1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luật trọng tài thương mại các tranh chấp giải quyết bằng trọng tài

17 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 101,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ TIN HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ TIN HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT Các tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TP HỒ CHÍ MINH 4 MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN 1 MỤC LỤC 2 CÂU HỎI 3 BÀI TIỂU LUẬN 4 I Nội dung qui định.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - TIN HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH, THƯƠNG

MẠI

TP HỒ CHÍ MINH

1

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - TIN HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

Các tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH, THƯƠNG

MẠI

TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

MỤC LỤC

CÂU HỎI (Ghi lại chủ đề đã chọn và cả vụ việc tự chọn ở đây)

Đề tài: Sinh viên chọn 01 đề tài trong số các đề tài sau và phân tích dựa trên các tiêu chí: (i) quy định của pháp luật Việt Nam; (ii) Thực tiễn áp dụng; (iii) Bất cập; (iv) Kinh nghiệm nước ngoài; (v) Quan điểm cá nhân về hoàn thiện.

1 Các tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài

BÀI TIỂU LUẬN

Lý do chọn đề tài

Trang 4

Song song với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế Việt Nam, nhu cầu xác lập giao dịch dân sự theo đó ngày càng gia tăng Hệ quả tất yếu là tranh chấp, xung đột lợi ích giữa các bên trong quan hệ dân sự cũng tăng theo Nhu cầu giải quyết tranh chấp giữa các bên ngày 1 lớn, như chúng ta đã biết, tranh chấp có thể được giải quyết thông qua 4 phương thức: Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài và Tòa án Thương lượng và hòa giải ít phổ biến vì nó phụ thuộc nhiều vào ý chi chủ quan của các bên Khi mâu thẫn gay gắt, xung đột lợi ích càng lớn thì sẽ càng khó thông nhất ý chí giữa các bên

Do lẽ đó, các bên thường tìm tới phương thức giải quyết mang tính phán quyết, bắt buộc các bên thi hành như là Trọng tài và Tòa án Vì cả 2 phương thức giải quyết tranh chấp đều mang tính chất phán quyết, vì vậy vấn đề đặt ra là phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của mỗi phương thức Cụ thể những tranh chấp nào sẽ được giải quyết bằng Trọng tài? Những tranh chấp nào sẽ được giải quyết bằng Tòa án? Bài tiểu luận này sẽ phân tích, bình luận cụ thể những tranh chấp nào sẽ được giải quyết bằng Trọng tài trên cơ sở pháp luật Việt Nam

I Nội dung qui định pháp luật

Như đã phân tích ở trên, do phát sinh nhu cầu phân định thẩm quyền của Trọng tài

và Tòa án dẫn tới sự ra đời của Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010 về các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải của trọng tài như sau:

- Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại

- Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại

- Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài

Về phân định thẩm quyền giữa Tòa án và Trọng tài ở Điều 2 Luật trọng tài 2010 được hướng dẫn thi hành cụ thể tại Điều 2 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP:

1 Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp quy định tại Điều 2 Luật

TTTM nếu các bên có thoả thuận trọng tài quy định tại Điều 5 và Điều 16 Luật TTTM, trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này

2 Khi có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực quy định

tại Điều 2 Luật TTTM thì Tòa án yêu cầu một hoặc các bên cho biết tranh chấp đó các bên có thoả thuận trọng tài hay không Tòa án phải kiểm tra, xem xét các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện để xác định vụ tranh chấp đó có thuộc trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này hay không Tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau: a) Trường hợp tranh chấp không có thoả thuận trọng tài hoặc đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định, phán quyết có hiệu lực pháp

Trang 5

luật của Trọng tài xác định vụ tranh chấp không có thỏa thuận trọng tài thì Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền

b) Trường hợp tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài không thuộc trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này thì Tòa án căn cứ quy định tại điểm

đ khoản 1 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 (sau đây gọi tắt

là BLTTDS) để trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cho người khởi kiện

Trường hợp sau khi thụ lý vụ án Tòa án mới phát hiện vụ tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài không thuộc trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này thì Tòa án căn cứ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện cho người khởi kiện

c) Trường hợp đã có yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp và Hội đồng trọng tài đang giải quyết vụ tranh chấp thì dù Tòa án nhận thấy tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài hoặc tuy đã có thoả thuận trọng tài nhưng thuộc trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này mà người khởi kiện có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, trường hợp Tòa án đã thụ lý thì ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, trừ trường hợp Tòa án thụ lý vụ tranh chấp trước khi có yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp Sau khi có quyết định, phán quyết của Hội đồng trọng tài quy định tại các điều 43, 58,

