CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP LÀO VÀ MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM – LÀO
Trang 1ĐỀ TÀI: CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP LÀO VÀ
MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM – LÀO
Trang 2BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
3 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
4 GoL Government of Lao PDR Chính sách của chính phủ
development plan Kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội quốc gia
9 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Diện tích: 236,800km2
Dân số: 6,2 triệu người80% người dân sống bằng nghề nôngGDP/người: 910 USD
Quốc gia kém phát triểnTiềm năng thủy điện: 26,000 MWCông suất lắp đặt: 1,804 MW (7%)
Theo thống kê năm 2009
Chính phủ Lào bắt đầu có các chính sách cải cách kinh tế, tập trung khuyến khíchkinh tế tư nhân từ năm 1986 Nhờ có những biện pháp đổi mới này mà tốc độc tăngtrưởng đã đạt 6% kể từ năm 1988 đến 2008 ( một vài năm bị ảnh hưởng cuộckhủng hoảng tài chính Châu Á năm 2007) Năm 2009, GDP Lào đã đạt mức tăngtrưởng 6,5% Mặc dù có tốc độ phát triển kinh tế khá quan, cơ sở vật chất hạ tầngcủa Lào vẫn còn yếu kém, đặc biệt là khu vực nông thôn: hệ thống đường xá cònrất sơ khai, viễn thông, điện còn chưa cung cấp đầy đủ đến các vùng sâu vùng xa.Tính đến năm 2011, Kinh tế Lào vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp với tỷ trọnghơn 27.8% tổng số GDP và là nguồn cung cấp lao động chính (hơn 70%)
Trong nửa cuối 2008 đầu 2009: Lào đã nhận khoảng 560 triệu đôla viện trợ, tỷ lệđói nghèo giảm từ 46% năm 1992 xuống 26% năm 2010 Nhờ có đầu tư nướcngoài trong lĩnh vực nhiệt điện, khai khoáng, xây dựng, nền kinh tế đã có nhữngbước tiến đang kể Lào đã bình thường hóa quan hệ thương mại vào năm 2004 đểchuẩn bị gia nhập Tổ chức kinh tế thế giới WTO Về lĩnh vực tài chính, Lào đang
nỗ lực để đảm bảo thu thuế do kinh tế thế giới có dấu hiệu đi xuống dẫn đến giảmthu nhập trong các dự án khai khoáng Một cơ chế đầu tư đơn giản, mở rộng tíndụng ngân hàng cho tiểu nông và doanh nghiệp nhỏ sẽ góp phần giúp kinh tế Làophát triển tốt Chính phủ cũng cam kết sẽ hỗ trợ các nhà đầu tư Dự kiến năm 2020Lào sẽ không còn nằm trong số các nước kém phát triển nữa
Trang 4Sự cần thiết nghiên cứu đề tài này: Để có sự phát triển bền vững sẽ cần phải có
những điều kiện nhất định Nói chung các nhà kinh tế nhấn mạnh đến vai trò củachính sách kinh tế đặc biệt là chính sách công nghiệp Những đánh giá đúng đắn vềhiệu quả thực hiện chính sách trên lĩnh vực tăng trưởng kinh tế cũng như kinhnghiệm của các quốc gia trên thế giới về tầm quan trọng của chính sách này Đểđạt được điều này chúng ta phải lưu ý tới các ngành công nghiệp truyền thống vàxem xét cách quản lí, khai thác các tài nguyên hợp lí
Mục đích nghiên cứu: Tìn hiểu những yếu tốc tác động đến lĩnh vực công nghiệp
Lào trong những giai đoạn hiện nay, mà biểu hiện của sự ảnh hưởng đó chính làthực trạng của công nghiệp Đồng thời trình bày những chính sách công nghiệp màCHDCND Lào đã thực hiện trong giai đoạn qua, biện pháp khắc phục những mặthạn chế, phát huy các ưu điểm, thế mạnh Đưa ra những định hướng phát triểncông nghiệp Lào trong thời gian tới và khả năng hợp tác Lào – Việt Nam trên lĩnhvực công nghiệp
Phương pháp nghiên cứu: phương pháp thống kê toán và phướng pháp tổng hợp
và phân tích
Đối tượng nghiên cứu: thực trạng và chính sách phát triển công nghiệp Lào trong
giai đoạn hiện nay
Kết cấu đề tài:
Chương I: Một số dặc điểm kinh tế cơ bản ảnh hưởng đến phát triển ngành côngnghiệp Lào
Chương II: Thực trạng phát triển ngành công nghiệp, chính sách, giải pháp
Chương III: Định hướng phát triển ngành công nghiệp, khả năng hợp tác Lào vàViệt Nam trên lĩnh vực công nghiệp
Trang 5CHƯƠNG I: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ CƠ BẢN ẢNH
HƯỞNG ĐẾN CÔNG NGHIỆP LÀO 1.1 Thuận lợi
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Tài nguyên thiên nhiên
Lào là quốc gia có tiềm năng về khoáng sản Nguồn tài nguyên khoáng sảnLào có gồm 8 nhóm cơ bản: nhóm năng lượng, nhóm kim loại đen, nhóm kim loạimàu, nhóm kim loại quý hiếm, nhóm nguyên liệu hóa chất và phân bón, nhómnguyên vật liệu xây dựng, nhóm chịu lửa gốm và thủy tinh, nhóm đá quý và nhómquặng mỏ như: than, sắt, đồng, chì, kẽm, vàng, muối kali, đất sét…
Vàng: tập trung ở vành đai Loei và vành đai Trường Sơn Hiện nay có hai mỏ
vàng chính : mỏ đồng-vàng Sepon và mỏ đồng-vàng Phoubia, mỏ đồng-vàngSepon với trữ lượng khoảng 142 triệu tấn, mỏ đồng-vàng Phu Bia với ba Dự án:Phú Kham; Long Cheng; và Ban Houayxai trữ lượng ước tính 45 triệu tấn
Đồng: tập trung chủ yếu nằm ở vành đai Trường Sơn, Loei và vành đai Sukhothai.
