1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo cáo hồ sơ 24 tranh chấp chia di sản thừa kế Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Huy Thành, Nguyễn Thăng, Trần Thị Trọng

29 470 20

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo hồ sơ 24 tranh chấp chia di sản thừa kế Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Huy Thành, Nguyễn Thăng, Trần Thị Trọng
Trường học Trường Đại học Tiền Giang
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Báo cáo hồ sơ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Tiền Giang
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 52,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ SƠ 24 TRANH CHẤP THỪA KẾ NGUYÊN ĐƠN NGUYỄN THỊ KIM LAN BỊ ĐƠN NGUYỄN HUY THÀNH MỤC LỤC I Tóm tắt hồ sơ vụ án 2 II Tóm tắt nội dung vụ án 16 III Kết quả nghiên cứu hồ sơ 16 1 Yêu cầu khởi kiện, phạm vi yêu cầu khởi kiện và quan hệ pháp luật tranh chấp 16 2 Xác định tư cách đương sự 17 3 Xác định diện và hàng thừa kế của ông Nguyễn Thăng, bà Trần Thị Trọng và bà Nguyễn Thị Lan 18 4 Xác định thời điểm mở thừa kế của cụ Nguyễn Thăng, cụ Trần Thị Trọng, cụ Nguyễn Thị Lan Xác định thời hiệu khởi ki.

Trang 1

HỒ SƠ 24: TRANH CHẤP THỪA KẾ

NGUYÊN ĐƠN: NGUYỄN THỊ KIM LAN

BỊ ĐƠN: NGUYỄN HUY THÀNH

5 Xác định di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thăng, cụ Trần Thị Trọng, cụ Nguyễn ThịLan22

6 Kết quả nghiên cứu hồ sơ về các vấn đề nội dung của vụ án 22

7 Dự kiến bản trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn(yêu cầu phản tố nếu có) tại phiên tòa sơ thẩm và các chứng cứ chứng minh cho ýkiến/yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ và hợp pháp 23

8 Luận cứ bảo vệ bị đơn 24

Trang 2

I Tóm tắt tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án

Ngày 24/06/2012, bà Nguyễn Thị Kim Lan (sinh năm 1951) khởi kiện ông Nguyễn Huy Thành (sinh năm 1968) đến Tòa án nhân dân huyện Cái

Bè, tỉnh Tiền Giang yêu cầu chia 2000m2 đất và 1 căn nhà tường do cha

bà là ông Nguyễn Thăng đứng tên quyền sử dụng đất tọa lạc tại số 18 khu 4,thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang Bà Lan yêu cầu chia ½ tài sảnchung cho mẹ bà, phần của cha bà là ông Nguyễn Thăng chia đều cho 6người con, trong đó có bà và 5 đứa em con vợ sau của cha bà Bà yêu cầuđược nhận bằng hiện vật

Theo Đơn khởi kiện, bà Kim Lan trình bày:

Bà Kim Lan là con chung duy nhất của ông Nguyễn Thăng (sinh năm 1922, chết ngày 04/01/2002) với bà Trần Thị Trọng (sinh năm 1917, chết năm

2007) Ông Thăng với bà Trọng cùng sinh sống tại số 18 khu 4, thị trấn Cái

Bè, huyện Cái Bè, Tiền Giang từ năm 1969 cho đến lúc chết

Vào năm 1963 ông Thăng có quan hệ về tình cảm với bà: Nguyễn Thị Lan(sinh năm 1936, chết năm 2007) sinh ra 05 người con chung bao gồm:

1 Nguyễn Huy Lộc, sinh năm 1963

2 Nguyễn Huy Tài, sinh năm 1963

3 Nguyễn Huy Thành, sinh năm 1968

4 Nguyễn Lan Tố Quyên, sinh năm 1971

5 Nguyễn Thị Bích Ngọc, sinh năm 1973

Bà Kim Lan trình bày trước đây do việc mẹ kế chăm sóc dậy dỗ không chu

đáo, năm 1963 bà đem em là ông Nguyễn Huy Lộc về sống chung với bà và cha mẹ, cho ăn học Năm 1963 bà tiếp tục đem em là ông Nguyễn Huy Tài, năm 1968 đem ông Nguyễn Huy Thành về sống chung với gia đình cha mẹ

Bà Lan trình bày là ông Nguyễn Thăng với bà Trần Thị Trọng có diện tích

đất 2.000m2 và 01 căn nhà trên đất Phần đất này đã được UBND huyện Cái

Bè cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cha bà là ông Nguyễn Thăng đứng tên Trên đất có 01 căn nhà tường ngang 9m dài 30m, nền lót gạch bông vách tường mái lợp tôn Hiện nay toàn bộ giấy chứng nhận

Trang 3

quyền sử dụng đất đối với 2000m2 đất và căn nhà nêu trên do em bà

là ông Nguyễn Huy Thành quản lý sử dụng.

