2 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 3 NỘI DUNG 4 Chương I Giới thiệu công ty CP đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp sông Đà và mã chứng khoán 4 I Công ty SUDICO 4 1 Giới thiệu chung về SUDICO 4 2 Ngành nghề kinh doanh 5 3 Các dự án SUDICO đang thực hiện 6 4 Cơ cấu tài sản và Vốn điều lệ 7 II Mã chứng khoán SJS 7 Chương II Phân tích kinh tế vĩ mô 8 1 Phân tích nên kinh tế vĩ mô 8 a) Tổng quan nền kinh tế vĩ mô quý đầu năm 2011 8 b) Tổng quan về thị trường chứng khoán 13 2 Phân tích ngành 14 a) Nh.
Giới thiệu công ty CP đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp sông Đà và mã chứng khoán
Công ty SUDICO
1 Giới thiệu chung về SUDICO
Công ty đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Sông Đà ( SUDICO) là doanh nghiệp Nhà nước, và là thành viên của Tổng công ty Sông Đà, được thành lập theo quyết định số 17/TCT-VPTH ngày 12/ 9/2001 của Hội đồng quản trị Tổng công ty Sông Đà Năm 2003, công ty được chuyển đổi thành Công ty cổ phần đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Sông Đà (SUDICO) theo Quyết định số 946/QĐ-BXD ngày 08 tháng 7 năm 2003 của
Bộ trưởng Bộ xây dựng.
Các mốc sự kiện quan trong trong lịch sử phát triển SUDICO :
Ngày 11 tháng 5 năm 2006, Công ty có giấy phép của UBCK Nhà nước về việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh với mã số giao dịch là SJS và ngày 6/7/2006, cổ phiếu SJS đã chính thức lên sàn giao dịch Từ những phiên giao dịch đầu tiên cho đến nay cổ phiếu SJS luôn có mức giao dịch cao SJS luôn là một trong các mã chứng khoán tốt nhất trong số các cổ phiếu đang được niêm yết trên thị trường Chứng khoán.
Trong năm 2006 Công ty triển khai xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000 từ Công ty đến các đơn vị trực thuộc và đến tháng 8 năm 2006 Công ty được cấp giấy chứng nhận chứng chỉ ISO 9001:2000, chứng chỉ hệ thống văn bản quản lý chất lượng.
Năm 2007 Công ty chuyển đổi thành công 02 Xí nghiệp là đơn vị trực thuộc Công ty thành 02 Công ty cổ phần đó là:
+ Xí nghiệp tư vấn đầu tư và thiết kế xây dựng chuyển thành Công ty cổ phần Tư vấn SUDICO.
+ Xí nghiệp Kinh doanh và khai thác dịch vụ đô thị chuyển thành Công ty cổ phần Dịch vụ SUDICO.
Năm 2007 Công ty thành lập Công ty con là Công ty TNHH một thành viên SUDICO Tiến Xuân, với số vốn 100% vốn của SUDICO
Năm 2008 Công ty thành lập Công ty con là Công ty TNHH một thành viên SUDICO An Khánh trên cơ sở Ban quản lý các dự án Hà Tây là đơn vị trực thuộc của SUDICO, với số vốn 100% vốn của SUDICO.
Năm 2009 Công ty thành lập Trung tâm giao dịch Bất động sản SUDICO là đơn vị trực thuộc của SUDICO.
SUDICO đã từng 2 lần nhận được Giải thưởng Sao Vàng Đất Việt : Lần 1 năm 2006 và lần 2 là năm 2009.
Từ những thành tích trên Công ty đã khẳng định được thương hiệu và uy tín của SUDICO trên thị trường kinh doanh Bất động sản.SUDICO đã và đang trở thành một trong những công ty kinh doanh bất động sản, địa ốc, đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp hàng đầu của Việt Nam
- Tư vấn, đầu tư, lập và thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, kinh doanh nhà ở, khu đô thị và khu công nghiệp
- Kinh doanh khai thác các dịch vụ về nhà ở, khu đô thị và khu công nghiệp
- Tư vấn thiết kế kỹ thuật, qui hoạch chi tiết khu đô thị và khu công nghiệp;
Tư vấn thiết kế Công trình dân dụng và công nghiệp
- Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, thiết bị nội thất
- Kinh doanh bất động sản và các dịch vụ khác
- Kinh doanh dịch vụ khách sạn, nhà hàng
- Kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị máy móc
- Khai thác chế biến khoáng sản
- Nhận uỷ thác đầu tư của các tổ chức và cá nhân.
Sudico chiếm thị phần xấp xỉ 6% đến 8% trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh bất động sản tại Việt Nam.
3 Các dự án SUDICO đang thực hiện:
TT Tên dự án Địa điểm Vốn đầu tư
1 Khu đô thị mới Nam An
Xã An Khánh, huyện Hoài Đức,
2 Khách sạn Sông Đà – Hoàng
Long Đồi Yên Ngựa - Bãi Cháy - TP Hạ Long
3 Khu nhà ở Văn La – Văn Khê Xã Văn Khê , Q
Hà Đông, TP Hà Nội
4.Khu đô thị phía Bắc đường trục trung tâm khu đô thị phía
Nam quốc lộ 5 thuộc khu đô thị Phố Nối tỉnh Hưng Yên.
Xã Liêu Xá – Huyện Yên Mỹ - Tỉnh Hưng Yên
5 Khu đô thị mới Tiến Xuân Quốc Oai, Hà Nội 2000 tỉ đồng
4 Cơ cấu tài sản và Vốn điều lệ
Tổng cộng tài sản tính đến tháng 12/2010 của SUDICO là 4.502.556.551.985đồng Trong đó tài sản ngắn hạn chiếm 15,41%;tài sản dài hạn chiếm 84,59% Vốn chủ sở hữu là 2.203.351.379.624tỷ VNĐ
Vào cuối năm 2009 vốn điều lệ của công ty là 1000 tỷ VNĐ.
