh nghiệp là cần dự báo những thay đổi trong các chính sách công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước như: thuế lãi suất, tỷ giá hối đoái để có những biện pháp thích ứng kịp thời
4 CáC LOạI HìNH DOANH NGHIệP THƯƠNG MạI
Các nhà kinh doanh có thể lựa chọn các loại hình tổ chức doanh nghiệp sao cho phù hợp với khả năng cũng như mục tiêu của họ Tuy nhiên, khi lựa chọn loại hình doanh nghiệp các nhà kinh doanh phải tính tới các yếu tố sau:
- Loại hình kinh doanh;
- Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp;
- Vốn;
- Rủi ro và sự chấp nhận rủi ro;
- Mong muốn của chủ doanh nghiệp đối với việc quản lý kiểm soát doanh nghiệp;
Trang 35- Sự phân chia lợi nhuận;
- Thời gian tồn tại của doanh nghiệp;
- Những giới hạn pháp lý do các quy định của Nhà nước Trong lĩnh vực thương mại, các doanh nghiệp được phân loại thành nhiều nhóm khác nhau tùy theo góc độ xem xét:
- Căn cứ vào hình thức sở hữu: Doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, doanh nghiệp đồng sở hữu
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp cá thể do một chủ đầu tư vốn Người chủ đồng thời là người trực tiếp kinh doanh Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm 100% vốn Doanh nghiệp đồng sở hữu có sở hữu chủ là các cổ đông, những người hùn vốn (các sở hữu chủ) có thể trực tiếp kinh doanh cũng có thể chỉ là người đầu tư vốn nhằm thu lợi nhuận do doanh nghiệp tạo ra
- Căn cứ theo trách nhiệm pháp lý có: doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn Doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn bao gồm: doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
Đối với những doanh nghiệp này chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm
có hạn định trước hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, đối với doanh nghiệp này sở hữu chủ chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Căn cứ theo quy mô có: Doanh nghiệp thương mại được chia thành: Doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ Tiêu thức để phân định quy mô của doanh nghiệp chủ yếu dựa vào vốn hoặc lao
động Ở Việt Nam, doanh nghiệp được coi là lớn khi có tổng vốn
đầu tư trên 10 tỷ đồng hoặc có lượng lao động từ 300 người trở lên Những doanh nghiệp có tổng vốn đầu tư không vượt quá 10 tỷ đồng hoặc không nhiều hơn 300 lao động được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 36Một số doanh nghiệp thương mại tiêu biểu ở Việt Nam hiện nay bao gồm: (1) Doanh nghiệp tư nhân, (2) Công ty TNHH, (3) Công ty cổ phần, (4) Doanh nghiệp Nhà nước, (5) Hợp tác xã mua bán, (6) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
4.1 Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân: Loại hình doanh nghiệp ra đời sớm nhất và đơn giản nhất Doanh nghiệp tư nhân là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
* Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân:
Tất cả các tư liệu sản xuất và vốn kinh doanh đều thuộc sở hữu cá nhân
- Chủ thể kinh doanh là một cá nhân, tác nhân kinh doanh
- Chủ thể kinh doanh hoàn toàn tự chủ trong hoạt động kinh doanh theo pháp luật
Dễ thành lập: Thủ tục thành lập rất dễ dàng, chỉ cần chủ doanh nghiệp có ý định thành lập làm đơn xin phép UBND quận, huyện Đồng thời thủ tục giải thể doanh nghiệp tư nhân rất dễ dàng
Chi phí thành lập thấp: Chỉ cần chấp hành đầy đủ một số yêu cầu là có thể được thành lập
Trang 37Tiết kiệm thuế: doanh nghiệp tư nhân nộp thuế như thuế thu nhập cá nhân của chủ sở hữu
Giữ bí mật: Chủ doanh nghiệp không phải chia sẻ kinh nghiệm, bí quyết kỹ thuật, lỗ, lãi…
Hình 1.3
Doanh nghiệp tư nhân cũng gặp một số bất lợi: Chịu trách nhiệm vô hạn, chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm vô thời hạn với các khoản nợ của doanh nghiệp, có nghĩa là phải thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp bằng cả tài sản cá nhân như: nhà cửa, ôtô,… Điều này làm cho chủ doanh nghiệp không chấp nhận mạo hiểm
- Giới hạn sinh tồn: Doanh nghiệp tư nhân không bền vững,
