1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Dàn ý phân tích Nỗi sầu oán của người cung nữ (Trích Cung oán ngâm)

7 285 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nỗi sầu oán của người cung nữ (Trích Cung oán ngâm)
Tác giả Nguyễn Gia Thiều
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Phân tích văn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 476,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỖI SẦU OÁN CỦA NGƯỜI CUNG NỮ (Trích “Cung oán ngâm”) ~Nguyễn Gia Thiều~ I Giới thiệu 1 Tác giả Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798), hiệu Hi Tôn Quê Bắc Ninh Ông sinh ra trong một gia đình quý tộc, thời trẻ thường lui tới phủ chúa Từng giữ nhiều chức quan, là một vị quan võ Năm 1782, ông giữ chức tổng binh ở Hưng Hóa và được phong tước Ôn Như Hầu Nhưng sau đó ông lại xin thôi, về sống một cuộc đời tài tử, làm thơ, uống rượu, đi tu Ông là một thi nhân nhưng đồng thời cũng là nhạc sĩ Ông sáng tác các b.

Trang 1

NỖI SẦU OÁN CỦA NGƯỜI CUNG NỮ

(Trích “Cung oán ngâm”)

~Nguyễn Gia Thiều~

I Giới thiệu

1 Tác giả

Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798), hiệu Hi Tôn

Quê: Bắc Ninh

Ông sinh ra trong một gia đình quý tộc, thời trẻ thường lui tới phủ chúa

Từng giữ nhiều chức quan, là một vị quan võ Năm 1782, ông giữ chức tổng binh ở Hưng Hóa và được phong tước Ôn Như Hầu Nhưng sau đó ông lại xin thôi, về sống một cuộc đời tài

tử, làm thơ, uống rượu, đi tu

Ông là một thi nhân nhưng đồng thời cũng là nhạc sĩ Ông sáng tác các bản nhạc: Sơn Trung

Âm, Sở Từ Điệu Bản thân là một người vẽ đẹp, ông có bức tranh Tống Sơn Đồ được vua Lê khen thưởng Ông cũng am tường cả về kiến trúc Tháp chùa Tiên Tích ở Bắc Ninh được xây dưới sự điều khiển của ông  Đa tài

Trong sự nghiệp văn chương:

- Ôn Như thi tập (tiền, hậu tập) – chữ Hán

- Tây Hồ thi tập, Tứ trai thi tập – chữ Nôm

- Cung oán ngâm khúc – chữ Nôm

Tuy là một người đa tài nhưng Nguyễn Gia Thiều lại mang tư tưởng không ham danh lợi Vào cuối đời, ông thích cuộc sống ẩn dật, theo tư tưởng của Phật giáo Ông được triều Tây Sơn mời ra cộng tác nhưng đã từ chối và về sống ở quê nhà là làng Liễu Ngạn, huyện Siêu Loại, Bắc Ninh cho đến khi mất

2 Tác phẩm Cung oán ngâm

Khúc ngâm dài 356 câu

Viết bằng chữ Nôm

Thể song thất lục bát

Nội dung khúc ngâm: Viết về cuộc đời của một người cung nữ tài hoa, có nhan sắc, được vua yêu chuộng nhưng không bao lâu bị ruồng bỏ Ở trong cung, nàng xót thương cho số phận của mình và oán trách nhà vua phụ bạc

Mở đầu khúc ngâm

Trải vách quế gió vàng hiu hắt Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng Oán chi những khách tiêu phòng

Mà xui phận bạc nằm trong má đào

Khung cảnh cô đơn, hiu quạnh, tâm trạng ai oán Triết lý mở đầu của tác phẩm đề cập đến hồng

nhan bạc mệnh

Trang 2

Vẻ đẹp của người cung nữ

Trộm nhớ thuở gây mình tạo hóa

Vẻ phù dung một đóa khoe tươi Nhụy hoa chưa mỉm miệng cười Gấm nàng Ban đã lạt mùi thu dung Áng Đào Kiển đâm bông não chúng Khóe thu ba dợn sóng khuynh thành Bóng gương thấp thoáng dưới mành

Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn

Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa Hương trời đắm nguyệt say hoa Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình

Trước lúc vào cung, người cung nữ đã nổi tiếng với vẻ đẹp và tài năng của mình Nàng

có một vẻ đẹp sắc sảo Vẻ đẹp của nàng giống như nàng Đào Kiển, khiến cho mọi người trông thấy đều phải phiền não vì ghen tị, thèm muốn

