Thanh hoá nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọngđiểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung Bộ, ở vị trí cửa ngõnối liền Bắc Bộ với Trung Bộ
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA DỰ ÁN
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệtkhông thể thay thế, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địabàn phân bố các khu dân cư, các cơ sở kinh tế, xã hội và an ninh, quốc phòng
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửađổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001 - QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khoá
X kỳ họp thứ 10 tại chương I, điều 5 quy định "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhànước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước có quyền định đoạt về đấtđai và điều tiết các nguồn lực từ việc sử dụng đất"
Luật Đất đai năm 2003 tại chương I, điều 6 quy định: Quản lý quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất là một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Điều 21, 22,
23, 24, 25 đã quy định nguyên tắc, căn cứ nội dung lập quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất được thực hiện ở 4 cấp: Cả nước, tỉnh - thành phố, huyện, xã Tại điều 26, 27, 28,
29 xác định thẩm quyền quyết định, xét duyệt, điều chỉnh, công bố và thực hiện quyhoạch
Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai có một ý nghĩa đặc biệt quantrọng nhằm định hướng cho các cấp, các ngành lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết; là
cơ sở pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm căn cứ cho việc giao đất,cho thuê đất và đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Đồng thời việc lậpquy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm hạnchế việc sử dụng đất chồng chéo, lãng phí, bất hợp lý, kém hiệu quả, ngăn chặn cáchiện tượng tranh chấp, lấn chiếm, huỷ hoại đất, phá vỡ cân bằng môi trường sinh thái,kìm hãm phát triển sản xuất cũng như phát triển kinh tế - xã hội Do yêu cầu cấp thiết
của công tác này, UBND tỉnh Thanh Hóa tổ chức triển khai thực hiện dự án “Lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) tỉnh Thanh Hóa” để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá…
Trang 2II MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN
Trên cơ sở phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Thanh Hóa kỳtrước, thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và hiện trạng sử dụng đất năm 2010;phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020 của tỉnhThanh Hóa, tiến hành lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh Thanh Hóa nhằm:
- Tổ chức lại việc sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả, đảm bảo quỹ đất chotất cả các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng an ninh, từng chủ sử dụng đất có lãnh thổ sửdụng đất cần thiết và được phân bổ hợp lý trên địa bàn tỉnh
- Tạo lập cơ sở để quản lý thống nhất đất đai trong lãnh thổ và làm căn cứ đểgiao đất, thu hồi đất theo đúng thẩm quyền
- Làm căn cứ định hướng cho việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chuyênngành, lập quy hoạch sử dụng đất các huyện, thị xã và thành phố trực thuộc của tỉnh
- Tạo nên nguồn cơ sở dữ liệu về đất đai, phục vụ cho công tác quản lý đất đaimột cách hợp lý, khoa học, tiết kiệm và có hiệu quả Đồng thời các quy định, luận cứ,tài liệu và số liệu quy hoạch là cơ sở cho việc tin học hóa thành nguồn dữ liệu choquản lý, sử dụng đất
- Làm cơ sở để UBND tỉnh cân đối giữa các khoản thu ngân sách từ giao đất,cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; các loại thuế có liên quan đến đất đai vàcác khoản chi cho việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
III CĂN CỨ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ LẬP BÁO CÁO
1 Căn cứ pháp lý
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
- Luật Đất đai sửa đổi năm 2003:
- Chỉ thị số 05/2004/CT-TTg ngày 09/02/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việctriển khai thi hành Luật Đất đai năm 2004;
Trang 3- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ quy định bổsung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
- Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môitrường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Thông tư số 06/2010/TT-BTNMT ngày 15 tháng 3 năm 2010 quy định về địnhmức kinh tế - kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Thông tư số 13/2011/TT-BTNMT quy định về Ký hiệu bản đồ hiện trạng sửdụng đất phục vụ quy hoạch sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
- Chỉ thị số 01/CT-BTNMT ngày 17 tháng 3 năm 2010 về việc tăng cường côngtác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Công văn số 429/TCQLĐĐ-CQHĐĐ ngày 16/04/2012 của Tổng cục Quản lýđất đai về việc hướng dẫn về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Nghị quyết số 17/2011/QH13 ngày 22 tháng 11 năm 2011 của Quốc hội vềquy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015)cấp quốc gia;
- Công văn số 23/VPCP-KTN ngày 23 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ vềviệc phân bổ chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia;
- Công văn số 621/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 08/3/2012 của Bộ Tài nguyên và Môitrường về việc hoàn thành hồ sơ thẩm định quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kếhoạch sử dụng đất 05 năm (2011-2015) cấp tỉnh và Thành phố trực thuộc Trung ương;
- Căn cứ Công văn số 180/HĐND-CV ngày 14/6/2012 của Hội đồng nhân dântỉnh Thanh Hóa về việc thống nhất số liệu Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kếhoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) tỉnh Thanh Hóa
- Quyết định số 3779/QĐ - UBND ngày 22/10/2009 về việc: Phê duyệt đềcương, nhiệm vụ lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2020 tỉnh Thanh Hóa;
và các văn bản có liên quan khác của UBND tỉnh Thanh Hóa;
- Quyết định số 4561/QĐ - UBND ngày 22/12/2009 của Chủ tịch UBND tỉnhThanh Hóa về việc phê duyệt dự toán kinh phí thực hiện dự án: Lập quy hoạch sử dụng đất
2011 đến 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 đến 2015) tỉnh Thanh Hóa
2 Cơ sở thông tin, tư liệu bản đồ
- Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010;
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa giai đoạn2010-2020;
Trang 4- Quy hoạch tổng thể phát triển ngành nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa đến năm
2015 và định hướng đến 2020;
- Kết quả rà soát, quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2006-2015;
- Quy hoạch thủy lợi vùng trung du miền núi tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020;
- Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản tỉnh Thanh Hóa đến năm 2015
và định hướng đến 2020;
- Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2006- 2010) tỉnh Thanh Hóa;
- Số liệu Kiểm kê, thống kê đất đai năm 2000, 2005 và 2010;
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2005 và 2010 của tỉnh Thanh Hóa;
- Các loại bản đồ có liên quan: Giao thông, thuỷ lợi, khu đô thị, công nghiệp,nông nghiệp,
3 Các văn bản đóng góp ý kiến
- Công văn số 672/STNMT-QLĐĐ ngày 09/04/2011 về việc đề nghị bổ sung,chỉnh sửa dự thảo báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụngđất 5 năm (2011-2015) tỉnh Thanh Hóa Nội dung: chỉnh sửa theo đề nghị của cácthành viên Ban Quản lý dự án lập Quy hoạch sử dụng đất và xin ý kiến của các sởban ngành cấp tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố
- Công văn số 1170/STNMT-QLĐĐ ngày 02/06/2011 về việc đề nghị bổ sung,chỉnh sửa dự thảo báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụngđất 5 năm (2011-2015) tỉnh Thanh Hóa Nội dung: chỉnh sửa theo kết luận của Bí thưtỉnh ủy tỉnh Thanh Hóa sau khi nghe báo cáo và ý kiến của đại biểu tại Phiên họpthường vụ Tỉnh ủy ngày 30 tháng 05 năm 2011
- Công văn số 1803/STNMT-QLĐĐ ngày 05/08/2011 về việc đề nghị bổ sung,chỉnh sửa dự thảo báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụngđất 5 năm (2011-2015) tỉnh Thanh Hóa Nội dung: chỉnh sửa, bổ sung báo cáo, số liệu
và bản đồ trước khi hoàn thiện hồ sơ Báo cáo Bộ Tài nguyên Môi trường tổ chứcthẩm định
- Công văn số 1921/STNMT-QLĐĐ ngày 22/08/2011 về việc đề nghị bổ sung,
Trang 5- Công văn số 1048/STNMT-QLĐĐ ngày 09/05/2012 về việc đề nghị bổ sung,chỉnh sửa dự thảo báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụngđất 5 năm (2011-2015) tỉnh Thanh Hóa Nội dung: góp ý một số chỉ tiêu phân bổ đếntừng huyện, thị xã, thành phố.