Tính đến thời điểm hiện tại vốn hóa thị trường của công ty là: 4.843 tỷ VNĐ
1 Chủ tịch Hội đồng quản trị - Ông Phan Ngọc Diệp
2 Tổng Giám đốc - Ông Vi Việt Dũng
3 Kế toán trưởng- Ông Vũ Kim Long
Mã chứng khoán SJS
Một số thông tin giao dịch:
Khối lượng cổ phiếu niêm yết đầu tiên 5,000,000
Lịch sử chi trả cổ tức:
-23/02/2001: Cổ tức bằng tiền, tỷ lệ 10%
-27/11/2009: Bán ưu đãi,tỷ lệ 2:1,giá 10k/cp
Thưởng bằng cổ phiếu, tỷ lệ 1:1
-23/09/2009: Cổ tức bằng tiền,tỷ lệ 10%
Cổ tức bằng tiền,tỷ lệ 5%
-03/09/2008: Cổ tức bằng tiền,tỷ lệ 10%
Cổ tức bằng tiền,tỷ lệ 20%
-28/05/2007: Bán ưu đãi,tỷ lệ 1:1,giá 20k/cp
Cổ tức bằng tiền,tỷ lệ 10%
-15/01/2007: Thưởng bằng cổ phiếu, tỷ lệ 1:3
Cổ tức bằng tiền,tỷ lệ 10
( Trang ơi chỗ này Trang sắp xếp lại cho đúng thứ tự thời gian nhé Bạn nào làm mà ko chịu sửa gì hết)
*Mức giá cao nhất và thấp nhất đã từng được giao dịch
Phân tích kinh tế vĩ mô
Phân tích nên kinh tế vĩ mô
a) Tổng quan nền kinh tế vĩ mô quý đầu năm 2011
Năm 2010, kinh tế đất nước đã sớm ra khỏi tình trạng suy giảm, từng bước phục hồi và tăng trưởng khá cao, với mức tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước Môi trường kinh doanh của Việt Nam đã có sự cải thiện đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh Năm 2010, có khoảng 84 nghìn doanh nghiệp dân doanh thành lập mới với vốn đăng ký khoảng 1.300 tỷ đồng, góp phần quan trọng phát triển sản xuất kinh doanh và tạo thêm nhiều việc làm mới.
Kết quả này “tạo đà” cho năm 2011 và Chính phủ đưa ra dự báo tăng trưởng GDP cao hơn ( dự báo tăng trên 7% ) nhưng Việt Nam vẫn cần một tỷ lệ đầu tư cao, vào khoảng 40% GDP, nhằm duy trì mức tăng trưởng này. Năm 2011 thế và lực của ta đã tốt hơn Các chỉ tiêu cân đối lớn cơ bản được đảm bảo, sức cạnh tranh của nền kinh tế thể hiện ở xuất khẩu tăng trưởng cao, công nghiệp đã lấy lại mức tăng trưởng trước khủng hoảng Việt Nam tiến được 16 bậc trong bảng xếp hạng cạnh tranh, đứng 59 trên 140 nước, các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tìm đến Việt Nam Điều kiện để Việt Nam mở cửa chưa bao giờ có thời cơ lớn như bây giờ, cả về an ninh, quốc phòng Tuy nhiên, “vận hội đến nếu không sẵn sàng lực lượng thì vận hội sẽ mất đi”.
Tổng cục Thống kê vừa công bố “ Tình hình kinh tế-xã hội”, trong đó tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I là 5,43% so với quý I năm trước, trong đó nông lâm ngư nghiệp tăng 2,05%, công nghiệp và xây dựng tăng 5,47%, dịch vụ tăng 6,28% Tốc độ tăng trưởng GDP không cao nhưng vẫn khá trong bối cảnh chính sách kinh tế lấy ổn định vĩ mô làm chính và tăng trưởng không còn là chỉ tiêu hàng đầu.
Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 198.719 tỉ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, doanh nghiệp nhà nước chiếm 20,14%, khu vực tư nhân trong nước 37,51%, và khu vực đầu tư nước ngoài 42,35% Tốc độ tăng trưởng của ba khu vực này so với quý I năm trước lần lượt là 5,5%, 16,6% và 16,3%.💝 Support this free API: https://www.paypal.com/donate/?hosted_button_id=XS3CAYT8LE2BL
Tỷ trọng của khối doanh nghiệp nhà nước trong công nghiệp chỉ cỡ 1/5 và với sự chênh lệch tốc độ tăng trưởng cỡ 10-11% (con số chênh lệch này khá ổn định trong thời gian dài trong các năm qua) nếu giữ được ổn định trong tương lai thì sau 5 năm nữa tỷ lệ của khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ còn cỡ 16% Đấy là xu hướng lành mạnh.
Tổng mức bán lẻ đạt khoảng 452 ngàn tỉ đồng, tăng 22,6% (tăng 8,7% nếu trừ tăng giá) so với quý I năm trước, (trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm 11,1%).
Xuất khẩu đạt 19.245 triệu USD (tăng 33,7% so với quý I năm trước). Nhập khẩu đạt 22.274 triệu USD (tăng 23,8% so với quý I năm trước). Đấy là những điểm sáng của tình hình kinh tế quý I năm 2011.
Tuy nhiên, đằng sau các con số tăng trưởng này vẫn còn nhiều mảng tối mà chắc cần nhiều thời gian hơn để khắc phục với sự thực hiện kiên quyết của các giải pháp chống lạm phát và bình ổn kinh tế vĩ mô mà chính phủ đã đưa ra.
