BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ TRẦN THỊ NGỌC TRANG KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ỐI VỠ NON TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2016 2017 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA CẦN THƠ – 2017 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ TRẦN THỊ NGỌC TRANG KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ỐI VỠ NON Ở THAI PHỤ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2016 2017 LUẬ.
QUAN TÀI LIỆU
Đặc điểm thai và phần phụ của thai
1.1.1 Sự thụ tinh, làm tổ và phát triển của trứng thụ tinh[21]
Quá trình thụ tinh diễn ra trong vòi trứng và xảy ra chỉ trong vài giờ đầu sau khi rụng trứng Các giao tử nam và nữ gặp nhau ở đây, kết hợp để hình thành hợp tử có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội.
Quá trình phát triển của phôi trước khi làm tổ bắt đầu từ hợp tử nguyên phân thành phôi bào Quá trình phân chia này vẫn tiếp tục khi phôi di chuyển qua vòi trứng, hình thành phôi dâu Phôi dâu vào buồng tử cung khoảng 3–4 ngày sau thụ tinh và tiếp tục phát triển thành phôi nang.
- Sự làm tổ: xảy ra ở phần trên, mặt sau của tử cung, kết thúc vào ngày 10-11 sau thụ thai
- Sự phát triển của phôi sau khi làm tổ: đến ngày 24-26 của thai kỳ, đĩa phôi có
2 lá gồm ngoại bì và nội bì Sự tăng sinh tế bào tại đĩa phôi tạo đường nguyên thủy
Quá trình tế bào lan rộng hai bên hình thành trung bì, từ đó đĩa phôi ba lá được hình thành và phát triển thành tất cả các cơ quan của thai nhi.
1.1.2 Đặc điểm phần phụ thai
- Màng bào thai: gồm 3 lớp màng rụng, màng đệm và màng ối
Nước ối là một môi trường giàu dinh dưỡng, có khả năng tái tạo và trao đổi chất, đóng vai trò quan trọng đối với sự sống và sự phát triển của thai nhi.
Nhau thai là cơ quan chủ yếu và duy nhất đảm nhiệm vai trò trao đổi hô hấp và chuyển hóa, đồng thời tổng hợp và điều hòa hormone, nuôi dưỡng thai nhi để sống và phát triển đến khi trưởng thành và thích nghi với môi trường bên ngoài cơ thể mẹ.
Dây rốn đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận chuyển máu giữa thai nhi và nhau thai Một đầu dây rốn gắn với rốn thai nhi ở vùng bụng, còn đầu kia kết nối với nhau thai ở mặt hướng về thai, tạo thành đường dẫn giúp máu mang oxy và dinh dưỡng từ nhau thai đến thai nhi và vận chuyển chất thải từ thai nhi trở lại nhau thai.
Đặc điểm nước ối
Về lý tính, nước ối có tính kiềm yếu với tỉ trọng khoảng 1,010 và nồng độ thẩm thấu vào khoảng 250 mOsmol/L, thích hợp cho sự phát triển của thai nhi Ở đầu thai kỳ nước ối màu trắng trong, trở nên hơi đục vào gần cuối thai kỳ [36].
Về hóa tính: 97% là nước, còn lại là muối khoáng và các chất hữu cơ[5], [16]
- Thành phần hữu cơ bao gồm các protein, nitơ toàn phần không phải protein (ure, creatinin, acid uric, acid amin), glucid, lipid, các hormone và chất màu[16]
Thành phần vô cơ của dịch cơ thể thai kỳ cho thấy nồng độ Na+, Cl− và K+ gần bằng huyết thanh của mẹ Trong suốt thai kỳ, Na+ và Cl− có thể giảm nhẹ do pha loãng bởi nước tiểu của thai nhi, trong khi nồng độ K+ vẫn không đổi [36].
Trong nước ối có nhiều loại tế bào, gồm tế bào da, các tế bào niêm mạc được bong tróc từ niêm mạc của thai nhi như niêm mạc họng và niêm mạc âm đạo, các tế bào nhiều nhân, các đại thực bào và các tế bào không nhân.
1.2.2 Nguồn gốc của nước ối
Nước ối xuất hiện từ ngày 12 sau thụ tinh, được sản sinh từ ba nguồn gốc:
Thai nhi ở giai đoạn đầu có sự hình thành nước ối liên quan đến sự phát triển của da thai nhi, và quá trình này chỉ chấm dứt khi chất gây xuất hiện (khoảng tuần 20–28) Từ tuần thứ 20, nước ối được cho là xuất hiện từ khí-phế quản Đường quan trọng nhất tham gia hình thành nước ối là đường tiết niệu, xuất hiện từ tháng thứ 4.
- Màng ối: là màng bán thấm, lượng nước trao đổi khoảng 1800 ml/giờ[14]
1.2.3 Vai trò của nước ối:
+ Tạo không gian cho những cử động của thai, giúp hệ thống tiêu hóa, cơ xương phát triển bình thường[15]
Nước ối đóng vai trò như một tấm áo khoác bảo vệ quý giá cho thai nhi, giúp thai nhi tránh được các chấn thương từ bên ngoài và ngăn thai nhi dính vào màng ối trong suốt quá trình phát triển trong buồng ối Môi trường nước ối ổn định và êm dịu hỗ trợ sự tăng trưởng của thai nhi, đồng thời giảm ma sát và áp lực, tạo điều kiện cho thai kỳ phát triển khỏe mạnh.
+ Giúp thai nhi cử động tự do, lớn lên dễ dàng trong môi trường nước[15]
+ Giúp cho dây rốn không bị chèn ép, không bị khô, tuần hoàn trong dây rốn được dễ dàng[15]
+ Giúp kiềm hãm sự phát triển của vi khuẩn, đề phòng nhiễm khuẩn môi trường quanh thai khi ở trong tử cung[38]
- Vai trò chuyển hóa, điều nhiệt:
Nước ối có quan hệ trực tiếp với cân bằng lượng nước trong phôi-thai, giúp cho phôi-thai dễ dàng đạt được cân bằng nước[15]
Nước ối cũng là chỗ bài tiết, đào thải của thai nhi[15]
Nước ối giúp duy trì thân nhiệt của thai nhi ở trong tử cung [15]
Nước ối đóng vai trò quan trọng giúp thai nhi dễ dàng bình chỉnh ngôi thai và có thể quay được trong tử cung Trong khi chuyển dạ, nước ối góp phần hình thành đầu ối và giúp cổ tử cung xóa mở dễ dàng hơn.