Trữ lượng đồng tại mỏ Sepan khoảng 1,68 triệu tấn, đồng tại mỏ Phu Bia khoảng
144 triệu tấn, lượng đồng dự trữ 2,9 triệu tấn và tổng trữ lượng khoảng 6 triệu tấn
Chì và kẽm: tập trung chủ yếu tại Loei (Vientiane & Louangprabang) và phía bắc
của Inđosini lần vành đai (Xiengkhouang & Houaphan).Ước tính tài nguyên chì /quặng kẽm: 0,8 triệu tấn
Thiếc: phân bố chủ yếu ở phía bắc và phía nam vành đai Sayphouluang Hiện nay
trữ lượng ước tính 45 triệu tấn
Than: có nhiều ở Hongsa,Viengphoukha và lưu vực Khangphaniang Trữ lượng
than ước tính 900 triệu tấn Mỏ than Hongsa trữ lượng khoảng 700 triệu tấn để
cung cấp cho nhà máy điện Với nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và trữ
lượng lớn, thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp khai khoáng
Gỗ: Lào là quốc gia có nhiều rừng, rừng chiếm 70% tổng diện tích đất nước Lào,
tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho công nghiệp chế biến gỗ Rừng của Lào là rừng
tự nhiên gồm nhiều loại gỗ quý như dầu rai, vên vên, sao đen, táu, trắc, dổi Hiệnnay tổng diện tích rừng ở Lào là khoảng 5.737.680 ha, trữ lượng gỗ khoảng315.258.000 m3 Sự đa dạng về chủng loại gỗ và trữ lượng lớn đã tạo thành một thế
mạnh cho nền kinh tế Lào phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ
Trang 61.1.1.2 Sông ngòi
Lào là nước có nhiều sông suối với mật độ cao và phân bố tương đối đồngđều trên toàn bộ lãnh thổ, nguồn nước bề mặt phong phú là nguồn tài nguyên thủynăng to lớn Dòng sông lớn nhất của Lào là sông Mekong, bắt nguồn từ tỉnh VânNam (Trung Quốc) lớn vào hạng thứ 7 thế giới Sông Mekong có tiềm năng rất lớn
về vận tải đường thủy, thủy lợi, thủy sản, du lịch và sản xuất
Ngoài ra Lào còn có các con sông khác như Nặm Ngừm, Nặm Sương, Nặm U,Nặm Thơn, Nặm Săn, Nặm Nghiệp, Nặm Kađing, Sêbăng phay, Sêđôn đều đổ vàosông Mekong và có vai trò rất quan trọng đối với sản xuất và đời sống của nhândân, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế nông-lâm-ngư nghiệp, đặc biệt
là tạo tiềm năng to lớn để phát triển thủy điện nhằm phục vụ cho tiến trình HĐH, đồng thời tạo nguồn điện năng dồi dào để xuất khẩu sang các nước lánggiềng Nguồn thủy điện có thể được tạo ra từ tổng lưu lượng của các dòng sôngtrên lãnh thổ Lào là rất lớn Theo tính toán của ủy ban quốc tế sông Mekong, trữnăng lý thuyết của phần lưu vực các dòng sông thuộc hệ thống sông Mekong có thểlên tới 400 tỷ kwh, đạt mật độ thủy năng khoảng 1.8 triệu kwh/km2
CNH-Tiềm năng phát triển ngành công nghiệp thủy điện là rất lớn, không chỉ cungcấp nhu cầu điện trong nước mà còn xuất khẩu nước ngoài
1.1.1.3 Vị trí địa lí
Lào là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không giáp biển Lào giáp TrungQuốc ở phía Bắc với đường biên giới dài 505 km; giáp Campuchia ở phía Nam vớiđường biên giới dài 535 km; giáp với Việt Nam ở phía Đông với đường biên giớidài 2069 km, giáp với Myanma ở phía Tây Bắc với đường biên giới dài 236 km;giáp với Thái Lan ở phía Tây với đường biên giới dài 1835 km.[1]
Lào là địa bàn thuận lợi làm vai trò trung chuyển giữa các nước có chung biêngiới không chỉ cho việc phát triển thương mại và đầu tư mà tạo cơ hội hợp tác trênlĩnh vực công nghiệp: Việt Nam và Thái Lan, Trung Quốc có đường biên giớichung rất dài, có quan hệ lâu đời về thương mại và giao thông vận tải thuận lợi hỗtrợ cho sự phát triển của Lào đã tạo ra cơ hội thu hút hợp tác đầu tư
1.1.1.4 Khí hậu
Khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo thuận lợi phát triển những cây công nghiệpnhiệt đới: cà phê, cao su, điều tiêu… thêm đó, đất đai, địa hình phù hợp Từ đó, tạothuận lợi cho việc phát triển ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm nhiệt đới
1.1.2 Nhân tố kinh tế-xã hội
Trang 71.1.2.1 Nguồn lao động
Theo Cục Thống kê Lào, năm 2009, tổng dân số của nước này là 6.127.910người, xếp thứ 105/206 Dân số Lào đang tăng nhanh, và nếu với tốc độ như hiệnnay, dân số Lào sẽ tăng gấp đôi trong khoảng 28 - 30 năm tới, Mật độ dân số ở Làothấp, chỉ có 25 người/km2, xếp thứ 158/206 nước và vùng lãnh thổ, nhưng dân sốphân bổ rất không đồng đều: tại Thủ đô Viêng-chăn là 192 người/km2, trong khi
đó, các tỉnh Phong-sa-lì, Xê-kông, A-ta-pơ chỉ có 11 - 12 người/km2.
Trước năm 1986, 80% nguồn lao động hoạt động trong nông nghiệp nhưngtrong nhưng năm trở lại đây cơ cấu nguồn lao động đã có sự thay đổi, giảm tỉ kệhoạt động trong nông nghiệp và tăng tỉ lệ trong công nghiệp, dịch vụ Với dân sốkhá đông sẽ cung cấp một nguồn lao động khá dồi dào, đặc biệt trình độ dân trí củangười dân ngày càng tăng, điều đó đã tạo ra tiềm năng, một ưu thế cho đất nướcLào phát triển công nghiệp sử dụng nhiều lao động, phù hợp với xu hướng chungtrên toàn cầu, tăng sự cạnh tranh và phát triển kinh tế đất nước
Tạo thuận lợi phát triển ngành công nghiệp sử dụng nhiều nhân công, pháthuy được tiềm năng vốn có của đất nước: may mặc, chế biến hàng nông sản…
1.1.2.2 Thị trường tiêu thụ
1.1.2.2.1 Nhu cầu về năng lượng trong nước ngày càng tăng
Như đã nói bên trên, dân số đất nước Lào ngày càng tăng, nhu cầu tiêu dùngngày càng lớn, đặc biệt là nhu cầu về các lĩnh vực thiết yếu: lương thực, thựcphẩm, may mặc, điện… và trong đó nhu cầu năng lượng đang tăng rất nhanh
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN CƠ CẤU NGUỒN NĂNG LƯỢNG ĐƯỢC SỬ DỤNG
TRONG CÁC LĨNH VỰC NĂM 2010Nguồn năng lượng sử dụng các lĩnh vực:
Chủ yếu: nhu cầu tiêu dùng của người dân 51%,
tiếp theo là giao thông vận tải chiếm 26%
Trang 8BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN CƠ CẤU NHU CẦU VỀ CÁC NGUỒN NĂNG LƯỢNG
NĂM 2010
Để cung cấp nguồn năng lượng, CHDCND Lào:
Chủ yếu dung gỗ làm chất đốt chiếm 56%,
tiếp theo 12% là điện và 17% là nhiên liệu
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN DỰ ĐOÁN NHU CẦU SỬ DỤNG CÁC NGUỒN
NĂNG LƯỢNG (kTOE) TRONG GIAI ĐOẠN 2005-2025
Theo nguồn: NEM, 2011
Nhu cầu sử dung năng lượng về nhiên liệu tăng nhanh nhất, tiếp theo là sinhkhối, điện năng…
1.1.2.2.2 Thị trường tiêu thụ bên ngoài
Điện năng sản xuất không chỉ đáp ứng nhu cầu điện năng trong nước mà đa sốnguồn điện năng đó dành cho xuất khẩu Số lượng các dự án thủy điện lớn tại Làođược tiến hành ngày càng tăng trong vài thập kỷ gần đây, các quốc gia có nhu cầu
về điện lớn như Việt Nam, Thái Lan: việc mở của nền kinh tế nước Lào từ năm
1986 đã thu hút được sự đầu tư của các nhà đầu tư ở châu Á
Trang 9BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN NHU CẦU VỀ ĐIỆN NĂNG CỦA CÁC QUỐC GIA QUA
CÁC NĂM
Với tiềm năng thủy điện và nhu cầu về năng lượng trong nước cũng như cácquốc gia trong khu vực, phát triển công nghiệp thủy điện trở thành ngành chiếnlược của Lào
1.1.2.3 Cơ sở vật chất
Với cơ sở hạ tầng ngày càng phát triển, khả năng hợp tác giữa các quốc giangày càng thuận lơi Lào là quốc gia duy nhất ở ASEAN không giáp biển, yêu cầu
về cải thiện giao thông đường bô, đường hàng không… là nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu ví dụ: hành lang kinh tế Đông Tây nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ
Dương (năm 2007) thông qua lãnh thổ bốn nước Việt Nam, Lào, Thái Lan,Myanmar và đường cao tốc chạy từ Côn Minh qua Tây Bắc Lào tới Băng Cốc đãthông xe toàn tuyến (năm 2010); hành lang kinh tế Bắc Nam nối liền Nam Ninh(Trung Quốc) với Singapore chạy qua lãnh thổ Việt Nam, Lào, Thái Lan,Campuchia, Malaysia đang được vận hành thì Lào thực sự không còn cách trở vớicác đại dương lớn cả về hướng đông (phía Việt Nam) lẫn hướng tây (phíaMyanmar) và hướng nam (phía Thái Lan)
Từ đó, sẽ thu hút đầu tư, hợp tác, phát huy thế mạnh tiềm lực của quốc gia,trong đó, càng ngành thủy điện, khai thác khoáng sản, chế biến nông sản, hàng dệtmay… những nước có vốn, có công nghệ cao sẽ đầu tư vào Lào: có nguồn lao
động và tài nguyên khoáng sản phong phú.
1.1.2.4 Hội nhập kinh tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan trong thời đại ngày nay.Không một quốc gia nào có thể phát triển được nếu không tham gia vào quá trìnhnày Đối với các nước đang và kém phát triển, trong đó có Lào, thì hội nhập kinh tếquốc tế là con đường tốt nhất để rút ngắn sự tụt hậu so với các nước khác và có
Trang 10điều kiện phát huy hiệu quả hơn nữa những lợi thế so sánh của mình trong phâncông lao động và hợp tác quốc tế Nắm bắt được xu thế chung của thời đại, từ năm
1986 đến nay, Lào đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập kinh tếquốc tế với phương châm “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại.”
Lào gia nhập ASEAN (1997)
Trong bối cảnh lớn của liên kết kinh tế khu vực và quốc tế ngày càng gia tăng,đặc biệt sau khi hành lang kinh tế Đông Tây nối liền Thái Bình Dương với Ấn ĐộDương (năm 2007) thông qua lãnh thổ bốn nước Việt Nam, Lào, Thái Lan,Myanmar Điều này giúp Lào trở thành điểm trung chuyển quan trọng giữa cácnước Đông Nam Á lục địa với Trung Quốc, đồng thời tạo cơ hội nâng cao vị thếcủa Lào với tư cách là địa bàn cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và cácnước láng giềng gần gũi của Lào Vị thế địa chiến lược của Lào ngày càng trở nênquan trọng và hấp dẫn Hơn nữa, Lào là một trong những nước có nguồn tàinguyên rừng tương đối phong phú, nguồn khoáng sản dồi dào, tiềm năng thủy điện
to lớn, càng có cơ hội để phát triển công nghiệp
Lào gia nhập WTO (26/10/2012)
Lào tham gia tổ chức WTO đã tác động rất lớn đến chính sách phát triển kinh
tế cũng như chính sách công nghiệp Cơ hội xuất khẩu của các nước đang pháttriển gia tăng rõ rệt, thị trường tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ được mở rộng Cácnước đang phát triển trong đó có Lào đã và sẽ tập trung chuyên môn hoá các mặthàng mà mình có lợi thế, nhằm thúc đẩy xuất khẩu ra thị trường nước ngoài trong
đó có Lào: xuất khẩu những mặt hàng chủ lực như quần áo, sàn phẩm về gỗ… từ
đó, phát triển công nghiệp may mặc, chế biến gỗ, chế biến
Hiện nay, Lào đang thu hút một nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào ngành côngnghiệp chủ lực và tiềm năng của mình, đó là thủy điện Kể từ khi có Luật đầu tưnước ngoài đến nay, Lào đã thu hút 765 dự án với tổng số vốn đăng kí là 9.6 tỷUSD, trong đó số dự án về phát triển thủy điện là 605 Đặc biệt, hội nhập kinh tế,Lào sẽ học hỏi được kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc thựchiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
1.2 Khó khăn
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Là quốc gia duy nhất không giáp biển nên cũng gặp rất nhiều khó khăn tronggiao thương đối với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới, đặc biệt trong
