Trong bài tiểu luận này, em sẽ dựa trên những cơ sở lý luận, những lý thuyết chung nhất về văn hóa và pháp luật, để rồi làm rõ nhận định: “Văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của pháp luậ
Trang 1TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
VĂN HÓA ĐẠI CƯƠNG
Đề bài: Có quan điểm cho rằng: Văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của pháp luật và pháp luật được xây dựng trên những kinh nghiệm văn hóa”’ Bằng những hiểu biết về văn hóa và pháp luật, anh/ chị hãy phân
tích và chứng minh nhận định trên
Họ và tên sinh viên: Lê Minh Châu
Mã sinh viên: 2113650002 Lớp hành chính: Anh 01 – Luật KDQT Lớp tín chỉ: NGOH102(GD1+2-HK2-2122)CLC.1 Khóa: 60
GVHD: Trần Thị Thanh Thủy, Nguyễn Thị Tú Mai
Hà Nội, tháng 06 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
1 Văn hóa 2
1.1 Khái niệm nền văn hóa 2
1.2 Đặc trưng và chức năng văn hóa 3
1.2.1 Tính hệ thống 3
1.2.2 Tính giá trị 3
1.2.3 Tính nhân sinh 3
1.2.4 Tính lịch sử 3
1.3 Định vị văn hóa Việt Nam 4
2 Pháp luật 4
2.1 Giới thiệu chung về hệ thống pháp luật 4
2.2 Những nguồn của pháp luật 5
2.2.1 Khái niệm nguồn pháp luật 5
2.2.2 Những nguồn pháp luật cơ bản 5
II MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA VÀ PHÁP LUẬT QUA NHẬN ĐỊNH 6
1 Văn hóa có sự ảnh hưởng phổ biến và rộng rãi đến pháp luật 6
1.1 Văn hóa là nền tảng để điều chỉnh, bổ sung cho pháp luật 6
1.2 Văn hóa là cầu nối giữa pháp luật và đời sống xã hội 7
1.3 Văn hóa bồi đắp nguồn nội dung của pháp luật 7
2 Nền pháp luật Việt Nam được chủ yếu xây dựng từ kinh nghiệm văn hóa 8
2.1 Những yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng pháp luật 8
2.1.1 Tôn giáo 8
2.1.2 Đời sống văn hóa, tư tưởng 10
2.2 Những giải pháp đề xuất cho vấn đề văn hóa và pháp luật hiện nay 12
2.2.1 Những vấn đề còn tồn đọng 12
2.2.2 Giải pháp 13
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Để đánh gia sự phát triển của một quốc gia, một trong những khía cạnh rõ nét nhất người ta nhìn vào chính là văn hóa của một quốc gia đó Văn hóa còn là sức mạnh nội sinh phát triển bền vững đất nước, đóng vai trò là “hệ điều tiết” trong sự vận động mọi mặt của đời sống Nhận thức rõ vai trò quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng, Đảng luôn quan tâm đến văn hóa, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để phát triển quốc gia - dân tộc Và đồng thời đi kèm với văn hóa, pháp luật cũng mang một tầm quan trọng hết sức to lớn trong công cuộc xây dựng đời sống văn hóa xã hội Có pháp luật, xã hội mới đảm bảo được sự an toàn, tự do, công bằng, dân chủ văn minh
Khi có được cái nhìn sâu sắc về văn hóa, ta sẽ có thể có được sự hiểu biết cặn
kẽ về pháp luật, kỹ năng phân tích, tư duy pháp lý, hiểu rõ được về nguồn của pháp luật Nếu coi văn hóa như là nền móng xây dựng nền văn minh, đời sống xã hội phát triển phong phú, hiện đại thì pháp luật chính là những viên gạch bảo vệ, duy trì, xây dựng những công trình kiên cố, đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội hiện đại Chính vì vậy, nghiên cứu về văn hóa là một trong những điều vô cùng cần thiết đối với những người đã, đang và sẽ theo đuổi con đường pháp luật học
Trong bài tiểu luận này, em sẽ dựa trên những cơ sở lý luận, những lý thuyết chung nhất về văn hóa và pháp luật, để rồi làm rõ nhận định:
“Văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của pháp luật và pháp luật được xây dựng dựa trên những kinh nghiệm văn hóa.”