Bà yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế 2.000m2 đất và 01 căn nhà trênđất nêu trên

CMND, hộ khẩu bà Kim Lan;

Phán quyết về việc bà Kim Lan là con của Nguyễn Thăng và Trần Thị Trọng (photo);

Giấy chứng tử (bản sao) của ông Nguyễn Thăng, tạm trú cuối cùng tại

số 18 Tổ 01 khu IV thị trấn Cái Bè huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang, chết ngày 04/01/2002;

Giấy chứng tử (bản sao) của bà Trần Thị Trọng, tạm trú cuối cùng tại số

18 Tổ 01 khu IV thị trấn Cái Bè huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang, chết ngày 22/08/2007;

Biên bản hòa giải về việc tranh chấp quyền thừa kế ngày 9/4/2022 tại

tổ dân phố khu 4 Thị trấn Cái Bè giữa 2 bên là bà Nguyễn Thị Kim Lan vớiông Nguyễn Huy Thành, hòa giải không thành

Trong biên bản này bà Kim Lan có ý kiến: Trước đây ông Thăng có bán ngôi

nhà cho ông Trần Gia Lâm và một số đất cho ông ba Huệ Trong việc muabán này bà Lan không có nhận số tiền nào cả Còn chuyện bệnh hoạn ở cha

mẹ bà, cũng như mọi vấn đề khác là do tiền của cô bà ở nước ngoài gởi về loliệu

Ý kiến của ông Huy Thành: Ông không đồng ý vì trong tài sản có nhà và đất.Năm 1979 ông Thăng có bán một số đất lúc này ông còn nhỏ mới 11 tuổi, đã

có đưa bà Lan một số tiền Còn cái nhà hiện giờ ông Thành đã sửa tu bổ vẫnđó

Đơn yêu cầu giải quyết chia thừa kế ngày 20/04/2012, tại đơn này bà

Nguyễn Thị Kim Lan trình bày như sau:

Cha bà là ông Nguyễn Thăng, mẹ bà là Trần Thị Trọng Cha bà có 02 người

vợ, vợ chính thức là bà Trọng (đã chết), có 01 con chung duy nhất là bà KimLan; vợ thứ là bà Nguyễn Thị Lan (đã chết) có 05 người con chung là:Nguyễn Huy Lộc, Nguyễn Huy Tài, Nguyễn Huy Thành, Nguyễn Thị Tố Uyên,Nguyễn Thị Bích Ngọc (05 người này khai sinh không có tên họ cha) Ngày

Trang 4

04/01/2002 ông Thăng chết, ngày 22/08/2007 bà Trọng chết, không để lại dichúc.

Lúc sinh thời, năm 1969 cha mẹ bà (ông Nguyễn Thăng, bà Trần Thị Trọng)mua được một thửa đất bằng tiền của cha mẹ bà với giá 950.000đ (tươngđương 47 lượng vàng) Mẹ bà là bà Trọng đã đưa bà 50.000đ để đi đặt cọccho ông Ba Đê (chủ đất) là làm giấy đặt cọc, nửa tháng sau cha mẹ bà và bàcùng đi chồng đủ thêm 900.000đ nữa và làm giấy mua bán

Lúc còn sống cha mẹ bà có bán đi phân nửa nay còn lại 2.000m2 và 01 cănnhà tường tọa lạc tại số 18, khu 4, Thị Trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh TiềnGiang, đất được UBND huyện Cái Bè cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

do ông Thăng đại diện đứng tên

Trên thửa đất hiện nay còn có 03 căn nhà của Lộc, Tài, Thành Thửa đất và căn nhà của cha mẹ bà đều do vợ chồng Thành cùng quản lý và sử dụng, nhà cha mẹ bà thì vợ Thành tên là Nguyễn Thị Nàng đứng chủ

hộ khẩu, nhà Thành cất thêm số nhà 18C thì Thành đứng tên chủ hộ (mỗi

người đứng chủ hộ 01 căn)

