1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ phân tích thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam, cho biết các đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thuế thu nhập cá nhân hiện nay

18 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 684,26 KB
File đính kèm LTC ĐỀ 9.rar (585 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN LUẬT TÀI CHÍNH ĐỀ BÀI SỐ 09 “Từ phân tích thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam, cho biết các đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thuế thu nhập cá nhân hiện nay” HỌ VÀ TÊN MSSV LỚP Hà Nội, 2022 MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 1 B NỘI DUNG 2 I Khái niệm về thuế, thuế thu nhập cá nhân 2 1 Khái niệm chung về thuế 2 2 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân 2 3 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 2 II Thực trạng pháp luật t.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

MÔN:

LUẬT TÀI CHÍNH

ĐỀ BÀI SỐ 09 :

“Từ phân tích thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam, cho biết các đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về

thuế thu nhập cá nhân hiện nay”

HỌ VÀ TÊN:

MSSV : LỚP :

Hà Nội, 2022

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 2

I Khái niệm về thuế, thuế thu nhập cá nhân 2

1 Khái niệm chung về thuế 2

2 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân 2

3 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 2

II Thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 4

1 Về đối tượng nộp thuế 4

2 Về thu nhập thuộc diện chịu thuế, miễn thuế 5

2.1 Thu nhập chịu thuế TNCN 5

2.2 Thu nhập miễn thuế TNCN 7

2.3 Giảm thuế 8

III Những điểm hạn chế, chưa hợp lý về thuế TNCN 9

1 Tồn tại nhiều kẽ hở trong việc xác định đối tượng và thu nhập thực tế của người nộp thuế 10

2 Việc kiểm soát thu nhập của người nộp thuế là cán bộ, công chức vẫn còn những bất cập 10

3 Vướng mắc trong kiểm soát kê khai người phụ thuộc 11

4 Quy định mức giảm trừ gia cảnh phù hợp với bối cảnh thực tiễn 11

IV Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về thuế thu nhập cá nhân 12

1 Nâng cao hiệu quả của cơ chế hành thu và kiểm soát thu nhập của người nộp thuế 12

2 Đẩy mạnh hoạt động đăng ký và cấp mã số thuế cho người nộp thuế 13

3 Hoàn thiện quy định về giảm trừ gia cảnh 14

4 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế TNCN; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm thuế TNCN 15

C KẾT LUẬN 15

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 3

A MỞ ĐẦU

Việt Nam đang đi trên con đường đổi mới và hội nhập với nền kinh tế thế giới Những quy luật kinh tế khách quan và tất yếu đang từng giờ, từng phút điều chỉnh nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của từng khu vực, từng quốc gia và bản thân mỗi chúng ta Quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế trong khu vực tiến đến toàn cầu hoá nền kinh tế đang dần chứng tỏ là một quy luật của loài người tiến bộ Để bắt kịp với quá trình này thì mỗi quốc gia phải liên tục có những cải cách nhằm làm phù hợp và thích nghi với môi trường bên ngoài Trong công cuộc cải cách đó, cải cách về thuế luôn đươc các quốc gia chú trọng

Thuế là một trong những khoản thu ngân sách quan trọng nhất của nhà nước Nộp thuế là trách nhiệm và nghĩa vụ của mội người dân và các tổ chức xã hội khác Hiện nay, các Nhà nước thông qua thuế điều tiết một phần thu nhập của người giàu, nhằm góp phần giảm khoảng cách giàu nghèo đang ngày một nới rộng Thuế là khoản thu không hoàn trả trực tiếp của Ngân sách nhà nước Hệ thống thuế hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau, lập nên nguồn thu cho Ngân sách nhà nước Việt nam là một đất nước đang trên đà phát triển, trước bối cảnh mở cửa nền kinh tế hiện nay khoảng cách về thu nhập giàu nghèo ngày càng nới rộng, Vì thế, thuế thu nhập cá nhân là điều đáng quan tâm không chỉ đối với Nhà nước mà còn đối với mỗi người dân Việt Nam chỉ mới ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007, qua 14 năm, trải qua các cuộc cải cách, sửa đổi và bổ sung thì nó vẫn luôn là một vấn đề nóng được toàn xã hội quan tâm

Bởi vậy, mong muốn được tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về thuế, đặc biệt là về thuế thu nhập các nhân, em xin chọn đề bài số 09 làm đề tài nghiên cứu cho bài tiểu

luận kết thúc học phần môn học như sau “ Từ phân tích thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam, cho biết các đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thuế thu nhập cá nhân hiện nay.”