Qua những kiến thức đã học trong học phần Văn hóa đại cương cùng với những kiến thức về pháp luật mà em đã tích lũy được từ các học phần trước, em sẽ kết hợp những phương pháp nghiên cứu như: phân tích, thu thập dữ liệu, thu thập thông tin, so sánh tổng hợp một cách phù hợp nhất để có thể phân tích, nhìn vấn đề một cách sâu sắc và
đa chiều
Trang 4I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Văn hóa
Đã bao giờ chúng ta tự hỏi vì sao xã hội của loài người là phát triển một cách vượt trội hơn so với xã hội của các loài vật khác? Có muôn vàn lý do cho sự phát triển hiện đại, văn minh của xã hội con người ngày nay và một trong những yếu tố điểm sắc cho đời sống xã hội chính là văn hóa
1.1 Khái niệm nền văn hóa
Khi được hiểu theo nghĩa thông dụng, văn hóa để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt, văn hóa chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn lịch sử Ví dụ như chúng ta thường nghe đến tên gọi nền văn hóa Đông Sơn gắn liền với thời kỳ đồ đồng, đồ sắt sớm tại một số tỉnh Bắc Trung Bộ tại Việt Nam Và theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm tất cả, từ sản phẩm văn minh tới đời sống tinh thần, phong tục tập quán, tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động, pháp luật, [1] của một xã hội con người
Mặc dù vậy, thuật ngữ “văn hóa” vẫn tiếp tục gây tranh cãi bởi nội hàm trừu tượng, đa nghĩa của nó
Theo nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor, ông đã có định nghĩa
về văn hóa vào năm 1871: “Văn hóa là một tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những năng lực hay tập quán khác do con người có được với tư cách là thành viên của xã hội” [2]
Theo UNESCO, văn hóa lại được hiểu là: “Tập hợp những đặc trưng về tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa chứa đựng bên cạnh nghệ thuật và văn chương, cả cách sống, phương thức chung sống, các hệ thống giá trị, các tập tục và tín ngưỡng.”
Theo Giáo sư Trần Ngọc Thêm, định nghĩa về văn hóa được hiểu như sau:
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị về vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình lao động thực tiễn, sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.” Và dường như định nghĩa của Giáo sư đã được coi là cơ sở cho quá trình nghiên cứu và phát triển văn hóa của Việt Nam ngày nay
Qua những định nghĩa về văn hóa trên, ta có thể đúc rút ra được văn hóa bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành nên đời sống con người bao gồm đời sống tinh thần, văn hóa, nghệ thuật, sinh hoạt, tâm linh, tôn giáo Không chỉ vậy, nó còn được thể hiện qua cách ứng xử của con người với thiên thiên, con người với con người và với cộng đồng rộng lớn Ngoài ra văn hóa còn bao gồm phương thức thể hiện tri thức bản địa, phương thức sinh kế Văn hóa chính là sản phẩm do con người tạo ra, có thể chi phối, quyết định sự tồn tại, bản sắc và sự phát triển bền vững của một cộng đồng người Để có được cái nhìn rõ nét hơn về văn hóa, sau đây ta sẽ tìm hiểu về những đặc trưng và chức năng của văn hóa
Trang 51.2 Đặc trưng và chức năng văn hóa
Mỗi quốc gia trên thế giới đều có cho mình một nền văn hóa riêng và mỗi nền văn hóa lại có sự đa dạng với muôn vàn những bản sắc riêng Mặc dù vậy, nhìn chung các nền văn hóa đều mang trong mình những đặc trưng cũng như chức năng riêng trong xã hội đời sống con người Vậy đó là những đặc trưng nào ?