Tổng quan về ối vỡ non
1.3.1 Định nghĩa ối vỡ non Ối vỡ non là ối vỡ trước khi bắt đầu chuyển dạ ít nhất một giờ[9], [28] Theo bình diện thời gian thì ối vỡ non được định nghĩa so với thời điểm bắt đầu chuyển dạ mà không liên quan đến tuổi thai[9]
1.3.2 Nguyên nhân ối vỡ non
- Thai gần trưởng thành, các màng thai tại lỗ trong tử cung bị “suy yếu” dần nên ối dễ bị vỡ tại vị trí này[51]
- Một số tình trạng bệnh lý (chảy máu, nhiễm trùng)[51]
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục và nhiễm trùng đường sinh dục dưới tác động của sự xâm nhập của vi khuẩn và phản ứng viêm ở thai phụ dẫn đến sản xuất phospholipase, kích thích tổng hợp prostaglandin, gây suy yếu màng ối và kích hoạt cơn gò tử cung.
Các nguyên nhân gây bất ổn thai nhi và đồng thời làm tăng nguy cơ vỡ ối non gồm ngôi thai bất thường, nhau tiền đạo, đa ối, đa thai và khung chậu hẹp Những yếu tố này có thể gây suy thai hoặc tình trạng thai nhi không ổn định và đòi hỏi theo dõi thai kỳ chặt chẽ, can thiệp kịp thời để bảo đảm sức khỏe của mẹ và thai nhi.
- Tử cung căng quá mức trong đa ối, song thai, thiểu năng cổ tử cung [13], [37] Trong đa số trường hợp, nguyên nhân chưa được biết đến[37]
1.3.3 Chẩn đoán ối vỡ non
Một sản phụ được chẩn đoán xác định ối vỡ non khi ra nước ối tự nhiên và loại trừ được các dấu hiệu chuyển dạ như: đau bụng từng cơn do co bóp tử cung tăng dần, ra dịch nhầy có máu ở âm đạo, cổ tử cung xóa mở, thành lập đầu ối[6]
Hỏi bệnh sử về tính chất ra nước ối Trong trường hợp điển hình, sản phụ khai ra nước đột ngột, nhiều khi có lẫn cả chất gây[9] Tính chất dịch: đục, lợn cợn, trong, vàng hay xanh sậm[3]
Cần phân biệt vỡ ối với:
Són tiểu là hiện tượng nước tiểu thoát ra với lượng không nhiều và không rỉ rả liên tục như khi vỡ ối Ngoài ra nước tiểu thường có mùi khai và có pH acid.
- Huyết trắng: đôi khi nhiều và loãng làm dễ lầm với vỡ ối Phân biệt bằng cách hỏi bệnh sử kỹ và khám lâm sàng cẩn thận
Ở giai đoạn cuối thai kỳ hoặc khi bắt đầu chuyển dạ, cổ tử cung hé mở sẽ đẩy nút nhầy cổ tử cung ra ngoài; nhầy cổ tử cung này dai và đặc, thường kèm một ít máu hồng, cho thấy cổ tử cung đang mở và chuẩn bị cho quá trình sinh diễn ra.
- Đặt mỏ vịt vô trùng để chẩn đoán vỡ ối, xem độ mở và xóa cổ tử cung[8]
Khám âm đạo bằng tay không nên được thực hiện trừ khi có chuyển dạ hoặc thai đã trưởng thành; vì nguy cơ nhiễm trùng ối tăng theo số lần khám.
- Đánh giá chỉ số Bishop: được đề nghị bởi Edward Bishop năm 1964 Chỉ số Bishop > 6, tiên lượng có khả năng sinh ngã âm đạo thành công[59]
(Nguồn: RCOG 2001) Điểm 0 1 2 3 Độ mở CTC 0 cm 1-2 cm 3-4cm ≥5cm Độ xóa CTC 0-30% 40-50% 60-70% ≥80% Độ lọt -3 -2 -1, 0 +1, +2
Tư thế CTC Ngã trước Trung gian Ngã sau
Mật độ CTC Cứng Trung bình Mềm
Cận lâm sàng chẩn đoán ối vỡ
Nitrazine test là phương pháp dùng để phân biệt nước ối với nước tiểu và dịch tiết âm đạo dựa trên độ pH Nước ối có pH từ 7.1 đến 7.3, dịch âm đạo có pH 4.5–6.0, và nước tiểu có pH ≤ 6.0 Sau khi đặt mỏ vịt để quan sát, dùng tăm bông vô trùng thấm dịch tại cổ âm đạo rồi thử lên giấy quỳ; nếu giấy quỳ đổi màu từ vàng cam sang xanh đậm thì có thể là nước ối Tuy nhiên, máu, tinh dịch và nhiễm khuẩn âm đạo có thể cho kết quả dương tính giả, và nước ối rỉ ra quá ít hoặc không còn nước ối có thể cho kết quả âm tính giả.
Hình 1.1.Nitrazine test dương tính
(Nguồn: Sản khoa-Lê Hồng Cẩm 2014)
Xét nghiệm kết tinh hình lá dương xỉ (Fern test) là kỹ thuật dùng phết dịch ối lên lam kính, để khô ở nhiệt độ phòng và quan sát dưới kính hiển vi sẽ thấy hình lá dương xỉ Hiện tượng này do sự có mặt của natri clorua trong dịch ối và được xem là phương pháp chẩn đoán vỡ ối tốt hơn Nitrazine test Ngược lại, nếu mẫu là chất nhầy cổ tử cung sẽ không xuất hiện hình lá dương xỉ; nếu có, sự phân nhánh của tinh thể sẽ rất ít.