Tình trạng lạm phát cao tiếp tục đe dọa sự ổn định của kinh tế vĩ mô trong năm 2011 Theo báo cáo vĩ mô quý I do CTCK Sacombank-SBS(SBS) thực hiện, lạm phát của Việt Nam tăng 13.89% trong tháng 3/2011 so với cùng kỳ năm ngoái so với mức tăng 12.31% của tháng 2
Nếu tính theo từng tháng, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2.17% so với mức tăng 2.09% của tháng trước đó Chỉ số giá tiêu dùng của tháng 3 cho thấy sự gia tăng về giá cả của nhóm ngành vận tải ( +6.69% so với tháng trước, tháng 2: 1.01%) và nhà cửa & vật liệu xây dựng (+3.67% so với tháng trước, tháng 2: 0.83%) trong khi đó nhóm lương thực và thực phẩm (thủ phạm thường thấy chỉ tăng +1.98% so với tháng trước (tháng 2: 3.65%)
SBS tiếp tục dự đoán rằng áp lực lạm phát vẫn tồn tại ở mức cao trong năm 2011 do: (1) giá điện điều chỉnh tăng 15.28%; (2) giá xăng tăng 29.9%,
(3) giá cả các mặt hàng chủ chốt trên thế giới (lương thực& thực phẩm, dầu thô & các nguyên phụ liệu) vẫn đang trong xu hướng tăng trong bối cảnh những kỳ vọng về đồng USD tăng giá sẽ được phản ánh vào giá thành sản phẩm và (4) lãi suất của VND sẽ tiếp tục được duy trì ở mức cao trong năm 2011
Vì thế ổn định vĩ mô và an toàn hệ thống ngân hàng là vấn đề cần đảm bảo trong năm 2011, và theo Thống đốc Nguyễn Văn Giàu kiến nghị chính sách tài khóa cần chặt chẽ ngay từ đầu năm
Ngân hàng Nhà nước đã trình Thủ tướng Chính phủ phương án điều hành lãi suất, tỷ giá theo hướng chủ động, linh hoạt, thận trọng Ngân hàng Nhà nước chỉ điều chỉnh tỉ giá khi có đột biết; có thể cho phép ngân hàng và doanh nghiệp tự thỏa thuận lãi suất Về điều hành tỷ giá sẽ bám sát thị trường nhiều hơn Còn việc nhập khẩu hàng xa xỉ, sẽ dùng đồng ngoại tệ khác để nhập…
Những bất ổn vĩ mô khác vẫn còn đó Cũng theo báo cáo vĩ mô quý I do CTCK Sacombank-SBS (SBS) thực hiện: Thâm hụt thương mại trong năm nay vẫn là vấn đề nhức đầu của nền kinh tế.
Trong quý I, cán cân thương mại Việt Nam âm USD 3.13 tỷ, so với cùng kỳ năm ngoái Xuất khẩu tăng USD 18.9 tỷ, tương đương 33.7% so với cùng kỳ năm ngoái trên danh nghĩa Mức tăng xuất khẩu được dẫn dắt chủ yếu bởi xu hướng tăng của giá cả hàng hóa, và nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng trưởng xuất khẩu đạt khaỏng 21.7% Bên cạnh đó, nhập khẩu thậm chí còn tăng mạnh hơn lên USD 2.1 tỷ, tăng 38% so với năm ngoái và được dẫn dắt bởi cá yếu tố sản lượng lẫn giá trị.
Trong khi nền kinh tế đang dần hồi phục, tình hình kinh tế tài chính đang phải đối mặt với hàng loạt những quyết định mạnh tay của chính phủ với mục đích bình ổn vĩ mô.
Phân tích ngành
Thị trường BĐS trong năm 2010 nhìn chung khá ổn định Thị trường có sự phân hóa mạnh giữa các phân khúc và vùng miền Trong khi phân khúc thị trường căn hộ cao cấp và biệt thự khá trầm lắng thì phân khúc căn hộ trung bình về thu nhập thấp vẫn được tiêu thụ tốt Giá đất nền tại Hà Nội tăng thêm 20-30% sau khi các sự án hạ tầng được hoàng thành thì giá đất tại
TP Hồ Chí Minh ít thay đổi, thị trường ảm đạm với lượng giao dịch thành công thấp ngay tại thời điểm cuối năm.
Lĩnh vực văn phòng cho thuê tiếp tục chịu sức ép giảm giá từ năm 2009, nguồn cung tăng nhanh trong khi cầu tăng chậm, những dấu hiệu phục hồi nhẹ vào quý III chưa làm lĩnh vực này thoát khỏi khó khăn.
Lĩnh vực cho thuê mặt bằng bán lẻ khá nhộn nhịp bất chấp nguồn cung mới tăng thêm.
Lĩnh vực cho thuê khu công nghiệp vẫn phát triển tốt nhờ vào sức cầu trên thị trường tăng thêm từ các doanh nghiệp sau suy thoái kinh tế năm 2009
+ Trong năm 2010 thị trường ghi nhận những nỗ lực rất lớn của các doanh nghiệp bất động sản trong việc tìm kiếm những nguồn vốn lớn thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu
+ Vốn FDI vào lĩnh vực BĐS tiếp tục đạt giá trị lớn
+ Tín dụng cho vay BĐS : đến hết năm 2010 dư nợ tín dụng lĩnh vực BĐS đạt 228 ngàn tỷ đồng, tăng 23.5% so với đầu năm
+ Giá trị bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiếp tục tăng cao
+ Hạ tầng giao thông tại Hà Nội mở rộng và hoành thành đưa vào khai thác khiến cho các dự án BĐS trở nên hấp dẫn hơn
+ Sức ép lạm phát và chính sách thắt chặt tiền tệ đang ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư => tín dụng BĐS hẹp lại trong những năm tới
+ Lãi suất tăng cao ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường
+ Nghị định 69/ NĐ- CP/2009 gây khó khăn cho các doanh nghiệp phát triển BĐS, chi phí hỗ trợ đền bù giải tỏa tăng cao làm tăng chi phí đầu tư dự án b) Nét mới thị trường BĐS 2011
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế và phân tích thị trường, năm
Năm 2011, việc thí điểm xây dựng chỉ số bất động sản tại các thành phố lớn tạo ra hy vọng cho một thị trường ổn định và minh bạch hơn Đồng thời, xu hướng mua bán và sáp nhập trong doanh nghiệp bất động sản cũng mang lại những động lực mới cho sự phát triển của thị trường.💝 Support this free API: https://www.paypal.com/donate/?hosted_button_id=XS3CAYT8LE2BL
Mua bán và sát nhập tăng