I.2.1 Tính hệ thống
Đầu tiên đặc trưng này giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa, những đặc điểm, quy tắc, quy luật hình thành văn hóa Nhờ đặc trưng này mà văn hóa đã thực hiện được chức năng tổ chức xã hội Văn hóa hiện hữu, bao trùm mọi lĩnh vực trong cuộc sống, đóng vai trò quy định những suy nghĩ, tư tưởng và quy tắc trong đời sống con người Chính tính hệ thống của văn hóa đã làm tăng sự ổn định của xã hội, là nền tảng xây dựng cho một xã hội hiện đại, văn minh và phát triển
1.2.2 Tính giá trị
Trong văn hóa, tính giá trị đã nêu ra các cách phân biệt đa dạng khác nhau, đem lại góc nhìn đa chiều cho con người Về mục đích, ta có thể phân chia ra là giá trị về vật chất hoặc tinh thần Về ý nghĩa, ta có thể phân chia ra giá trị về đạo đức và giá trị về thẩm mỹ
Và về thời gian, giá trị được phân ra thành giá trị nhất thời và giá trị vĩnh cửu Những cách phân chia trên giúp con người có cái nhìn biện chứng về một nền văn hóa Đặc trưng này mang chức năng điều chỉnh, giúp xã hội cân bằng, có những sự điều chỉnh phù hợp, không ngừng hoàn thiện để thích ứng với môi trường Ngoài ra, nó góp phần định hướng những chuẩn mực, làm động lực phát triển cho xã hội
1.2.3 Tính nhân sinh
Qua đặc trưng này, văn hóa được hiểu là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, nó là sự tác động của con người vào tự nhiên Sự tác động ấy có thể mang tính vật chất, ví dụ như những hoạt động đẽo gỗ, khai thác than, khai thác dầu, Và đồng thời, sự tác động ấy cũng có thể mang tính tinh thần chẳng hạn là những những câu chuyện cổ dân gian, những truyền thuyết về những hiện tượng tự nhiên Do mang tính nhân sinh, văn hóa là sự gắn liền mật thiết con người với con người Qua đặc trưng này, văn hóa được thực hiện chức năng giao tiếp vì nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa chính là nội dung của giao tiếp
1.2.4 Tính lịch sử
Văn hóa là sản phẩm của quá trình tích lũy qua nhiều thế hệ, thường xuyên tự điều chỉnh và phân bố các loại giá trị Chính vì vậy truyền thống văn hóa được đánh giá là những giá trị khá ổn định Đặc trưng này cũng giúp giá trị văn hóa thực hiện được chức năng giáo dục của mình Văn hóa thể hiện chức giáo dục không chỉ qua những giá trị truyền thống mà còn qua những giá trị đang hình thành
Trang 61.3 Định vị văn hóa Việt Nam
Việt Nam là một đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời với những phong tục tập quán, nét đẹp văn hóa riêng biệt, đậm đà nét Á Đông Ngoài những đặc trưng được nêu trên, văn hóa Việt Nam có những đặc điểm đặc trưng, độc đáo
Đầu tiên, Việt Nam là nước có nền văn hóa đa dạng với sự kết hợp từ 54 dân tộc khác nhau, vậy nên văn hóa nước ta mang tính linh hoạt nhất định Tuy vậy, đôi khi sự linh hoạt lại trở nên tùy tiện và ảnh hưởng đến tính tổ chức trong xã hội dân chủ ngày nay
Nước ta còn được biết đến là nước có loại hình văn hóa gốc nông nghiệp Chính vì vậy, trong cách đối xử với môi trường tự nhiên, con người luôn có sự hòa hợp và tôn trọng
Về mặt nhận thức, người Việt Nam thường xem xét những mối quan hệ theo phương pháp tổng hợp biện chứng, khác với phương pháp tư duy phân tích như những nền văn hóa gốc du mục
Về mặt tổ chức cộng đồng, con người Việt Nam luôn coi trọng tình nghĩa, trọng đức, trọng văn, bởi từ xưa con người đã sinh sống theo một tập thể như làng, xã Chính vì vậy, tình nghĩa chính là yếu tố quan trọng giúp họ gắn kết với nhau
Chính vì đặc điểm ấy mà trong lối ứng xử với môi trường xã hội, con người đã luôn duy trì nét ứng xử mềm dẻo, hiếu hòa, “chín bỏ làm mười”, “dĩ hòa vi quý”
2 Pháp luật
2.1 Giới thiệu chung về hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật Việt Nam là tổng thể các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật có mối liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau, được phân định thành các ngành luật, các chế định pháp luật và được thể hiện trong các văn bản do cơ quan nhà nước Việt Nam có thẩm quyền ban hành theo những hình thức, thủ tục nhất định để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam.[3]