Bà yêu cầu UBND và Địa Chính Thị Trấn Cái Bè giải quyết chia thừa kế cănnhà và thửa đất cho bà và các em bà theo quy định của pháp luật Nguyệnvọng bà được nhận phân nửa phần tài sản của mẹ bà và một phần sau củacha bà

Bà còn cung cấp thêm việc bà Nguyễn Thị Lan đã được cho 03 công ruộng ởtỉnh Bình Phước, bà Lan đã bán chia tiền cho các con của bà mà bà khôngbiết tới

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 449/QSDĐ do UBND huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ ông Nguyễn Thăng ngày 19/09/1997, thửa đất sô

631 tờ bản đồ 01 có diện tích 1951 m2, mục đích sử dụng LN.k + T

Biên lai nộp tạm ứng án phí ngày 05/10/2012, bà Kim Lan nộp tạm ứng

án phí 200.000đ

Thông báo thụ lý vụ án số 342/2012/TLST-DS ngày 05/10/2012 về

việc “Tranh chấp di sản thừa kế” về việc “Tranh chấp di sản thừa kế”

Tờ tường trình ngày 01/10/2012, ông Nguyễn Huy Tài có ý kiến: Trước

khi ông Thăng mất, vào ngày 16/8/2001, ông Thăng có cho ông Tài 200m2 đất, lý do: nếu ông Thăng không cho đất thì nhà ông không được

Trang 5

cấp hộ khẩu, ông Thăng có làm 01 tờ giấy ủy quyền, có ông trưởng khu

là ông Trần Văn Lợi xác nhận, nay ông Trần Văn Lợi là bí thư chi bộ của khu 4.

Về phần nhà đất của cha mẹ để lại, ông Tài có ý kiến như sau:

+ Phần nhà: 05 anh em ông thống nhất dùng làm nhà thờ cúng, vì hiện nay

em ông là Nguyễn Huy Thành đang sử dụng để thờ cúng ông bà và cha mẹ,nên không thể phân chia hoặc bán

+ Phần đất: trước lúc ông Thăng mất, có trối lại rằng đất để cho các con cáccháu ở, không được quyền bán hoặc phần chia Vì vậy anh em ông đều thựchiện theo lời của cha tôi dặn trước khi mất

Tờ tường trình ngày 02/10/2012, ông Nguyễn Huy Lộc có ý kiến:

Cha ông là ông Nguyễn Thăng sống với mẹ lớn của ông là bà Trần Thị Trọngcũng đã lâu mà không sinh được người con nào Do vậy mới xin bà NguyễnThị Kim Lan về làm con đỡ đầu (1951) mong muốn sau này sẽ có con (do mẹlớn của ông) Vì mong muốn có con nên ông Thăng lại lấy mẹ ông (bàNguyễn Thị Lan) làm vợ và đến năm 1963 ông Lộc được sinh ra

Khi ông Lộc được sinh ra khoảng trên 1 tháng tuổi thì mẹ lớn của ông cùng

bà nội ông qua điều đình với mẹ ruột của ông để xin ẵm ông về nuôi Với lý

do là mẹ ông còn sinh được mà mẹ lớn của ông không sinh được, vì lý do đó

vả lại mẹ ruột ông rất nể bà nội ông, thành thử mẹ tôi đành chấp nhận Xinthưa quý toà, một người phụ nữ lần đầu tiên làm mẹ, vậy mà cái thiên chức

ấy bị cướp đoạt, thử hỏi có đau lòng không?

Bà Nguyễn Thị Kim Lan chỉ lớn hơn ông 12 tuổi Vậy có ai giám giao 1 đứa béhơn 1 tháng tuổi cho 1 bé gái 12 tuổi

Mẹ lớn của ông là người đàn bà tuyệt vời, bà đối xử với các anh em ông rấttốt Ngược lại anh em ông cũng xem bà như mẹ ruột Chính bà cùng cha ôngđứng ra cưới xin cho 3 anh em ông

Từ năm 1976 gia đình ông dọn về ở số 18 tổ 1 khu 4 cho đến nay, trước ở

tổ 20 khu 4 Từ thời đó bà Kim Lan đã có chồng và không phụ giúp gì cho giađình, ở những năm nước lụt 1978-1979, gia đình ông gặp vô cùng khó khăn

về kinh tế……

Cái nhà mà hiện nay ở thị trấn Nhà Bè do bà Kim Lan cùng chồng con ở, ngàyxưa là căn nhà gỗ, bà Kim Lan đã về khóc lóc năn nỉ cha ông, lúc đó cha ông