Do kiến thức về lý luận và thực tiễn còn chưa phong phú và sâu sắc nên bài làm

có thể không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, bởi vậy rất mong ý kiến nhận xét, phê bình thêm của thầy/cô để bài làm được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

A NỘI DUNG

I Khái niệm về thuế, thuế thu nhập cá nhân.

1 Khái niệm chung về thuế.

Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuế, vì thế chúng ta vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về thuế Một khái niệm về thuế được coi là hoàn hảo nhất được nêu trong cuốn “ economics” của hai nhà kinh tế học của Mỹ ( Makkollhell và

Brury) như sau: “ Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền hoặc chuyển

bằng hàng hóa, dịch vụ của công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không được nhận trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là khoản tiền phạt mà tòa án phạt do hành vi vi phạm pháp luật.”

Các định nghĩa về thuế có thể khác nhau về cách hiểu nhưng nhìn chung trong các cách hiểu đấy thuế là nguồn thu và ngân sách nhà nước mang tính bắt buộc, gắn với quyền lực của nhà nước và người nộp thuế đóng góp bắt buộc theo luật thuế mà không được hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước

2 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân.

Hiện nay, chưa có định nghĩa chính xác, cụ thể về thuế thu nhập cá nhân (thuế TNCN) Tuy nhiên, dựa trên các quy định của pháp luật được ghi nhận tại Luật thuế thu nhập cá nhân, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn, có thể hiểu thuế TNCN như sau:

Thuế thu nhập cá nhân là khoản tiền thuế mà người có thu nhập phải trích nộp một phần tiền lương hoặc từ các nguồn thu khác vào ngân sách nhà nước sau khi đã tính các khoản được giảm trừ.

3 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân.

Thứ nhất, thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu Thuế TNCN là thuế trực thu

do người chịu thuế cũng là người nộp thuế và khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho chủ thể khác Việc nộp thuế được tiến hành từ việc khấu trừ trực tiếp từ thu nhập của cá nhân đó mà không thông qua hành vi tiêu dung hoặc chỉ thể trung gian khác Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội Thuế TNCN được điều tiết trực tiếp vào thu nhập, tài sản của cá nhân

Trang 5

có xem xét tình trạng, hoàn cảnh, điều kiện, khả năng đóng góp của người nộp nên giảm bớt được sự chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư

Thứ hai, thuế TNCN có đối tượng chịu thuế là thu nhập của cá nhân Con người

tạo ra thu nhập dưới nhiều hình thức khác nhau Mục đích của việc phân loại thu nhập là cơ sở cho việc phân định đối tượng chịu thuế của các sắc thuế khác nhau cũng như đặt ra các cơ chế hành thu hiệu quả Thông thường thu nhập chịu thuế phải là những khoản thu nhập hợp pháp, đã thực tế phát sinh, có tính phổ biến và Nhà nước có thể kiểm soát được Như vậy, pháp luật thuế thu nhập mới đảm bảo được tính khả thi, công bằng và đảm bảo được nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước

Thứ ba, việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc thuế

suất lũy tiến từng phần Thuế suất lũy tiến được hiểu là việc áp dụng các thuế suất

tăng dần đối với các nhóm đối tượng chịu thuế hoặc toàn bộ đối tượng chịu thuế Theo đó, hiện nay thuế TNCN chủ yếu được áp dụng thuế suất lũy tiến đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương và thu nhập từ kinh doanh Thuế thu nhập cá nhân thường mang tính chất lũy tiến cao Vì thế thu nhập cá nhân đánh theo nguyên tắc khả năng trả thuế và thuế suất của nó thường được thiết kế theo biểu lũy tiến từng phần nhằm đảm báo tính công bằng giữa các đối tượng trả thuế Việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng lên càng cao thì phải tính thuế suất càng cao

Thứ tư, thuế TNCN là loại thuế có tính ổn định không cao và phức tạp Đặc

điểm này của thuế TNCN được thể hiện ở các quy định về thu nhập chịu thuế, thu nhập chịu thuế không thường xuyên thay đổi theo biến động của nền kinh tế trong từng thời kỳ Ngoài ra, các quy định như giảm trừ gia cảnh, về mức thuế suất cũng

có những sự thay đổi linh hoạt do thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân nên có tác động lớn đến mức sống của dân cư và chịu ảnh hưởng bởi giá cả thị trường