Trang 11xu thế hiện nay, hội nhập kinh tế là điều rất quan trọng, thu hút vốn đầu tư là mộttrong những yếu tố quyết định đến sự phát triển của đất nước, cũng gây ra nhiềukhó khăn cho đất nước Lào Phần lớn là đồi núi, có nhiều núi non bao phủ bởi rừngxanh; đỉnh cao nhất là Phou Bia cao 2.817 m Diện tích còn lại là bìnhnguyên và cao nguyên Sông Mê Kông chảy dọc gần hết biên giới phía tây, giápgiới với Thái Lan, trong khi đó dãy Trường Sơn chạy dọc theo biên giới phía đônggiáp với Việt Nam, có một số vùng đồng bằng và cao nguyên gây khó khăn pháttriển ngành giao thông vận tải, khó kết nối giữa các vùng trong nước cũng nhưgiữa các nước
1.2.2 Cơ sở hạ tầng
Bản đồ: Mạng lưới đường bộ Lào
Cơ sở hạ tầng còn thô sơ, hệ thốngđường sắt còn kém phát triển, hệthống đường sá mới hình thành, hệthống truyền thông còn hạn chế
Theo số liệu thống kê chính thức, tổng
số km của tất cả các con đường trongCộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là íthơn 40.000 và đường sá chỉ cókhoảng 30% tổng xây dựng đườngcho đến nay (chủ yếu tập trung tại cáckhu vực thành phố Vientiane,Savannakhet, Pakse, và LoungPrabang) Với tổng diện tích đất236.800 km2, mật độ đường trong Làochỉ là 0,16 Điều này là quá nhỏ khi sosánh với nước láng giềng trong khuvực cũng như các nước trên thế giới
1.2.3 Khoa học công nghệ
Lào vẫn là nước kém phát triển về lĩnh vực khoa học kĩ thuật, việc áp dụngkhoa học công nghệ hiện đại còn rất chậm chạp, gây khó khăn trong việc khai tháctài nguyên thiên nhiên Là đất nước có nguồn tài nguyên khoáng sản, thủy điệnphong phú và đa dạng nhưng chưa khai thác được hết tiềm năng, đồng thời trình độ
kĩ thuật hạn chế, gây khó khăn phát triển các ngành công nghiệp công nghệ nguồn:thiết bị, điện tử, viễn thong… phát triển khoa học công nghệ là vấn đề chiến lượccủa quốc gia Lào
Trang 121.2.4 Chính sách phát triển
Sau khi giới thiệu xây dựng kế hoạch kinh tế mới vào năm 1986, nền kinh tếcủa CHDCND Lào đã từng bước hội nhập vào sự phát triển kinh tế khu vực vàquốc tế trong quá trình công nghiệp hóa Cấu trúc sản phẩm quốc dân (GDP) cũng
đã thể hiện sự tiến bộ với công nghiệp hóa gia tăng, đó là kết quả của Chính sáchChính phủ Lào (GoL) và mà, lần lượt, đã góp phần quan trọng vào sự phát triểncủa cả ngành và khu vực đất nước Để hỗ trợ công nghiệp hơn nữa, chính phủ củaCHDCND Lào phát triển công nghiệp theo chiến lược hiện đại hóa đất nước, xácđịnh các lĩnh vực trọng tâm bao gồm thủy điện, khai thác khoáng sản và vật liệuxây dựng Chính sách công nghiệp cũng thay đổi theo từng giai đoạn phát triểntheo hướng công nghiệp hóa, có thể được chia thành hai giai đoạn chính: NEMcũng có thể được chia thành một khoảng thời gian chuẩn bị (1986-2000) và thờigian thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (2000-nay)
Tuy, Lào đã thực hiện các chính sách phát triển nhưng hầu như không đạtđược những kết quả đề ra Do thiếu cơ chế quản lí chặt chẽ, chưa đưa ra đượcnhững chính sách phù hợp với trình độ quốc gia
Trang 13CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN, CHÍNH SÁCH, GIẢI
PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP LÀO
Công nghiệp năng lượng và công nghiệp khai khoáng đã trở thành ngành kinh tếmũi nhọn của đất nước Lào, đóng vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế.Tổng giá trị các sản phẩm công nghiệp chiếm 33,1% GDP, trong đó, sản phẩmcông nghiệp chính là đồng, thiếc, thạch cao, gỗ, năng lượng điện, chế biến sảnphẩm nông nghiệp, xây dựng, may mặc, du lịch, ximăng…