- Công văn số 1240/STNMT-QLĐĐ ngày 23/05/2012 về việc đề nghị bổ sung,chỉnh sửa dự thảo báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụngđất 5 năm (2011-2015) tỉnh Thanh Hóa Nội dung: Báo cáo giải trình thay đổi một sốchỉ tiêu trong quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầutỉnh Thanh Hóa
- Thông báo số 165/TB-BTNMT về việc thông báo kết quả thẩm định quyhoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015)của tỉnh Thanh Hóa
IV CẤU TRÚC CỦA BÁO CÁO
Báo cáo tổng hợp gồm những nội dung sau:
Đặt vấn đề
- Phần I: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
- Phần II: Tình hình quản lý, sử dụng đất đai
- Phần III: Đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng sử dụng đất đai
- Phần IV: Phương án quy hoạch sử dụng đất
Kết luận và kiến nghị
Trang 6PHẦN I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI
I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý.
a Vị trí địa lý
Thanh Hoá là tỉnh nằm ở cực Bắc vùng Duyên hải Bắc Trung bộ, cách Thủ đô
Hà Nội 153km về phía Bắc, về phía Nam cách Thành phố Vinh tỉnh Nghệ An 138
km, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560km Thanh Hoá Nằm ở vị trí từ 19,18o đến20,40o vĩ độ Bắc; 104,22o đến 106,40o kinh độ Đông Có ranh giới như sau:
- Phía Bắc giáp 3 tỉnh: Ninh Bình, Hoà Bình, Sơn La
- Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An
- Phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn - CHDCND Lào
- Phía Đông giáp biển Đông
Thanh hoá nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọngđiểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung Bộ, ở vị trí cửa ngõnối liền Bắc Bộ với Trung Bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi như: Đường sắtxuyên Việt, đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217, cảng biển nước sâuNghi Sơn và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho lưu thông Bắc Nam, với các vùngtrong tỉnh và đi quốc tế Thanh Hoá có sân bay Sao Vàng và quy hoạch mở thêm sânbay Thanh Hóa thuộc địa bàn 3 xã Hải Ninh, Hải An, Hải Châu huyện Tĩnh Gia phục
vụ cho kinh tế Nghi Sơn và toàn tỉnh
1.1.2 Địa hình, địa mạo.
Trang 7- Vùng núi và trung du
Gắn liền với hệ núi cao phía Tây Bắc và hệ núi Trường Sơn phía Nam, bao gồm
11 huyện: Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc,Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, có tổng diện tích là7064,12 km2, chiếm 71,84% diện tích toàn tỉnh Độ cao trung bình vùng núi từ 600-
700 m, độ dốc trên 250 Ở đây có những đỉnh núi cao như Tà Leo (1.560 m) ở phíahữu ngạn sông Chu, Bù Ginh (1.291 m) ở phía tả ngạn sông Chu Vùng trung du có
độ cao trung bình từ 150-200 m, độ dốc từ 150 - 200 chủ yếu là các đồi thấp, đỉnhbằng, sườn thoải Đây là vùng có tiềm năng, thế mạnh phát triển lâm nghiệp, cây ănquả, cây công nghiệp dài ngày, cao sau, mía đường của tỉnh Thanh Hóa
- Vùng đồng bằng
Vùng đồng bằng có diện tích đất tự nhiên đạt 1906,97 km2, chiếm 17,11% diệntích toàn tỉnh bao gồm các huyện: Thọ Xuân, Yên Định, Thiệu Hoá, Đông Sơn, TriệuSơn, Nông Cống, Vĩnh Lộc, Hà Trung, TP Thanh Hoá và thị xã Bỉm Sơn Đây làvùng được bồi tụ bởi 4 hệ thống sông chính là: Hệ thống sông Mã, sông Bạng, sôngYên, sông Hoạt Vùng này có độ dốc không lớn, bằng phẳng, độ cao trung bình daođộng từ 5 - 15 m so với mực nước biển Tuy nhiên, một số nơi trũng như Hà Trung có
độ cao chỉ khoảng 0 - 1 m Đặc điểm địa hình vùng này là sự xen kẽ giữa vùng đấtbằng với các đồi thấp và núi đá vôi độc lập Đây là vùng có tiềm năng, thế mạnh pháttriển nghiệp của tỉnh Thanh Hóa
- Vùng ven biển
Vùng ven biển gồm 06 huyện, thị xã chạy dọc ven bờ biển với chiều dài 102 km từhuyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương đến Tĩnh Gia Diện tíchvùng này là 1.230,67 km2, chiếm 11,05% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, địa hình tương đốibằng phẳng; Chạy dọc theo bờ biển là các cửa sông Vùng đất cát ven biển có địa hìnhlượn sóng chạy dọc bờ biển, độ cao trung bình 3 - 6 m Đây là vùng có nhiều tiềm năng
để phát triển nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi gia cầm, nuôi trồng thủy sản), đặc biệtvùng này có bãi tắm Sầm Sơn nổi tiếng và các khu nghỉ mát khác như Hải Tiến (HoằngHoá) và Hải Hoà (Tĩnh Gia) có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc nuôitrồng thuỷ sản và phát triển các khu công nghiệp (Nghi Sơn), dịch vụ kinh tế biển
b Địa mạo
Trang 8Do điều kiện địa hình nằm ở rìa ngoài của miền tự nhiên Tây Bắc đang đượcnâng lên, tiếp giáp với miền sụt võng là các đồng bằng châu thổ Đây là những khuvực núi thấp uốn nếp được cấu tạo bằng nhiều loại đá khác nhau, từ các đá trầm tích(đá phiến, đá vôi, cát kết, cuội kết, sỏi kết…) đến các đá phun trào (spilit, riôlit,bazan), đá xâm nhập (granit), đá biến chất (đá hoa) Chúng nằm xen kẽ nhau, có khilồng vào nhau, làm phong cảnh thay đổi không ngừng Đồng bằng châu thổ ThanhHoá được cấu tạo bởi phù sa hiện đại, trải ra trên bề mặt rộng, hơi nghiêng về phíabiển ở mé Đông Nam Rìa Bắc và Tây Bắc là dải đất cao được cấu tạo bởi phù sa cũcủa sông Mã, sông Chu cao từ 2 - 15 m Trên đồng bằng có một số đồi núi xen kẽ với
độ cao trung bình 200 - 300 m, được cấu tạo bằng nhiều loại đá khác nhau (đá phuntrào, đá vôi, đá phiến) Trên địa hình ven biển có vùng sình lầy ở Nga Sơn và các cửasông Mã, sông Yên địa hình vùng ven biển được hình thành với các đảo đá vôi rảirác ngoài vụng biển, dòng phù sa ven bờ được đưa ra từ các cửa sông đã tạo nênnhững thành tạo trầm tích dưới dạng mũi tên cát, cô lập dần dần những khoảng biển ởphía trong và biến chúng thành những đầm nước mặn Những đầm này về sau bị phù