Trang 6

có …., thấy vậy ông cũng thuận lòng cho bà Kim Lan mượn 1 chỉ vàng Saunày bà Kim Lan cùng chồng không trả bằng tiền mặt

Cha ông qua đời đột ngột vì bị đột quỵ, nhưng với mẹ lớn của ông do gãyxương khớp háng và vì tuổi cao nên không đi đứng được Bà nằm đó khoảng

2 – 3 năm do vợ chồng của em trai ông là Nguyễn Huy Thành lo phụng dưỡngcho đến ngày mất, lo luôn ma chay và mồ mả

Vì những lý do trên nên ý kiến của ông là:

1 Cái nhà do cha ông để lại là nhà thờ, để thờ ông bà cha mẹ Vì là nhà thờnên không được bán mà phải để cho em trai ông là Nguyễn Huy Thành ở để

lo cúng kiếng giỗ quảy

2 Phần đất còn lại (trừ đi mộ cha mẹ) Nếu có nhu cầu thì sẽ chia ra đều,nhưng không được bán (chỉ để ở)

Tờ tường trình ngày 01/10/2012, ông Nguyễn Huy Thành có ý kiến:

Cha ông là Nguyễn Thăng, sinh năm 1922, sống với mẹ lớn của ông là bàTrần Thị Trọng, sinh năm 1917, cha mẹ ông có xin chị ông là bà Nguyễn ThịKim Lan về làm con nuôi Đến năm 1962 do mẹ lớn của ông là bà Trần ThịTrọng không còn khả năng sinh nở, nên mẹ lớn ông đồng ý cho cha ông sốngvới mẹ ruột ông là bà Nguyễn Thị Lan, sinh ra được 05 người con, mẹ lớn ông

đều nhìn nhận và nuôi nấng, dạy dỗ 05 người nên người và dựng vợ gả

chồng cho các anh em ông

Nay cha mẹ ông đã mất, bà Nguyễn Thị Kim Lan đã khởi kiện đòi phân chiatài sản thật là vô lý vì bà Lan cho rằng chỉ có bà Lan là con của mẹ lớn ôngtrong khi bà Lan không phụng dưỡng cha và mẹ lớn của ông Còn riêng phầnông đã lo cho cha và mẹ lớn của ông đến lúc qua đời, đến nay ông vẫn thờcúng ông bà nội và cha và 02 bà mẹ

Vì vậy 05 anh em ông thống nhất là căn nhà đang sử dụng để thờ cúngkhông thể nào đem bán để phân chia được, nếu bà Kim Lan có ý muốn cùng

ở chung trong căn nhà thờ thì anh em ông đồng ý Riêng về phần đất, nếu bàKim Lan có nhu cầu xây nhà để ở thì anh em ông đồng ý, nhưng không đượcbán phần đất trên

Biên bản hòa giải ngày 25/10/2012:

Trình bày của bà Kim Lan: Bảo lưu lời trình bày như trong đơn khởi kiện Nay

bà yêu cầu chia 2000 m2 đất và 1 căn nhà tương ứng do cha bà là ông

Trang 7

Nguyễn Thăng đứng tên ½ tài sản chia cho mẹ bà (bà Trọng) thì bà đượcthừa kế và ½ đất chia cho 5 người con là Lan, Thành, Lộc, Tài, Quyên, Ngọc.Trình bày của ông Thành: Lời trình bày của bà Lan có 1 số điểm ông khôngđồng ý vì ông Lộc không do Lan đem về nuôi và ông và 4 anh em của ôngcùng sống với cha ông và bà Trọng từ trước đến nay còn bà Lan là con nuôi,

bà Lan không còn sống chung với gia đình từ năm 1975 và không có têntrong hộ khẩu gia đình, còn tài sản của cha ông là 2000 m2 đất và căn nhà,căn nhà này năm 1998 ông có tu bổ lại phòng, hành lang với nhà sau đấtkhông trồng gì, đất toạ lạc tại khu 4, TT Cái Bè, huyện Cái Bè Hiện tại ông

và Tài đang sống Và lúc còn sống cha ông có Phạm Thị Tâm 200 m2 vào

năm 2001 Nay ông yêu cầu trừ phần đất cho bà Tâm ra và trừ nhà thờ

và mồ mả ra yêu cầu chia đều đất cho 6 người con.

