Vai trò của thị trường tài chính và hoạt động của thị trường tài chính việt nam
Trang 1o0o – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – o0o
“Vai trò Thị trường tài chính và hoạt động của thị trường tài chính Việt Nam
Trang 2I, Thị trường tài chính
1 Khái niệm……… 3
2 Đặc điểm………3
3 Phân loại……….3
4 Chức năng……… 4
5 Vai trò………5
B, Hoạt động của thị trường tài chính Việt Nam hiện nay I, Thị trường tiền tệ 1 Tín phiếu kho bạc……… 7
2 Tiền gửi ngân hàng……… 14
3 Thương phiếu……… 17
II, Thị trường vốn 1. Trái phiếu Kho bạc……… 23
2. Cổ phiếu……… 28
3. Kì phiếu ngân hàng……… 39
III, Đánh giá hoạt động thị trường tài chính Việt Nam hiện nay, nguyên nhân và giải pháp……… 42
Trang 3Vai trò của thị trường tài chính và hoạt động của Thị trường tài chính Việt Nam hiện nay.
A, Tổng quan về thị trường tài chính, Phân tích vai trò của Thị trường tài chính
I, Thị trường tài chính
1, Khái niệm:
TTTC là nơi diễn ra các hoạt động mua bán trao đổi các loại công
cụ tài chính giữa các chủ thể trong nền kinh tế
2, Đặc điểm:
- các công cụ tài chính là hàng hóa của thị trường
- tuân theo quy luật cung cầu
- chủ thể gồm người cho vay và người đi vay
- theo phương thức tổ chức + thị trường tập trung
+thị trường phi tập trung
4, chức năng
Trang 4Thị trường tài chính thực hiện chức năng vô cùng quan trọng trong nền kinh tế, đó là luân chuyển đồng vốn từ nhà đầu tư đến nhà sản xuất, thông qua hai con đường là tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp.
-thực hiện tài chính trực tiếp qua các kênh tài chính trực tiếp là kênh
mà các chủ thể thừa vốn trực tiếp chuyển vốn cho các chủ thể thiếu vốn, bằng cách mua các tài sản tài chính trực tiếp từ người phát hành Trong trường hợp này, luồng tiền được vận động thẳng từ người thừa vốn đến người thiếu vốn Hoạt động này có thể được nhận thấy rõ ràng nhất thông qua mua bán cổ phiếu hoặc giấy tờ có giá trên thị trường chứng khoán
- tài chính gián tiếp thông qua các trung gian tài chính như các Ngân hàng, các định chế tài chính phi Ngân hàng và các tổ chức trung gian khác Các tổ chức tín dụng mà cụ thể là các Ngân hàng thương mại với vai trò là người huy động vốn rồi đem cho vay Còn những trung gian tài chính, thực hiện việc kinh doanh chuyển vốn từ người dư vốn sang người cần vốn, bằng việc đặt một lãi suất cao hơn cho các món cho vay so với lãi suất của các món mà họ đi vay để thu lợi nhuận Tuy nhiên, thông qua hoạt động của các trung gian tài chính, lãi suất hay còn gọi là giá của tiền tệ được hình thành trên cơ sở cung cầu của thị trường và nhờ đó, các hoạt động tài chính gián tiếp được vận hành trên thị trường tài chính
Trang 55, Vai trò
Thực hiện tốt chức năng của nó,thị trường tài chính là bộ phận quan trọng bậc nhất, chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế , từ đó góp phần thúc đấy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia
Trước hết, thị trường tài chính giúp khơi thông các nguồn vốn và dẫn
vốn để đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế xã hội Ví thị trường tài chính
như hệ thống kênh rạch của quốc gia thì nó có vai trò luân chuyển, lưu thôngdòng nước Để thực hiện được chức năng này, thị trường phải tạo ra các kênh huy động vốn từ nơi thừa, như: cá nhân, hộ gia đình, các đơn vị kinh
tế, tổ chức đoàn thể xã hội, Chính phủ, ở trong và ngoài nước để chuyển sang các nhà đầu tư thiếu vốn, như: các đơn vị kinh tế, Chính phủ, cá nhân,
hộ gia đình.Hơn thế, nó thúc đẩy việc tích lũy và tập trung vốn để đáp ứng
nhu cầu vốn xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế Giải pháp cho
những nhu cầu vốn để xây dựng và chi tiêu nằm ngoài ngân sách chính là thông qua thị trường tài chính với các kênh huy động vốn đa dạng như phát hành trái phiếu, cổ phiếu, …nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu vốn cả mặt thời gian và số lượng
Thứ hai của thị trường tài chính là kích thích tiết kiệm và đầu tư,nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Thị trường tạo ra sân chơi, để những người có
tiền nhàn rỗi có cơ hội đầu tư như nhau và được tự do tham gia vào thị trường để tìm kiếm những nơi đầu tư có suất sinh lợi cao nhất, tạo thành thóiquen tích lũy tiền tệ một cách thường xuyên hơn, là một nguồn đầu vào không thể thiếu của thị trường Nếu thị trường không kích thích được người dân tích lũy và tham gia vào thị trường như là một kênh dẫn vốn cho nền kinh tế thì thị trường đó sẽ không thể hoạt động tốt Đồng thời, nhà đầu tư trên thị trường khi tìm kiếm nguồn vốn tài trợ cho các hoạt động đầu tư phải nhận thức được việc sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất, có hiệu suất sử dụng đồng vốn cao nhất để bảo toàn vốn, sinh lời và tích lũy Từ đó, nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, kích thích đổi mới, áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để tăng hiệu quả đầu tư,góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hôi