sa sông lấp dần, còn những mũi tên cát thì ngày càng phát triển rộng thêm, nối nhữngcồn cát duyên hải thành những chuỗi dài chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam dạngxòe nan quạt
1.1.3 Khí hậu
Thanh Hoá nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: Mùa hạnóng, ẩm mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô, nóng Mùa đông lạnh
và ít mưa
- Chế độ nhiệt: Thanh Hoá có nền nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình năm khoảng
230C- 240C, tổng nhiệt độ năm vào khoảng 8.5000C- 8.7000C Hàng năm có 4 thángnhiệt độ trung bình thấp dưới 200C (từ tháng XII đến tháng III năm sau), có 8 thángnhiệt độ trung bình cao hơn 200C (từ tháng IV đến tháng XI) Biên độ ngày đêm từ
70C - 100C, biên độ năm từ 110C - 120C Tuy vậy, chế độ nhiệt có sự khác biệt khá rõnét giữa các tiểu vùng
Trang 9+ Vùng khí hậu núi cao có nền nhiệt độ thấp, mùa đông rét có sương muối, mùa
hè mát dịu, ít bị ảnh hưởng của gió khô nóng, tổng nhiệt độ trung bình cả năm khoảngdưới 8.0000C, nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,80C
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí biến đổi theo mùa nhưng sự chênh lệch độ ẩm giữa
các mùa là không lớn Độ ẩm trung bình các tháng hàng năm khoảng 85%, phía Nam
có độ ẩm cao hơn phía Bắc, khu vực núi cao ẩm ướt hơn và có sương mù
Chế độ mưa: Lượng mưa ở Thanh Hóa là khá lớn, trung bình năm từ 1.456,6
-1.762,6 mm, nhưng phân bố rất không đều giữa hai mùa và lớn dần từ Bắc vào Nam
và từ Tây sang Đông Mùa khô (từ tháng XI đến tháng IV năm sau) lượng mưa rất ít,chỉ chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm, khô hạn nhất là tháng I, lượng mưa chỉ đạt 4 -
5 mm/tháng Ngược lại mùa mưa (từ tháng V đến tháng X) tập trung tới 80 - 85%lượng mưa cả năm, mưa nhiều nhất vào tháng VIII có 15 đến 19 ngày mưa với lượngmưa lên tới 440 - 677 mm Ngoài ra trong mùa này thường xuất hiện giông, bão kèmtheo mưa lớn trên diện rộng gây úng lụt Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình
từ 84 - 86% và có sự chênh lệch giữa các vùng và theo mùa Mùa mưa độ ẩm khôngkhí thường cao hơn mùa khô từ 10 - 18%
- Chế độ nắng và bức xạ mặt trời: Tổng số giờ nắng bình quân trong năm từ
1.600 - 1.800 giờ Các tháng có số giờ nắng nhiều nhất trong năm là từ tháng V đếntháng VIII đạt từ 237 - 288 giờ/tháng, các tháng XII và tháng I có số giờ nắng thấpnhất từ 55- 59 giờ/tháng
Tổng bức xạ vào các tháng mùa hè lên rất cao, đạt tới 500 - 600 cal/cm2/ngày từtháng V đến tháng VII, đó là thời kỳ ít mây và mặt trời ở gần thiên đỉnh Tuy nhiênvào mùa đông xuân rất nhiều mây, ít nắng và mặt trời xuống thấp cho nên bức xạ mặttrời giảm sút rõ rệt, cực tiểu vào các tháng XII hoặc tháng I với mức độ 200 - 500 cal/
cm2/ngày
- Chế độ gió: Thanh Hoá nằm trong vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ, hàng
năm có ba mùa gió:
+ Gió Bắc (còn gọi là gió Bấc): Do không khí lạnh từ Bắc cực qua lãnh thổ
Trung Quốc thổi vào
+ Gió Tây Nam: Từ vịnh Belgan qua lãnh thổ Thái Lan, Lào thổi vào, gió rất
nóng nên gọi là gió Lào hay gió phơn Tây Nam Trong ngày, thời gian chịu ảnhhưởng của không khí nóng xảy ra từ 10 giờ sáng đến 12 giờ đêm
Trang 10Vào mùa hè, hướng gió thịnh hành là hướng Đông và Đông Nam; các thángmùa đông hướng gió thịnh hành là hướng Bắc và Đông Bắc.
Tốc độ gió trung bình năm từ 1,3 2 m/s, tốc độ gió mạnh nhất trong bão từ 30
-40 m/s, tốc độ gió trong gió mùa Đông Bắc mạnh trên dưới 20 m/s
Qua theo dõi những năm gần đây vùng núi gió không to lắm, bão và gió mùaĐông Bắc yếu hơn các vùng khác Tốc độ gió giảm thấp, bình quân tốc độ gió khoảng1,0-1,5 m/giây; gió bão khoảng 25 m/giây
- Bão và áp thấp nhiệt đới: Tình hình thời tiết ở Việt Nam nói chung và Thanh
Hoá nói riêng là bất thường, bão lũ xuất hiện không theo tính quy luật, mức độ ngàycàng nhiều, cường độ ngày càng tăng, phạm vi xảy ra ở khắp các vùng miền gây hậuquả hết sức nặng nề về người và của, làm ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ phát triển kinh
tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của tỉnh
Thanh Hóa thuộc vùng Bắc Trung Bộ, là vùng dễ bị tổn thương do tác động củabiến đổi khí hậu Những năm gần đây, đã có nhiều biểu hiện khá rõ những thay đổi vềthời tiết và các thiên tai thường xuyên xảy ra với mức độ ngày càng khắc nghiệt hơn.Nhiệt độ các tháng VI, VII, VIII có xu thế tăng lên khá rõ Lượng mưa tháng VIIInhững năm gần đây cao hơn trung bình nhiều năm
Các cơn bão ở Thanh Hoá thường xuất hiện từ tháng VIII đến tháng X hàngnăm Tốc độ gió trung bình là 1,72 m/s, dao động từ 1,2 - 3,8 m/s, tốc độ gió mạnhnhất trong bão ghi nhận được từ 30 - 40 m/s Theo số liệu thống kê từ năm 1996 đến
2005 có 39 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam, trong đó có 13 cơnbão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp tới Thanh Hóa
- Lũ cuốn và lũ ống: Đã xuất hiện ở các vùng núi đe doạ sinh mạng và tàn phá
tài sản, ảnh hưởng đến sinh thái tổn thất về kinh tế ở tỉnh
1.1.4 Thuỷ văn
a Hệ thống sông
Trang 11Thanh Hóa là tỉnh có mạng lưới sông khá dầy, từ Bắc vào Nam có 4 hệ thốngsông chính là sông Hoạt, sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Bạng, với tổng chiềudài 881km, tổng diện tích lưu vực là 39.756 km2, tổng lượng nước trung bình hàngnăm 19,52 tỉ m3 Sông suối Thanh Hóa chảy qua nhiều địa hình phức tạp, mật độ lướisông trung bình khoảng 0,5 - 0,6 Km/Km2, có nhiều vùng có mật độ lưới sông rất caonhư vùng sông Âm, sông Mực tới 0,98 - 1,06 Km/Km2 Đây là tiềm năng lớn cho pháttriển thủy điện, tuy nhiên có sự biến động lớn giữa các năm và các mùa trong năm.