nó phụ thuộc vào một số cá nhân chủ sở hữu, trường hợp chủ doanh nghiệp bị ốm chết, tai nạn, mất trí,… doanh nghiệp được coi là giải thể
- Hạn chế nguồn vốn: Nguồn vốn từ một cá nhân thường hạn chế và việc huy động từ các tổ chức tài chính khó khăn do không
có tài sản thế chấp và uy tín tài chính thấp
Kỹ năng quản lý bị hạn chế: Chủ doanh nghiệp phải chăm lo mọi việc nên khó có thể chuyên môn hoá trong việc quản lý hay thuê người giỏi điều hành
Trách nhiệm vô hạn
Doanh nghiệp tư nhân
Trang 38Những thuận lợi và bất lợi của doanh nghiệp tư nhân được tóm tắt như ở hình 1.3
Trong trường hợp muốn mở rộng hoạt động kinh doanh chủ doanh nghiệp phải cộng tác với những người khác để thành lập công ty
4.2 Công ty TNHH
Công ty TNHH là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình góp vào công ty
Đặc điểm của công ty TNHH:
- Phần vốn góp của tất cả các thành viên phải được đóng góp
đầy đủ ngay khi thành lập công ty Các phần vốn góp được ghi rõ trong điều lệ công ty Công ty không được phép phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào
- Việc chuyển nhượng phần vốn góp giữa các thành viên được chuyển nhượng tự do Việc chuyển nhượng phần vốn góp cho người không phải là thành viên phải được sự nhất trí của nhóm thành viên đại diện cho ít nhất là 3/4 số vốn điều lệ của công ty
- Chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của công ty
Ưu điểm của công ty TNHH:
- Trách nhiệm pháp lý hữu hạn: Các thành viên chỉ chịu trách nhiệm đối với khoản nợ của công ty trong phạm vi vốn góp
- Nguồn vốn dồi dào hơn: Do có nhiều chủ sở hữu nên vốn sẽ nhiều hơn doanh nghiệp tư nhân Các định chế tài chính cũng dễ cho vay tiền hơn
- Kỹ năng quản lý công ty TNHH tốt hơn doanh nghiệp tư nhân: Do có nhiều chủ sở hữu nên phát huy được sức mạnh tập thể đồng thời có thể thuê mướn các quản trị gia điều hành công ty
- Khả năng tăng cường và phát triển mạnh hơn doanh nghiệp tư nhân: Do có sự chung sức của nhiều chủ sở hữu nên khả năng
Trang 39phát triển của công ty TNHH sẽ sáng sủa hơn nhiều so với doanh nghiệp tư nhân
- Dễ xảy ra bất đồng: nếu một thành viên có ý kiến khác, nó có thể dẫn đến nguy cơ tan vỡ công ty Mặt khác các thành viên có thể mang các mục tiêu khác nhau trong từng giai đoạn, điều này cũng dễ gây mâu thuẫn Để khắc phục những bất lợi trên các nhà kinh doanh sẽ lựa chọn công ty cổ phần
Hình 1.4
4.3 Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình góp vào công ty
Trang 40- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác
- Có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy
định của pháp luật về chứng khoán
- Số thành viên (cổ đông) mà công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là bảy Cổ đông là những người sở hữu cổ phần của công ty
Những ưu điểm của công ty cổ phần:
- Chịu trách nhiệm hữu hạn Đây là một ưu điểm lớn nhất của công ty cổ phần Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi
số cổ phần của mình mà thôi
- Bền vững: Công ty cổ phần tồn tại bất kể cổ đông thay đổi như thế nào, vì vậy nếu nó hoạt động hiệu quả thì có thể tồn tại lâu dài Chủ sở hữu (cổ đông) có thể dễ dàng thay đổi quyền sở hữu bằng cách bán số cổ phiếu họ có
- Áp dụng các kỹ năng quản lý ở trình độ cao: do tách rời quyền sở hữu và kiểm soát nên công ty cổ phần có thể thuê các chuyên gia quản lý có trình độ cao điều hành
- Dễ huy động vốn, công ty có thể phát hành cổ phiếu để tăng vốn đầu tư khi cần thiết: vì mua cổ phiếu rất hấp dẫn các nhà đầu tư do họ không phải chịu trách nhiệm liên đới đối với hành vi và
nợ của công ty, đồng thời chuyển nhượng cổ phiếu lại dễ dàng Công ty cổ phần thường có thể phát triển trên quy mô lớn do khả năng vay nợ cũng thuận lợi hơn
Nhược điểm của công ty cổ phần:
- Chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước: Công ty cổ phần phải tuân thủ các quy định của Nhà nước do việc nó phát hành
cổ phiếu ra công chúng Chế độ sổ sách phải chặt chẽ và công bố công khai