Có thể kể đến những vụ mua bán và sáp nhập (M&A) điển hình trong thời gian gần đây: Quỹ đầu tư VinaCapital đã bán 70% cổ phần tại khách sạn 5 sao Hilton Hà Nội Opera thu về 8 triệu đô la Ngay sau đó, quỹ này cũng bán toàn bộ 50,1% cổ phần trong dự án cao ốc văn phòng hạng A tại trung tâm Quận 1 – TP.Hồ Chí Minh Chủ đầu tư hai dự án căn hộ Prince và Princess tại phường Thảo Điền - Quận 2 – TP.Hồ Chí Minh cũng đã bán hai dự án này cho quỹ đầu tư JSM Indochina với giá 26 triệu USD để hợp nhất xây dựng thành một khu phức hợp; Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai bán toàn bộ dự án Hoàng Anh An Tiến tại huyện Nhà Bè – TP.Hồ Chí Minh với gần1.000 căn hộ cho Công ty Cổ phần Đầu tư Công đoàn BIDV Công ty ĐấtXanh mua lại dự án Khu căn hộ Phú Gia Hưng Aparrtment tại quận Gò Vấp– TP.Hồ Chí Minh thông qua hình thức mua đứt Công ty TNHH Hà ThuậnHùng - chủ đầu tư dự án này Mới đây nhất, Công ty Cổ phần Kim Cương đã công bố hợp tác với Tập đoàn Parkson - Malaysia để quản lý, khai thácTrung tâm Thương mại Saigon Paragon…
Theo nhiều chuyên gia BĐS, việc chuyển nhượng dự án thời gian gần đây chỉ là giai đoạn khởi đầu của xu hướng mới Trong điều kiện thị trường tín dụng chưa có thay đổi tích cực, nhà đầu tư chưa tiếp cận được nhiều nguồn vốn vay thì lúc này, M&A dường như là giải pháp hợp lý Ở một khía cạnh khác, Giáo sư Đặng Hùng Võ - nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận định, 2 năm trở lại đây, nhiều nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường BĐS Việt Nam thông qua con đường M&A chứ không chủ động đi tìm các dự án Nguyên nhân do khung pháp lý và thị trường BĐS Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập Khoảng cách về quyền lợi giữa người nước ngoài và người Việt Nam vẫn còn chênh lệch khá lớn Mặt khác, cơ chế thế chấp bằng BĐS để vay vốn đầu tư vẫn chưa được chấp nhận tại các tổ chức tín dụng nước ngoài Do đó, kênh dẫn quan trọng giữa thị trường BĐS trong nước và thị trường tài chính nước ngoài chưa được khai thông. M&A DN trong nước và công ty BĐS của nước ngoài cũng là điều dễ hiểu
Xây dựng chỉ số BĐS
Theo thông tin từ Bộ Xây dựng, năm 2011, 4 đô thị lớn nhất nước sẽ được chọn thí điểm xây dựng chỉ số BĐS là Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, ĐàNẵng và Cần Thơ (sau giai đoạn thí điểm tại 4 đô thị lớn, sẽ khuyến khích các tỉnh, thành phố khác áp dụng rộng rãi) Chỉ số được công bố gồm: giá giao dịch BĐS và chỉ số lượng giao dịch BĐS Theo đó, chỉ số giá giao dịchBĐS bao gồm chỉ số giá giao dịch chung của địa phương, chỉ số giá giao dịch từng loại BĐS ở từng khu vực của các tỉnh, thành phố Chỉ số lượng giao dịch BĐS sẽ gồm chỉ số lượng giao dịch từng khu vực và của địa phương, chỉ số lượng giao dịch cho từng loại BĐS Các loại BĐS được lựa chọn để xây dựng các chỉ số bao gồm BĐS để bán, chuyển nhượng là căn hộ chung cư, nhà ở riêng lẻ, đất nền; BĐS để cho thuê là văn phòng Việc công bố lần đầu các chỉ số được tiến hành từ quý III/2011
Thời điểm gốc được lựa chọn để xây dựng chỉ số là quý I/2011 Bộ Xây dựng hy vọng, tình trạng mập mờ về thông tin như từ trước tới nay sẽ được
“quét” sạch sau khi chỉ số BĐS ra đời Nhà đầu tư và DN có thể dễ dàng tra cứu và có được bức tranh tương đối rõ nét về biến động giá cả cũng như số lượng giao dịch ở một địa bàn cụ thể Về phương pháp tính toán chỉ số, nhằm đảm bảo tính xác thực và độ tin cậy cao, ông Nguyễn Mạnh Hà, Cục trưởng Cục Quản lý nhà và Thị trường BĐS (Bộ Xây dựng) cho biết, sẽ dựa trên tình hình giao dịch thực tế giữa người dân ở vị trí và trên địa bàn, khu vực cụ thể trong các đô thị chứ không phải giá do chủ đầu tư các dự án ấn định Ngoài ra, còn tính tới biến động giá của các BĐS tương tự theo thời gian
Tựu chung lại: Lãi suất cho vay đầu tư kinh doanh BĐS nhiều khả năng sẽ tiếp tục bị giữ ở mức cao trong năm 2011, tuy nhiên mặt bằng lãi suất có thể giảm dần về cuối năm khi áp lực lạm phát suy giảm Lãi suất cao sẽ làm chi phí đầu tư dự án tăng mạnh, ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp đầu tư BĐS, mặt khác ảnh hưởng đến tính thanh khoản của thị trường khi nhà đầu tư không dám vay vốn để mua nhà. Áp lực cạnh tranh trên thị trường sẽ ngày một cao khiến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp BĐS suy giảm Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh được kì vọng là sẽ làm cho thị trường BĐS trở nên minh bạch hơn, nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận trực tiếp các sản phẩm của dự án mà không phải qua trung gian
Phân tích công ty
Phân tích báo cáo tài chính
1 Giới thiệu sơ lược về phân tích báo cáo tài chính công ty:
1.1 / Phân tích báo cáo tài chính là gì:
Là quá trình sử dụng các báo cáo tài chính của một công ty cụ thể để tiến hành các kỹ thuật phân tích như phân tích tỷ số, phân tích khuynh hướng, phân tích cơ cấu và phân tích Du Point nhằm đánh giá tình hình tài chính của công ty.
1.2 /Mục đích của phân tích báo cáo tài chính:
Nhằm đánh giá tình hình tài chính và hoạt động của công ty để có cơ sở ra những quyết định hợp lý.
1.3/Phương pháp phân tích báo cáo tài chính:
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong phân tích báo cáo tài chính công ty Ở đây, nhóm chúng em xin được giới thiệu Phương pháp phân tích theo nhóm các chỉ số :
Trong các kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính ở Việt Nam hiện nay, kỹ thuật phân tích tỷ số tài chính được sử dụng nhiều nhất Phân tích tỉ số tài chính liên quan đến việc xác định và sử dụng các tỷ số tài chính để đo lường và đánh giá hoạt động tài chính của công ty.