Hiện nay, Việt Nam có hệ thống pháp luật phức tạp bậc nhất thế giới, hệ thống này được đặc trưng bởi sự đồ sộ, rắc rối do có quá nhiều loại văn bản pháp luật được ban hành, nhưng lại có quá nhiều kẽ hở và lỗ hổng, các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu đồng bộ với nhau, gây cản trở và đè nặng lên người dân, doanh nghiệp.[4] Về việc ban hành pháp luật, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền thực hiện theo trình tự đã được quy định chặt chẽ thể hiện các bước, từng công việc phải làm để đưa ra các văn bản quy phạm pháp luật, từ đề xuất sáng kiến lập pháp, lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đến soạn thảo dự án văn bản quy phạm pháp luật, thẩm định, thẩm tra dự án văn bản quy phạm pháp luật, công
bố, tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, những tầng lớp dân
cư có liên quan đến việc tổng hợp, phân tích, nghiên cứu tiếp thu ý kiến đóng góp, đến
Trang 7trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, cho ý kiến hoặc thông qua dự án văn bản quy phạm pháp luật
Thông thường mỗi loại văn bản quy phạm pháp luật lại có một quy trình riêng, tương thích, phù hợp với tính chất, vị trí, vai trò của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành một loại văn bản quy phạm pháp luật riêng như luật khác pháp lệnh, pháp lệnh khác nghị định của Chính phủ, khác thông tư của các bộ, ngành…
2.2 Những nguồn của pháp luật
2.2.1 Khái niệm nguồn pháp luật
Hiện nay tại Việt Nam, khái niệm nguồn luật được đề cập từ các góc độ và mức
độ khác nhau trong các sách chuyên khảo, giáo trình, tạp chí,… Nguồn của pháp luật
là tất cả các căn cứ được các chủ thể có thẩm quyền sử dụng làm cơ sở để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế.[5] Hiểu một cách khái quát nhất, nguồn của pháp luật là tất cả các căn cứ được sử dụng làm cơ sở để xây dựng, giải thích, thực hiện và áp dụng pháp luật.[6]
Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất về nguồn của pháp luật là nơi tìm thấy các quy phạm pháp luật Ở Việt Nam hiện nay có 3 loại nguồn luật cơ bản, đó là: văn bản quy phạm pháp luật, tập quán pháp và tiền lệ pháp
2.2.2 Những nguồn pháp luật cơ bản
- Văn bản quy phạm pháp luật: Chịu ảnh hưởng bởi truyền thống pháp lý châu Âu lục địa, Việt Nam rất chú trọng hình thức văn bản quy phạm pháp luật Có thể khẳng định “văn bản quy phạm pháp luật là nguồn phổ biến nhất của pháp luật Việt Nam hiện nay, chúng điều chỉnh đa phần các quan hệ xã hội”.[7]
- Tập quán pháp: theo từ điển Oxford, tập quán được hiểu là “truyền thống và cách thức ứng xử được chấp nhận rộng rãi, được áp dụng đặc biệt cho một xã hội nhất định, tại một địa phương nhất định hoặc trong một thời gian nhất định.[8] tập quán pháp được hiểu là “hình thức pháp luật có nguồn gốc từ tập quán trên cơ sở cho phép áp dụng tập quán của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chủ thể áp dụng pháp luật vận dụng tập quán cụ thể làm căn cứ để giải quyết các vụ việc”
- Tiền lệ pháp: Tiền lệ pháp và án lệ là hai khái niệm có điểm tương đồng nhau, nhưng không đồng nhất Trong các giáo trình ở các cơ sở đào tạo
ở trong nước “Tiền lệ pháp là hình thức Nhà nước thừa nhận các quyết định của cơ quan hành chính hoặc cơ quan xét xử cấp trên khi giải quyết các vụ việc cụ thể, làm cơ sở áp dụng đối với trường hợp tương tự”.[9]
Trang 8Theo dòng thời gian, pháp luật nước ta đã được hình thành và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước, với đời sống của xã hội người dân Nguồn pháp luật cũng từ đó mà hình thành, góp phần làm nền tảng cho nền lập pháp, hành pháp và tư pháp ở nước ta Và như đã phân tích bên trên, văn hóa chính là sự bao trùm, sự hiện hữu của mọi lĩnh vực là yếu tố cốt yếu để hình thành nên một nhà nước một xã hội phát triển Chính vì vậy ta có thể khẳng định rằng, văn hóa và pháp luật có một mối quan hệ mật thiết với nhau
II MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA VÀ PHÁP LUẬT QUA NHẬN
ĐỊNH
“Văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của pháp luật và pháp luật được xây dựng dựa trên những kinh nghiệm văn hóa.”