- Hệ thống Sông Hoạt: Sông Hoạt là một sông nhỏ có lưu vực rất độc lập và bắtnguồn từ xã Thành Tâm, huyện Thạch Thành chảy qua huyện Hà Trung, huyện NgaSơn Sông Hoạt có cửa đổ vào sông Lèn tại cửa Báo Văn và đổ ra biển tại cửa LạchCàn Sông có diện tích lưu vực 250 km2, trong đó 40% là đồi núi trọc, chiều dài sông
55 km Tổng lượng nước trung bình nhiều năm khoảng 150 x 106 m3 Dòng chảy mùacạn không đáng kể Để phát triển kinh tế vùng Hà Trung - Bỉm Sơn, ở đây đã xâydựng kênh Tam Điệp để cách ly nước lũ của 78 km2 vùng đồi núi và xây dựng âuthuyền Mỹ Quan Trang, để tách lũ và ngăn mặn Do vậy, sông Hoạt trở thành một chilưu của sông Lèn và chi lưu cấp II của sông Mã Sông Hoạt hiện tại đã trở thành kênhcấp nước tưới và tiêu cho vùng Hà Trung
- Hệ thống Sông Mã: Dòng chính sông Mã bắt nguồn từ núi Phu Lan (TuầnGiáo - Lai Châu) ở độ cao 800 m - 1.000 m, sông chảy theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam Đến Chiềng Khương sông chảy qua đất Lào và trở lại đất Việt Nam tại Tén Tằn
- Mường Lát, rồi chảy qua các huyện Quan Hóa, Bá Thước, cẩm Thủy, Yên Định,Thiệu Hóa, Hoằng Hóa, Quảng Xương, đổ ra biển (cửa Lạch Hới) Tổng diện tích lưuvực sông rộng 28.490 km2, trong đó phần trên lãnh thổ Việt Nam rộng 17.810 km2, cóchiều dài 512 km, phần chảy qua Thanh Hóa có chiều dài 242 km Sông Mã có 39phụ lưu lớn và 02 phân lưu
- Hệ thống sông Chu: Là phụ lưu cấp I lớn nhất của sông Mã Bắt nguồn từvùng núi cao trên đất CHDCND Lào chảy chủ yếu theo hướng Tây Tây Bắc - ĐôngĐông Nam Sông Chu đổ vào sông Mã tại ngã ba Giàng, cách cửa sông mã về phíathượng lưu 25,5 km Chiều dài dòng chính sông Chu 392 km, phần chảy trên đất ViệtNam 160 km Tổng diện tích lưu vực sông Chu 7.580 km2 Từ Bái Thượng trở lênthượng nguồn lòng sông Chu dốc, có nhiều ghềnh thác, lòng sông hẹp có thềm sôngnhưng không có bãi sông Từ Bái Thượng đến cửa sông Chu chảy giữa hai tuyến đê,bãi sông rộng, lòng sông thông thoáng, dốc nên khả năng thoát lũ của sông nhanh.Sông Chu có rất nhiều phụ lưu lớn như sông Khao, sông Đạt, sông Đằng, sông Âm
Trang 12- Hệ thống Sông Yên: Sông Yên bắt nguồn từ huyện Như Xuân, chảy qua huyệnNhư Thanh, Nông Cống, Tĩnh Gia, Quảng Xương rồi đổ ra biển tại Lạch Ghép, sông
có diện tích lưu vực 1.996km2, sông dài 89 km Đoạn đầu từ huyện Như Xuân đếnNông Cống gọi là sông Mực, từ ngã ba Yên Sơ ra biển gọi là sông Yên Tổng lượngdòng chảy trung bình nhiều năm khoảng 1.129x106 m3, tổng lượng dòng chảy mùakiệt khoảng 132 x106 m3
- Hệ thống Sông Bạng: Sông Bạng bắt nguồn từ Như Xuân chảy qua Tĩnh Giarồi đổ ra biển tại cửa Lạch Bạng, diện tích lưu vực sông là 236 km2, chiều dài sông 35
km, tổng lượng nước trung bình nhiều năm khoảng 112,9x106 m3, tổng lượng dòngchảy mùa kiệt khoảng 9,0 - 10x106 m3
b Hệ thống Suối
Thanh Hoá là tỉnh có địa hình dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam nên có rấtnhiều suối và khe suối lớn nhỏ Có 264 khe suối chằng chịt thuộc 4 hệ thống sông:Sông Yên, Sông Mã, Sông Hoạt, Sông Bạng Trong đó, các suối chủ yếu như: SuốiSim, suối Quanh, suối Xia… cùng một số sông như: Sông Luồng, Sông Lò, Hón Nủa,sông Bưởi, sông Cầu Chày, sông Chu, sông Khao, sông Âm, sông Đạt…
c Hệ thống hồ đập
Toàn tỉnh Thanh Hóa hiện có khoảng 1.760 công trình hồ, đập dâng, trạm bơm
do các Doanh nghiệp Nhà nước quản lý như: Công ty khai thác thuỷ nông Sông Chu,Công ty Thuỷ nông Bắc sông Mã, Công ty Thuỷ nông Nam sông Mã và chính quyềnđịa phương các cấp; Hồ chứa có 525 hồ, trong đó các hồ đập lớn đang hoạt động như:
Hồ thuỷ lợi, thuỷ điện Cửa Đặt; Hồ sông Mực; Hồ Cống Khê; Các hồ đang thi côngnhư: Hồ thuỷ điện Trung Sơn,… Chức năng chính của hồ là tích nước, ngăn lũ, phátđiện, cung cấp nguồn nước tưới và nuôi trồng thuỷ sản
1.1.5 Chế độ hải văn
a Chế độ thủy triều
Trang 13Vùng biển Thanh Hóa mang đặc điểm chung của chế độ khí tượng thủy vănvùng biển ven bờ Vịnh Bắc bộ và có những nét đặc thù riêng Biển Thanh Hóa làvùng biển hở nên sóng biển khá lớn Vào mùa đông, sóng có hướng thịnh hành làĐông Bắc với tần suất 40%, độ cao trung bình 0,8 - 0,9m, riêng 3 tháng đầu mùađông, độ cao trung bình xấp xỉ đạt 1,2m và độ cao lớn nhất 2,0 - 2,5 m Vào mùa hè,hướng sóng thịnh hành là Đông Nam; Ngoài ra hướng Bắc, Đông Bắc cũng đóng vaitrò đáng kể ở mùa này Độ cao sóng trung bình từ 0,6 - 0,7m, lớn nhất 3,0 - 3,5 m Từtháng VI đến tháng VIII sóng có hướng thịnh hành Tây Nam và độ cao sóng đạt 0,6 –0,7m Đặc biệt, khi có bão lớn đổ bộ vào độ cao sóng có thể đạt khoảng 6m.
c Dòng hải lưu
Trong vùng vịnh Bắc Bộ, dòng nước lạnh chảy sang hướng Đông, rồi cùng vớidòng nước ấm chạy ngược lên phía Bắc, tạo thành một vòng tuần hoàn ngược chiềukim đồng hồ Do hoàn lưu của vịnh như vậy nên, vùng biển Thanh Hóa chịu ảnhhưởng của dòng nước lạnh theo hướng Tây Nam và Nam
Mùa lạnh: Gió mùa Đông Bắc và các giai đoạn giao thời hoàn lưu chung củavịnh Bắc Bộ nói chung và của biển Thanh Hóa nói riêng có hướng dòng chảy ven bờtheo hướng Bắc - Nam (dọc theo ven biển Thanh Hóa về phía Nam) Cường độ hải lưuvào mùa này được tăng cường do khống chế của gió mùa Đông Bắc, tuỳ theo mức độmạnh hay yếu, liên tục hay đứt quãng mà cường độ của hải lưu tăng hay giảm
Mùa nóng: Do ảnh hưởng của gió Tây Nam, dòng chảy ven bờ có hướng ngượclại so với mùa lạnh, nhưng cường độ có giảm hơn Tháng II đến tháng III vùng biểnThanh Hóa thường có hiện tượng nước xoáy và tập trung ở phía Bắc, nhưng đếntháng VII hiện tượng này lại lùi xuống phía Nam