Sau đây là các bước cơ bản để thực hiện phân tích báo cáo tài chính một công ty:
Bước 1: Xác định đúng công thức đo lường chỉ tiêu cần phân tích. Bước 2: Xác định đúng số liệu từ báo cáo tài chính để lắp vào công thức tính.
Bước 3: Giải thích ý nghĩa của tỷ số vừa tính toán.
Bước 4: Đánh giá tỷ số vừa tính toán (cao, thấp, hay phù hợp).
Bước 5: Rút ra kết luận về tình hình tài chính của công ty.
Bước 6: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ số tài chính.
Bước 7: Đưa ra các khuyến nghị để khắc phục hoặc củng cố các chỉ số tài chính.
Bước 8: Viết báo cáo phân tích.
Quan tâm đến phân tích báo cáo tài chính của công ty thường gồm 3 nhóm chính: các nhà quản lý công ty, các chủ nợ và các nhà đầu tư Mỗi chủ thể đều có mối quan tâm tới những khía cạnh riêng của báo cáo tài chính công ty Tuy nhiên, họ đều chú trọng tới phân tích tỷ số và thường sử dụng phân tích tỷ số để đánh giá các mặt: khả năng thanh toán, khả năng quản lý tài sản, khả năng quản lý nợ, khả năng sinh lời và kỳ vọng của thị trường vào giá trị công ty.
2 / Phân tích báo cáo tài chính SUDICO năm 2010:
Tóm tắt Báo cáo tài chính SUDICO năm 2010:
CHỈ TIÊU CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Các khoản mục Năm 2010 ( đồng)
2 Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
3 Các khoản phải thu ngắn hạn
5 Tài sản ngắn hạn khác 33.191.406.246
1 Các khoản phải thu dài hạn
3 Chi phí xây dựng cơ bản dở dang
4 Bất động sản đầu tư 3.969.337.330
5 Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
6 Tài sản dài hạn khác 1.074.538.118
CHỈ TIÊU KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Các khoản mục Năm 2010 ( đồng)
Doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ
Lợi nhuận gộp bán hàng và cung cấp dịch vụ
670.236.739.492Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh 639.510.308.784 doanh
Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 641.213.743.590
Nguồn : Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2010- SUDICO
Phân tích các chỉ số tài chính:
2.1 / Nhóm tỷ số khả năng thanh toán ngắn hạn:
Tỷ số khả năng thanh toán hiện thời = Tài sản ngắn hạn/ Nợ ngắn hạn : Ý nghĩa : Cho thấy mức độ an toàn của một công ty trong việc đáp ứng các nhu cầu thanh toán khaonr nợ ngắn hạn
Tỷ số thanh toán nhanh= ( Tiền và các khoản tương đương tiền + Chứng khoán khả mại + Khoản phải thu) / Nợ ngắn hạn : Ý nghĩa : Bằng cách loại bỏ giá trị không chắc chắn của hàng tồn kho và tập trung vào những tài sản có khả năng chuyển đổi dễ dàng , chỉ số này cho thấy khả năng đáp ứng nhu cầu trả nợ của công ty trong trường hợp doanh số bán tụt xuống một cách bất lợi.
Tỷ số thanh toán tiền mặt = (Tiền và các khoản tương đương tiền + Chứng khoán khả mại ) / Nợ ngắn hạn = 0,103
Nhận xét : Như vậy trong ngắn hạn, công ty có khả năng tạo ra tiền mặt để thanh toán cho các nhà cung cấp cũng như chủ nợ => Công ty đang trong trạng thái an toàn về khả năng thanh khoản ( Rủi ro thanh toán thấp ).
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Tổng nợ / Vốn chủ sở hữu 2.290.894.491.872 / 2.203.351.379.624 = 1,04
Tỷ số nợ trên tổng tài sản = Tổng nợ/ Tổng tài sản 2.290.894.491.872 / 4.502.556.551.985= 0,5088
Đòn bẩy tài chính = Tổng tài sản bình quân/ Tổng VCSH bình quân 4.502.556.551.985 / 2.203.351.379.624 = 2,04
Nhận xét : Công ty có mức độ sử dụng nợ ở mức trung bình ( 50,88 %) vì mức trung bình ngành là50 % Mức đòn bẩy tài chính cũng ở mức cao trung bình so với đặc thù lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản Điều này có hai mặt : Việc vay nợ để đầu tư kinh doanh sẽ đem lại lợi nhuận cho các cổ đông Mặt khác, nó cũng làm gia tăng mức rủi ro trong việc quản lí tài sản- nợ.
2.3/ Nhóm khả năng sinh lời :
Tỷ số lợi nhuận ròng/ doanh thu thuần : Ý nghĩa : Cho biết một đồng doanh thu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ số lợi nhuận gộp = Lợi nhuận gộp/ Doanh thu thuần :Ý nghĩa : Phản ánh khả năng sinh lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính của công ty.
ROA = Lợi nhuận ròng / Tổng tài sản : Ý nghĩa : Tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của công ty.
ROE = Lợi nhuận ròng / vốn chủ sở hữu: Ý nghĩa : Đây là chỉ số quan trọng nhất đối với các cổ đông vì nó phản ánh trực tiếp khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường
Kết quả của các chính sách quản lý tài sản và nợ có ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh lời của công ty Để đánh giá khả năng sinh lời của SUDICO một cách chính xác, cần so sánh các chỉ số tài chính của SUDICO với các công ty trong cùng ngành Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ số tài chính của các công ty cùng ngành.
Tên công ty ROE ROA Đòn bẩy tài chính
Lợi nhuận ròng/ Doanh thu
CTCP Đầu tư và xây dựng Bình Chánh- BCI
CTCP đầu tư và phát triển xây dựng- TCT
CTCP Đầu tư căn nhà mơ ước - DRH
Từ bảng trên, chúng ta có nhận xét : SUDICO có khả năng sinh lời tương đối cao hơn so với mức trung bình ngành, hơn nữa, mức ROE = 21,8 % là mức rất cao so với mức trung bình của tất cả các nhóm cổ phiếu trên thị trường Đặc biệt, mức lợi nhuận ròng của SUDICO F,5 % trong khi mức trung bình ngành chỉ là 32,04 % Vì vậy, lựa chọn cổ phiếu SJS là một lựa chọn rất tốt.