Amnisure là xét nghiệm sử dụng phương pháp miễn dịch sắc ký nhằm phát hiện PAMG-1 (alpha-microglobulin-1), một protein có trong dịch âm đạo, để chẩn đoán vỡ màng ối Xét nghiệm có độ nhạy lên tới 98% và độ đặc hiệu khoảng 87% Tuy nhiên chi phí của Amnisure còn khá đắt Điểm mạnh là Amnisure không bị ảnh hưởng bởi sự hiện diện của máu và nhiễm trùng, cho kết quả đáng tin cậy ngay cả khi có máu hoặc nhiễm trùng.
Trong phân tích nước ối, người ta quan sát dưới kính hiển vi để nhận diện các thành phần liên quan đến thai nhi, như lông và tóc, và có thể dùng các phẩm nhuộm đặc biệt như xanh nil hoặc vàng acridin để tìm tế bào biểu mô của thai nhi.
- Định lượng DAO (diamin oxydase): do nhau tiết ra, độ chính xác tới 90%[8]
Siêu âm không giúp chẩn đoán nhưng hữu ích trong xác định lượng nước ối còn lại và đưa ra hướng xử trí phù hợp, đặc biệt ở thai còn non tháng Các bước siêu âm cần thiết để lên kế hoạch xử trí bao gồm đánh giá tuổi thai, cân nặng thai, ngôi thai, vị trí nhau thai và đo chỉ số ối Chỉ số ối thấp ( 7 ngay sau sinh; các vấn đề hô hấp, sinh hiệu và khả năng sống sau sinh được cải thiện tốt trong vòng 7 ngày.
Không tốt: trẻ sơ sinh có chỉ số Apgar < 6, phải hồi sức sơ sinh, nhiễm trùng sơ sinh, tử vong sau sanh…
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu
Để nghiên cứu và theo dõi thai kỳ hiệu quả, bài viết tập trung vào các phương tiện nghiên cứu và các phương tiện thăm khám sản khoa cơ bản Danh sách bao gồm phiếu thu thập số liệu, bàn khám sản khoa, găng tay vô trùng, mỏ vịt vô trùng, thước dây, bảng tính tuổi thai, cân chuyên dụng cho trẻ sơ sinh, ống nghe, nhiệt kế, máy đo huyết áp, giấy quỳ, monitor sản khoa và máy siêu âm, nhằm đảm bảo thu thập dữ liệu chính xác và đánh giá tình trạng thai phụ và thai nhi.
- Phương pháp thu thập: số liệu được thu thập theo các bước:
Bước 1: Sàng lọc đối tượng nghiên cứu
Thai phụ bị vỡ ối non nhập viện tại Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ Tại đây, thai phụ sẽ được hỏi bệnh và khai thác tiền sử thai kỳ, tiến hành thăm khám lâm sàng và làm các xét nghiệm để phát hiện các bất thường không phù hợp với tiêu chuẩn nghiên cứu.
- Hỏi bệnh sử, tiền sử nội, ngoại khoa, sản phụ khoa
- Tính tuổi thai dựa theo siêu âm ba tháng đầu
Khám lâm sàng gồm hai phần chính: bắt cơn gò bằng tay hoặc theo dõi bằng monitoring để xác định xem cơn gò có thật sự là dấu hiệu của chuyển dạ và thai phụ đã vào chuyển dạ hay chưa; đồng thời xác định ngôi thai bằng thủ thuật Leopold nhằm định vị thai nhi và lên kế hoạch chăm sóc phù hợp.
- Đặt mỏ vịt, thực hiện Nitrazine test
- Thực hiện các cận lâm sàng thường quy, CRP, siêu âm đo các chỉ số của thai và chỉ số ối, đo CTG (cardiotocography)/non-stress Test
Bước 2: Mời đối tượng tham gia nghiên cứu
- Thai phụ có ối vỡ non thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu và không có tiêu chuẩn loại trừ sẽ được mời tham gia nghiên cứu
- Thai phụ được giải thích rõ về mục tiêu của nghiên cứu Nếu đồng ý sẽ ký vào bảng đồng thuận tham gia nghiên cứu
Bước 3: Thu thập số liệu: thông tin hành chánh, triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị
Bước 4: Hoàn thành thu thập số liệu
Bước 5: Xử lý số liệu, phân tích số liệu
Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu
Lâm sàng Cận lâm sàng
Chẩn đoán xác định Thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu Điều trị theo phác đồ bệnh viện
Ghi nhận thông tin cần thu thập
Hỏi bệnh sử, tiền sửSản phụ ra nước âm đạo Vào khoa Sanh
2.2.6 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Phương pháp xử lý số liệu: Mỗi phiếu thu thập dữ liệu được kiểm tra ngay sau khi thu thập để xác định tính chính xác; nếu dữ liệu bị mất hoặc không phù hợp cần tiến hành thu thập lại và kiểm tra bổ sung, nếu không thể hiệu chỉnh thì bảng thu thập đó sẽ bị loại Phương pháp phân tích số liệu: Dữ liệu được lưu trữ và phân tích các chỉ số như tỉ lệ, trung bình và trung vị, đồng thời tiến hành kiểm định χ² bằng phần mềm SPSS 18.0, và biểu đồ được vẽ bằng Excel 2010.
Vấn đề y đức
Nghiên cứu này không vi phạm vấn đề y đức vì:
- Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng xét duyệt đề cương nghiên cứu, đồng ý cho phép thực hiện
Đối tượng tham gia nghiên cứu được chúng tôi giải thích rõ mục đích và cách tiến hành nghiên cứu, đảm bảo thông tin minh bạch và đầy đủ, đồng thời cam kết tham gia hoàn toàn tự nguyện và không chịu bất cứ sự ép buộc nào.
Chúng tôi cam kết bảo mật tuyệt đối mọi thông tin mà đối tượng cung cấp và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học Dữ liệu được lưu trữ an toàn và không ai ngoài nhóm nghiên cứu được tiếp cận Việc bảo vệ quyền riêng tư, tính khách quan của nghiên cứu và giới hạn quyền truy cập dữ liệu là ưu tiên hàng đầu để đảm bảo thông tin cá nhân không bị tiết lộ ngoài phạm vi được cho phép.