Thứ năm, nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế TNCN bao gồm các văn bản

pháp luật quốc gia và luật quốc tế Hầu hết thuế TNCN của các quốc gia trên thế

giới không chỉ áp dụng với công dân nước mình mà còn áp dụng đối với người nước ngoài có thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh thổ quốc gia đó Để tránh được

Trang 6

tình trạng thu thuế hai lần trên một đối tượng chịu thuế, các hiệp định tránh đánh thuế hai lần được ký kết giữa các quốc gia và cũng là nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế TNCN

II Thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam.

Thuế TNCN đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc, là khoản đóng góp không hoàn trả cho người nộp và luôn gắn liền với những chính sách xã hội Thu nhập chịu thuế TNCN bao gồm thu nhập từ kinh doanh, thu nhập tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, thu nhập từ vốn đầu tư, thu nhập từ chuyển nhượng vốn là khoản tiền lãi nhận được tử việc chuyển nhượng vốn của cá nhân,… Vấn đề thuế thu nhập ở nước ta chỉ được đặt ra trong quá trình đổi mới nền kinh tế đang chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường Khi lấy dự thảo và sau khi ban hành, Luật Thuế thu nhập cá nhân còn khá nhiều điểm bất cập nhưng đã được sửa đổi bổ sung và ngày càng khẳng định được vai trò của mình Công tác quản lý thuế TNCN đang từng bước cải thiện, nâng cao để phù hợp với tình hình của đất nước trong các giai đoạn mong muốn đạt được nhiều thành tựu Nhìn chung, các chính sách được đưa ra đối với TNCN phù hợp với điều kiện kinh tế của xã hội đất nước, đảm bảo được nguồn thu cho ngân sách, kiểm soát thu nhập của cá nhân, thực hiện công bằng xã hội, nâng cao nhận thức của đối tượng nộp thuế về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho ngân sách nhà nước

1 Về đối tượng nộp thuế.

- Phạm vi chịu thuế Trước đây, nguyên tắc đánh thuế thu nhập đối với cá nhân

dựa trên tiêu chí phân biệt công dân Việt Nam với người nước ngoài Cách phân biệt này là không cần thiết, gây ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách thu hút đầu tư từ nước ngoài của Nhà nước Bởi vậy, pháp luật hiện hành đã có thay đổi khi xác định phạm vi chịu thuế chỉ dựa trên tiêu chí là tình trạng cư trú của đối tượng nộp thuế Việc quy định như vậy tạo sự bình đẳng giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, tránh sự phức tạp trong xác định đối tượng chịu thuế, thể hiện sự thiện chí trong việc thực hiện các chính sách đãi ngộ quốc gia đối với các nhà đầu tư, người nước ngoài khi làm việc và sinh sống tại Việt Nam

Trang 7

- Quy định về căn cứ xác định yếu tố cư trú Luật Thuế TNCN quy định căn cứ

để xác định một cá nhân là cá nhân cư trú hay không cư trú dựa vào thỏa mãn một trong hai điều kiện, đó là nơi ở và thời gian có mặt tại Việt Nam

+ Điều kiện “có mặt tại Việt Nam” được hiểu là sự hiện diện của cá nhân đó

trên lãnh thổ Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầy tiên có mặt tại Việt Nam (Khoản 2 Điều 2)

So với quy định trước đây tại Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhaajo cao thì quy định của Luật Thuế TNCN đã thể hiện sự mềm dẻo, linh hoạt hơn và bao quát được những cá nhân có mặt ở Việt Nam trên 183 ngày nhưng ở những tháng gián đoạn, không liên tục

+ Điều kiện “có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về

nhà ở” Pháp luật Thuế TNCN đã tăng thời hạn thuê nhà để ở theo hợp đồng thuê từ

90 lên 183 ngày Việc xác định số ngày thuê nhà căn cứ vào các hợp đồng thuê, kể

cả trường hợp hợp đồng thuê được ký trước 1/7/2013 Sửa đổi này đã giảm thủ tục hành chính, giảm phiền phức cho người nộp thuế, đơn giản trong quá trình quản lý thu thuế và phù hợp với thông lệ quốc tế