1.2 Các nguồn tài nguyên.
1.2.1 Tài nguyên đất
Theo kết quả phúc tra thổ nhưỡng theo phương pháp của FAO- UNESCO, tỉnhThanh Hoá có 8 nhóm đất chính với 20 loại đất khác nhau và được phân bố như sau:
Trang 14- Nhóm đất cát: Diện tích 20.247 ha, chiếm 1,82% diện tích tự nhiên, phân bố
tập trung ở các huyện ven biển Đất có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo chất dinhdưỡng, khả năng giữ nước, giữ màu kém nên năng suất cây trồng thấp Song đất cóthành phần cơ giới nhẹ nên dễ canh tác, thích hợp cho nhiều loại cây trồng như hoamàu, cây công nghiệp, cây ăn quả, trồng rừng ven biển và nuôi trồng thủy sản Tuynhiên trong quá trình canh tác cần tăng cường bón phân cho đất và áp dụng các biệnpháp cải tạo đất
- Nhóm đất mặn: Diện tích 21.456 ha, chiếm 1,93% diện tích tự nhiên, phân bố
chủ yếu ở vùng ven biển Đất thường có độ phì nhiêu khá cao, thành phần cơ giới từ trungbình tới thịt nặng, độ pH từ 6,0 - 7,5 thích hợp cho trồng cói, nuôi trồng thuỷ sản và pháttriển rừng ngập mặn
- Nhóm đất phù sa: Diện tích 191.216 ha, chiếm 17,2% diện tích tự nhiên, phân
bố chủ yếu ở các vùng đồng bằng, ven biển Đất có thành phần cơ giới thường là thịtnhẹ, ít chua, giàu chất dinh dưỡng nên có chất lượng tốt, thích hợp với nhiều loại câytrồng, nhất là các loại cây ngắn ngày như lương thực, hoa màu và cây công nghiệpngắn ngày khác
- Nhóm đất glây: Diện tích 2.583 ha, chiếm 0,23% diện tích đất tự nhiên Hầu
hết đất đã bị bạc màu cần được cải tạo đưa vào sản xuất nông lâm nghiệp
- Nhóm đất đen: Diện tích 5.903 ha, chiếm 0,53% diện tích tự nhiên Đất bị lầy
thụt và bùn, cần cải tạo đưa vào sản xuất nông lâm nghiệp
- Nhóm đất xám: Diện tích 717.245 ha, chiếm 64,6% diện tích tự nhiên toàn tỉnh,
phân bố chủ yếu ở vùng trung du miền núi, thuộc các huyện Quan Hoá, Bá Thước, NhưXuân, Thường Xuân, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Lang Chánh Đất có tầngdầy, dễ thoát nước, thích hợp cho phát triển lâm nghiệp và các cây công nghiệp dài ngày,cây ăn quả như cao su, cà phê, chè, cam, chanh, dứa
- Nhóm đất đỏ: Diện tích 37.829 ha, chiếm 3,4% diện tích tự nhiên, phân bố ở
độ cao trên 700 mét tại các huyện: Quan Hoá, Lang Chánh, Thường Xuân Nhóm đất
Trang 15- Nhóm đất tầng mỏng: Diện tích 16.537 ha, chiếm 1,49% diện tích đất tự nhiên,
phân bố chủ yếu ở vùng trung du và các dãy núi độc lập ở đồng bằng ven biển nhưNông Cống, Thiện Hoá, Yên Định, Hoằng Hoá, Hà Trung, Hậu Lộc, Tĩnh Gia, ĐôngSơn Đặc điểm của nhóm đất này là có tầng mỏng và bị xãi mòn trơ sỏi đá, trên cầnđược đầu tư, cải tạo và đưa vào khai thác
- Đất khác: Diện tích 97.610 ha, chiếm 8,79% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, trong
đó núi đá vôi là 37.909 ha và ao, hồ, sông suối là 60.701 ha
1.2.2 Tài nguyên nước;
a Tài nguyên nước mặt
Tài nguyên nước mặt tỉnh Thanh Hoá tương đối phong phú và đa dạng Ngoài 4
hệ thống sông chính cung cấp nước là sông Hoạt, sông Mã, sông Chu, sông Yên,sông Lạch Bạng còn có 264 suối nhỏ và 1.760 hồ chứa lớn nhỏ khác nhau, tạo ra mộtmạng lưới thủy văn dày đặc và phân bố khá đều trên địa bàn tỉnh Tổng lượng dòngchảy trung bình hàng năm đạt 20 - 21 tỷ m3, năm cao nhất xấp xỉ 26 tỷ m3, năm nhỏnhất khoảng 12 tỷ m3 Trong tổng lượng dòng chảy hàng năm chỉ có khoảng 10 tỷ m3nước được sinh ra trong nội tỉnh, còn lại là nước ngoại lai Chế độ dòng chảy phânthành 2 mùa khá rõ rệt: Mùa kiệt từ tháng XI đến tháng V năm sau, trong đó cáctháng III, IV là tháng có lượng dòng chảy nhỏ nhất trong năm Lượng dòng chảytrong mùa kiệt chỉ vào khoảng 25% lượng dòng chảy năm (khoảng 4,6 tỷ m3) Ngoài
ra, trong tỉnh còn một hệ thống hồ chứa nước cấp quan trọng quốc gia và cấp tỉnhnhư:
+ Hồ sông Mực có dung tích chứa W = 174 triệu m3;
+ Hồ Yên Mỹ có dung tích chứa W = 87 triệu m3;
+ Hồ Đồng Ngư có dung tích chứa W = 764 triệu m3;
+ Hồ Duồng Cốc có dung tích chứa W = 615 triệu m3;
+ Hồ Thung Bằng có dung tích chứa W = 34 triệu m3
+ Hồ Cửa Đặt có dung tích chứa W = 1,45 tỷ m3
+ Hồ Cống Khê có dung tích chứa W = 4,38 triệu m3
Bình quân trữ lượng nước trên đầu người trên địa bàn tỉnh là thấp so với trungbình cả nước, chỉ có 5.600 m3/người.năm (cả nước: 11.000 m3/người.năm) và còn tiếptục giảm Do vậy, ngay từ bây giờ cần có những biện pháp hữu hiệu để điều tiết và sửdụng tiết kiệm tài nguyên nuớc nhằm đảm bảo cho nhu cầu phát triển trong tương lai
b Tài nguyên nước dưới đất
Trang 16Như đã trình bày ở trên, nước dưới đất trong phạm vi tỉnh Thanh Hóa chủ yếuđược tàng trữ ở tầng chứa nước lỗ hổng và tầng chứa nước khe nứt, trữ lượng nướcdưới đất ở một số vùng được thống kê trong bảng sau:
Bảng 1: Trữ lượng nước dưới đất ở một số vùng trong tỉnh Thanh Hoá
mỏ
Diện tích điều tra (km 2 )
Tầng chứa nước
Trữ lượng nước dưới đất ở các cấp
Trang 17(Nguồn: Báo cáo tổng hợp kết quả điều tra địa chất thủy văn tỉnh Thanh Hóa, 2009)
Qua đó ta thấy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có những tầng giàu hoặc rất giàunước Đó là tầng chứa nước lỗ hổng Qp (QI-III), các tầng nước khe nứt trầm tíchcacbonat hoặc lục nguyên - cacbonat Đây thực sự là một tiềm năng về nguồn nướcdưới đất của tỉnh Tuy nhiên, cho đến nay chưa có số liệu chính xác về trữ lượng củachúng Ngoài các tầng chứa nước kể trên một số tầng chứa nước khác cũng rất đángchú ý như: 2sm, O1đs; d1np; K2yc; QI-III Ngay cả một số tầng tuy xếp vào thangnghèo nước nhưng vẫn bắt gặp có nơi các lỗ khoan cho ta một lưu lượng đủ để đápứng được nhu cầu thông thường như: P2ct; P2yđ
c Tài nguyên nước khoáng, nước nóng
Cho đến nay vùng đồng bằng Thanh Hóa đã có 02 địa điểm phát hiện đượcnước khoáng, nước nóng như: Chà Khốt (Sơn Điện - Quan Sơn) và Yên Vực (QuảngYên - Quảng Xương)
Điểm nước nóng Chà Khốt theo các tài liệu hiện có đều có quy mô nhỏ
Điểm nước khoáng Yên Vực được nhân dân phát hiện khi khoan nước từ nhữngnăm 1997 Diện tích gặp nước khoáng gần 1 km2 trên diện tích 03 thôn Làng Vực II,Chính Cảnh và Yên Trung Nước nằm trong tầng Laterits (đá ong) ở độ sâu 45 - 50m