Đây là một nghiên cứu mô tả, chỉ quan sát và ghi nhận kết quả, không can thiệp vào ý kiến chuyên môn Thuốc và phương pháp xử trí đều phụ thuộc vào quyết định của bác sĩ tại bệnh viện Trong quá trình nghiên cứu, không có sự phân biệt giữa nhóm nghiên cứu và nhóm không nghiên cứu.
QUẢ
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm về tuổi, nơi cư trú, dân tộc, tôn giáo
Bảng 3.1.Đặc điểm về tuổi, nơi cư trú, dân tộc Đặc điểm Tần số(n) Tỉ lệ (%)
Nhận xét cho thấy tuổi trung bình của thai phụ là 28,27±5,4 tuổi, cho thấy đa phần thai phụ nhập viện ở lứa tuổi 20–29 và chiếm 62,6%, trong khi nhóm ≥40 tuổi có tỷ lệ thấp nhất là 2,6% Số thai phụ đến từ các tỉnh ngoài Cần Thơ chiếm 63,7%, và phần lớn thai phụ là người Kinh với 185 sản phụ, chiếm 97,4%.
3.1.2 Đặc điểm về học vấn, nghề nghiệp
Bảng 3.2 Đặc điểm về học vấn, nghề nghiệp Đặc điểm Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Trên trung học phổ thông 60 31,6
Trong số 190 thai phụ được khảo sát, 31,6% có trình độ học vấn trên Trung học phổ thông, trong khi nhóm mù chữ-tiểu học chiếm 17,4% là nhóm thấp nhất Nghề nghiệp của thai phụ cho thấy nội trợ chiếm tỷ lệ cao nhất với 31,6%, tiếp đến là nhóm văn phòng với 28,4%.
3.2 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ BIẾN CHỨNG
3.2.1 Đặc điểm về tiền sử sản-phụ khoa
Bảng 3.3 Đặc điểm về tiền sử sản-phụ khoa Tiền sử sản khoa Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Số lần sinh trước Con so 129 67,9
Tiền sử ối vỡ non Có 10 ,3
Tiền sử sinh non Có 5 2,6
Tiền sử có chẩn đoán viêm nhiễm âm đạo-CTC
Trong mẫu nghiên cứu này, có 129 thai phụ mang thai đơn (chiếm 67,9%), 10 thai phụ (5,3%) có tiền sử ối vỡ non, 5 thai phụ (2,6%) có tiền sử sinh non, và 20 thai phụ (10,5%) có tiền sử viêm nhiễm âm đạo-CTC.
Bảng 3.4 Tuổi thai Tuổi thai (tuần) Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Nhận xét tổng quan cho thấy tuổi thai trung bình là 38 tuần 4/7, với tuổi thai nhỏ nhất 30 tuần 2/7 và lớn nhất 40 tuần 6/7 Phân tích nhóm thai phụ cho thấy có 8 sản phụ mang thai ở mức 28–15000/àL (chiếm 7,4%)
- Số thai phụ có bạch cầu đa nhân trung tính ≤ 85% là 179 (chiếm 94,2%),
Nhận xét: Trong 190 thai phụ, chỉ ghi nhận 1 thai phụ có nồng độ CRPh ≥ 1mg/L (chiếm 0,5%)
Nồng độ CRPhs (mg/L) Tần số Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Nhìn chung, phần lớn thai phụ có chỉ số ối ≥ 5cm (158 thai phụ, chiếm
3.3 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ỐI VỠ NON
3.3.1 Đánh giá phương pháp điều trị mẹ
- Đặc điểm về sử dụng thuốc
Thời gian từ khi sử dụng corticosteroids đến khi chấm dứt thai kỳ trung bình là 31 ± 33,5 giờ
Nhận xét: trong số 8 thai phụ mang thai từ 28-34 tuần (chiếm 2,2%) được chỉ định sử dụng corticosteroids
Chỉ số ối (cm) Tần số Tỉ lệ (%)
Sử dụng kháng sinh trước khi chấm dứt thai kỳ
Thời gian từ khi vỡ ối đến khi sử dụng kháng sinh trung bình là 8,3 giờ; giá trị nhỏ nhất là 2,8 giờ; giá trị lớn nhất là 38,9 giờ
Bảng 3.12 Sử dụng kháng sinh trước khi chấm dứt thai kỳ
Sử dụng kháng sinh Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Có 122 thai phụ có sử dụng kháng sinh trước khi chấm dứt thai kỳ
Bảng 3.13 Sử dụng thuốc giảm gò
Nhận xét: Trong số 8 thai phụ mang thai < 34 tuần, có 6 sản phụ (chiếm tỉ lệ 75%) có sử dụng thuốc giảm gò để kéo dài thai kỳ
- Thời gian từ khi ối vỡ đến lúc chấm dứt thai kỳ
Bảng 3.14 Thời gian từ khi ối vỡ đến lúc chấm dứt thai kỳ Đặc điểm Trung vị Giá trị thấp nhất
Thời gian từ khi ối vỡ đến khi chấm dứt thai kỳ
Trong nghiên cứu gồm 190 thai phụ, thời gian trung bình từ lúc vỡ ối đến khi kết thúc thai kỳ là 15,4 giờ, với thời gian ngắn nhất là 2 giờ và dài nhất là 136,3 giờ.
- Chỉ số Bishop lúc vào viện
Bảng 3.15 Chỉ số Bishop lúc vào viện
Chỉ số Bishop Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Trong 190 thai phụ, có 34 thai phụ (chiếm 17,9%) có chỉ số Bishop lúc vào viện >6, 156 thai phụ có chỉ số Bishop khi vào viện ≤6 (chiếm 82,1%)
Bảng 3.16 Chấm dứt thai kỳ
Nhận xét: Có 3 thai phụ được chỉ định khởi phát chuyển dạ (1,6%), trong đó không có trường hợp nào sinh qua đường âm đạo; 54 thai phụ sinh ngả âm đạo (28,4%), và 136 thai phụ được chỉ định mổ lấy thai (71,6%).