Thứ ba, thị trường tài chính sẽ là nơi định giá tài sản tài chính, phân phối vốn trên thị trường theo tín hiệu của thị trường, làm gia tăng tính thanh khoản cho các tài sản tài chính Tính thanh khoản là tính chất dễ dàng
chuyển hóa các tài sản tài chính thành tiền mặt và được thực hiện ở thị trường thứ cấp, là thị trường mua bán, giao dịch cổ phiếu và các giấy tờ có giá đã phát hành trên thị trường sơ cấp Tính thanh khoản ở thị trường tài chính càng cao thì càng thu hút nhiều chủ thể tham gia vào thị trường và giúp chủ sở hữu các tài sản tài chính dễ dàng chuyển đổi danh mục đầu tư
Trang 6theo yêu cầu Do đó, mỗi thị trường khác nhau có tính thanh khoản khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển các định chế tài chính của thị trường
ấy Nếu các cơ chế của thị trường thông thoáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các công cụ tài chính lưu thông thông suốt
Hoạt động của thị trường tài chính cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách mở cửa,cải cách nền kinh tế của chính phủ
Qua thị trường tài chính, việc phát hành trái phiếu, bán cổ phần tạo điều kiệnthu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất kinh doanh dịch vụ trong nước Thị trường tài chính là thước đo hiệu quả các hoạt động kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Bên cạnh vai trò với cả nền kinh tế thì thị trường tài chính còn đem lại hiệu quả kinh tế cho từng cá nhân, đó là những lợi ích từ việc giúp họ lựa chọn kênh đầu tư hiệu quả từ những đồng tiền nhàn rỗi, hay đơn giản là từ việc giúp người dân biết lựa chọn thời điểm cho việc mua sắm
Như vậy, thị trường tài chính không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế mà thông qua các hoạt động hữu hiệu và đa dạng, nó còn tác động tích cực đến đời sống xã hội, ( mức sống người dân được cải thiện, tăng quỹ phúc lợi xã hội đảm bảo an sinh xã hội…)
B, Hoạt động của thị trường tài chính Việt Nam
I, Thị trường tiền tệ :
1.Tín phiếu kho bạc
1.1 Định nghĩa: tín phiếu kho bạc là công cụ vay nợ trong ngắn hạn của chính phủ, được chính phủ ủy nhiệm cho kho bạc nhà nước phát hành nhằm huy động vốn để bù đắp sự thiếu hụt tạp thời của ngân sách nhà nước (tại Việt nam, tính phiếu kho bạc do bộ tài chính phát hành) Tín phiếu kho bạc thường có kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, hay 9 tháng với một hay nhiều mức mệnh giá Tín phiếu kho bạc thường được coi là không có rủi ro tín dụng( rủi ro phá sản)
1.2 Đặc điểm của tín phiếu kho bạc
Trang 7Tín phiếu kho bạc là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn dưới 01năm do Kho bạc Nhà nước phát hành nhằm phát triển thị trườngtiền tệ và huy động vốn để bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sáchnhà nước trong năm tài chính (theo điều 8- nghị định141/2003NĐCP)
Nêu : tính rủi ro thấp, tính thanh khoản cao
Ph
ương thức phát hành
+ Tín phiếu kho bạc được phát hành theo phương thức đấu thầu.+ Khối lượng và lãi suất tín phiếu kho bạc hình thành qua kết quảđấu thầu.( theo điều 19, nghị định 141/2003 NDCP)
+ Bộ Tài chính có thể ủy thác cho Ngân hàng Nhà nước, ngânhàng thương mại nhà nước phát hành, thanh toán tín phiếu khobạc
- Đối tượng được tham gia đấu thầu tín phiếu kho bạc
+ Các tổ chức tín dụng hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng.+ Các công ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm, quỹ đầu tư hoạt động hợppháp tại Việt Nam; các chi nhánh quỹ đầu tư nước ngoài tại ViệtNam (điều 20, nghị đinh 141/2003 NDCP)
+ Trường hợp các đối tượng quy định tại khoản 1, 2 Điều nàykhông mua hết khối lượng tín phiếu kho bạc của đợt phát hành thìNgân hàng Nhà nước được mua phần còn lại
+ Toàn bộ khoản vay từ tín phiếu kho bạc được tập trung vàongân sách trung ương để sử dụng theo quy định của Luật Ngânsách Nhà nước
+ Ngân sách trung ương bảo đảm nguồn thanh toán gốc, lãi tínphiếu kho bạc khi đến hạn và chi phí tổ chức phát hành, thanhtoán cho tổ chức nhận ủy thác phát hành
đấu thầu tín phiếu đưa ra mức lãi suất dự thầu của mình đểchủ thể phát hành lựa chọn mức lãi suất trúng thầu
Trang 8 Đấu thầu không cạnh tranh lãi suất: là việc các tổ chức thamgia đấu thầu không đưa ra mức lãi suất dự thầu mà đăng kímua tín phiếu theo mức lãi suất trúng thầu đước xác địnhtheo kết quả đấu thầu cạnh tranh lãi suất.