Đây là một vẻ đẹp khác với vẻ đẹp mà người phương Đông quan niệm về vẻ đẹp của người phụ nữ - tròn trịa, phúc hậu – mà nó là một vẻ đẹp sắc sảo, nổi bật, vẻ đẹp gợi lên sự thèm muốn, vẻ đẹp gợi lên sự ghen tị, vẻ đẹp mà khiến cho cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa  Một vẻ đẹp mang tính quyến rũ  kiểu đẹp ít được miêu tả trong văn chương trung đại Trong văn chương trung đại, vẻ đẹp của người phụ nữ được miêu tả ở vẻ đẹp tính cách, nếu là vẻ đẹp ngoại hình thì được miêu tả ưu nhìn, dịu dàng, phúc hậu Trong khi đó, vẻ đẹp của người cung

nữ lại quyến rũ, khác thường

Tài năng của người cung nữ

Câu cẩm tú đàn anh họ Lý Nét đan thanh bậc chị chàng Vương

Cờ tiên rượu thánh ai đương Lưu Linh, Đế Thích là phường tri âm Cầm điếm nguyệt phỏng tầm Tư Mã Địch lầu thu dường gã Tiêu Lang Dẫu mà miệng hát tay dang Thiên tiên cũng ngảnh nghê thường trong trăng

Câu cẩm tú: câu thơ Đàn anh họ Lý: Lý Bạch

Nét đan thanh: nét đỏ xanh – nét phối hợp màu sắc trong bức tranh Chàng Vương: Vương Duy,

là một nhà thơ đồng thời là họa sĩ tài năng

 Thơ thì sánh ngang Lý Bạch, vẽ thì sáng ngang Vương Duy, cờ tiên rượu thánh sánh ngang Lưu Linh, Đế Thích, tài đánh đàn ngang với Tư Mã, tài thổi sáo ngang với Tiêu Lang, hơn nữa còn có tài múa, hát  nàng là một người có tài năng toàn vẹn Nhưng ở thời trung đại người ta quan niệm rằng những người phụ nữ tài năng như vậy khó mà có

Trang 3

được hạnh phúc vì đó là những nữ nghệ sĩ, không phải nữ phu nhân có thể sống yên ấm, quyền quý được

 Với vẻ đẹp và tài năng như thế như đã dự báo trước được cuộc đời của người phụ nữ Người cung nữ trước khi nhập cung đã ý thức được cuộc đời của mình và đã sớm cảm thấy chán ghét tất cả phù hoa của thế gian, ước gì mình có thể đi tu để trốn tránh cõi đời này, để tránh được những nỗi phiền não trong cuộc đời của mình Tuy biết là như thế nhưng số phận đã đưa đẩy nàng để rồi nàng không thể tránh khỏi việc trở thành một người cung nữ

Khi mới vào cung

Cái đêm hôm ấy đêm gì Bóng dương lồng bóng đồ mi trập trùng Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ Đóa hải đường thức ngủ xuân tiêu Cành xuân hoa chúm chím chào Gió đông thôi đã cợt đào ghẹo mai

Mây mưa mấy giọt chung tình Đình trầm hương khóa một cành mẫu đơn

Ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên, nàng đã khiến cho quân vương mê đắm Những hình ảnh thiên nhiên ẩn dụ cho cảnh ái ân nam nữ đầm ấm và hạnh phúc Sau đêm ấy, nhà vua trở nên yêu thương và sủng ái riêng nàng

Khi được sủng ái:

Trên chín bệ mặt trời gang tấc Chữ xuân riêng sớm trực trưa chầu Phải duyên hương lửa cùng nhau

Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào

Đóa lê ngon mắt cửu trùng Tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng xiêu

Tranh tỷ dực nhìn ưa chim nọ

Đồ liên chi lần trỏ hoa kia Chữ đồng lấy đấy làm ghi Muốn điêu thất tịch mà thề bách niên

Thế nhưng khoảng thời gian hạnh phúc mau chóng qua đi

Khi bị lãng quên:

Ai ngờ bỗng mỗi năm một nhạt Nguồn ân kia chẳng tát mà vơi

Muôn hồng nghìn tía đua tươi Chúa xuân nhìn hái một hai bông gần

Trang 4

Ngán thay cái én ba nghìn Một cây cù mộc biết chen cành nào

Từ đó nàng trở thành người vị vong – còn sống mà như đã chết, phải sống một cuộc đời cô đơn, phiền não

Kết:

Bóng câu thoáng bên mành mấy nỗi Những hương sầu phấn tủi bao xong Phòng khi động đến cửu trùng Giữ sao cho được má hồng như xưa