- Chỉ định mổ lấy thai
Nhận xét cho thấy trên tổng số 136 thai phụ mổ lấy thai, các chỉ định phổ biến nhất là chuyển dạ ngưng tiến triển (69 thai phụ, 50,7%), tiếp theo là suy thai (40 thai phụ, 29,4%), và các chỉ định khác như đau vết mổ cũ, cổ tử cung không thuận lợi, bất xứng đầu chậu cùng các yếu tố liên quan chiếm 27 thai phụ, tương đương 19,9%.
Biểu đồ 3.3 Các chỉ định mổ lấy thai
Chuyển dạ ngưng tiến triển Suy thai
Phương pháp chấm dứt thai kỳ
Sanh ngả âm đạo Mổ lấy thai
Bảng 3.17 Biến chứng của mẹ
Biến chứng Tần số Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Trong mẫu nghiên cứu có 5 thai phụ có biến chứng (chiếm 2,6%)
- Phân loại biến chứng mẹ
Bảng 3.18 Phân loại biến chứng mẹ Biến chứng mẹ Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Trong tổng số 190 thai phụ,có 5 trường hợp có biến chứng, trong đó 4 trường hợp nhiễm trùng ối (2,1%) và 1 thai phụ băng huyết sau sanh (0,5%)
- Đánh giá về thời gian nằm viện mẹ:
Sanh ngả âm đạo: số ngày nằm viện trung bình là 4,6 ± 1,2 ngày
Mổ lấy thai: số ngày nằm viện trung bình là 6,2±0,9 ngày
3.3.3 Đặc điểm bé sau sinh
- Chỉ số Apgar: 100% bé có chỉ số Apgar 1 phút và 5 phút ≥ 7 điểm
- Đánh giá cân nặng trẻ sơ sinh
- Non tháng: trong 30 bé non tháng, có 20 bé (66,7%) có cân nặng lúc sinh ≥ 2500g
- Đủ tháng: trong 160 bé đủ tháng, có 156 bé (97,5%) có cân nặng lúc sinh ≥ 2500g
- Bệnh lý trẻ sơ sinh
Bảng 3.19 Bệnh lý trẻ sơ sinh
Nhận xét: Trong 190 bé, có 143 bé (chiếm 6,8%) mắc bệnh lý sau sinh
Bệnh lý bé Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Biểu đồ 3.3 Cân nặng lúc sinh
- Phân loại bệnh lý bé
Biểu đồ 3.4 trình bày phân loại bệnh lý bé và nhận xét cho thấy trong 190 bé sơ sinh có 13 bé cần nhập Nhi điều trị, chiếm 6,8% Phần lớn nguyên nhân là bệnh màng trong ở 5 bé (2,6%), vàng da ở 4 bé (2,1%), viêm phổi hít ở 2 bé (1,1%), và các nguyên nhân khác như trẻ sinh non nhẹ cân, cơn thở nhanh thoáng qua.
- Số ngày nằm viện của bé:
Non tháng: số ngày nằm viện trung bình 11 ngày, ngắn nhất là 3 ngày, dài nhất là 45 ngày
Đủ tháng: số ngày nằm viện trung bình là 5,5 ± 1,5 ngày
Viêm phổi hít Bệnh màng trong Vàng da Khác
3.3.4 Đánh giá kết quả điều trị ối vỡ non
- Kết quả điều trị mẹ
Bảng 3.20 Kết quả điều trị mẹ
Kết quả điều trị mẹ Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Kết quả điều trị cho mẹ trong nghiên cứu đạt tốt 97,4% (185 thai phụ), không tốt chiếm 2,6% (5 thai phụ)
- Kết quả điều trị bé
Nhận xét: Điều trị tốt cho bé non tháng chiếm 53,3%, bé đủ tháng chiếm 96,9%
Biểu đồ 3.5 Kết quả điều trị bé
Đánh giá kết quả điều trị ối vỡ non
3.3.1 Đánh giá phương pháp điều trị mẹ
- Đặc điểm về sử dụng thuốc
Thời gian từ khi sử dụng corticosteroids đến khi chấm dứt thai kỳ trung bình là 31 ± 33,5 giờ
Nhận xét: trong số 8 thai phụ mang thai từ 28-34 tuần (chiếm 2,2%) được chỉ định sử dụng corticosteroids
Chỉ số ối (cm) Tần số Tỉ lệ (%)
Sử dụng kháng sinh trước khi chấm dứt thai kỳ
Thời gian từ khi vỡ ối đến khi sử dụng kháng sinh trung bình là 8,3 giờ; giá trị nhỏ nhất là 2,8 giờ; giá trị lớn nhất là 38,9 giờ
Bảng 3.12 Sử dụng kháng sinh trước khi chấm dứt thai kỳ
Sử dụng kháng sinh Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Có 122 thai phụ có sử dụng kháng sinh trước khi chấm dứt thai kỳ
Bảng 3.13 Sử dụng thuốc giảm gò
Nhận xét: Trong số 8 thai phụ mang thai < 34 tuần, có 6 sản phụ (chiếm tỉ lệ 75%) có sử dụng thuốc giảm gò để kéo dài thai kỳ
- Thời gian từ khi ối vỡ đến lúc chấm dứt thai kỳ
Bảng 3.14 Thời gian từ khi ối vỡ đến lúc chấm dứt thai kỳ Đặc điểm Trung vị Giá trị thấp nhất
Thời gian từ khi ối vỡ đến khi chấm dứt thai kỳ
Trong tổng số 190 thai phụ, thời gian trung bình từ lúc ối vỡ đến khi chấm dứt thai kỳ là 15,4 giờ; thời gian ngắn nhất là 2 giờ, dài nhất là 136,3 giờ, cho thấy dao động lớn giữa các trường hợp.
- Chỉ số Bishop lúc vào viện
Bảng 3.15 Chỉ số Bishop lúc vào viện
Chỉ số Bishop Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Trong 190 thai phụ, có 34 thai phụ (chiếm 17,9%) có chỉ số Bishop lúc vào viện >6, 156 thai phụ có chỉ số Bishop khi vào viện ≤6 (chiếm 82,1%)
Bảng 3.16 Chấm dứt thai kỳ
Nhận xét cho thấy có 3 thai phụ được chỉ định khởi phát chuyển dạ (1,6%), trong đó không có trường hợp nào sinh ngả âm đạo; 54 thai phụ sinh ngả âm đạo (28,4%), và 136 thai phụ được chỉ định mổ lấy thai (71,6%).