mà theo đó, muwac slaij suất phát hành tín phiếu là mức lãisuất trúng thầu cao nhất và được áp dụng chung cho cácthành viên trúng thầu
mà theo đó, mức lãi suất phát hành tín phiếu đối mới mỗithành viên trúng thầu đúng bằng mức lãi suất dự thầu củathành viên đó
thời điểm làm căn cứ để xác định ngày tín phiếu hết hạn
tiền mua tin phiếu cho chủ thể phát hành
kí xác định danh sách chủ sở hữu tín phiếu để thanh toán tínphiếu
1.3 Hoạt động của tín phiếu kho bạc hiện nay
vừa quaTính chung từ năm 2000 đến 2011, ngân hàng đã huy động được
146, 342 tỷ đồng, chiếm 36% tổng khối lượng phát hành TPCP nóichung Đây là một tỷ lệ khá cao so với các loại TPCP có kì hạn khác Chẳng hạn như TPCP kì hạn 2 năm tỷ lệ là 15,2%, TPCP kì hạn 5 năm là 28% … Tuy nhiên thời gian vừa qua, nhất là thời điểm năm 2010 trở lại đây, khối lượng trúng thầu tín phiếu giảm dần, thậm chí có phiên không có thành viên nào tham gia Dù lãi suất chào mời ở mức cao nhưng thị trường vẫn yên ắng và lượng tiền thu được quá khiêm tốn so với lượng tiền thu được từ các kênhhuy động vốn khác
Trang 9Với 6 tháng đầu năm 2011, sở Giao dịch NHNN phối hợp với kho
bạc nhà nước đã tổ chức được 21 phiên, kì hạn phát hành là 354
này nhưng số tiền huy động chỉ là 2.150 tỷ đồng đây là kết quả rất
thấp với các năm trước đây Cụ thể, năm 2010 huy động được
8.350 tỷ đồng, năm 2009 là 10.714 tỷ đồng và năm 2008 là 20.730
tỷ đồng
Bảng1 thống kê: Lượng tiền huy động từ đấu thầu tín phiếu từ
năm 2008 đến nửa đầu năm 2011:
Xét Kết quả đấu thấu tín phiếu 6 tháng đầu năm 2011
viên dự thầu
Số thành viên trúng thầu
Khối lượng
dự kiến
Khối lượng trúng thầu
Tỷ lệ trúng thầu/ dự kiến
Trang 10Từ bảng này để so sanh với biểu đồ 6 tháng đầu năm 2012
Trang 11+ Từ ngày 15/3- 13/6 NHNN đã hút về 106.939 tỷ đồng thông quaviệc phát hành tín phiếu kì 28 ngày , 91 ngày và 182 ngày
chứa rủi ro là lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh ( lãi suất qua đêm đã có thời điểm giảm về mức 0,95%/năm) Không chỉ vậy, tín phiếu còn là phương tiện giúp NHTM cầm cố để vốn ngắn hạn khi cần thiết
( trích: Báo cáo trái phiếu chính phủ 6 tháng đầu năm)
Trang 12 Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) khai trương thị trườnggiao dịch tín phiếu thứ cấp vào sáng 24/8
trên một thị trường, hình thành nên bức tranh tổng thể về tìnhhình giao dịch thứ cấp của trái phiếu Chính phủ
Để chuẩn bị cho phiên giao dịch tín phiếu thứ cấp đầu tiên,
+ Đã có 1.000 tỷ đồng tín phiếu đã được đăng ký lưu ký tại Trungtâm Lưu ký chứng khoán, niêm yết tại HNX
+ Có gần 60 tỷ đồng tín phiếu được chuyển nhượng trên hệ thốnggiao dịch thứ cấp tại HNX
tỷ đồng, tương đương 14% GDP năm 2011 So với tiềm năng, thịtrường trái phiếu có khả năng sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới
=>> HNX cho biết, sau khi đưa tín phiếu kho bạc vào niêm yết và giao dịch,HNX sẽ hoàn thiện đường cong lợi suất và giới thiệu một số kết quả nghiêncứu công cụ chỉ báo thị trường, các sản phẩm phái sinh để tạo thêm nhiềulựa chọn cho nhà đầu tư
Xem về thông báo đấu thầu tín phiếu Kho bạc :
Trang 13Thông báo đấu thầu tín phiếu Kho bạc đợt 28/2012 (Mã tín phiếu:
TPKB12009), ngày đấu thầu: 10/09/2012
Thực hiện nhiệm vụ huy động vốn năm 2012, Kho bạc Nhà nước thông báonội dung dự kiến phát hành tín phiếu Kho bạc theo phương thức đấu thầu đợt28/2012 như sau:
6 Ngày thanh toán tiền mua tín phiếu: 11/09/2012
7 Ngày đến hạn thanh toán tín phiếu: 10/09/2013
8 Hình thức đấu thầu tín phiếu: Đấu thầu kết hợp cạnh tranh lãi suất vàkhông cạnh tranh lãi suất Khối lượng tín phiếu đấu thầu không cạnh tranhlãi suất không vượt quá 30% tổng khối lượng gọi thầu
9 Phương thức xác định kết quả đấu thầu: Đấu thầu đơn giá
10 Hình thức bán tín phiếu: Tín phiếu bán thấp hơn mệnh giá
11 Phương thức thanh toán gốc: Tiền gốc tín phiếu được thanh toán một lầnkhi đến hạn
12 Tín phiếu phát hành dưới hình thức ghi sổ, được đăng ký, lưu ký tạiTrung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam và niêm yết tại Sở Giao dịchChứng khoán Hà Nội
13 Các đơn vị trúng thầu chuyển tiền mua tín phiếu vào tài khoản tiền đồngViệt Nam, tài khoản số: 4411.00.01 của Kho bạc Nhà nước mở tại Sở Giaodịch Ngân hàng Nhà nước theo quy định