kể từ mặt đất Đây được đánh giá là điểm nước khoáng nóng có chất lượng tốt, lưulượng đáng kể Theo đánh giá cảm quan của các nhà chuyên môn thì nước khoáng ởđây trong, không màu, không mùi, vị hơi lợ, thuộc loại nước Clorua - Natri - Calci vàđược xếp vào loại nước khoáng silic khoáng hóa vừa
1.2.3 Tài nguyên rừng
Với hơn 2/3 diện tích tự nhiên là đồi núi, tỉnh Thanh Hoá có tài nguyên rừngkhá lớn, đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc phòng hộ đầu nguồn và pháttriển kinh tế xã hội Theo kết quả kiểm kê đất đai về số liệu hiện trạng rừng và đấtlâm nghiệp năm 2010, diện tích đất có rừng toàn tỉnh là 600.627,66 ha; tỷ lệ che phủđạt 54% Trong đó:
- Rừng phòng hộ có diện tích 180.750,84 ha; chiếm 30,0% diện tích đất lâm
nghiệp, phân bố chủ yếu ở vùng núi phía Tây và một số ít ở ven biển Chức năng củarừng là phòng hộ đầu nguồn các sông lớn như sông Mã, sông Chu, sông Mực, sôngBưởi, Hồ Cửa Đặt, Hồ Yên Mỹ và phòng hộ ven biển
Trang 18- Rừng đặc dụng bao gồm Vườn quốc gia Bến En, một phần Vườn quốc gia Cúc
Phương và các Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, Pù Luông, Xuân Liên và các di tíchdanh thắng như Lam Kinh, rừng Thông Với tổng diện tích 82.005,9 ha, chiếm 14%diện tích đất lâm nghiệp Chức năng của rừng là bảo tồn đa dạng sinh học, hệ độngthực vật quí hiếm, nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường
- Rừng sản xuất có diện tích 337.871,49 ha, chiếm 56% diện tích đất lâm
nghiệp; tập trung ở vùng đồi núi thấp và vùng trung du
Rừng của Thanh Hoá chủ yếu là rừng lá rộng với hệ động thực vật khá phongphú, đa dạng về giống loài Về thực vật có các loại gỗ quý như lát, pơmu, trầmhương, lim, sến, vàng tâm…; các loại thuộc họ tre có luồng, nứa, vầu, giang, bương,tre…; ngoài ra còn có mây, song, dược liệu, cây thả cánh kiến Tuy nhiên, trongnhững năm cuối thập kỷ trước do bị khai thác quá mức nên chất lượng rừng giảm sútnghiêm trọng, các loại thực vật quí hiếm như lim, lát chỉ còn rải rác ở một số địa bàn vùngcao, vùng sâu, vùng xa, địa hình hiểm trở và tại các khu bảo tồn, vườn Quốc gia
Về động vật, có thể nói hệ động vật rừng ở Thanh Hóa trước đây rất phong phú,nhưng do trong nhiều năm bị săn bắt bừa bãi nên đã bị giảm sút nhiều Tuy nhiên,hiện nay vẫn thuộc loại phong phú so với nhiều tỉnh khác ở Bắc Bộ Trong một sốkhu rừng còn xuất hiện bò rừng, nai, hoẵng, vượn, khỉ, lợn rừng và nhiều loại chim,thú, bò sát khác Đặc biệt một số nơi còn có các loài động vật quý như hổ, báo, gấu,
gà lôi, công trĩ Riêng ở Vườn Quốc gia Bến En hiện còn hệ động vật rất phong phúgồm 162 loài chim, 53 loài thú, 39 loài bò sát , trong đó có nhiều loài quý hiếmkhông chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với cả thế giới, do vậy cần được bảo vệnghiêm ngặt
Trữ lượng rừng của Thanh Hoá thuộc loại dưới trung bình, ước tính chỉ khoảng16,6 triệu m3 gỗ và hơn 900 triệu cây tre nứa Hơn 90% rừng gỗ hiện nay thuộc loạirừng non và rừng nghèo, các loại rừng tre nứa hỗn giao cũng đều ở tình trạng nghèo.Rừng giàu và trung bình chỉ chiếm 6,6% diện tích rừng gỗ trong tỉnh và chủ yếu là
Trang 19Cấp trữ lượng IV (76 - 150 m3/ha): 42.315,1 ha
Cấp trữ lượng IV (< 75 m3/ha): 65.155,4 ha
Rừng non có trữ lượng: 22.259,8 ha
Rừng non chưa có trữ lượng: 57.899,3 ha
Tóm lại, rừng của Thanh Hóa rất phong phú và đa dạng về chủng loại rừng vàlâm sản, nhưng chất lượng rừng thấp Do địa hình phức tạp, giao thông cách trở nêncông tác quản lý và bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn; Tình trạng đốt nương làm rẫy vàkhai thác lâm sản trái phép vẫn còn tái diễn
1.2.4 Tài nguyên biển;
Thanh Hoá có bờ biển dài 102 km (từ cửa Càn, Nga Sơn đến Hà Nẫm, TĩnhGia); vùng lãnh hải rộng hơn 1,7 vạn km2 Vùng biển và ven biển Thanh Hoá có tàinguyên khá phong phú, đa dạng, trong đó nổi bật là tài nguyên thuỷ sản, tài nguyên
du lịch biển và tiềm năng xây dựng cảng và dịch vụ hàng hải
* Về tài nguyên thuỷ sản: Vùng biển Thanh Hoá chịu ảnh hưởng của các dòng
hải lưu nóng và lạnh tạo thành những bãi cá, tôm có trữ lượng lớn so với các tỉnh phíaBắc Tại vùng biển Thanh Hoá đã xác định có hơn 120 loài cá, thuộc 82 giống, 58 họgồm 53 loài cá nổi, 69 loài cá đáy và các loại hải sản khác Tổng trữ lượng hải sảnước khoảng 140.000 - 165.000 tấn; khả năng khai thác từ 60.000 - 70.000 tấn/năm,trong đó cá nổi chiếm hơn 60% và cá đáy chiếm gần 40% Các ngư trường khai thácchính gồm:
- Bãi cá nổi vùng Lạch Hới - Đông Nam Hòn Mê có trữ lượng 15.000 - 20.000tấn, chủ yếu là cá lầm, cá trích, cá nục chiếm 60 - 70%, còn lại là cá thu, bạc má Khả năng khai thác khoảng 7.000 - 10.000 tấn/năm
- Bãi cá nổi ven bờ từ Nghệ An trở ra phía Bắc có trữ lượng khoảng 15.000 tấn chủ yếu là cá lầm, cá trích chiếm khoảng 40 - 50%, còn lại là cá nục, cácơm, cá lẹp Khả năng khai thác khoảng 6.000 - 7.000 tấn/năm
12.000 Các bãi cá đáy phía Nam đảo Hòn Mê đến Lạch Ghép và Lạch Hới 12.000 ĐôngNam Hòn Mê
Về tôm biển gồm 12 loài với trữ lượng hơn 3.000 tấn, trong đó tôm he chiếm
khoảng 5 - 8% Có hai bãi tôm chính là bãi tôm Hòn Nẹ - Lạch Ghép và bãi tôm LạchBạng - Lạch Quèn Đây là bãi tôm có trữ lượng cao trong khu vực vịnh Bắc Bộ Khảnăng khai thác hàng năm khoảng 1.000 - 1.300 tấn tôm, trong đó chủ yếu là tôm bộp,tôm sắt và hơn 7.000 tấn moi biển
Trang 20Mực ở vùng biển Thanh Hoá và vùng phụ cận có chất lượng tốt, trữ lượngkhoảng 10.000 tấn mực ống và 3.000 - 4.000 tấn mực nang Khả năng khai thác hàngnăm khoảng 3.000 - 4.000 tấn mực ống và 1.500 - 2.000 tấn mực nang
Ngoài ra, vùng biển và ven biển Thanh Hoá còn có các loại hải đặc sản kháccũng rất phong phú như ốc hương, sứa, tôm hùm, cua, ghẹ có giá trị kinh tế cao vàđang được ưa chuộng trên thị trường trong nước và thế giới
Về nuôi trồng thuỷ sản: Thanh Hoá có trên 8.000 ha bãi triều (chưa kể diện tích
bãi triều thuộc 2 huyện Nga Sơn và Hậu Lộc mỗi năm được bồi thêm ra biển từ 8 - 10mét) là môi trường rất thuận lợi để phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước lợ như tôm sú,cua, rau câu Dọc ven biển còn có hơn 5.000 ha nước mặn ở vùng quanh đảo Mê,đảo Nẹ có thể nuôi thủy sản nước mặn theo hình thức lồng bè với các loại có giá trịkinh tế cao như cá song, cá cam, trai ngọc, tôm hùm Ngoài ra tại các vùng cửa lạchcòn có những bãi bồi bùn cát rộng hàng ngàn ha có thể phát triển nuôi trồng hải sản,trồng cói, trồng cây chắn sóng và sản xuất muối