- Chỉ định mổ lấy thai
Nhận xét cho thấy trong tổng số 136 thai phụ mổ lấy thai, các chỉ định nhiều nhất là chuyển dạ ngừng tiến triển với 69 trường hợp (50,7%), tiếp đến là suy thai với 40 trường hợp (29,4%), còn lại là các chỉ định khác như đau vết mổ cũ, cổ tử cung không thuận lợi và bất xứng đầu chậu, chiếm 27 trường hợp (19,9%).
Biểu đồ 3.3 Các chỉ định mổ lấy thai
Chuyển dạ ngưng tiến triển Suy thai
Phương pháp chấm dứt thai kỳ
Sanh ngả âm đạo Mổ lấy thai
Bảng 3.17 Biến chứng của mẹ
Biến chứng Tần số Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Trong mẫu nghiên cứu có 5 thai phụ có biến chứng (chiếm 2,6%)
- Phân loại biến chứng mẹ
Bảng 3.18 Phân loại biến chứng mẹ Biến chứng mẹ Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Trong tổng số 190 thai phụ,có 5 trường hợp có biến chứng, trong đó 4 trường hợp nhiễm trùng ối (2,1%) và 1 thai phụ băng huyết sau sanh (0,5%)
- Đánh giá về thời gian nằm viện mẹ:
Sanh ngả âm đạo: số ngày nằm viện trung bình là 4,6 ± 1,2 ngày
Mổ lấy thai: số ngày nằm viện trung bình là 6,2±0,9 ngày
3.3.3 Đặc điểm bé sau sinh
- Chỉ số Apgar: 100% bé có chỉ số Apgar 1 phút và 5 phút ≥ 7 điểm
- Đánh giá cân nặng trẻ sơ sinh
- Non tháng: trong 30 bé non tháng, có 20 bé (66,7%) có cân nặng lúc sinh ≥ 2500g
- Đủ tháng: trong 160 bé đủ tháng, có 156 bé (97,5%) có cân nặng lúc sinh ≥ 2500g
- Bệnh lý trẻ sơ sinh
Bảng 3.19 Bệnh lý trẻ sơ sinh
Nhận xét: Trong 190 bé, có 143 bé (chiếm 6,8%) mắc bệnh lý sau sinh
Bệnh lý bé Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Biểu đồ 3.3 Cân nặng lúc sinh
- Phân loại bệnh lý bé
Biểu đồ 3.4 phân loại bệnh lý ở trẻ sơ sinh Nhận xét: Trong tổng số 190 bé sơ sinh, 13 bé cần nhập viện điều trị tại Khoa Nhi (chiếm 6,8%) Nguyên nhân chính là bệnh màng trong ở 5 bé (2,6%), tiếp đến là vàng da ở 4 bé (2,1%), viêm phổi hít ở 2 bé (1,1%) Các nguyên nhân khác gồm trẻ sinh non nhẹ cân và cơn thở nhanh thoáng qua, chiếm 2 bé (1,1%).
- Số ngày nằm viện của bé:
Non tháng: số ngày nằm viện trung bình 11 ngày, ngắn nhất là 3 ngày, dài nhất là 45 ngày
Đủ tháng: số ngày nằm viện trung bình là 5,5 ± 1,5 ngày
Viêm phổi hít Bệnh màng trong Vàng da Khác
3.3.4 Đánh giá kết quả điều trị ối vỡ non
- Kết quả điều trị mẹ
Bảng 3.20 Kết quả điều trị mẹ
Kết quả điều trị mẹ Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Kết quả điều trị cho mẹ trong nghiên cứu đạt tốt 97,4% (185 thai phụ), không tốt chiếm 2,6% (5 thai phụ)
- Kết quả điều trị bé
Nhận xét: Điều trị tốt cho bé non tháng chiếm 53,3%, bé đủ tháng chiếm 96,9%
Biểu đồ 3.5 Kết quả điều trị bé
LUẬN
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Các đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung bình 28,27±5,4 tuổi; nhóm thai phụ từ 20–29 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là 62,6% (bảng 3.1) Trong nghiên cứu của Phạm Hữu Danh, tuổi trung bình là 28,58±6,21, với nhóm tuổi từ 20–35 chiếm tỉ lệ cao nhất là 75,4% [10] Nghiên cứu của Trần Bích Nhi cho thấy độ tuổi trung bình của thai phụ là 28±5,3, trong đó nhóm 20–29 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là 55,4% [18] Những kết quả này phù hợp với nhận định đây là độ tuổi chín mùi về chức năng sinh sản và tinh thần, đủ để lập gia đình, sinh con và chăm sóc con, nên luôn chiếm tỷ lệ cao trong các nghiên cứu về sản khoa.
Kết quả nghiên cứu cho thấy thai phụ đến từ các tỉnh ngoài thành phố Cần Thơ chiếm 63,7%, cao hơn nhóm thai phụ từ Cần Thơ (36,3%) Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Bùi Thị Hạnh Đào, trong đó thai phụ sống tại thành phố Cần Thơ chiếm 45,8%[11] Nhìn chung, tỉ lệ thai phụ sống tại Cần Thơ vẫn thấp hơn so với thai phụ đến từ các tỉnh khác ngoài thành phố Cần Thơ Có hai nguyên nhân giải thích: thứ nhất, Cần Thơ là thành phố lớn với nhiều đơn vị hành chính; các thai phụ ở những vùng xa trung tâm có thể sinh tại bệnh viện huyện, đồng thời tại thành phố Cần Thơ cũng có nhiều bệnh viện chuyên khoa Sản nên số thai phụ đến từ Cần Thơ chiếm tỉ lệ thấp Thứ hai, Cần Thơ được xem là trung tâm điều trị lớn nhất tại Đồng Bằng Sông Cửu Long nên bệnh nhân chọn nơi đây để điều trị, đồng thời cũng tiếp nhận những trường hợp ối vỡ non từ các tỉnh khác khi thai còn non tháng hoặc tiên lượng vượt quá khả năng điều trị.