Đau đớn, tủi hờn, cô đơn, thất vọng nhưng vẫn giữ một niềm hi vọng mong manh khi thấy thoáng một cái bóng bên mành thì lại lật đật trang điểm, phòng khi nhà vua nhớ đến, gọi đến thì vẫn giữ được vẻ đẹp như xưa

Nội dung: tác phẩm là tiếng nói xót thương cho số phận của người cung nữ Qua việc nhà vua nhanh chóng quên đi nàng, ruồng bỏ nàng thì tác phẩm cũng phẩn ánh một phần hiện thực xã hội phong kiến với cuộc sống ăn chơi hưởng lạc của vua chúa, sự bạc bẽo của vua chúa Do đó

nó đã tố cáo chế độ cung tần mĩ nữ trong cung Tác phẩm thể hiện quan niệm của tác giả về cuộc đời bạc bẽo, phù du vì trong tác phẩm có đan cài rất nhiều câu về triết lý của Phật giáo, về cuộc đời vô thường

Nghệ thuật: tác phẩm được viết với ngôn ngữ tài hoa, đài các, nhiều điển cố, điển tích và

có thể nói nó chỉ dành cho người có đủ học thức để hiểu được hết những điển cố, điển tích này Tác phẩm có nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế, việc sử dụng thể thơ song thất lục bát của dân tộc làm cho thể thơ này phát triển thêm trong thời kì hậu kì trung đại

3 Đoạn trích

a) Vị trí đoạn trích

Gồm 36 câu, 209 – 244

b) Đại ý

Miêu tả rất nhiều cung bậc tâm trạng đặc biệt là nỗi sầu oán và uất ức của người cung nữ, đồng thời hé mở khát vọng giải phóng cuộc đời tù túng của nàng

II Đọc hiểu văn bản

1 Cuộc sống lẻ loi buồn tủi của người cung nữ (Trong cung quế - rầu với hoa)

Thời gian: đêm năm canh, chiều thu  khoảng thời gian quen thuộc trong thơ trung đại khi muốn nói về nỗi cô đơn của ai đó  Khoảng thời gian này là lúc con người tự đối diện với chính mình

Không gian:

Không gian cảnh vật

Cung quế

Lầu đãi nguyệt

Gác thừa lương

Phòng tiêu

Đối Lập Nhau

Cảm nhận về không gian

Lạnh ngắt như đồng Vắng ngắt như tờ

Bẻ nửa, xẻ đôi Gió lọt

Trang 5

Thâm khuê

Cửa châu

Rèm ngà, ngấn phượng liễu, dấu

dương xa

Từ Hán Việt, hình ảnh ước lệ

 Không gian sang trọng, đài

các, cuộc sống quyền quý, xa

hoa

Sương gieo Rêu lỗ chỗ, cỏ quanh co, tuyết đóng, giá đông,…

Cảm giác lạnh lẽo, buồn bã, hoang vắng, u tịch,… của nơi cung quế khi người cung nữ bị thất sủng và sống một mình, cô đơn, lủi thủi trong một thâm cung với cảm giác như một người vị vong.

Trong không gian đó, những cử chỉ của người cung nữ:

Trông ngóng

Đứng ngồi

Thức ngủ

Với những trạng thái:

Âm thầm

Ủ dột

Bâng khuâng

Vẩn vơ

 Những từ láy, gợi cảm giác cô đơn, lẻ loi, sự chờ đợi mòn mỏi của người cung nữ

Mức độ tăng dần của tâm trạng sầu buồn

Cuộc sống lẻ loi, buồn tủi của người cung nữ được miêu tả qua thời gian, qua không gian, qua những cử chỉ, trạng thái Chúng ta sẽ thấy rằng đó là một chuỗi ngày sầu buồn, triền miên không dứt

2 Các cung bậc cảm xúc của người cung nữ

Buồn một nỗi hồn đà khắc khoải Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ

Hoa này bướm nỡ thờ ơ

Để gầy bông thắm để xơ nhụy vàng

Tuy không có từ miêu tả trực tiếp tâm trạng nhưng thấy được hình ảnh mang tính ẩn dụ: hoa gầy, xơ; bướm thờ ơ  Vẻ đẹp của người cung nữ như thế này mà bậc quân vương nỡ thờ ơ,

để cho tuổi trẻ qua đi Trong sự chờ đợi mỏi mòn thì gầy, xơ, tiều tụy

 Qua hai câu thơ này cho thấy sự tàn tạ, cảm thấy oán hận, tức tối

Đêm năm canh lần nương vách quế

Cái buồn này ai nỡ giết nhau

Từ biểu cảm trực tiếp “buồn”, buồn đến mức như thể giết nhau  lời oán trách tăng lên mạnh mẽ

Giết nhau chẳng cái lưu cầu Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa!