Tất cả những người liên quan: bảo lưu như ông Thành

Trình bày bà Kim Lan: tiền đóng lại phòng là do Thành làm bà không ý kiến.Việc cho Tâm đất bà không biết việc này

Biên bản định giá tài sản ngày 20/01/2013:

Phần đất tranh chấp theo xác định của UBND Thị Trấn Cái Bè thì sổ mục kêđịa chính do ông Nguyễn Thăng đăng ký trong sổ mục kê có diện tích

1951m2 nằm trong phần đất tại thửa số 631, diện tích thực đo là 1.651,7m2 (đo đạc thực tế 1.651,7m2)

A Trị giá đất:

I Từ đường vào làng nghề bánh phồng (cặp lô nhựa)

Phần đất mặt tiền lô nhựa (lô hàng bánh phồng) về hướng bắc 26,6m Trênphần đất này có căn nhà Thờ, nhà phụ và nhà kho thì giá đất thực tế chuyệnnhượng tại địa phương: 3.000.000đ/m2

II Phần đất còn lại

- Giá đất thực tế chuyển nhượng tại địa phương là: 300.000đ/m2

B Nhà trên đất và công trình phụ:

I Nhà cửa, vật kiến trúc của ông Nguyễn Huy Thành:

1/ Nhà sàn trên sông Cái Bè (Cặp lô nhựa):

- Diện tích: 8,05m x 12m = 96,6m2

- Thành tiền: 96,6m2 x 1.401.760đ/m2 x 60% = 81.246.010đ

Trang 8

2/3/Mái che: 2.900.898đ, hàng rào 961.389đ.

Tổng cộng: 85.108.297đ

II Nhà cửa, vật kiến trúc của ông Nguyễn Huy Lộc.

1 Nhà sàn trên sông Cái Bè (Cặp lô nhựa):

III Nhà cửa, vật kiến trúc của nhà thờ:

- Giá trị nhà chính sau khi đã trừ phần sửa chữa và làm them: 96.692.252đ –(7.079.952đ + 5.484.864đ + 8.105.664đ) = 76.021.772đ

Sau khi công bố kết quả định giá, các đương sự có ý kiến như sau:

* Ông Nguyễn Huy Lộc:

Trang 9

- Về phần đất: Theo ông thì giá đất 3.000.000đ/m2 (ngoài mặt tiền) là quácao giá thực tế bao nhiêu thì ông không biết còn phần đất còn lại thì300.000đ/m2 thì cũng quá cao nhưng ông không biết thực tế là bao nhiêu.

* Ông Nguyễn Huy Thành:

- Về phần đất: Theo ông thì giá đất (ngoài mặt tiền) là không quá1.500.000đ/m2 còn phần phía sau thì không quá 100.000đ/m2 vì phía saukhông có đường công cộng mà chỉ có đường nội bộ thôi

- Về vật kiến trúc và công trình phụ:

+ Về phần nhà thờ: Nhà anh ông là ông Tài cất năm 2006 mà định giá còn70% trong khi nhà của cha ông cất năm 1990 mà còn 50% thì không hợp lý.+ Phần lót gạch men và phần hành lang: Ông lót hết gạch men và hành langnhà thờ là 77m2 x 2.915.000đ/m2 x 60% = 13.467.300đ

* Bà Nguyễn Thị Kim Lan: thống nhất với toàn bộ biên bản định giá và

không có ý kiến gì thêm

* Ông Nguyễn Huy Tài:

- Về phần đất: thống nhất với ý kiến của ông Thành và ông Lộc là giá đất quácao

Tại Đơn yêu cầu V/v xác nhận di sản thừa kế của cha, Tờ tự khai ngày 11/03/2013 bà Nguyễn Thị Tố Quyên, bà Nguyễn Thị Bích Ngọc (con

vợ sau) trình bày Cha bà và bà Trần Thị Trọng có tạo lập khối tài sản chunggồm gần: 2.000m2 đất thổ cư và đất vườn, 01 căn nhà Bà yêu cầu Chia disản thừa kế của ông Nguyễn Thăng và bà Trần Thị Trọng nêu trên làm 6 phầnbằng nhau Mỗi bà xin nhận 1 phần

 Biên lai nộp tạm ứng án phí ngày 11/03/2013, bà Tố Quyên, bà Bích Ngọcnộp tạm ứng án phí 200.000 đồng

Thông báo thụ lý yêu cầu độc lập của bà Quyên, bà Ngọc ngày 11/03/2013

 Ngày 11/03/2013, ông Nguyễn Huy Thành nộp cho Tòa án Giấy xác nhận ghingày 22/2/2013 và ngày 11/6/2012 Trong đó:

Giấy xác nhận ghi ngày 11/06/2012:

Ông Nguyễn Huy Lộc, ông Nguyễn Huy Tài, bà Nguyễn Lan Tố Quyên, bàNguyễn Thị Bích Ngọc đồng ý làm giấy xác nhận cho ông Nguyễn Huy Thành:

Trang 10

“Ông Nguyễn Huy Thành được sinh ra và lớn lên cùng sống chung với cha mẹđến nay.