2.1 Thực trạng
2.1.1 Giai đoạn 1986-2000
Trong những năm gần đây, sảnxuất công nghiệp đã đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế ngàycàng tăng từ 15,4% GDP năm 1996 đến 16,8% vào năm 2000 tuy nhiên, các nềnkinh tê Lào vẫn chủ yếu là ưu tiên phát triển nông nghiệp
Ngành dệt may: Mặc dù chưa có liệu cụ thể về sự đóng góp của hàng dệt may
trong phân ngành này không có sẵn nhưng cũng được coi là một trong những độnglực cho sự phát triển Xuất khẩu dệt may tăng từ $ 64 triệu vào năm 1996 đến $ 77
Trang 14Ngành năng lượng: Ngành năng lượng, đặc biệt là từ các nguồn tài nguyên thuỷ
điện của đất nước đang đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế.Đầu tư trong lĩnh vực thủy điện đã được một nguồn chính của đầu tư trong nềnkinh tế và xuất khẩu năng lượng là một trong những xuất khẩu lớn của đất nướctrong những năm gần đây (Bảng 5)
2.1.2 Giai đoạn 2000 đến nay
2.1.2.1 Cơ cấu nền kinh tế
Nhờ chính sách NEM, đầu tư nước ngoài đã được đẩy mạnh đóng góp quantrọng vào sự phát triển đất nước, FDI mà ngành công nghiệp đã đạt tốc độ tăngtrưởng khoảng 12-15% trong mấy thập kỉ qua Hiện nay, từ năm 2000 đến năm
2010 đóng góp của ngành nông nghiệp đã giảm xuống từ 46% xuống 30%, côngnghiệp tăng lên từ 12% lên 26%, ngành dịch vụ tăng từ 20% đến 38%
BIỂU ĐỒ: CƠ CẤU NỀN KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2002-2010 (Đơn vị: %)
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 0%
Trang 152.1.2.2 Tỉ lệ đóng góp của các ngành cho sự tăng trưởng kinh tế
Ngành công nghiệp đóng vai trò rất quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế vàtăng lên rất nhanh trong giai đoạn hiên nay đặc biệt từ năm 2008-2010
BIỂU ĐỒ: TỈ LỆ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NGÀNH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ (Đơn vị: %)
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 0
1 2 3 4 5 6 7 8 9
0.5 0.9 1.2 0.4 0.6 1.2 1.5 0.95 0.9 1.5
3.3 1.6
1.8 2.9 1.8
2.6 3.85 4.34
2 3.3 3.7 3.6 3.5
2.9 2.8 2.60.3 0.2 0.8 1
1.2
0.7 0.6 0.4
Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ nhập khẩu
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ (Đơn vị: %)
20020 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2
4 6 8 10
2.1.2.3 Tốc độ phát triển ngành công nghiệp
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP GIAI
ĐOẠN 1985-2010 (Đơn vị: %)
Ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh trong giai đoạn hiện nay, tăng liêntục với tốc độ nhanh, năm 2010 đạt 20%
Trang 162.1.2.4 Những ngành công nghiệp trọng điểm
2.1.2.4.1 Thủy điện
Vào năm 2010 Lào xếp thứ 138 trong tổng 183 quốc gia( Việt Nam xếp thứ136) về sản lượng điện tạo ra ( số liệu do WorldBank cung cấp) Đó là một bướctiến lớn cho ngành công nghiệp sản xuất điện của Lào từ xuất phát điểm là mộtnước phải nhập khẩu điện Một mốc quan trọng cho ngành sản xuất điện của Làonữa là: Vào tháng tư năm 2010, chính phủ nước này đã cho phép đập thủy điệnNam Theun 2 bắt đầu hoạt động Dự án được liên doanh giữa chính phủ lào Công
ty điện lực của Thái Lan và công ty năng lượng của Pháp Électricité de France vớichi phí khoảng 1,3 tỷ đô la Mỹ Phần chi phí được tài trợ một phần bởi Ngân hàngphát triển Châu Á và Ngân hàng Thế giới Sản lượng điện sản xuất ra 95% sẽ đượcxuất khẩu sang Thái Lan và 5% đươc tiêu dung trong nước đáp ứng 20% nhu cầu.