Kho bạc Nhà nước trân trọng thông báo./
2 Tiền gửi ngân hàng
Trang 14 Năm 2008:
Theo số liệu thông kê từ NHNN cho thấy, năm 2008, dư nợ cho vay trung dài hạn trên tổng dư nợ của các ngân hàng là khoảng 40%, trong khi nguồn vốn huy động trung dài hạn của các ngân hàng từ dân cư trung bình chỉ khoảng 11%
Không còn “đỉnh” lãi suất huy động VND ở mức 10,3%/năm nhưng mặt bằng lãi suất tiết kiệm trong thời điểm năm 2009 được các ngân hàng thươngmại đẩy lên khá cao, nhằm “hút” người gửi tiền
Nhưng theo thừa nhận của cán bộ một ngân hàng lớn, dù lãi suất cao nhưng việc thu hút tiền gửi khá khó khăn Trong khi đó, với việc lãi suất cơ bản không thay đổi đã trở thành “bức tường” kìm hãm dòng vốn chảy vào ngân hàng
Nguồn tin tổng hợp từ NHNN cho thấy, ước đến cuối quý 3/2009, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 21,69% so với cuối năm 2008; tín dụng đối với nền kinh tế ước tăng khoảng 28%, trong khi huy động vốn ước chỉ tăng 22,45%
Đi cùng với đó, một số trường hợp vi phạm trần lãi suất đã bị phát hiện và
xử lý nghiêm, cơ chế được làm chặt khiến lãi suất huy động thực tế không còn vượt trên 14%/năm như trước đó Điều này ảnh hưởng nhất định đến huy động vốn của các ngân hàng thương mại, cũng như tác động đến quyết định gửi tiền của khách hàng khi lãi suất không có “cơ hội” cao hơn như trước đó
Và theo dữ liệu Ngân hàng Nhà nước vừa công bố, số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng đến 20/10/2011 ước giảm 0,74% so với tháng trước, và tính chung chỉ ước tăng 8,59% so với cuối năm 2010 Trước đó, tính đến thời điểm 23/9/2011, số dư tiền gửi của hệ thống cũng đã giảm tới 1,07% so với cuối tháng liền trước
Một điểm đáng chú ý trong kết quả huy động tính đến 20/10/2011 so với tháng trước là số dư tiền gửi bằng VND đã giảm mạnh với 1,29%; trong khi
Trang 15đó số dư bằng ngoại tệ lại tăng 1,73% Điểm đáng chú ý trong sự trái chiều này là lãi suất huy động ngoại tệ ở mức rất thấp, riêng với USD đã bị rút trần
từ 1%/năm xuống 0,5%/năm đối với tiền gửi của tổ chức, áp 2%/năm đối vớidân cư Liệu ở đây có sự dịch chuyển dòng vốn tiền gửi hay tình trạng trú ẩnvào ngoại tệ đang thể hiện?
Trong ngày đầu tiên áp dụng trần lãi suất ở mức 9%, các ngân hàng đã hạ lãisuất xuống bằng hoặc dưới mức này Tuy nhiên, với việc bỏ trần lãi suất đối với tiền gửi dài hạn, nhiều ngân hàng đang niêm yết cao hơn mức 9% Và đây cũng là một bước đi để hình thành đường cong lãi suất và tiến tới dỡ bỏ trần lãi suất tiền gửi tối đa đối với tiền đồng trong thời gian tới
NGUYÊN NHÂN:
Lãi suất tiền gửi thấp
Trong lịch sử, Việt Nam đã từng trải qua những giai đoạn lạm phát cao và kéo dài, VND bị mất giá mạnh, người dân càng giữ VND lâu càng bị thiệt hại nặng Người Việt Nam ưa chuộng những tài sản giữ được giá trị qua thờigian như vàng, USD, bất động sản… Mặc dù, các kênh đầu tư này không thường xuyên đem lại lợi nhuận, nhưng khi có “sóng” có thể đem lại mức lợi nhuận lớn, nên người dân sẵn sàng gửi tiền tại ngân hàng với kỳ hạn ngắn, cho dù lãi suất thấp, để còn có cơ hội rút tiền chuyển sang các kênh đầu tư nói trên khi cần thiết
GIẢI PHÁP:
Quản lý lãi suất tiền gửi:
Các cách quản lý lãi suất:
+ Cố định lãi suất: Đây là cách làm cổ điển nhất NH đưa ra thang lãi suất đã lập sẵn để thông báo cho các khách hàng có nhu cầu vay vốn từ NH hoặc gửi tiền cho NH
Trang 16Ưu điểm:
- NH ước tính được khá chính xác lợi nhuận từ mỗi khoản cho vay
- Chủ động tính được mức lãi suất cần đưa ra để huy động tiền gửi và các loại tài sản nợ khác
Nhược điểm:
- NH tự hạn chế khả năng cho vay và đầu tư của mình dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn
- Làm mất đi khả năng thương lượng vốn giữa NH và khách hàng
- Khả năng rủi ro trong cho vay lớn
- Khó đầu tư vào các lĩnh vực mà lãi suất của nó biến động theo thị trường như thị trường chứng khoán
+ Thả nổi lãi suất:
Khi NH thực hiện thả nổi lãi suất, NH quản lý được tài sản và lợi nhuận theohướng thương lượng giữa NH và khách hàng Sẽ có nhiều khách hàng tìm đến với NH hơn và NH sẽ có nhiều cơ hội tạo lợi nhuận hơn
Kiềm chế lạm phát:
- Thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt.