2.4 / Nhóm chỉ số tăng trưởng :
Tỷ số tăng trưởng tài sản : = ( Tổng tài sản năm 2010 – Tổng tài sản2009)/ Tổng tài sản 2009 = + 65, 01 %
Tỷ số tăng trưởng doanh thu = Doanh thu năm 2010 – Doanh thu năm
Tỷ số tăng trưởng lợi nhuận = ( Lợi nhuận năm 2010 – Lợi nhuận năm 2009 ) / Lợi nhuận năm 2009 = - 32,36 %
Nhận xét : So với năm 2009 , năm 2010 SUDICO có doanh thu và lợi nhuận giảm, riêng lợi nhuận giảm 32,36 % do những khó khăn chung của nền kinh tế vĩ mô Nhưng Tổng tài sản của công ty lại tăng rất mạnh( mức tăng 65 ,01 %) cho thấy Công ty sẽ đang có nhiều cơ hội để phát triển tốt trong tương lai.
Phân tích công ty SUDICO bằng mô hình SWOT
Là nhà phát triển bất động sản lớn hiện nay SJS đã gặt hái được nhiều thành công to lớn trong những năm qua Hoạt động của công ty đang đi vào giai đoạn phát triển mạnh và hứa hẹn mang lại nhiều lợi nhuận.
SJS được sự hậu thuẫn chắc chắn từ phía cổ đông lớn nhất- Tập đoàn Sông Đà Tập đoàn sông Đà là một tập đoàn mạnh trong ngành xây dựn Việt Nam với mạng lưới hàng trăm công ty con và các chi nhánh có mặt khắp nơi trên toàn quốc, hoạt động trong nhiều kĩnh vực đa dạng.
Tiềm lực tài chính dồi dào và khả năng huy động vốn cao vào các dự án có quy mô lớn Hiện tại, SJS được xếp là cổ phiếu bluechip trên sàn HSX do mức vốn hóa cao(vốn chủ sở hữu là 2.181 tỉ đồng theoBáo cáo thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2010 và phương hướng thực hiện kế hoạch năm 2011 phát hành ngày 6/4/2011), tỷ suất sinh lời ROE tăng đều qua các năm và thuộc nhóm cao nhất trên thị trường niêm yết Hơn nữa, SJS có cơ cấu nợ thấp ( 39% trên tổng tài sản) nên khả năng huy động vốn từ nguồn tiền vay ngân hàng cao và tiếp cận được với mức chi phí vay hợp lí.
SJS hiện có quỹ đất sạch khá lớn với chi phí vốn giải tỏa mặt bằng thấp, tập trung chủ yếu ở khu vực ven nội thành Hà Nội Quỹ đất sạch của công ty đã lên đến 510ha Ước đoán, đủ đảm bảo khả năng tăng trưởng cho công ty trong vòng 5 năm tới Quỹ đất sạch này SJS đã có được từ việc giải tỏa mặt bằng cách đây rất lâu ( trên 05 năm ), do đó chi phí giải tỏa mặt bằng thấp Do vậy, SJS có năng lực cạnh tranh cao về chi phí giá vốn hàng bán với các doanh nghiệp tiêu biểu khác cùng ngành.
Công ty có khả năng tiếp cận vốn ngân hàng tốt hơn so với các công ty bất động sản nhờ uy tín tốt và các dự án có tỉ suất sinh lời cao.
Có nhiều kinh nghiệm trong việc triển khai các dự án bất động sản khu đô thị, khu nhà ở nhờ thời gian hoạt động lâu dài và lĩnh vực hoạt động chuyên môn.
Áp lực huy động nguồn vốn lớn cho đầu tư các dự án hiện đang triển khai của SJS Với chiến lược phát triển với quy mô lớn các đô thị có tiêu chuẩn trung và cao cấp, SJS luôn luôn bị áp lực huy động vốn lớn liên tục và đồi hỏi khả năng linh hoạt điều phối vốn đầu tư giữa các dự án đang cùng triển khai.
Cơ cấu vay nợ thấp không tạo ra áp lực bẩy tỳ suất sinh lời ROE lên cao- đây là một điểm mạnh nổi trội của SJS nhưng xét ngược lại, dưới góc độ hiệu quả đồng vốn đầu tư của cổ đông thì đây lại là một điểm yếu của SJS.
SJS chưa thâm nhập được các dự án trong khu trung tâm của cá thành phố lớn, mà chỉ tập trung ở các khu cận ven trung tâm thành phố Tuy nhiên, thực tế này có thể là chiến lược của SJS : không mất lực vào cạnh tranh khốc liệt mà tập trung vào gây dựng quỹ đất lớn có vị trí đắc địa đúng theo quy hoạch mở rộng phát triển đô thị và cơ sở hạ tầng của thành phố chính như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng.
Phong cách kinh doanh ít đổi mới: Kinh doanh cá dự án vẫn theo lối cũ, điều này hàm ý rằng SJS đã chưa chủ động trong việc kinh doanh sản phẩm từ giới thiệu, quảng bá hình ảnh các khu đô thị với môi trường, tiện ích, phong cách một cách bài bản như các đơn vị phát triển bất động sản mới hiện nay, điều này tạo cảm giác không chuyên nghiệp.
Việc triển khai cùng một lúc nhiều dự án dẫn đến việc một số dự án chưa đạt tiến độ như đã đề ra trong kế hoạch.
Nhu cầu nhà ở đang tăng mạnh, trong khi cung vẫn chưa đáp ứng cầu. Đặc biệt ở khu vực phía Bắc nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng Nhà nước đang tập trung quy hoạch phát triển mở rộng đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, các vị trí đất ở vùng ven trung tâm Hà nội trở nên hấp dẫn và tăng giá nhanh, khoảng từ 30% từ đầu năm 2010 đến nay.
SJS lại đang sở hữu các dự án bất động sản lớn, đầy tiềm năng với các quỹ đất sạch lớn tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng.