+ Đối với cá nhân không cư trú là người không đáp ứng đồng thời cả hai điều kiện về thời gian có mặt cũng như có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam Cách quy định này thể hiện sự đơn giản hóa cho quá trình xây dựng pháp luật, tuy nhiên lại không rõ ràng bởi cá nhân không cư trú có mặt ở Việt Nam 01 ngày khác với trường hợp có mặt 182 ngày Do đó, cần quy định rõ hơn về cá nhân không cư trú

để việc xác định số thuế TNCN chính xác và thuận tiện

2 Về thu nhập thuộc diện chịu thuế, miễn thuế.

2.1 Thu nhập chịu thuế TNCN.

Do thu nhập của cá nhân được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau nên việc xác định thu nhập chịu thuế để đảm bảo được tính công bằng, bình đẳng mà vẫn khuyến khích được người dân lao động, sản xuất tạo thu nhập là việc làm cần thiết khi xây dựng các quy định về thu nhập chịu thuế TNCN Luật thuế TNCN hiện hành đã liệt kê hầu hết các loại thu nhập có thể phát sinh và áp dụng thống nhất điều chỉnh các loại thu nhập của cá nhân trong một

Trang 8

văn bản tránh tình trạng khó khăn trong việc áp dụng pháp luật Theo đó hiện nay

có 10 loại thu nhập chịu thuế TNCN được quy định tại Điều 3 Luật thuế TNCN

2007 So với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao thì các quy định về thu nhập chịu thuế của Luật thuế TNCN 2007 có những điểm mới sau:

- Đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh Pháp lệnh trước đây xác

định thu nhập từ kinh doanh là đối tượng chịu thuế TNDN bất kể chủ thể kinh doanh là cá nhân hay tổ chức, bởi trong giai đoạn đó thì các các cá nhân kinh doanh

và hành nghề độc lập còn khá ít Tuy nhiên áp dụng trên thực tiễn đã cho thấy sự không hợp lý bởi cá nhân kinh doanh thường với quy mô nhỏ, nguồn vốn hạn hẹp

Do đó, nếu áp dụng thuế TNDN với đối tượng này sẽ không đảm bảo nguyên tắc công bằng giữa các đối tượng nộp thuế Do đó, việc chuyển thu nhập của cá nhân kinh doanh qua sự điều chỉnh của Luật Thuế TNCN vừa phù hợp thông lệ quốc tế

và góp phần xây dựng hệ thống pháp luật bình đẳng và hợp lý

- Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công Luật thuế TNCN đã quy định cụ

thể và chi tiết hơn so với Pháp lệnh, theo đó thu nhập từ tiền lương, tiền công được hiểu là thu nhập mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, bao gồm tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công nhận được dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền Các khoản phụ cấp, trợ cấp mà cá nhân được hưởng cũng được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 3 Luật Thuế TNCN

Có thể thấy việc Luật Thuế TNCN quy định cụ thể, rõ ràng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công có ý nghĩa quan trọng bởi đây là thu nhập mang tính thưởng xuyên của người nộp thuế và chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn thu của thuế TNCN Ngoài

ra, các thu nhập mang tính chất tiền công, tiền lương tồn tại dưới nhiều hình thức phong phú và đa dạng nên cần quy định chi tiết để xác định đúng loại thu nhập chịu thuế, từ đó áp dụng căn cứ tính thuế phù hợp

- Đối với các thu nhập khác Luật Thuế TNCN 2007 đã mở rộng diễn điều tiết

hợp lý trên cơ sở bổ sung một số khoản thu nhập chịu thuế mới Có thể thấy việc

mở rộng diện điều tiết đối với thu nhập của cá nhân trong xã hội sẽ góp phần điều tiết công bằng thu nhập của các tầng lớp dân cư theo hướng mọi cá nhân có thu nhập (trừ một số trường hợp đặc biệt) đều phải có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước

Trang 9

Đồng thời, với quy định mới này Luật Thuế TNCN đã góp phần tăng thu cho NSNN một cách hợp lý trên cơ sở không bỏ sót nguồn thu của nền kinh tế

Nhìn chung, quy định về thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật thuế TNCN hiện hành theo xu hướng phân loại thu nhập đã tạo nền tảng cho việc tính thuế phù hợp với thông lệ quốc tế Việc phân loại thu nhập chịu thuế cũng tạo cơ sở cho việc áp dụng thuế suất, đó là áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công và áp dụng biểu thuế toàn phần với các khoản thu nhập còn lại