Cùng với xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và xung quanh là các nền kinh tếmới nổi: Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam, nhu cầu điện dự kiến sẽ tăng rấtnhanh Với một tiềm năng khoảng trên 23.000 MW tiềm năng thủy điện và Lào trởthành một nhà cung cấp điện chính cho khu vực Đông Nam Á "nguồn điện củaĐông Nam Á" Hiện nay, chỉ có khoảng 10% tiềm năng của nó đã được sử dụng(khoảng 2.500 MW) Các kế hoạch Gol yêu cầu tăng sản lượng thủy điện ít nhất là1/3 tiềm năng của nó vào năm 2020
BIỂU ĐỒ: LƯỢNG ĐIỆN XUẤT NHẬP KHẨU GIAI ĐOẠN 2001-2009
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 0
nhập khẩu xuất khẩu giá trị
Nguồn: Theo thống kê và đầu tư
2.1.2.4.2 Công nghiệp khai khoáng
Cơ cấu của ngành công nghiệp Khoáng sản
Trang 17Chính phủ Lào tuyên bố khai thác khoáng sản là một ngành quan trọng của nềnkinh tế và tiếp tục hỗ trợ phát triển bằng cách thúc đẩy đầu tư trong nước và nướcngoài Lào là một đất nước có nhiều tài nguyên về các loại khoáng sản đặc biệt là 4loại khoáng sản: thiếc, đồng, bạc và vàng
BẢNG THỂ HIỆN MỨC SẢN XUẤT CÁC MẶT HÀNG KHOÁNG SẢN CỦALÀO GIAI ĐOẠN 2006-2010 (Đơn vị : metric tấn) (trừ TH quy định)
là kết quả của một mưa dữ dội mùa và khó khăn gặp phải trong mỏ sau một lịchtrình tắt máy, trì hoãn việc nối lại các hoạt động
Trong 12/2010, một dự án mở rộng mỏ đồng Sepon được hoàn thành, làmtăng công suất khai thác đến 80.000 tấn / năm của đồng cathode từ 65.000 tấn/năm.Trong 1/2009, công ty liên doanh SinoAgri Các công ty liên doanh cũng sở hữumột giấy phép khảo sát đối với tiền gửi kali trong một khu vực khoảng 237 km ².Trong năm 2010, tài nguyên khoáng sản SinoAgri hoàn thành việc xây dựng mộtnhà máy thí điểm $ 37 triệu USD, trong đó có khả năng sản xuất 100.000 tấn/năm
và được đặt tại đông bắc Sakhon Nakon lưu vực tỉnh Khammouan
Trong tháng11năm 2010, việc xây dựng nhà máy khai thác khoáng sản kali-cloruaPotash Lào Công ty TNHH Công nghiệp đã hoàn thành
Trang 182.1.2.4.3 Dệt may
Ngành công nghiệp dệt may là một ngành kinh tế quan trọng tại CHDCNDLào Đây là khu vực quan trọng thu hút FDI, như phần lớn các nhà máy may mặcđầu tư nước ngoài, cho dù vốn nước ngoài hoặc liên doanh (S Oraboune, 2005).Hiện nay, có 90 đến 100 nhà máy may mặc tại Lào, 54 trong số đó là thành viêncủa Hiệp hội may Lào Trong số này 54 nhà máy, 26 có vốn đầu tư nước ngoài, 13công ty liên doanh, và 15 là tinh khiết nhà máy Lào Các thị trường chính của cácsản phẩm may mặc Lào là Ý, Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Canada, Australia, và Nhật Bản.Ngành công nghiệp dệt may đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của nướcCHDCND Lào Trong năm 2008, xuất khẩu hàng dệt may chiếm 13,8% tổng giá trịcông nghiệp của đất nước bổ sung, và 3,6% GDP của nước này Xuất khẩu hàngmay mặc chiếm 23,4% tổng giá trị xuất khẩu, đăng một tốc độ tăng trưởng trungbình hàng năm là 14% từ 1995 đến 2008 (S Insisienmay V Nolintha, 2010)
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 0
50,000 100,000 150,000 200,000 250,000
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN GIÁ TRỊ VÀ SẢN LƯỢNG DỆT MAY GIAI ĐOẠN 2003-2011
Axis Title
Chỉ qua 8 năm (từ 2003 đến năm 2011) sản lượng xuất khẩu của ngành liêntục tăng gấp 3 lần từ 28,120 nghìn tấn đến 71,542 nghìn tấn Chỉ có giai đoạn2008- 2009 là có biến động giảm mạnh (giảm từ 81,180 nghìn tấn xuống còn58.784 nghìn tấn) do ảnh hưởng từ cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu
Ngành dệt may không chỉ tạo ra giá trị lớn mà nó còn là ngành tạo ra nhiềuviệc làm và thu hút nhiều lao động tại đây Vào năm 2011, ngành này thu hút tới30.000 lao động và mục tiêu của Hiệp hội các ngành may mặc Lào là lượng laođộng này sẽ tăng lên gấp đôi tức là khoảng 60,000 lao động và năm 2015
Có hơn 100 nhà máy may mặc, trong đó 54 nhà máy xuất khẩu và các thànhviên của Hiệp hội các ngành may mặc Lào - 32 FDI trực tiếp nước ngoài đầu tưnhà máy / 13 nhà máy liên doanh / 9 Lào thuộc sở hữu nhà nước
Trang 192.1.2.4.4 Hình thành các khu công nghiệp, nhà máy
Năm 1975, sau khi chiến tranh kết thúc, quá trình khôi phục lại ngành côngnghiệp Lào gặp nhiều khó khăn trầm trọng như: máy móc thiết bị đã cũ và bị tànphá nặng nề, cán bộ công nhân có trình độ còn thiếu, cơ sở hạ tầng bị phá hủy trầmtrọng trong suốt 30 năm qua, với sự cố gắng không ngững ngành công nghiệpnước CHDCND Lào từng bước khôi phục, các nhà máy đã tăng lên 1975: 100.2006: 26.200 trong đó, có 119 nhà máy lớn, 623 nhà máy vừa và 25.458 nhà máynhỏ, nhà máy công nghiệp chế biến chiếm 95%, trong đó nhà máy chế biến sảnphầm nông nghiệp 66%, chế biến lương thực 4%, chế biến gỗ 4%, lắp ráp 5%, gỗxây dựng 4%, chế biến gỗ 4%, lắp ráp 5%, dệt may 3% và nhà máy khác 9%, tạocông ăn việc làm cho 100.000 lao động
2.1.2.5 Đầu tư nước ngoài vào công nghiệp Lào
Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài đã được thông qua vào năm 1988, đượcsửa đổi vào năm 1994, và sửa đổi lần thứ ba vào năm 2004 Việc thông qua Luậtnày và các quy định thích hợp khác đã thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài rất lớn.TỔNG GIÁ TRỊ FDI ĐẦU TƯ CÔNG NGHIỆP LÀO GIAI ĐOẠN 1989-2008ST
1
100Nguồn: MPI, 2009
Từ năm 1989 lên đến năm 2008, khoảng US $ 17 tỷ USD giá trị vốn đầu tưnước ngoài đại diện cho một số 1.600 dự án chảy vào Lào Gần 60% tổng số vốnđầu tư nước ngoài (khoảng 47 dự án) đến ngành điện, sự thừa nhận rõ ràng về tiềmnăng của đất nước trong thủy điện Đến năm 2008, tổng vốn FDI trong lĩnh vựcnăng lượng lên tới 9,8 tỷ USD Các lĩnh vực thủ công mỹ nghệ và nông nghiệp đãnhận được khoảng 11% (USD 1,8 tỷ) và 9% (USD 1,6 tỷ) vốn FDI, tương ứng,trong khi FDI trong Con số này đại diện cho khoảng 7% tổng số vốn đầu tư nước
Trang 20ngoài (Cục Đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2009) Lĩnh vực khai thác khoáng sản
đã tăng dần từ năm 2003, đạt 1,2 tỷ USD trong năm 2008
TỔNG GIÁ FDI ĐẦU TƯ CÔNG NGHIỆP LÀO GIAI ĐOẠN 2007-2012
Đơn vị: triệu USD
Nguồn: Ước tính và dự báo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lào
Nhờ nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, kể từ khi khai thác phát triểnbắt đầu 2003/2004, khu vực khai thác khoáng sản đã có những đóng góp quantrọng đối với 'Làophát triển kinh tế Khu vực khai thác khoáng sản có tác động trựctiếp và gián tiếp của Lào nền kinh tế Thứ nhất, khai thác mỏ đóng góp vào GDPnhu cầu và cung cấp phụ tăng cường đầu tư vốn cổ phần Như tăng dòng FDI sangLào, dẫn đến tăng nhu cầu phía GDP;cùng một lúc, vốn cũng tăng, dẫn đến sự giatăng GDP Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (2008), đầu tư trực tiếp nướcngoài trong lĩnh vực tài nguyên trong đó bao gồm khai thác mỏ và thủy điện, đónggóp 2,5% của tốc độ tăng trưởng kinh tế (7,5%) trong năm 2007 Thứ hai, đầu tưtrực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực khai thác khoáng sản cũng góp phần vào xuấtkhẩu tăng