Nhận định đã cho nhấn mạnh sâu sắc về mối quan hệ của văn hóa và pháp luật Nếu văn hóa là tất cả những giá trị hình thành nên đời sống xã hội con người thì pháp luật chính là công cụ để duy trì sự phát triển và ổn định của xã hội Vì vậy, chúng mang một mối quan hệ khăng khít, vừa hỗ trợ bổ sung cho nhau lại vừa mâu thuẫn với nhau Những nhà làm luật, những cơ quan lập pháp ở mỗi quốc gia đều phải dựa vào văn hóa, hiểu được bản chất gốc rễ của văn hóa, đời sống con người thì mới có thể tạo
ra, ban hành những văn bản quy phạm pháp luật, có những điều khoản tiến bộ, phù hợp với thời đại
1 Văn hóa có sự ảnh hưởng phổ biến và rộng rãi đến pháp luật
Theo nhận định đã cho, “văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của pháp luật” Quả thật văn hóa chính là “nhãn quan” của một cộng đồng dân tộc về thế giới vũ trụ bao gồm vật chất tự nhiên, môi trường sống xung quanh và những quy tắc ứng xử tương ứng của cộng đồng,được coi như là nguồn phổ biến, rộng rãi và đóng vai trò nền tảng trong quá trình xây dựng pháp luật Xã hội nào cũng cần pháp luật như một công cụ điều chỉnh hành vi của con người trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống
và trên thực tế, con người chịu sự điều chỉnh của văn hóa nhiều hơn là pháp luật vì con người luôn hành động theo tập quán, theo thói quen… Dưới đây sẽ là những phân tích chứng minh cho sự phổ rộng của văn hóa đối với pháp luật
1.1 Văn hóa là nền tảng để điều chỉnh, bổ sung cho pháp luật
Ở Việt Nam ngày nay, sự phát triển ở các vùng miền, các dân tộc chưa được đồng đều, vẫn tồn tại sự chênh lệch không nhỏ về trình độ phát triển, đời sống văn hóa, tinh thần giữa các vùng miền, cộng đồng dân cư Vì vậy, không phải lúc nào các quy phạm pháp luật với tính khái quát cao cũng hoàn toàn phù hợp để có thể điều chỉnh một cách chính xác, thỏa đáng những vấn đề pháp lý phát sinh ở các vùng miền, các cộng đồng dân cư khác nhau đó “Do vậy, mỗi một cộng đồng làng xã cụ thể luôn cần đến các quy định cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ thực hiện cho mọi thành viên trong làng, phản ánh được nhu cầu tổ chức và phát triển của mỗi làng,xã cụ thể” [10] Điều
Trang 9này đặt ra nhu cầu tất yếu phải áp dụng tập quán, dựa vào văn hóa để có thể nhằm hỗ trợ cho pháp luật quản lý xã hội
Nhà nước sẽ rất khó để có thể đưa hết mọi ngóc ngách của đời sống xã hội vào quy phạm pháp luật vì thế, trong thực tiễn sẽ luôn có những tình huống thiếu pháp luật thành văn để điều chỉnh, trong khi đó tập quán - một trong yếu tố lại rất phong phú và
đa dạng, với cơ chế điều chỉnh mềm dẻo, linh hoạt chính là nguồn hỗ trợ, bổ sung quan trọng cho pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội Chẳng hạn phong tục Giỗ tổ Hùng Vương đã được Nhà nước thừa nhận và đảm bảo thực hiện ở cả Phú Thọ
mà và toàn quốc gia Không chỉ vậy, Nhà nước ta cũng thừa nhận phong tục bảo vệ rừng thiêng của dân tộc H’mông trên những vùng cao
1.2 Văn hóa là cầu nối giữa pháp luật và đời sống xã hội
Văn hóa có tác động không nhỏ đến việc tiếp nhận và thi hành pháp luật của người dân Một nền văn hóa lạc hậu sẽ trở thành lực cản trong việc tiếp nhận và thi hành pháp luật Ngược lại, một nền văn hóa tiến bộ sẽ đóng vai trò tích cực trong việc tiếp nhận và thi hành pháp luật một cách tự giác của người dân Việc áp dụng văn hóa tốt đẹp sẽ đóng vai trò tích cực trong việc xây dựng tình đoàn kết nội bộ, giải quyết các tranh chấp bằng con đường hoà giải, giải quyết linh hoạt, kịp thời, có tình, có lý
Kinh nghiệm phát triển kinh tế xã hội ở nước ta thời gian qua cũng cho thấy, không thể bỏ qua các đặc điểm văn hóa, đặc trưng dân tộc và khu vực trong công tác quản lý xã hội, bởi nếu bỏ qua các yếu tố này thì khi pháp luật đi vào đời sống sẽ khó được người dân tiếp nhận và thi hành một cách tự giác làm cho hiệu quả quản lý xã hội bị giảm đi đáng kể Ví dụ theo Luật thủy sản năm 2017 đã quy định: Các hành vi