* Về tiềm năng xây dựng cảng: Với bờ biển dài và nhiều cửa lạch, Thanh Hoá
có tiềm năng rất lớn về xây dựng cảng và phát triển vận tải biển, trong đó đáng chú ýnhất là khu vực Nghi Sơn Đây là khu vực được đánh giá có điều kiện thuận lợi nhấtcủa vùng ven biển từ Hải Phòng đến Nam Hà Tĩnh Tại đây đang khảo sát xây dựngcụm cảng nước sâu lớn trong vùng (gắn với Khu kinh tế Nghi Sơn) với 3 khu cảngchính là cảng tổng hợp Nghi Sơn, cảng cho khu liên hợp lọc hóa dầu và các cảngchuyên dùng cho nhà máy xi măng, nhà máy nhiệt điện và nhà máy đóng tầu NghiSơn tạo điều kiện để Thanh Hóa mở rộng giao lưu hàng hoá với các tỉnh trong nước
và với thế giới
Ngoài ra, dọc bờ biển còn có 5 cửa lạch lớn là Lạch Sung, Lạch Trường, LạchHới, Lạch Ghép và Lạch Bạng, đã và đang là tụ điểm giao lưu kinh tế và là nhữngtrung tâm nghề cá của tỉnh, đồng thời cũng là những khu vực thuận lợi cho xây dựngcảng biển với quy mô khác nhau
Trang 21Tài nguyên khoáng sản ở Thanh Hoá khá phong phú về chủng loại và đa dạng
về cấp trữ lượng Hiện toàn tỉnh có tới 257 mỏ và điểm quặng, với 42 loại khoángsản, trong đó có một số loại có ý nghĩa quốc tế và khu vực như Crôm, đá ốp lát, đô lômít, chì kẽm, thiếc, vonfram, antimoan, đá quý Nhiều mỏ có trữ lượng lớn và phân
bố tập trung, cho phép khai thác với quy mô công nghiệp như đá vôi, đất sét làm ximăng Đây là một lợi thế lớn của tỉnh trong việc phát triển công nghiệp khai khoáng,công nghiệp sản xuất xi măng, công nghiệp vật liệu xây dựng Các loại khoáng sảnchính có điều kiện khai thác gồm:
- Quặng sắt: Trên địa bàn có 59 mỏ và điểm quặng, trong đó 49 mỏ đã được
thăm dò, khảo sát, tổng trữ lượng trên 8 triệu tấn, hàm lượng sắt đạt 30 -65% có thểkhai thác phục vụ công nghiệp luyện thép, làm phụ gia cho sản xuất xi măng và sửdụng vào một số mục đích khác Quặng sắt phân bố tập trung ở các huyện miền núinhư Bá Thước, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc, Quan Hoá, Lang Chánh, Thạch Thành, QuanSơn, Như Thanh, Như Xuân và một số huyện đồng bằng: Hà Trung, Hậu Lộc, NôngCống, trong đó lớn nhất là mỏ Làng Sam - Cao Ngọc (Ngọc Lặc) có trữ lượng cấptìm kiếm trên 2 triệu tấn
- Ti tan: Titan được tồn tại dưới dạng sa khoáng ven biển, phân bố dọc ven biển từ
Sầm Sơn đến cuối Quảng Xương (dài khoảng 14 km) bề rộng vỉa quặng từ 30 - 50 mét, bềdày từ 0,3 - 4 mét Titan được khai thác phục vụ cho công nghiệp luyện kim, sản xuất sơnchịu nhiệt và các sản phẩm phục vụ công nghiệp cơ khí Cần tăng cường công tác quản lýtrong khai thác, kinh doanh các loại quặng này
- Crôm: Có 4 mỏ và điểm quặng với tổng trữ lượng 30,2 triệu tấn Crôm phân
bố tập trung ở Cổ Định- Nông Cống và Làng Mun (Phùng Giáo- Ngọc Lặc), trong đó
mỏ Cổ Định là mỏ Crôm sa khoáng lớn nhất ở Việt Nam với trữ lượng trên 28 triệutấn, chất lượng quặng sau khi tuyển có hàm lượng Crôm đạt: 46.0- 47,0% Hiện nay
mỏ Crôm Cổ Định đang được tổ chức khai thác phục vụ công nghiệp luyện kim vàxuất khẩu
Trang 22- Vàng: gồm 22 mỏ và điểm vàng (cả vàng sa khoáng và vàng gốc) phân bố
rộng khắp tại 8 huyện miền núi, trong đó tập trung nhất là ở Cẩm Thuỷ và Bá Thướcvới tổng trữ lượng được đánh giá khoảng 6.123 kg Trong đó, vàng sa khoáng baogồm: mỏ Ban Công - Bá Thước (trữ lượng tìm kiếm là 2000kg), mỏ Cẩm Quý (trữlượng cấp C2=176,84 kg; cấp P1=263 kg), mỏ Làng Bẹt (trữ lượng 44 kg), mỏ Cẩm
Tâm (trữ lượng khoảng 44 kg) và một số mỏ nhỏ và điểm quặng khác Vàng gốc gồm
các mỏ: Làng Neo, Cẩm Tâm - Cẩm Thuỷ, Cẩm Long và một số mỏ nhỏ khác ở BanCông, Cổ Lũng, Lũng Cao
- Photphorit: phân bố tập trung ở các huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thuỷ; tổng trữ
lượng được đánh giá là 100.000 m3; đáng kể là mỏ Núi Mèo - Cao Thịnh (Ngọc Lặc)
có trữ lượng 74.698 tấn hàm lượng P205 đạt 18%
- Secpentin: phát hiện nhiều ở khu vực Núi Nưa với trữ lượng hàng tỷ tấn, trong
đó mỏ Bãi Áng - Nông Cống có trữ lượng thăm dò khoảng 15,4 triệu tấn hiện đangđược khai thác phục vụ sản xuất phân lân nung chảy
- Đôlômit: gồm có mỏ Ngọc Long- thành phố Thanh Hoá, trữ lượng 4,7 triệu
tấn, chất lượng rất tốt và mỏ Nhân Sơn huyện Nga Sơn, trữ lượng khoảng 1 triệu tấn,
đá đã bị phong hoá mạnh
- Đá trắng: có ở Khe Cang, Nà Mèo, Trung Sơn huyện Quan Sơn, có thành
phần CaO rất cao trên 54%; trữ lượng dự báo khoảng trên 2 triệu tấn dùng để sản xuấtbột nhẹ, chất độn cho công nghiệp sản xuất sơn, cao su…
- Quaczit có ở Bản Do xã Hiền Trung - Quan Hoá được đánh giá có trữ lượng
30 triệu m3
- Đá vôi trợ dung có ở Mường Hạ (xã Tam Lư - Quan Hoá), trữ lượng ước
khoảng 5 triệu m3
- Cao lanh: phân bố ở nhiều nơi như Yên Cát (Như Xuân); Yên Mỹ, Bến Đìn,
Làng Cáy (Thường Xuân); Làng En (Lang Chánh); Kỳ Tân (Bá Thước); Hợp Thành(Triệu Sơn); Tổng trữ lượng ước tính trên 5 triệu tấn; cao lanh được sử dụng sản xuất
Trang 23- Sét làm xi măng: có 33 mỏ phân bố rộng rãi trên địa bàn tỉnh Các mỏ có trữ
lượng lớn là mỏ Cổ Đam (Bỉm Sơn), trữ lượng thăm dò trên 59,5 tỷ m3; mỏ ĐịnhThành (Yên Định): 20,5 tỷ m3; mỏ Bái Trời (Thạch Thành): 18,0 tỷ m3 Có 12 mỏ cótrữ lượng trên 1 tỷ m3 gồm: Cẩm Vân (Cẩm Thuỷ), Định Thành (Yên Định); ĐoàiThôn, Hà Dương (Hà Trung); Bái Đền (Hà Trung); Hợp Thành (Triệu Sơn); Đồi Si,Định Công (Yên Định); Trường Lâm (Tĩnh Gia)
- Cát xây dựng: Phân bố trên các triền sông Mã, sông Chu, sông Lèn trữ lượng
cho phép khai thác hàng triệu tấn/năm
- Đá hoa ốp lát: Có các mỏ ở Đông Sơn, Vĩnh Lộc, Cẩm Thủy, Bá Thước, Quan
Hóa, Hà Trung với trữ lượng hàng chục triệu m3
Ngoài ra, còn có nhiều loại khoáng sản khác như chì kẽm, Ăngtimon, Niken Coban, đồng, thiếc, thiếc-vonfram, Manhezit, Asen, thuỷ ngân, Barit, Pyrit, Berin,Môlip đen, cát kết (chất trợ dung), sét trắng, Fensfat, cát thuỷ tinh, đá xây dựng, đágranit, đá thạch anh và than chì, than đá và than bùn tuy trữ lượng không lớn nhưng
-có giá trị cao, -có thể khai thác ở quy mô nhỏ phục vụ phát triển công nghiệp địaphương