Cha họ và tên: Nguyễn Thăng, sinh năm 1922 (chết năm 2002)

Mẹ họ và tên: Trần Thị Trọng, sinh năm 1917 (chết năm 2007)

Khi Nguyễn Huy Thành trưởng thành phụ giúp chăm lo cho cha mẹ tất cả mọiviệc …

Đến năm 1998 cha bị bệnh tim Huy Thành phải bỏ ra mọi chi phí để chữa trịbệnh cho cha và cũng năm 1998 mẹ lại bị té gãy chân bán thân năm một chỗHuy Thành phải bỏ ra mọi chi phí để chữa bệnh cho mẹ cho đến chết Khi cha

mẹ chết Huy Thành lo mọi chi phí như ma chay, phụng thờ, cúng giỗ ông bàcha mẹ cho đến nay, tất cả mọi chi phí trong gia đình hoàn toàn do HuyThành chịu trách nhiệm

Năm 2001 Huy Thành được đồng ý của chúng tôi cho xây cất lại căn nhà trên

cố nằm trên phần đất của cha đứng tên chi phí Thành bỏ ra xây dựng căn nhà

đo là 10 cây vàng 24K (Mười cây)

Đối với bà Nguyễn Thị Kim Lan, sinh năm 1951 đã bỏ gia đình cha mẹ cùngchồng để đi đến Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống từ năm 1986 đến nay hoàntoàn không có công hay chi phí gì để phụ giúp cho cha mẹ

Nay chúng tôi xét thấy Nguyễn Huy Thành đã có rất nhiều công sức và xuấtnhiều chi phí để chăm lo gia đình cha mẹ được hoàn chỉnh đến ngày hômnay

Vậy chúng tôi chấp nhận đồng giao cho Nguyễn Huy Thành được trọn quyền

sử dụng căn nhà kiên cố đã xây dựng trên thửa đất của cha tôi đứng tên Bởicăn nhà này toàn bộ chi phí xây dựng, sửa chữa do ông Huy Thành bỏ ra”

Giấy xác nhận ghi ngày 20/02/2013

Ông Nguyễn Huy Lộc, ông Nguyễn Huy Tài, bà Nguyễn Lan Tố Quyên, bàNguyễn Thị Bích Ngọc, ông Nguyễn Huy Thành xác nhận:

Vào năm 1969, ba tôi ông Nguyễn Thăng cùng mẹ tôi là bà Đỗ Thị Lan sinhđược 3 người con trai Vì muốn có đất sau này cho những người con ở nên ba

mẹ tôi là ông Nguyễn Thăng và bà Đỗ Thị Lan có mua 1 miếng đất cát nhà để

ở, của ông Lê Văn Trân thường gọi là ông Ba Đê Miếng đất hiện toạ lạc sốnhà 18 tổ 1 khi 4 thị trấn Cái Bè, Tiền Giang Hiện nay phần đất trên do 3anh em trai chúng tôi sử dụng và canh tác

Trang 11

Nay anh em tôi nhờ bà con thân thuộc, biết rõ sự việc mua bán đất giữa ba

mẹ tôi và ông Ba Đê Xin xác nhận giùm

Xác nhận

“Đinh Văn Sên sinh 1932 số nhà 32 tổ 2 khu 4 Cái Bè Có biết ông Nguyễn Thăng và bà Đỗ Thị Lan mua 1 miếng đất của ông Ba Đê vào năm 1969 Tôi tên Nguyễn Thị Lý sinh năm 1942 số nhà 19 tổ 1 khu 4 Cái Bè Tôi có biết vợ chồng ông Nguyễn Thắng có dắt theo 3 đứa con về mua 1 miếng đất của ông Ba Đê gần nhà lột

Tôi tên là Nguyễn Thị Nguyệt sinh 1937, số nhà 31 tổ 2

Tôi là em ruột của ông Lê Văn Trâu, là ông Ba Đê, con là Lê Thị Tiểu

Anh tôi có bán cho ông Nguyễn Thăng và bà Đỗ Thị Lan vào năm 1969 là đúng sự thật Khi về mua có dắt theo 3 đứa con nhỏ là sự thật.