Trang 6

Lưu cầu chỉ cái gươm sắc  Ý nghĩa câu thơ: giết người không cần đến gươm sắc mà giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa  lời oán trách mạnh hơn nữa, mang tính đay nghiến, hằn học

Người giết đi tuổi xuân của người cung nữ chính là bậc quân vương (bướm nỡ thờ ơ; khoảnh làm chi bấy chúa xuân!/ Chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôi)  Tận hưởng tuổi xuân của người cung nữ đến chán chê thì mặc kệ nàng, cho tiều tụy, cho bơ phờ, cho trông ngóng, cho đau khổ, cho chết mòn chết mỏi trong cung cấm

Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ!

Xe thế này có dở dang không?

Người cung nữ lên tiếng nói oán hận, không chỉ oán bậc quân vương mà còn oán cả số phận  tiếng nói chua xót, từ oán người đến oán trời

 Rất nhiều cung bậc cảm xúc của người cung nữ Cũng là một tiếng sầu oán nhưng nó được biểu hiện ra rất nhiều biểu cảm, suy nghĩ khác nhau  Sự linh hoạt, phong phú trong cách biểu thị cảm xúc của người cung nữ Chỉ với nỗi đau khổ này đã được diễn tả thành một khúc ngâm dài

Lên đến đỉnh điểm là ở hai câu thơ cuối cùng

Đang tay muốn dứt tơ hồng

Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra

Ngôn ngữ mạnh so với một người phụ nữ đài các, quý tộc, thể hiện ý định phản kháng Người cung nữ chỉ muốn thẳng tay vứt bỏ, không ngần ngại mối duyên này đi, chỉ muốn đạp cái tiêu phòng chật chội này đi ra (gọi là “tiêu phòng” liên quan đến một điển tích Ngày xưa, ở Trung Quốc có một người cung nữ lấy tiêu trét vào trong vách ở phòng ngủ của mình, để cho căn phòng được ấm Từ điển tích đó mà “tiêu phòng” dùng để chỉ phòng của người cung nữ.)  Người cung nữ có ý muốn thoát khỏi cảnh sống trong cung này Nhưng đó chỉ là ước muốn, không dễ dàng gì mà thoát ra được cung cấm

 Khát vọng tự giải thoát bản thân và là đỉnh điểm của những nỗi uất ức, chỉ muốn được bung tỏa

 Vô vàn những cung bậc tâm trạng của người cung nữ đã được khái quát qua đoạn trích

Qua những tâm trạng ấy, ta thấy được tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc chính đáng của con người, đặc biệt là người phụ nữ  Đây là một nhóm đối tượng thường bị bỏ quên trong văn chương Trong văn chương thường viết về người vợ, ít khi viết về những người cung nữ  Tác phẩm chạm đến một đề tài mà các nhà văn khác chưa khai thác để qua đó thấy được nỗi đau khổ của người cung nữ trong chế độ cung tần

mĩ nữ

 Tác phẩm mang giá trị nhân đạo sâu sắc bởi nó là tiếng kêu đòi hạnh phúc, quyền được sống với đúng bản thân mình của con người

III Tổng kết

1 Nội dung

Sự đồng cảm sâu sắc với thân phận, cảnh ngộ và tâm trạng đáng thương của người cung nữ

2 Nghệ thuật

Trang 7

Không gian và thời gian nghệ thuật (biểu hiện tâm trạng của con người)

Dùng những từ ngữ có sức gợi cảm mạnh mẽ:

+ Chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôi + Gương loan bẻ nửa, dải đồng xé đôi + Để gầy bông thắm, để xơ ngụy vàng + Giết nhau chẳng cái lưu cầu

Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa!

Những từ Hán Việt đặt cạnh những từ thuần Việt, nôm na  Nổi bật sự đối lập giữa cuộc sống âm thầm, cô quạnh của người cung nữ với cảnh xa hoa, tráng lệ nơi cung cấm, đối lập giữa cảnh sống trong cung với tâm trạng thực sự cáu kỉnh, bực bội, muốn thoát ra khỏi cung

Giọng điệu của thể ngâm khúc mang âm điệu ai oán

Ngôn ngữ điêu luyện, bác học với nhiều điển cố, điển tích

Lối dùng câu trùng điệp có tác dụng khắc họa tâm trạng chồng chất của nhân vật trữ tình

Ngày đăng: 21/07/2022, 16:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w