Qua bảng 3.1, chúng tôi nhận thấy đa số thai phụ nhập viện là người Kinh chiếm 97,4%, còn lại là các dân tộc khác như Khmer và Thổ chiếm 2,6% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với kết quả của Bùi Thị Hạnh Đào và Trần Bích Nhi, với tỉ lệ người Kinh lần lượt là 97,9% và 97,6% [11], [18] Những kết quả này phù hợp với phân bố dân tộc trong cộng đồng tại Cần Thơ và các tỉnh lân cận.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, trình độ học vấn từ trung học phổ thông và trên trung học phổ thông chiếm tỉ lệ khá cao (30% và 31,6%), trong khi trình độ dưới trung học cơ sở chiếm tỉ lệ nhỏ (17,4%) Kết quả của chúng tôi gần giống với kết quả của tác giả Bùi Thị Hạnh Đào: thai phụ có trình độ dưới trung học cơ sở là 13,04%, trung học phổ thông 35,3%, trên trung học phổ thông 19,75%; và của tác giả Trần Bích Nhi: dưới trung học cơ sở 11,4%, trung học phổ thông 18,7%, trên trung học phổ thông 22,9% [11], [18].
Phần lớn mẫu nghiên cứu là những cá nhân có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên và có hiểu biết nhất định về thai kỳ cũng như các biến cố có thể xảy ra Nhờ vậy, họ có thể chủ động đến bệnh viện khám từ sớm, góp phần giảm thiểu biến chứng do ối vỡ non.
4.1.5 Nghề nghiệp Đa số thai phụ trong nghiên cứu của chúng tôi làm nội trợ (chiếm 31,6%), văn phòng 28,4%, công nhân 14,7%, nông dân 12,6%, tiểu thương 9,5% Kết quả này có sự chênh lệch so với các nghiên cứu khác Theo số liệu nghiên cứu của Bùi Thị Hạnh Đào, thai phụ làm nội trợ chiếm 41,6%, viên chức chiếm 21,1%, nông dân chiếm 14,9%, công nhân chiếm 13,1%, buôn bán 6,4%[11] Nghiên cứu của tác giả
Khảo sát của Trần Bích Nhi cho thấy thai phụ làm nội trợ chiếm 41%, văn phòng 20,5%, nông dân 16,9% và công nhân 10,2%, cho thấy sự đa dạng nghề nghiệp của phụ nữ mang thai và sự chuyển biến về vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội Điều này có thể được giải thích bằng bước phát triển chung của xã hội và tác động của công tác thông tin truyền thông, góp phần làm thay đổi nhận thức về vị thế của người phụ nữ Trong nghiên cứu của Phạm Hữu Danh, phần lớn thai phụ có nghề nghiệp công nhân (42,1%), nông dân 20,6% và văn phòng 19,1%, phản ánh sự phân bố nghề nghiệp của phụ nữ mang thai ở mức độ đa dạng giữa các nhóm tổ chức lao động.
Sự khác biệt này được giải thích dựa trên nghiên cứu được tiến hành tại Thành phố Hồ Chí Minh, một trung tâm công nghiệp lớn của cả nước, nơi tập trung đông đảo công nhân làm việc trong các nhà máy và xí nghiệm? Wait, I typed "xí nghiệm" mis-typo It should be "xí nghiệp." Let me correct.Sự khác biệt này được giải thích dựa trên nghiên cứu được tiến hành tại Thành phố Hồ Chí Minh, một trung tâm công nghiệp lớn của cả nước, nơi tập trung đông đảo công nhân làm việc trong các nhà máy và xí nghiệp.
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
- Tiền sử sản-phụ khoa
Trong nghiên cứu của chúng tôi, thai phụ mang thai lần đầu chiếm 67,9%, cao hơn so với nhóm mang thai lần thứ hai trở lên là 32,1% Kết quả này tương tự với các nghiên cứu của Trần Bích Nhi và Bùi Thị Hạnh Đào, với tỉ lệ thai phụ sinh con lần đầu lần lượt là 67,5% và 63,7% Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi cho tỉ lệ mang thai con so cao hơn so với hai tác giả Nguyễn Duy Tài và Phạm Hữu Danh, ở mức 55,6% Mặc dù có sự khác biệt giữa các nghiên cứu, tất cả đều cho thấy phần lớn các trường hợp ối vỡ non (PPROM) xảy ra ở nhóm thai phụ mang thai lần đầu Điều này có ý nghĩa quan trọng cho công tác tuyên truyền giáo dục và chăm sóc thai phụ, đặc biệt là với những thai phụ mang thai lần đầu.
Tiền sử ối vỡ non ở thai phụ chiếm 5,3% trong nghiên cứu của chúng tôi Theo Mercer (2000), tiền căn ối vỡ non làm tăng nguy cơ ối vỡ non ở thai kỳ sau lên gấp 5 lần (RR 5; CI 95% 2,7–9,5) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Phạm Hữu Danh với mức 6,3% Trong nghiên cứu của V Revathi, tỉ lệ thai phụ có tiền sử ối vỡ non ở những lần mang thai trước lên tới 20%, cao hơn so với kết quả của chúng tôi, nguyên nhân có thể do kích thước mẫu của tác giả nhỏ hơn (chỉ 100 trường hợp).
Tiền căn sanh non chiếm tỉ lệ 2,6% trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi; theo Mercer (2000), tiền căn sanh non làm tăng nguy cơ ối vỡ non gấp 2,9 lần (RR 2,9; KTC 95% 1,5-5,6) [31]; tỷ lệ thai phụ có tiền căn sanh non trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự với Phạm Hữu Danh (2014) là 3,2% và thấp hơn so với Cobo T và cộng sự (2011) là 7,7% [10], [35]; nguyên nhân tỷ lệ sanh non thấp có thể do việc điều trị dọa sanh non hiện nay có nhiều hiệu quả, đồng thời thai phụ có ý thức hơn trong chăm sóc và quản lý thai kỳ.