bị nghiêm cấm trong hoạt động thủy sản có bao gồm hành vi “Sử dụng chất, hóa chất cấm, chất độc, chất nổ, xung điện, dòng điện, phương pháp, phương tiện, ngư cụ khai thác có tính hủy diệt, tận diệt để khai thác nguồn lợi thủy sản” (Khoản 7, Điều 7) Những tập quán rất cụ thể như loại hình đánh bắt nào bị cấm và loại cá nào bị cấm Vì vậy, vai trò bổ trợ và hỗ trợ của hải quan là rất rộng
1.3 Văn hóa bồi đắp nguồn nội dung của pháp luật
Gắn lịch sử hình thành và phát triển của mình, các quốc gia, dân tộc trên thế giới đều có các nền văn hóa riêng để quản lý đời sống xã hội trong cộng đồng của họ
Ở Việt Nam hiện nay, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhà nước cũng đã thừa nhận rất nhiều những nét đặc trưng của văn hóa như những tập quán tốt đẹp có sẵn, biến chúng thành pháp luật
Văn hóa không chỉ là nền tảng để điều chỉnh, bổ sung cho pháp luật mà nó còn
là cầu nối giữa pháp luật và đời sống xã hội mà còn là nguồn nội dung chính của pháp luật, là yếu tố cốt yếu để hoàn thiện một nền pháp luật tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 10Dù xã hội đã có những biến đổi theo thời gian nhưng những giá trị tích cực của tập quán, văn hóa xưa vẫn là “những mạch ngầm ẩn dưới tầng sâu của văn hoá dân tộc
và không hề dứt”[11] Bởi lẽ, “nhân dân Việt Nam vốn có tinh thần trân quý những giá trị truyền thống, có những phương pháp lưu giữ tập quán rất bền vững Chính vì vậy, các tập quán tốt đẹp hoặc thuận lợi cho nhân dân hầu như không mai một Đây Chính là điều kiện quan trọng để đảm bảo tính khả thi cho việc áp dụng tập quán”[12] Một ví dụ điển hình chính là nước ta đã ban hành Luật di sản văn hóa năm 2011 và Luật Di sản văn hóa sửa đổi 2009 để đảm bảo công cuộc giữ gìn và bảo vệ truyền thống văn hóa dân tộc
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không phải tập quán nào tồn tại trên thực tế cũng tiến bộ, cũng hoàn toàn phù hợp để áp dụng trong điều kiện hiện nay Vì vậy, để phát huy được vai trò, giá trị của văn hóa trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội , góp phần đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các chủ thể, cũng như đảm bảo trật tự xã hội thì việc áp dụng tập quán cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định nhằm kế thừa những giá trị văn hóa tốt đẹp và loại bỏ những giá trị cổ hủ, lạc hậu
2 Nền pháp luật Việt Nam được chủ yếu xây dựng từ kinh nghiệm văn hóa
Quả thật, kinh nghiệm văn hóa đã là một nền tảng mang ý nghĩa hết sức to lớn
để xây dựng pháp luật Bởi lẽ, khi dựa vào văn hóa, việc ban hành pháp luật sẽ không mang tính chất áp đặt, nó mang tính linh hoạt, phù hợp và mang lại sự phát triển cho tất cả người dân trong xã hội Nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa, từ xa xưa, các cá nhân, cơ quan lập pháp đã luôn bám sát vào văn hóa để hoàn thành công việc xây dựng pháp luật của mình Tuy vậy, bên cạnh những ưu điểm lợi ích to lớn cho nhân dân, công cuộc này vẫn đan xen những nhược điểm không thể tránh khỏi
2.1 Những yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng pháp luật
2.1.1 Tôn giáo
Với những định nghĩa đã cho, tôn giáo chính là một phần của văn hóa Theo C.Mác: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần” Và theo Ph.Ăngghen:
“Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …” Vậy chúng có ảnh hưởng như thế nào đến pháp luật ?
a Nho Giáo
Có thể nói Nho giáo là một trong những hạt nhân hình thành nên nền văn hóa Việt Nam bởi từ thời Bắc thuộc xa xưa, nhân dân ta đã có ảnh hưởng sâu sắc của tôn giáo này Đầu tiên phải kể đến quan điểm trị nước trong thời kì này bao gồm: “Lễ -Nhạc - Hình - Chính” ảnh hưởng sâu sắc đối với văn hóa Việt Nam “Lễ” quy định tôn
ti, trật tự, xác định bổn phận của mọi tầng lớp trong xã hội, khiến cho mọi người kính trọng lẫn nhau, vẹn nhân, vẹn nghĩa Bên cạnh đó, “Nhạc” có mục đích làm cho con