59 và 61 Luật TTTM mà người khởi kiện có yêu cầu Tòa án giải quyết, thì Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung

3 Tranh chấp có thỏa thuận trọng tài nhưng thuộc một trong các trường hợp sau

đây thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác:

a) Có quyết định của Tòa án huỷ phán quyết trọng tài, hủy quyết định của Hội đồng trọng tài về việc công nhận sự thỏa thuận của các bên;

b) Có quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài, Trung tâm trọng tài quy định tại khoản 1 Điều 43 các điểm a, b, d và đ khoản 1 Điều 59 Luật TTTM;

c) Tranh chấp thuộc trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 4 Nghị quyết này

Trang 6

4 Trường hợp các bên vừa có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, vừa

có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Tòa án mà các bên không có thỏa thuận lại hoặc thỏa thuận mới về cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này mà phát sinh tranh chấp thì xử lý như sau: a) Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp khi Tòa án chưa thụ lý vụ án quy định tại điểm b khoản 4 Điều này thì Tòa án căn cứ quy định tại Điều 6 Luật TTTM để từ chối thụ lý, giải quyết Trong trường hợp này, khi nhận được đơn khởi kiện Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện, nếu đã thụ lý vụ án thì căn

cứ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện

b) Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, thì ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án phải xác định một trong các bên đã yêu cầu Trọng tài giải quyết hay chưa

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện mà Tòa án xác định người bị kiện, người khởi kiện đã yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, trường hợp người bị kiện, người khởi kiện chưa yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp thì Tòa án xem xét thụ lý giải quyết theo thủ tục chung

Trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án mà phát hiện tranh chấp đã có yêu cầu Trọng tài giải quyết trước thời điểm Tòa án thụ lý vụ án thì Tòa án căn cứ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện

II Phân tích nội dung qui định pháp luật

Về qui định ở Khoản 1 Điều 2 Luật trọng tài 2010, đây là qui định về điều kiện các tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, phụ thuộc vào tính chất của tranh chấp phát sinh là từ hoạt động thương mại, đây là sự kế thừa của Luật trọng tài thương mại 2010 đối với Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 Tuy nhiên, đây là điều khoản gây tranh cãi khá nhiều Lý do phát sinh từ khái niệm hoạt động thương mại có thể hiểu theo 2 nghĩa rộng và hẹp Hoạt động thương mại thương mại theo nghĩa rộng được hiểu là tất

Trang 7

cả các hoạt động phát sinh nhằm mục đích sinh lời tức là phạm vi của nó rất rộng Tuy nhiên, hoạt động thương mại theo nghĩa hẹp được định nghĩa luật nội dung tức Luật thương mại 2005 là chỉ các hoạt động được phát sinh giữa các thương nhân tức các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005)

Từ đây, sẽ phát sinh 2 luồng quan điểm trái ngược trong các tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài phát sinh từ tinh chất tranh chấp như đã phân tích ở trẻn

Nắm bắt được bất cập ở Khoản 1, Khoản 2 qui định 1 cách khái quát, rõ ràng hơn

về điều kiện các tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, ở đây là điều kiện về chủ thể, chỉ cần ít nhất 1 bên trong tranh chấp có hoạt động thương mại thì tranh chấp đó

có thể giải quyết bằng trọng tài Mà theo luật nội dung (Luật thương mại 2005), hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005) Tóm lại, chỉ cần ít nhất 1 bên có hoạt động nhằm mục đích sinh lời thì tranh chấp đó có thể giải quyết bằng trọng tài => Giaỉ quyết được tranh cãi phát sinh từ Khoản 1 Tuy nhiên, cũng có vài lĩnh vực đặc biệt theo dân sự nghĩa hẹp như hôn nhân – gia đình, thừa kế, lao động tuy có thể có 1 bên hoạt động thương mại nhưng vẫn bắt buộc phải giải quyết bằng Tòa án

Khoản 3 là 1 điều khoản mở để phù hợp với các ngành luật khác Có những tranh chấp không thuộc 2 khoản trên nhưng theo qui định của luật chuyên ngành thì phải quyết bằng trọng tài Ví dụ, trong Điều 30, 38 Luật bảo vệ người tiêu dùng và Điều 17 Luật trọng tài thương mại 2010 thì người tiêu dùng có quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp

III Thực tiễn áp dụng:

Trong thời đại nền kinh tế ngày một phát triển hoạt động thương mại diễn ra phổ biến mỗi ngày Tuy nhiên không phải lúc nào việc giao kết hợp đồng cũng diễn ra suôn

sẻ, mà nó luôn tiềm ẩn những tranh chấp do vi phạm hợp đồng hoặc một số lý do khác Vậy khi tranh chấp xảy ra sẽ xử lý như thế nào, đó là lựa chọn của các bên doanh nghiệp khi ký kết hợp đồng Trong trường hợp thương lượng hoặc hòa giải không thành công tranh chấp kinh tế có thể giải quyết bằng một trong hai con đường là họ có thể chọn Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 để giải quyết tranh chấp mà cũng có thể nộp đơn khởi kiện lên giải quyết bằng trọng tài theo quy định

Trang 8

Luật trọng tài thương mại 2010 Vậy việc giải quyết tranh chấp trọng tài diễn ra như thế nào và thực trạng các vụ việc được giải quyết bằng trọng tài ở Việt Nam có những điểm gì nổi bật sau đây chúng ta cùng đi tìm hiểu

Thực chất việc dùng trọng tài để giải quyết tranh chấp không còn xa lạ đối với các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Tuy nhiên các doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn còn dè dặt khi phải chọn giải quyết tranh chấp tại trọng tài và khi các vụ tranh chấp xảy ra các bên thường khởi kiện tại Tòa án Có thể nói mặc dù phương thức trọng tài đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng ở Việt Nam thì mới xuất hiện nổi bật 10 năm trở lại đây, do đó các cách thức hoạt động cũng như các quy định tại trung tâm trọng tài chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp Theo thống kê thì tại Việt Nam hiện có khoảng 15 Trung tâm trọng tài thương mại1, nhưng phần lớn các vụ việc tranh chấp xảy ra được giải quyết tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam có tên viết tắt là VIAC Điển hình là số liệu báo cáo thường niên năm 2018 của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)2, cho biết năm 2018 vừa qua, tổ chức này đã giải quyết 180

vụ tranh chấp thương mại với tổng trị giá 9.400 tỷ đồng - mức cao nhất trong 25 năm qua kể từ khi được thành lập theo Quyết định 204/TTg ngày 28/4/1993 của Thủ tướng Chính phủ với tính chất tranh chấp là 51% quốc tế và 49% trong nước trải dài ở các lĩnh vực như mua bán hàng hóa, hợp tác kinh doanh, bất động sản, bảo hiểm, xây dựng, dịch vụ Từ số liệu trên có thể thấy tín hiệu hết sức khả quan của phương thức giải quyết bằng trọng tài nhưng đồng thời cho thấy tình trạng có rất nhiều các Trung tâm trọng tài, nhưng các vụ việc chỉ tập trung giải quyết ở một trung tâm trọng tài nhất định, điều này đặt ra bài toán khó để có thể cải thiện lòng tin của các doanh nghiệp đối với phương thức trọng tài nói chung và các trung tâm trọng tài nói riêng

Bên cạnh đó kiến thức pháp luật của bản thân các doanh nghiệp hiện nay chưa cao, nhiều doanh nghiệp chính bản thân họ cũng chưa biết được Luật trọng tài thương mại

có tồn tại hay không chính vì vậy mà đa số các vụ việc tranh chấp thương mại xảy ra

họ đều nghĩ đến biện pháp khởi kiện tại Tòa án do các quy định tại Bộ luật tố tụng dân

sự có đề cập đến thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến kinh tế thương

1 Các trung tâm thương mại tại Việt Nam:

https://stac.com.vn/cac-trung-tam-trong-tai-thuong-mai-o-viet-nam/

2 Báo cáo thường niên Thống kê hoạt động giải quyết tranh chấp năm 2018:

https://stac.com.vn/cac-trung-tam-trong-tai-thuong-mai-o-viet-nam/

Trang 9

mại Cộng thêm việc Luật trọng tài đã ban hành từ năm 2010 và cách nay đã hơn mười năm chính vì vậy một vài các điều luật khi áp dụng đã không còn phù hợp nữa bộc lộ

ra rất nhiều nhược điểm Cách nhìn về luật chưa thực sự rõ ràng, các điều luật quy định cũng chồng chéo lên nhau khiến các tổ chức, doanh nghiệp cá nhân họ không tin tưởng để giải quyết trọng tài vì có thể những quy định không rõ ràng ấy có thể gây bất lợi cho họ

Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của trọng tài theo Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010 chỉ đề cập rằng các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại, giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại hoặc tranh chấp giữa các bên mà pháp luật quy định giải quyết bằng trọng tài Quy định này rất chung khiến cho những người không am hiểu về luật trọng tài thương mại có thể hiểu sai về thẩm quyền giải quyết chỉ gói gọn trong các tranh chấp về hoạt động thương mại như các hoạt động mua bán và không biết được tranh chấp khác mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài là những tranh chấp gì Thực tế, các tranh chấp về sở hữu trí tuệ không phải tranh chấp về thương mại mà có thể giải quyết bằng trọng tài nếu luật quy định với một số ngoại lệ và hạn chế nhất định vì hầu hết các tranh chấp sở hữu trí tuệ là các bằng sáng chế, nhãn hiệu, bí mật thương mại, bản quyền3, hay điểm b Khoản 8 Điều 146 Luật Xây dựng 2014 sửa đổi bổ sung năm 2020 cho phép các bên

có thể đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài “Các bên hợp đồng có trách nhiệm tự thương lượng giải quyết tranh chấp Trường hợp các bên hợp đồng không tự thương lượng được thì tranh chấp được giải quyết thông qua hòa giải, trọng tài thương mại hoặc tòa án theo quy định của pháp luật.” Những tranh chấp này có thể liên quan đến bản chất quốc tế, một số bản án áp dụng luật nước ngoài nên việc lựa chọn giải quyết tranh chấp tại trọng tài hợp lý hơn bao giờ hết Chính vì vậy nên nếu như không am hiểu thì có thể sẽ không biết vụ tranh chấp liên quan đến xây dựng hay sở hữu trí tuệ

có thể giải quyết bằng trọng tài tại các trung tâm trọng tài hay trọng tài vụ việc thay cho việc khởi kiện tại Tòa án vừa có thể tiết kiệm được thời gian xét xử và vừa có các trọng tài viên am hiểu kiến thức kỹ thuật và chuyên môn trong lĩnh vực nhất định

3 Trọng tài quốc tế và sở hữu trí tuệ (IP) Tranh chấp:

https://www.international-arbitration-attorney.com/vi/international-arbitration-and-intellectual-property-ip-disputes/

Trang 10

IV Bất cập

Theo khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại, trọng tài có thẩm quyền giải quyết “tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại” Qui định này chỉ tập trung vào chủ thể tranh chấp chứ không hề đề cập đến bản chất của tranh chấp Nói cách khác, qui định như vậy có thể dẫn đến cách hiểu là chỉ cần một bên tranh chấp có hoạt động thương mại thì bất kỳ tranh chấp nào mà họ là một bên đều có thể được giải quyết bằng phương thức trọng tài Chẳng hạn, trong tranh chấp về nhà ở, một bên có đầu tư phát triển nhà thương mại thì đây là tranh chấp

có ít nhất một bên có hoạt động thương mại và có thể được giải quyết bằng phương thức trọng tài Quy định tập trung vào chủ thể của tranh chấp như vậy sẽ dẫn đến hệ quả phức tạp trong việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài hoặc Tòa án Chẳng hạn, trong trường hợp A là một thương nhân (là chủ thể có hoạt động thương mại) muốn ly hôn với B thì xét từ góc độ chủ thể, tranh chấp này cũng thuộc qui định trên, nhưng về bản chất tranh chấp thì trọng tài Việt Nam chưa có thẩm quyền

để giải quyết

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có nhiều ưu điểm so với các hình thức giải

quyết tranh chấp bằng Tòa án, hòa giải và thương lượng Tuy nhiên hình thức này chưa phải là hoàn hảo, bên cạnh những ưu điểm của mình thì trọng tài vẫn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập điển hình như bản chất trọng tài Việt Nam có những hạn chế nhất định như đối với các tranh chấp thương mại rất nhỏ về mặt giá trị, thì hiệu quả kinh tế các bên sẽ phải suy nghĩ lại trước khi giải quyết tranh chấp tại trọng tài vì chí phí để giải quyết tại trọng tài sẽ cao hơn so với Tòa án theo án phí của Tòa

Các tranh chấp thương mại thường là các tranh chấp liên quan đến bí mật kinh

doanh hay ảnh hưởng trực tiếp đến danh tiếng, uy tín của các doanh nghiệp, vì vậy mà thủ tục tố tụng của trọng tài thương mại phải tuân thủ tuyệt đối nguyên tắc bảo mật khiến cho các trọng tài viên không thể tìm hiểu kinh nghiệm qua các vụ kiện trọng tài khác mà mình không được tham gia, đặc biệt là đối với các trọng tài viên mới vào ngành rất khó có được kinh nghiệm để giải quyết các vấn đề tương tự một cách chính xác

Thủ tục tố tụng khi giải quyết các tranh chấp từ khi bắt đầu cũng có một số nhược điểm đáng kể như việc gửi thông báo cho các bên theo khoản 3 Điều 12 Luật trọng tài thương mại 2010 như việc gửi thông báo, tài liệu sẽ được gửi đến đúng địa chỉ mà các

Ngày đăng: 21/07/2022, 18:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w