Tiền sử viêm nhiễm âm đạo-cổ tử cung ở thai phụ chiếm 10,5% Theo McGregor và cộng sự, viêm âm đạo làm tăng nguy cơ ối vỡ non lên 7,3 lần với khoảng tin cậy 95% từ 1,8 đến 29,4 Theo Tarek Khalaf Al-Hussain, tỉ lệ viêm âm đạo trong nhóm ối vỡ non là 39,6% và trong nhóm không ối vỡ non là 48,8%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,04 Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự với Phạm Hữu Danh (8,7%) và thấp hơn các tác giả trên Nguyên nhân có thể do các thai phụ không có điều kiện kinh tế để đi khám và phát hiện viêm âm đạo-cổ tử cung; đây cũng là một yếu tố nguy cơ của ối vỡ non.
- Tuổi thai lúc nhập viện
Tuổi thai lúc nhập viện của 190 thai phụ trung bình là 38 4/7 tuần, nhỏ nhất 30 2/7 tuần và lớn nhất 40 6/7 tuần; phân bố tuổi thai theo từng nhóm cho 28-480 phút là 62,5% [11] Việc kéo dài thời gian tiềm thời có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng ối và các biến chứng khác Tuy nhiên ở thai kỳ còn non tháng, kéo dài thời gian tiềm thời được cho là cần thiết cho sự phát triển của thai nhi, đặc biệt là đủ thời gian ít nhất là 48 giờ sau liều corticosteroids để giúp trưởng thành phổi thai nhi Do đó cần theo dõi sát và đưa ra quyết định chấm dứt thai kỳ kịp thời nhằm hạn chế biến chứng ở mẹ và bé. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Đừng bỏ lỡ [Pollinations.AI](https://pollinations.ai/redirect/kofi) nếu bạn muốn tối ưu nội dung y tế theo chuẩn SEO dành riêng cho bạn!
4.2.2 Nhận định về cận lâm sàng
- Nhận định về kiểu hình tim thai trên monitor: Đa số tim thai thuộc nhóm I
92,1% là nhóm có tiên lượng tốt, 7,9% thuộc nhóm II và không ghi nhận trường hợp nào có tim thai thuộc nhóm III Tim thai giúp đánh giá thăng bằng toan kiềm ngay tại một thời điểm của thai nhi, từ đó là cơ sở để bác sĩ đưa ra những quyết định điều trị kịp thời Tim thai tăng giúp ta dự đoán khoảng 20–40% các trường hợp nhiễm trùng trong tử cung, với tỉ lệ dương tính giả khoảng 3%.
Kết quả liên quan đến số lượng bạch cầu và tỉ lệ bạch cầu đa nhân trung tính ở thai phụ cho thấy: Số lượng bạch cầu trung bình là 11169±2747/µL Trong nhóm thai phụ, 92,6% có số lượng bạch cầu ≤15000/µL và 7,4% có số lượng bạch cầu >15000/µL Có 94,2% thai phụ có tỉ lệ bạch cầu đa nhân trung tính.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 5,8% thai phụ có tỉ lệ bạch cầu đa nhân trung tính >85% Kết quả này cao hơn so với tác giả Nguyễn Duy Tài, người ghi nhận 72,9% thai phụ có số lượng bạch cầu ≤10.000/µL và 27,1% >10.000/µL; nguyên nhân có thể do chúng tôi chọn mức tăng bạch cầu cao hơn Kết quả của chúng tôi tương tự với các tác giả Bùi Thị Hạnh Đào và Trần Bích Nhi: theo Bùi Thị Hạnh Đào, tỉ lệ thai phụ có bạch cầu >15.000/µL là 1,9%, ≤15.000/µL là 98,1%; theo Trần Bích Nhi, 91% thai phụ có bạch cầu ≤15.000/µL và 9% có bạch cầu >15.000/µL Tỉ lệ bạch cầu đa nhân trung tính >85% là 5,4%.
≤85% là 94,6% Bạch cầu tăng là một tiêu chuẩn cần thiết để chẩn đoán biến chứng nhiễm trùng ở mẹ nhất là nhiễm trùng ối
Đánh giá kết quả điều trị
Qua nghiên cứu trên 190 thai phụ được khám chẩn đoán và điều trị ối vỡ non tại Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ, chúng tôi rút ra một số kết luận sau: chẩn đoán sớm và quản lý toàn diện ối vỡ non giúp hạn chế biến chứng cho mẹ và thai nhi; phác đồ điều trị kết hợp kháng sinh, corticosteroid và theo dõi thai kỳ nghiêm ngặt cho kết quả tốt hơn; quyết định sinh phù hợp với tuổi thai và trạng thái của thai nhi đóng vai trò quyết định trong tối ưu hóa tiên lượng; sự tuân thủ phác đồ điều trị và chất lượng chăm sóc tại bệnh viện có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả điều trị và an toàn thai kỳ ở khu vực Thành phố Cần Thơ Những kết quả này gợi ý hướng cải thiện chăm sóc sức khỏe cho thai phụ bị ối vỡ non và nâng cao chất lượng dịch vụ tại cơ sở y tế địa phương.
1 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của ối vỡ non
Đặc điểm lâm sàng cho thấy tuổi thai trung bình là 38 4/7 tuần Thời gian từ khi ối vỡ đến nhập viện trung bình là 132,5 phút, và thời gian từ khi ối vỡ đến lúc cổ tử cung mở 3 cm được ghi nhận.
Trong nghiên cứu, 480 phút chiếm 73,2% tổng thời gian theo dõi và thời gian trung bình từ khi ối vỡ đến khi kết thúc thai kỳ là 15,4 giờ Nước ối trắng đục chiếm 85,3% các trường hợp và không ghi nhận trường hợp nước ối có mùi hôi Khoảng 82,1% trường hợp có chỉ số Bishop lúc nhập viện ở mức ≤ 6.
- Đặc điểm cận lâm sàng: kiểu hình tim thai nhóm I chiếm 92,1%, 92,6% trường hợp cú bạch cầu ≤15000/àL, 94,2% trường hợp cú tỉ lệ bạch cầu đa nhõn trung tớnh
≤85%, 99,5% thai phụ có nồng độ CRPhs