- Nhằm hoàn thiện pháp luật về thu nhập chịu thuế TNCN, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN 2012 đã có những điều chỉnh và bổ sung thêm các quy định phù hợp hơn đối với thu nhập chịu thuế Cụ thể, sửa đổi quy định

về các khoản phụ cấp, trợ cấp không tinh vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công: Để đảm bảo nguyên tắc chỉ các khoản trợ cấp mang tinh bù đắp những rủi ro, giải quyết khó khăn tạm thời cho người lao động hoặc các khoản phụ cấp, trợ cấp mang tính chất bảo trợ, an sinh xã hội mới được trừ khỏi thu nhập chịu thuế, Luật thuế TNCN sửa đổi đã xóa bỏ các khoản trợ cấp, phụ cấp không còn được áp dụng,

đồng thời bổ sung thêm quy định đánh thuế đối với "trợ cấp mang tỉnh bao trợ xã

hội và các khoản trợ cấp, phụ cấp khác không mang tinh chất tiền lương, tiền công theo quy định của Chính phủ” Với quy định này Luật thuế TNCN sẽ bao quát hết

các khoản trợ cấp, phụ cấp thuộc diện chịu thuế mà người lao động được hưởng, kể

ca khi phát sinh các khoản phụ cấp mới trong tương lai

- Về thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của Luật thuế TNCN 2012 quy định thêm "Các khoản thu nhập khác nhận được

tử chuyển nhượng bất động sản dưới mọi hình thức" để đảm bảo bao quát hết các

trường hợp thu nhập phát sinh từ chuyển nhượng bất động sản Theo đó các trường hợp người có bất động sản làm hợp đồng ủy quyền mà người được ủy quyền có cả quyền cho, tặng, chuyển nhượng bất động sản… phát sinh thu nhập đều được coi là thu nhập chịu thuế

2.2 Thu nhập miễn thuế TNCN.

Trang 10

Điểm mới của Luật thuế TNCN là sử dụng thuật ngữ "thu nhập được miễn thuế” thay thế cho “thu nhập không chịu thuế" được quy định tại Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Miễn thuế khác với không chịu thuế ở chỗ ở trường hợp miễn thuế thì giữa chủ thể nộp thuế với Nhà nước vẫn phát sinh quan hệ pháp luật thuế, khác với trường hợp không chịu thuế không phát sinh quan hệ pháp luật thuế Việc sử dụng thuật ngữ “thu nhập được miễn thuế” là phù hợp bởi các nguồn thu nhập thường rất đa dạng, phức tạp và thưởng xuyên thay đổi theo từng thời kỳ nên trong các giai đoạn khác nhau, quan niệm của pháp luật về thu nhập được miễn thuế TNCN cũng sẽ khác nhau Quy định như trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc áp dụng chính sách thuế TNCN bởi người có thu nhập được miễn thuế cũng phải thực hiện nghĩa vụ kê khai thuế với Nhà nước

Trên cơ sở kế thừa các khoản thu nhập không thuộc diện chịu thuế của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế TNCN 2007 đã bổ sung một

số thu nhập vào diện thu nhập được miễn thuế quy định tại Điều 4, theo đó có 14 loại thu nhập được miễn thuế TNCN

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN 2012 cũng đã bổ sung quy

định miễn thuế TNCN tại khoản 10 Điều 4 Luật thuế TNCN 2007 đối với “tiền

lương hưu do quỹ hưu trí tự nguyện chi trả hàng tháng" đồng thời bổ sung quy định

không tính vào thu nhập tính thuế đối với khoản đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện Chính phủ quy định mức tối đa được trừ đối với khoản đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện là quy định mới nhằm tránh tình trạng lợi dụng chính sách để trốn thuế

Có thể nói rằng, việc bổ sung một số khoản thu nhập được miễn thuế tại Luật thuế TNCN 2007, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN 2012 đã thể hiện sự ưu đãi của Nhà nước đối với một số đối tượng được hưởng thu nhập trong những trường hợp đặc biệt, đồng thời cũng thể hiện chính sách khuyến khích các hoạt động có lợi cho phát triển kinh tế - xã hội nhằm tăng cường lao động sản xuất

II.3 Giảm thuế.

Đối tượng nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo… ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế thì được xét giảm thuế tương ứng với mức độ thiệt hại nhưng không vượt quá số thuế phải nộp

Ngày đăng: 22/07/2022, 08:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w