Tôi là Lê Thị Bồng, là em ruột của ông Lê Văn Trân xác nhận ông Nguyễn Thăng và bà Đỗ Thị Lan có mua miếng đất của ông Lê Văn Trân năm 1969 là sự thật.

Căn cứ vào xác nhận nguồn gốc đất của các hộ lân cận tất cả chữ ký trong đơn đều hiện ngụ tại tổ 1 khu 4 Cái Bè và nội dung đơn đúng sự thật”.

Có chứng thực chữ ký của UBND thị trấn Cái Bè

Giấy xác nhận ngày 04/03/2013:

“Tôi tên: Trần Văn Đê sinh năm 1952 ngụ tại ấp An Thái xã An cư huyện Cái Bè Tôi là cháu gọi bà Trần Thị Trọng là cô ruột nay tôi biết sự việc này như sau:

Nguyên do Dượng tôi là ông Nguyễn Thăng và bà vợ sau có mua một miếng đất của ông Phước Tín (Ba Đê) hiện tại là khu 4 TT Cái Bè cho đến nay Nếu tôi nói sai tôi chịu trách nhiệm trước pháp luật”.

Có chứng thực chữ ký của Công an xã

Tại Giấy xác nhận ngày 04/03/2013:

“Tôi tên Nguyễn Thị Biến sinh năm 1937

Ngụ tại 438 tổ 22 khu 4 thị trấn Cái Bè, Tiền Giang

Là cháu kêu bà Trần Thị Trọng là dì ruột , ông Nguyễn Thăng dượng rể Bà Trọng và ông Nguyễn Thăng sôngs chung với nhau và không có con nên năm

Trang 12

1951 có xin một đứa con gái về nuôi đặt tên là Nguyễn Thị Kim Lan Ông Nguyễn Thăng cất nhà tường tại khu 4 (Căn nhà hiện nay là ông 9 Lâm ở) để

cho bà Trọng và Nguyễn Thị Kim Lan ở Con ông Nguyễn Thăng và vợ nhỏ

là bà Đỗ Thị Lan có chung 05 người con dẫn vào t18 tổ 1 khu 4 mua đất cất nhà ở riêng cho đến nay ( Lúc đó bà Trần Thị Trọng già yếu thì

3 người con trai của bà Đỗ Thị Lan rước về phụng dưỡng đến ngày bà Trần Thị Trọng qua đời 3 người con này lo mai táng làm mồ mả rất tốt

Tôi là cháu kêu bà Trọng là dì ruột, tôi biết rất rõ, nên xác nhận đây là đúng sự thật”.

Có chứng thực chữ ký của UBND TX Cái Bè

 Tại Giấy xác nhận ngày 31/10/2012:

“Vào tháng 10/2001, do nhà cửa chật hẹp, được sự đồng ý nên cha mẹ tôi và

các anh em, tôi đã sửa và xây dựng thêm căn nhà như sau:

-Toàn bộ căn nhà phía sau gồm: 02 phòng ngủ, 01 bếp ăn, 01 toilet

- Toàn bộ khu hành lang và hàng ba phía trước của căn nhà

- Việc xây dựng trên là do ông Võ Văn Tròn, ngụ khu 1B số nhà 329B đứng ra xây cất, tiền công trả cho ông Tròn là 10.000.000đ (mười triệu đồng), tiền vật tư là 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu) Tổng cộng chi phí là 55.000.000đ (năm mươi lăm triệu), tương đương trên 10 lượng vàng (mười lượng vàng)”

Có ký xác nhận của anh Tròn và chứng thực chữ ký: Xác nhận: Anh Võ VănTròn hiện cư ngụ tổ 16 khu 1 thị trấn Cái Bè

Từ trước đến nay có làm thợ hồ là đúng, và chữ viết của anh Tròn là đúng

Trang 13

2 Năm 1998, mẹ tôi bị té gãy chân, nằm một chỗ cho đến lúc qua đời, vợ chồng Nguyễn Huy Thành đã phụng dưỡng bà chu đáo, đến năm 2007, bà qua đời đã tổ chức tang lễ và thờ cúng cho đến nay.

3 Riêng bà Nguyễn Thị Kim Lan, từ năm 1976 đến nay đã không ở chung với gia đình, khi mẹ tôi, bà Trọng bị tai nạn nằm một chỗ đã không chăm sóc, phụng dưỡng và ngaỳ giỗ hàng năm của mẹ bà Lan cũng không về dự”.