Đường cao tốc Láng- Hòa Lạc sắp hoàn thành và việc bắt đầu triển khai đường vành đai số 4 tại thành phố Hà nội trong năm nay sẽ làm tăng lợi thế của dự án Nam Khánh, dự án Tiến Xuân của SJS.
Về dài hạn, nền kinh tế phát triển ổn định thúc đẩy quá trình đô thị hóa và nâng cao mức sống của người dân, làm tăng nhu cầu nhà ở tại các đô thị như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng.
Ngành bất động sản chịu ảnh hưởng rất lớn từ môi trường kinh tế vĩ mô Trong khi đó, sự hồi phục kinh tế thế giới sau khủng hoảng chưa có dấu hiệu bền vững, nên năm 2010 vẫn là một năm đầy thách thức cho các doanh nghiệp bất động sản nói chung và công ty SJS nói riêng.
Định giá cổ phiếu SJS
Một số phương pháp định giá cổ phiếu
Trong thực tế, các nhà phân tích sử dụng nhiều mô hình định giá khác nhau từ đơn giản đến phức tạp để định giá giá trị doanh nghiệp Các mô hình này dựa trên nhiều giả định khác nhau nhưng đều có một số đặc điểm chung và được phân thành nhiều loại khác nhau Có 3 phương pháp định giá chính. Phương pháp thứ nhất là phương pháp chiết khấu cổ tức (discounted dividend model –DDM) Phương pháp thứ hai là định giá dựa theo hệ số giá trên thu nhập( P/E) Phương pháp thứ ba là phương pháp chiết khấu luồng tiền ( DCF).
1/ Phương pháp chiết khấu cổ tức ( DDM)
Giá trị cổ phiếu được tính bằng giá trị hiện tại (present value) của tất cả các dòng tiền cổ tức tương lai.
Giả sử có một cổ phiếu được giữ đến năm thứ n, với các cổ tức lần lượt là D1, D2, , Dn Giá cổ phiếu vào năm thứ n được ký hiệu là Pn và lợi suất yêu cầu của nhà đầu tư là r, với r không thay đổi.💝 Support this free API: https://www.paypal.com/donate/?hosted_button_id=XS3CAYT8LE2BL
Phương thức chiết khấu dòng cổ tức vẫn được sử dụng phổ biến, tuy nhiên phương pháp có thể có mộ số hạn chế như : có thể hạ thấp giá trị của những công ty đang tăng trưởng, không chia cổ tức hoặc chia cổ tức với tỷ lệ thấp so với lợi nhuận Mô hình này cũng định giá thấp giá trị của các công ty có nhiều tài sản không hoạt động - nghĩa là tài sản không đóng góp vào việc tạo ra cổ tức.
2/ Phương pháp định giá theo hệ số giá trên thu nhập ( P/E)
P/E = thị giá cổ phiếu/ thu nhập bình quân mỗi cổ phiếu.
Phương pháp P/E giúp định giá nhanh, đơn giản, giúp doanh nghiệp dễ nắm bắt cơ hội, có quyết định kịp thời trong giao dịch chứng khoán Ngoài ra trong điều kiện thị trường còn thiếu tính minh bạch thì áp dụng phương pháp P/E tỏ ra có tác dụng hơn đối với các phương pháp khác Phương pháp này cho phép nhà đầu tư xác định cổ phiếu đắt hay rẻ hơn so với giá trị thực của nó, và so sánh với giá trị cổ phiếu các doanh nghiệp khác Ngoài ra, phương pháp này tỏ ra có hiệu quả khi thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả, do thông tin chân thực, phản ánh chính xác giá trị cổ phiếu.
Tuy nhiên, phương pháp này còn có một số nhược điểm như: nhà đầu tư sẽ gặp khó khăn khi phải so sánh 2 cổ phiếu có P/E bằng nhau, lúc đó còn phải so sánh thêm tốc độ tăng trưởng của 2 cổ phiếu đó Mặt khác, đây là 1 phương pháp mang nặng tính kinh nghiệm, thiếu sự đánh giá khả năng tăng trưởng và rủi ro, và thiếu tin cậy nếu thị trường nhiều biến động.
3/ Phương pháp chiết khấu dòng tiền( DCF):
Phương pháp này định giá cổ phiếu dự trên việc ước tính tất cả các dòng thu nhập tự do mà tổ chức phát hành sẽ thu được trong tương lai và quy chúng về giá trị hiện tại bằng cách chiết khấu các dòng thu nhập này theo một mức lãi suất chiết khấu thích hợp.
- Nếu xác định giá trị cổ phiếu theo FCFF: uuhanh huongdangl
Với giá trị PV bao gồm phần dành cho chủ nợ và cổ đông ưu đãi
FCFF= EBIT(1+t)+khấu hao- chi tiêu vốn- thay đổi vốn lưu động
- Nếu xác định giá trị cổ phiếu theo FCFE
Với FCFE= thu nhập thuần+ khấu hao- chi tiêu vốn- thay đổi vốn lưu động+ thanh toán cho các chủ nợ+ phát hành nợ mới.
Thu nhập thuần= (EBIT- trả lãi nợ vay)(1-t) re là mức lợi suất yêu cầu đối với vốn chủ sở hữ và được tính theo mô hình CAPM.
Phương pháp này giải thích rõ ràng sự khác biệt giữa giá trị của các cổ phiếu khác nhau, do phương pháp chiết khấu luồng tiền đánh giá khả năng hoạt động hiệu quả của từng doanh nghiệp Những doanh nghiệp nào hoạt động hiệu quả sẽ có luồng tiền hay luồng cổ tức lớn.
Tuy nhiên, phương pháp này phải tính đến nhiều yếu tố tác động đến cổ phiếu gồm các yếu tố môi trường như các nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh… và các yếu tố nội tại trong doanh nghiệp như trình độ quản lí, chính sách cổ tức… Việc ước lượng cổ phiếu tương đối phức tạp đòi hỏi người phân tích phải có năng lực chuyên môn Ngoài ra, việc định giá bằng DCF đòi hỏi phải lập được bảng kế hoạch kinh doanh ít nhất trong thời gian 5 năm để ước tính doanh thu, chi phí và các luồng tiền tự do Vì vậy chỉ có chính doanh nghiệp mới có đủ thông tin để đánh giá.