- Cắt giảm đầu tư công và chi phí thường xuyên của các cơ quan sử dụng
ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách.
- Bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu.
Áp dụng nhiều gói dịch vụ chăm sóc khách hàng hấp dẫn:
Các ngân hàng đang cùng lúc thực hiện khá nhiều giải pháp Dễ nhận thấy nhất là các hình thức khuyến mại, quà tặng đến với khách hàng
Mua bảo hiểm tiền gửi:
Trang 17Phải chăng hệ thống ngân hàng của VN cũng nên mua bảo hiểm tiền gửi để tạo uy tín, khiến cho người dân tin tưởng, an tâm hơn khi gửi tiền vào ngân hàng.
3 Thương phiếu :
3.1 Định nghĩa :
Thương phiếu là những phiếu hứa trả của các doanh nghiệp lớn và được bán cho doanh nghiệp khác, các công ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm xã hội hay ngân hàng Mặc dù giá trị thương phiếu lưu hành nhỏ hơn 5% giá trị
ngành kinh doanh
Thương phiếu là những giấy nợ do các doanh nghiệp mua bán chịu cho nhau phát hành ra
3.2 Phân loại:
Thương phiếu tồn tại dưới 2 hình thức là hối phiếu và lệnh phiếu:
° Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người bán chịu lập, yêu cầu người mua chịu trả một số tiền xác định vào một thời gian và ở một địa điểm nhất định cho người thụ hưởng
Căn cứ và thời hạn thanh toán: hối phiếu trả ngay và hối phiếu trả sau
- Hối phiếu trả ngay: Là hối phiếu mà người trả tiền phải thanh toán ngay khi nhìn thấy hối phiếu (thường là sau hai ngày làm việc)
- Hối phiếu trả sau, hối phiếu có kỳ hạn (usance bill) quy định sau một thời gian nhất định (có thể là sau một thời hạn nhất định kể từ ngày ký phát hối
Căn cứ vào chứng từ kèm theo hối phiếu, người ta chia hối phiếu thành hai loại:
+ Hối phiếu trơn: Là hối phiếu mà việc thanh toán tiền trên hối phiếu này không kèm theo chứng từ thương mại Thường được sử dụng để thu cước phí vận tải, đòi nợ cũ
Trang 18+ Hối phiếu kèm chứng từ: Là loại hối phiếu được gửi kèm theo chứng từ thương mại đến người có nghĩa vụ trả tiền.
Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng của hối phiếu, người ta chia hối phiếu thành hai loại:
+ Hối phiếu đích danh: Là loại hối phiếu ghi rõ tên người thụ hưởng, loại hốiphiếu này không thể chuyển nhượng bằng nguyên tắc ký hậu
+ Hối phiếu theo lệnh: Là loại hối phiếu yêu cầu người thanh toán trả tiền theo lệnh của người thụ hưởng hối phiếu Hối phiếu theo lệnh được chuyển nhượng bằng hình thức ký hậu theo luật định
Căn cứ vào chủ thế ký phát hối phiếu chia làm hai loại:
+ Hối phiếu thương mại: Là hối phiếu do người xuất khẩu ký phát đòi tiền người nhập khẩu, liên quan đến nghiệp vụ thanh toán hàng hoá xuất khẩu hoặc cung ứng dịch vụ
+ Hối phiếu Ngân hàng: Là hối phiếu do Ngân hàng phát hành lệnh cho Ngân hàng đại lý của mình thanh toán tiền nhất định cho người thụ hưởng được chỉ định trên hối phiếu ( loại hối phiếu này không thể chuyển
nhượng )
° Lệnh phiếu là chứng chỉ có giá do người mua chịu lập, cam kết trả một số tiền xác định trong một thời gian và ở một địa điểm nhất định cho người thụ hưởng
Như vậy, hối phiếu là lệnh đòi tiền do chủ nợ lập và chỉ sử dụng trong quan
hệ thương mại, còn lệnh phiếu thì do người mua chịu lập, được sử dụng không chỉ trong quan hệ thương mại mà còn trong các quan hệ dân sự khác 3.3 Tính chất:
° tính trừu tượng: Trên thương phiếu không ghi cụ thể nguyên nhân phát sinh khoản nợ mà chỉ ghi các thông tin về số tiền phải trả, thời hạn trả tiền
và người trả tiền
° tính bắt buộc: Qui định người trả tiền phải thanh toán cho người thụ
hưởng đúng hạn, không được phép từ chối hoặc trì hoãn việc trả tiền
Trang 19° tính lưu thông: Thương phiếu được chuyển nhượng từ người thụ hưởng sang người khác bằng phương pháp ký hậu, nó có thể chuyển hoá ra tiền khi mang đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc cầm cố tính chất này khiến thươngphiếu trở thành một loại phương tiện thanh toán thay cho tiền trong thời gianhiệu lực và mệnh giá thương phiếu
3.4 Ích lợi và nhược điểm
Những ích lợi của thương phiếu khi vận dụng vào thực tế:
Có thể kể ra một số lợi ích kinh tế chủ yếu của thương phiếu:
Thứ nhất, nhờ vào tính chất lưu thông, thương phiếu đã trở thành một công