Những người ký xác nhận: Chủ hộ Đinh Văn Sên: 74 tuổi, Số nhà 32 tổ

2 khu 4 Cái Bè; Chủ hộ Phạm Thị Quyên: 62 tuổi, Số nhà 28 khu 4; Chủ hộ Nguyễn Thị Đẹp: 55 tuổi, Số 13 tổ 1 khu 4 Cái Bè, Chủ hộ Số nhà 19 tuổi 69 Nguyễn Thị Lý (không có chứng thực chữ ký).

Giấy xin xác nhận chữ ký và sự đồng tình cua 2 bên nội ngoại:

“- Xác nhận của nên nội:

Tôi tên là Nguyễn Thị Thược sinh năm 1929 hiện ngụ tại 13 Hoàng Văn Thụ Long Xuyên, là em ruột của ông Nguyễn Thăng Tôi xin xác nhận cháu Nguyễn Thị Kim Lan là con nuôi của anh chị tôi đã xin cháu về nuôi lúc cháu mới lọt lòng tại bệnh viện Long Xuyên.

Tôi tên Nguyễn Thị Biến sinh năm 1937, ngụ tại 438 tổ 2 khu 4 thị trấn Cái Bè, là cháu kêu bà Trần Thị Trọng là dì ruột Bà Trần Thị Trọng và ông Nguyễn Thăng chung sống với nhau không có con nên năm 1951 có xin một đứa con nuôi tên Nguyễn Thị Kim Lan về nuôi.

Sau đó ông Nguyễn Thăng có vợ thứ sinh được 5 người con (3 trai 2 gái) và bà Trần Thị Trọng đem về nuôi như con ruột Sau này ông Nguyễn Thăng và

bà Trân Thị Trọng già yếu và qua đời đều do 5 người con của vợ thứ chăm sóc và chôn cất

Tôi biết rất rõ nên xác nhận đây là đúng sự thật”.

Trang 14

Công an thị trấn Cái Bè xác nhận: vào năm 2002 hộ ông Nguyễn Thăng có:

1 Nguyễn Thăng – sinh năm:1922 – Chủ hộ chết 04/01/2002

2 Trần Thị Trọng – sinh năm: 1917 – Vợ chết 22/8/2007

3 Nguyễn Huy Thành – sinh năm : 1968 – Con

4 Nguyễn huy Lộc – sinh năm: 1963 – Con

5 Nguyễn Thị Nàng – sinh năm: 1970 – Con

6 Nguyễn Thành Huy – sinh năm:1990 – Cháu (con Nàng)

7 Trần Thị Ngọc Phượng – sinh năm: 1965 – Dâu (vợ Lộc)

8 Nguyễn Trần Hải Đăng – sinh năm: 2000 – Cháu

9 Trương thoại Khao – sinh năm: 1977 –Cháu

10 Trương Thị Hiếu Thảo – sinh năm: 1980 - Cháu

Đến 04/01/2002 ông Thăng chết từ năm 2003 tại hộ trên còn lại các khẩunhư trên đến năm 2007 bà Trọng chết hộ này do Nguyễn Thị Nàng đứng chủhộ

Tại Đơn yêu cầu không đề ngày, ông Nguyễn Huy Lộc trình bày: Hiện nay

bà Kim Lan gửi đơn khởi kiện đòi chia thừa kế 1 miếng đất của cha ông chết

để lại là 1651m2 và 1 căn nhà nằm trên miếng đất đó với diện tích 77m2.Riêng ông cất nhà ở mé sông, nên không dính líu gì đến

 Trong hồ sơ có bộ hồ sơ cấp GCN cho hộ ông Nguyễn Thăng

Đơn ủy quyền ngày 16/08/2001:

“Kính gửi: Chính quyền các cấp

Tôi tên Nguyễn Thăng sinh năm 1922

Hiện ngụ tại số 18 tổ 1 khu 4 thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, Tiền Giang

Nay tôi làm tờ giấy uỷ quyền này cho con dâu tôi tên Phạm Thị Tâm – 1968 sốđất thổ cư để cất nhà ở canh tác là 200 m2

Tôi viết tờ uỷ quyền kính trình các cấp xét giúp đỡ cho con dâu tôi được phépcất nhà tách hộ lập hộ mới

Trong khi chờ đợi sự chấp thuận của quý ông xin nhận nơi đây lòng thành thật

và sự biết ơn

Ngày đăng: 21/07/2022, 21:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w