Định giá cổ phiếu SJS
Nhà đầu tư chứng khoán cá nhân X chuẩn bị đầu tư vào cổ phiếu của Công ty cổ phần đầu tư đô thị và khu công nghiệp Sông Đà( SUDICO), mã cổ phiếu SJS Mức độ rủi ro X có thể chịu được là ± 10 % : Anh ta sẽ bán cổ phiếu nếu giá cố phiếu trên thị trường tăng hoặc giảm 10 % để thu lãi hoặc cắt lỗ.
X không có nguồn tin nội bộ của các công ty nên chỉ sử dụng tài liệu là Báo cáo tài chính của công ty SUDICO từ năm 2006 đến năm 2010 và các phân tích tài chính của 2 công ty chứng khoán: Công ty chứng khoán FPT ( FPTS) và Công ty chứng khoán Âu Việt ( AVS).
Từ những phân tích ngành, phân tích kinh tế vĩ mô ở trên, X kì vọng sẽ nắm giữ cổ phiếu trong thời gian 1 năm, X lựa chọn 2 mô hình để định giá lại giá trị thực của SJS : Mô hình DDM và Mô hình P/E.
2/ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU SJS BẰNG MÔ HÌNH DDM
Bước 1 : Dự tính thời gian nắm giữ cổ phiếu : X kì vọng sẽ găm giữ cổ phiếu SJS trong thời gian 1 năm từ tháng 4/ 2011 đến tháng 3/ 2011 Lí do :
Với những khó khăn của nền kinh tế vĩ mô trong thời gian sắp tới :lạm phát tăng cao, giá dầu thô tăng, giá nhân công tăng và lãi suất cho vay biến động khó lường dẫn đến chi phí đầu vào của SUDICO sẽ tăng trong mảng kinh doanh xây dựng, từ đó, lợi nhuận công ty kì vọng sẽ khó tăng cao trong năm tài chính 2011.
Do những động thái của chính phủ về thắt chặt cho vay bất động sản : nên có thể việc bán căn hộ chung cư cũng như bất động sản gắn kèm cơ sở hạ tầng của SUDICO sẽ chững lại trong thời gian ít nhất là 2 quý tới Tình hình sẽ chỉ cải thiện khi Ngân hàng nhà nước nới lỏng chính sách tiền tệ do nguy cơ lạm phát cao đã giảm xuống.
Nắm giữ cổ phiếu đến tháng 3/2012 cũng là thời điểm công ty SUDICO sẽ chi trả cổ tức => Tăng luồng tiền vào ( cash in ) từ việc đầu tư cổ phiếu này
Bước 2 : Dự đoán mức tăng trưởng cổ tức của SJS :
G = ROE * Tỉ lệ thu nhập giữ lại.
Chỉ tiêu báo cáo tài chính tóm tắt
Các khoản mục Năm 2010 ( đồng)
Doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ
Lợi nhuận gộp bán hàng và cung cấp dịch vụ
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 641.213.743.590
- ROE = Lợi nhuận thuần / Vốn chủ sở hữu
- Tỉ lệ thu nhập giữ lại : = 1- Chỉ số thanh toán cổ tức = 1- 2000/ 5890 66%
Bước 3 : Tính lãi suất chiết khấu :
Do SUDICO phát hành cả trái phiếu và cổ phiếu nên lãi suất chiết khấu trong trường hợp này phải là chi phí vốn bình quân.
Trong đó : r e = chi phí sử dụng vốn cổ phần; r d = chi phí sử dụng vốn vay; t= thuế Thu nhập doanh nghiệp = 25%.
Tính đến năm 2010, cơ cấu vốn của SUDICO là :
Nguồn vốn Giá trị %/ Tổng nguồn vốn
Trái phiếu ( không chuyển đổi ) (D)
Nguồn : Báo cáo tài chính 2010- SUDICO
SUDICO không phát hành cổ phiếu ưu đãi.
- Theo Bản thuyết minh báo cáo tài chính 2010 của SUDICO: Lãi suất trái phiếu = Lãi suất tiền gửi ngân hàng kì hạn 12 tháng + 4 % lãi biên 14 % + 4 % = 18 %.
Hiện nay , Lãi suất tiền gửi liên ngân hàng kì hạn 12 tháng - Chi phí sử dụng vốn cổ phần = r e r f * ( r m r f ) ( Mô hình CAPM) Trong đó :
- r f = Lãi suất trái phiếu chính phủ = 11 % => Do Ngày 11/2, Kho bạc Nhà nước đã có buổi đấu giá thành công 4.650 tỷ đồng/5.000 tỷ trái phiếu Chính phủ với lãi suất trúng thầu 11%/năm với 3 kỳ hạn 2 năm, 3 năm và 5 năm. Như vậy chúng ta sẽ lấy mức lãi suất trung bình trái phiếu chính phủ là 11
- Hệ số β = 1,3 theo tính toán của Công ty chứng khoán Âu Việt.
- r m = Lãi suất cho vay bình quân trên thị trường = 17 %.
Bước 4 : Dự tính mức chi trả cổ tức :
Do đó : Trong năm 2011, kì vọng SUDICO sẽ chia cổ tức theo mức phổ biến qua các năm là 20 %.
Năm tài chính 2010, cổ tức là 2000đ/ cổ phiếu = D0
Bước 4 : Tính giá hiện tại của cổ phiếu SJS theo mô hình DDM: g r
=> Vậy P 0 = 2286 /( 17,03 %- 14% ) = 47.625 đ hay giá trị thực cổ phiếu SJS hiện nay là 47.625 đ
Căn cứ trên thu nhập mỗi cổ phiếu để tính toán giá trị thực của cổ phiếu : Theo FPTS : P/E = 8.3 và EPS= 5890đ
Nhận xét : cả 2 cách tính cho kết quả gần nhau.
Hiện nay, ngày 14.3, Giá SJS là 48.900đ/ cổ phiếu.
Từ kết quả định giá trên, ta thấy giá trị cổ phiếu đang nằm trên đường giá trị thực Nhưng do những ưu điểm của công ty SUDICO và những tiềm năng của ngành bất động sản , SJS vẫn là một cổ phiếu rất tốt và nhà đầu tư nên mua cổ phiếu này trong giai đoạn hiện nay.