cụ lưu thông tín dụng thay thế tiền mặt, tiết kiệm tiền mặt và góp phần ổn định tiền tệ,
Thứ hai, nó còn là một cơ sở pháp lý trong quan hệ mua bán chịu, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong tín dụng thương mại, loại bỏ được tình trạng
nợ nần dây dưa giữa các doanh nghiệp
Thứ ba, thương phiếu là loại tài sản đảm bảo chắc chắn khi ngân hàng nhận chiết khấu hay nhận cho vay cầm cố Hơn thế nữa, tài sản đảm bảo này lại
có tính thanh khoản cao vì ngân hàng có thể mang đi tái chiết khấu hoặc tái cầm cố tại NHNN để khôi phục nguồn vốn của mình
Thứ tư, thương phiếu bổ sung hàng hoá cho thị trường mở, tạo điều kiện
cho ngân hàng trung ương thực hiện tốt công tác điều hoà khối tiền trong lưuthông
Thứ năm, trong trường hợp người đi vay vốn ngân hàng nhận nợ bằng lệnh phiếu, khi cần thiết, ngân hàng có thể bán khoản nợ này để thu nợ trước hạn bằng cách chuyển nhượng lệnh phiếu cho ngân hàng khác Đây là một giải pháp chứng khoán hoá các khoản cho vay của ngân hàng
Và cuối cùng, thông qua nghiệp vụ bảo lãnh và thu hộ thương phiếu, sẽ giúp ngân hàng tăng thu nhập nhưng không tăng rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình
Tuy nhiên, thương phiếu khi vận dụng vào thực tế cũng có những nhược điểm nhất định như:
Trang 20Nhược điểm thứ nhất, do tính trừu tượng của thương phiếu, sẽ dẫn đến tình trạng hai doanh nghiệp thông đồng nhau lập ra thương phiếu khống (thương phiếu không phát sinh từ quan hệ mua bán chịu) để mang đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc cầm cố Chính điều này đã làm cho cơ sở đảm bảo của thương phiếu là tín dụng hàng hoá không thể tồn tại, số tiền cho vay được ngân hàng phát ra không có cơ sở đảm bảo
Nhược điểm thứ hai, với những nhược điểm sẳn có của tín dụng thương mại,khó có thể mở rộng qui mô (khối lượng) và thời gian mua bán chịu hàng hoátrong trường hợp nhu cầu mua chịu quá lớn và thời gian quá lâu
Nhược điểm thứ ba, quan hệ mua bán chịu này chỉ có thể phát sinh giữa những doanh nghiệp tín nhiệm, có giao dịch thường xuyên với nhau
Tuy vậy, do tín dụng thương mại tồn tại song song với tín dụng ngân hàng nên những khiếm khuyết nêu trên của tín dụng thương mại và của sự vận dụng thương phiếu sẽ giảm đến mức xem như không đáng kể
3.5 Thực trạng
Ở Việt Nam, trong thời kỳ áp dụng cơ chế tập trung, bao cấp, Nhà nước can thiệp rất sâu trong hoạt động kinh tế Các tổ chức kinh tế, công dân chưađược tự do kinh doanh; pháp luật kinh doanh nói chung cũng như pháp luật thương mại chưa được chú trọng Điều này chỉ thật sự được đổi mới và phát triển từ khi Đảng và Nhà nước chuyển hướng phát triển nền kinh tế nước ta theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong hoàn cảnh đó, thương phiếu và pháp luật thương phiếu chỉ được đềcập trong những năm gần đây: Luật Thương mại 1997, Pháp lệnh Thương phiếu được UBTVQH thông qua ngày 24/12/1999, có hiệu lực từ ngày 01/07/2000, và Nghị định số 32/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/7/2001 (sau đây gọi tắt NĐ 32) hướng dẫn chi tiết thi hành Pháp lệnh thương phiếu Tuy nhiên, những văn bản pháp luật vừa nêu, theo chúng tôi, vẫn được coi là chưa đủ để có một môi trường pháp lý thuận tiện cho thương phiếu hoạt động
Những ích lợi kinh tế nêu trên khi đưa thương phiếu vào đời sống kinh tế thì đã quá rõ, thế nhưng trong thời gian qua, thương phiếu và các nghiệp vụ liên
Trang 21quan đến thương phiếu vẫn chưa đi vào đời sống kinh tế ở Việt Nam vì những lý do chủ yếu như sau:
- Hiện nay, pháp luật về thương phiếu được quy định tại Luật Thương mại, Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng, Pháp lệnh Thương phiếu, qua đó đã bước đầu hình thành khung pháp lý cho việc phát hành và
sử dụng thương phiếu, nhưng do việc xây dựng và ban hành khi chưa có thực tiễn nên đã bộc lộ một số bất cập như chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, chưa khả thi, chưa phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế
Vì pháp luật về thương phiếu ở Việt Nam chưa hoàn chỉnh nên luật áp dụng cho quan hệ phát hành, sử dụng thương phiếu trong hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng của các doanh nghiệp Việt Nam thường là Luật Thống nhất về hối phiếu của Công ước Geneva năm 1930 hoặc Luật Hối phiếu 1882 của Vương Quốc Anh, các doanh nghiệp Việt Nam không thể thoả thuận, lựa chọn pháp luật của Việt Nam để điều chỉnh Trong quan hệ mua bán trong nước, các doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa sử dụng thương phiếu làm công cụ thanh toán phổ biến,các ngân hàng thương mại chưa có đủ điều kiện để cho các doanh nghiệp vay vốn dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc có đảm bảo bằng cầm
cố thương phiếu
- Các chủ thể tham gia vào nghiệp vụ thương phiếu (Người bán chịu hàng hoá, người được chuyển nhượng thương phiếu, ngân hàng bảo lãnh…) chưa thật sự có lòng tin đối với thương phiếu và khả năng chuyển hoá ra tiền của thương phiếu khi đến hạn
- Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có những thông tư hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu, chưa ban hành mẫu biểu cụ thể cho thương phiếu để nó có thể trở thành một công cụ lưu thông tín dụng pháp định có thể thay thế cho tiền mặt trong lưu thông
- Pháp lệnh thương phiếu vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng nên tính khả thi vẫn còn kém
3.6 Giải pháp
Những giải pháp để đưa thương phiếu vào đời sống kinh tế ở Việt Nam trong thời gian trước mắt:
Trang 22Giải pháp thứ nhất, nhanh chóng tạo dựng một hành lang pháp lý cho sự tồn tại và cho việc thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu được an toàn và thuận lợi Mặc dù Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh thương phiếu có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2000 và Chính Phủ đã ban hành nghị định 32/2001/NĐ -CP ngày 5.7.2001 hướng dẫn thi hành pháp lệnh trên nhưng vẫn còn nhiều bất cập như chưa rõ ràng, thiếu cụ thể, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế…
Giải pháp thứ hai, tổ chức tuyên truyền, phổ biến, thảo luận về thương phiếu
và ích lợi của thương phiếu đến các doanh nghiệp, là những chủ thể chủ yếu trong quan hệ thương phiếu
Giải pháp thứ ba, nâng cao hiệu lực hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) dể có thể cung cấp chính xác và kịp thời năng lực chi trả, uy tín của các doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán thương phiếu, đảm bảo quyền lợi của người thụ hưởng
Giải pháp thứ tư, trong thời gian đầu Nhà nước cần có những ưu đãi hợp lý cho các doanh nghiệp cũng như các Tổ chức tín dụng có tham gia vào quan
hệ thương phiếu
Và cuối cùng, Ngân hàng Nhà nước phải gấp rút ban hành các thông tư hướng dẫn để các ngân hàng có thể mạnh dạn thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu như bảo lãnh, chiết khấu và cầm cố thương phiếu ngân hàng Nhà nước cũng phải nhanh chóng ban hành mẫu biểu cho thương phiếu, ban hành Luật về các công cụ chuyển nhượng…
Trên đây chỉ là một số giải pháp cơ bản được đưa ra, tuy nhiên, nếu thực hiện được, thì việc đưa thương phiếu vào đời sống kinh tế ở Việt Nam chắc chắn sẽ trở thành hiện thực
II, Thị trường vốn
1 Trái phiếu kho bạc Nhà nước
1.1 Khái niệm và đặc điểm :
1.1.1Khái niệm :
Là công cụ vay nợ trung và dài hạn của Chính phủ , được Chính phủ ủy nhiệm cho kho bạc Nhà nước phát hành nhăm huy động vốn để bù đắp sự thiếu hụt trong cân đối của NSNN
Trang 23Trái phiếu kho bạc được bán lẻ qua hệ thống KBNN hoặc đấu thầu qua thị trường giao dịch chứng khoán, bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành
và lựa chọn các tổ chức, cá nhân mua trái phiếu theo các tiêu chí đã công bố) 1.1.2.Đặc điểm :
-Thời gian : trung và dài hạn ( ví dụ hiện nay nước ta có kì hạn : 2 năm , 3 năm , 5 năm , 10 năm , 15 năm , 30 năm )
-Rủi ro : cao hơn của tín phiếu ( do thời gian đáo hạn dài hơn của tín phiếu kho bạc ) tuy nhiên không đáng kể Trái phiếu chính phủ thường được coi làkhông có rủi ro bởi Chính phủ có thể tăng thuế hoặc in thêm tiền mặt để chi trả trái phiếu đáo hạn Một số ví dụ rất hiếm thấy khi chính phủ không thể thanh toán được nợ đó là cuộc khủng hoảng đồng rúp năm 1998 của Chính phủ Nga
-Tính thanh khoản : thấp hơn tín phiếu
-Chủ thể nắm giữ ( hay chủ thể đầu tư ) : Chủ thể đầu tư chính là những người tham gia mua các loại chứng khoán nợ do Chính phủ phát hành Nếu phân loại theo quy mô, tổ chức của các chủ thể đầu tư thì phân chia thành các nhà đầu tư cá nhân và các nhà đầu tư có tổ chức Thông thường, các nhà đầu tư cá nhân là các hộ gia đình, những người dân có khoản tiền nhàn rỗi, thay vì gửi tiết kiệm vào ngân hàng họ quyết định đầu tư dưới hình thứcmua TPCP Còn các nhà đầu tư có tổ chức là các công ty kinh doanh chứng khoán, tổ chức tài chính, họ là những tổ chức có quy mô, chuyên hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực mua, bán chứng khoán và sử dụng các nguồn vốn kinh doanh của mình để đầu tư vào TPCP, vì đây là lĩnh vực đầu tư khá an toàn, lãi suất TPCP thường ổn định, ít có những biến động lớn
và người phát hành đảm bảo được khả năng thanh toán cao và hệ số tín nhiệm của chủ thể phát hành rất cao
2) Thực trạng phát triển trái phiếu kho bạc của Việt Nam hiện nay :
2.1.Lịch sử phát hành :
- Thứ nhất, phát hành trực tiếp ra công chúng qua hệ thống KBNN : Từ năm 1995, KBNN đã phát hành loại trái phiếu với kỳ hạn từ 1 năm trở lên; trái phiếu được bán lẻ qua hệ thống KBNN Tuy nhiên do thời hạn chỉ có 1 năm nên nếu đứng trên góc độ huy động vốn để đầu tư phát triển thì kỳ hạn này vẫn chưa thích hợp dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn vay không cao Do đó
từ tháng 9/1996 Bộ Tài chính (KBNN) đã phát hành loại TPKB, kỳ hạn 2 năm, có ghi tên và không in trước mệnh giá, bán cho các đối tượng là người Việt Nam và người nước ngoài đang làm việc và sinh sống ở Việt Nam Trong năm 1994, Bộ tài chính (KBNN) đã phát hành loại TPKB, kỳ hạn 3năm, kết quả đã huy động được 880 triệu đồng Trong năm 2001 KBNN đã phát hành thí điểm TPCP theo hình thức chiết khấu tại địa bàn Hà Nội và
Trang 24TP Hồ Chí Minh; trái phiếu chiết khấu có cùng một ngày phát hành
15/06/2001 và cùng một ngày đến hạn thanh toán 15/06/2006; kỳ hạn 5 năm,lãi suất 7,2%/ năm, trái phiếu được phát hành và thanh toán bằng đồng Việt Nam
- Thứ hai, đấu thầu qua TT GDCK ( trung tâm giao dịch chứng khoán ) : Chính phủ đã ban hành Nghị định số 01/2000/NĐ-CP ngày 13/1/2000 về quy chế phát hành TPCP thay thế cho Nghị định số 72/CP Cơ chế này đã cho phép áp dụng phương thức đấu thầu TPCP (trái phiếu kho bạc) qua Trung tâm GDCK và Bảo lãnh Phát hành Tính đến thời điểm 31/12/2004 này số lượng thành viên tham gia tham gia đấu thầu TPKB là 20 đơn vị bao gồm các NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán và Bảo hiểm Xã hội Việt Nam Từ tháng 7/2000 đến ngày 31/12/2004 KBNN ( kho bạc nhà nước ) đã phối hợp với TTGDCK tổ chức được 52 phiên đấu thầu; phương pháp đấu thầu áp dụng theo hình thức cạnh tranh lãi suất trong phạm vi lãi suất trần đãđược quy định; TPKB đấu thầu qua TTGDCK được bán ngang mệnh giá, có
kỳ hạn 5 năm và 7 năm, trả lãi hàng năm, TPKB phát hành dưới hình thức chứng chỉ và ghi sổ và được niêm yết tại TTGDCK Tính 31/12/2004 tổng khối lượng trái phiếu gọi thầu là trên 10.000 tỷ đồng, tổng giá trị trái phiếu trúng thầu là 3.380 tỷ đồng
- Thứ ba, phát hành theo phương thức bảo lãnh : Để thực hiện việc huy động vốn cho NSNN, đa dạng hoá các kênh huy động vốn; bên cạnh áp dụngphương thức đấu thầu TPCP qua TTGDCK; Bộ Tài chính (KBNN) đã áp dụng phát hành TPCP theo phương thức bảo lãnh phát hành, TPCP được phát hành dưới hình thức ghi sổ hoặc chứng chỉ, chứng chỉ trái phiếu không ghi tên và in sẵn mệnh giá mục đích nhằm huy động nguồn vốn trung hạn vàdài hạn cho NSNN Thông qua kênh phát hành này, Bộ Tài chính (KBNN) đã tạo ra được một khối lượng hàng hoá có chất lượng cao đáp ứng đủ các yêu cầu kỹ thuật để được niêm yết và giao dịch tại TTGDCK Tính đến thời điểm 31/12/2004 đã có 23 đơn vị được công nhận là thành viên bảo lãnhphát hành TPCP bao gồm các ngân hàng thương mại và các công ty chứng khoán.Từ năm 2000 đến 31/12/2004 Bộ Tài chính ( Bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ là việc tổ chức bảo lãnh giúp Bộ Tài chính thực hiện các thủtục trước khi phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường , nhận mua trái phiếu Chính phủ để bán lại hoặc mua số trái phiếu Chính phủ còn lại chưa
phát hành là các trái phiếu có kỳ hạn từ 5 năm trở lên do Bộ Tài chính quy định.)
2.2 Lãi suất :