1.2.6 Tài nguyên nhân văn.
Thanh Hoá là miền đất có nền văn hoá rất lâu đời Các nền văn hoá Đông Sơn,văn hoá Đa Bút cùng với những địa danh gắn liền với những tên tuổi của các anhhùng hào kiệt, các danh nhân như Lê Hoàn, Lê Lợi, Lê Văn Hưu, Đào Duy Từ, TriệuTrinh Nương, Dòng họ Trịnh, dòng họ Nguyễn (thời kỳ Hậu Lê) đã để lại nhiều dấu
ấn trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Trong đó,nhiều di tích đã được Nhà nước xếp hạng và đang được trùng tu, tôn tạo ở quy môquốc gia như khu Lam Kinh, thành Nhà Hồ, thái miếu nhà Lê Đây là những tài sản
vô cùng quý giá, không chỉ có ý nghĩa lịch sử, giáo dục mà còn có thể khai thác phục
vụ phát triển du lịch
Trang 24Đặc biệt Thanh Hoá có nền văn hoá đa dân tộc có ý nghĩa to lớn đối với du lịch.Mỗi dân tộc có những nền văn hoá đặc trưng riêng gồm cả văn hoá phi vật thể và vănhoá vật thể Những thiết chế văn hoá xã hội truyền thống của từng dân tộc như: thiếtchế Bản mường của người Thái dựa trên lãnh thổ công, thiết chế lang đạo của ngườiMường, thiết chế dòng họ của người H’Mông những phong tục tập quán trong sảnxuất, sinh hoạt và trong tín ngưỡng, hội hè cùng với những món ăn đặc sản mangđậm nét của mỗi dân tộc là những tài nguyên du lịch nhân văn rất hấp dẫn đối vớikhách du lịch, nhất là các du khách quốc tế Thêm vào đó, tinh thần mến khách vàlòng nhiệt thành của con người Thanh Hoá cũng là nền tảng vững chắc cho ngành dulịch phát triển.
1.3 Thực trạng môi trường.
1.3.1 Môi trường nước
+Hiện trạng chất lượng nước dưới đất
Theo báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thanh Hoá từ năm 2000 đến nay, cácđiểm quan trắc môi trường nước dưới đất tập trung hầu hết tại các đô thị, khu dân cưtập trung ven các hệ thống sông chính như: Khu vực ven sông Mã (Bá Thước, CẩmThủy, Yên Định và TP Thanh Hóa), khu vực ven sông Chu (Thường Xuân, ThọXuân, Thiệu Hóa), khu vực ven biển (Nga Sơn, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương,Tĩnh Gia) và một số khu vực có mức độ khai thác nước dưới đất cao như Bỉm Sơn,
Hà Trung, Thạch Thành, Nông Cống
Nhìn chung chất lượng nguồn nước dưới đất còn khá tốt Có thể khai thác sửdụng cho mục đích sinh hoạt khi qua hệ thống xử lí sơ bộ Tuy nhiên cũng có thể nhậnthấy vấn đề đáng quan tâm hơn cả đối với nguồn nước dưới đất là nhiễm bẩn bởi vi sinhvật và asen
- Ô nhiễm do asen: Theo báo cáo điều tra hiện trạng ô nhiễm asenic trong nguồnnước sinh hoạt của 26 huyện thị trong tỉnh cho thấy:
+ Hàm lượng asenic trong nước giếng khoan cao hơn nước giếng đào
Trang 25- Ô nhiễm do vi sinh vật: Các chỉ số Coliform, Fecal tại các điểm quan trắc thườngvượt TCCP Nguyên nhân là do việc khai thác nước dưới đất tại các khu vực này còn tựphát, không đúng kỹ thuật, các công trình vệ sinh phụ trợ thường đặt gần khu khaithác… dẫn tới việc nhiễm bẩn nguồn nước dưới đất.
- Ngoài ra chất lượng nước dưới đất khu vực ven biển hầu hết đều bị nhiễm Mn và
có nồng độ sắt tương đối cao Nguồn nước này được khuyến cáo cần xử lý đúng quytrình trước khi sử dụng vào mục đích sinh hoạt và ăn uống của người dân
+ Nước các hệ thống sông chính
Các điểm quan trắc trên hệ thống sông của tỉnh Thanh Hóa tập trung chủyếu tại các nút giao thông đường thủy, hạ nguồn các điểm xả thải của các đôthị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề nơi có dòng sông đi qua.Chất lượng nước ở hầu hết các hệ thống sông chính trong tỉnh đã có dấu hiệu ônhiễm nhẹ
Tại các điểm quan trắc, nồng độ xác định được của kim loại nặng đều đạt quychuẩn cho phép khi so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT Giá trị COD ở các vị tríquan trắc trên tất cả các hệ thống sông chính diễn biến tương đối phức tạp và có chiềuhướng tăng dần từ thượng nguồn xuống hạ nguồn, tại các điểm hạ nguồn giá trị COD
đo được năm 2007 đều vượt QCVN và cao hơn nhiều lần so với các điểm thượngnguồn Cụ thể:
+ Hệ thống sông Mã: Giá trị COD đo được tại điểm Lễ Môn vượt 1,3 lầnQCVN 08 (cột B- sử dụng cho tưới tiêu hoặc mục đích khác có yêu cầu chất lượngnước tương tự) và cao hơn 7,18 lần so với điểm thượng nguồn (Na Sài)
+ Sông Chu: Giá trị COD đo được tại điểm cầu Thiệu Hóa vượt 1,9 lần QCVN
08 (cột B) và cao hơn 3,34 lần so với điểm thượng lưu (Đập Bái Thượng)
+ Sông Lèn: Giá trị COD đo được tại điểm Lạch Sung vượt 1,6 lần QCVN 08(cột B) và cao hơn 4,9 lần so với điểm thượng lưu (Cầu Lèn)
+ Sông Bạng: Giá trị COD đo được tại điểm cầu Đò Dừa vượt 2,4 lần QCVN 08(cột B) và cao hơn 3,65 lần so với điểm ở vùng thượng lưu (ví dụ: điểm Cầu Chuối)
Trang 26Chỉ số BOD tại các điểm đo nhìn chung đều thấp hơn QCVN (cột B), một sốđiểm đo có Bảng hiện vượt QCVN ở mức độ nhẹ Đáng chú ý là trong thời gian từnăm 2002 đến năm 2006, tại các điểm quan trắc độ đục thông qua chỉ số TSS (tổngchất rắn hòa tan) nhìn chung đều vượt QCVN, cá biệt năm 2005 chỉ số TSS tại các hệthống sông Mã, sông Chu, sông Lèn cao hơn nhiều so với QCVN Cụ thể: Sông Mãvượt từ 1,85 đến 69 lần; Sông Chu vượt từ 1,3 đến 4 lần và sông Lèn vượt từ 1,77 đến2,87 lần Tuy nhiên, sang đến năm 2008, chỉ số này đo được đều có chiều hướnggiảm mạnh và nhỏ hơn QCVN Để giải thích hiện tượng này, ngoài các yếu tố tựnhiên chúng ta còn có thể thấy một nguyên nhân rất quan trọng là do từ các nămtrước việc khai thác cát sỏi lòng sông tại các hệ thống sông nói trên chưa được quyhoạch cụ thể và chưa có định hướng dẫn đến tình trạng khai thác bừa bãi và không cóquy cách Từ năm 2007 Sở TN&MT đã xây dựng dự án quy hoạch việc khai thác cátsỏi lòng sông, đến nay cơ bản đã chấm dứt được hiện tượng khai thác tự phát, cáccông trình khai thác đã được kiểm soát và đi vào ổn định, vì vậy phần nào đã loại bỏđược nguyên nhân nêu trên.
Ngoài ra chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy trên tất cả các tuyến sông này, hiệntượng ô nhiễm do NH3, dầu mỡ khoáng có chiều hướng gia tăng cả theo thời gian vàkhông gian Giá trị NH3, Dầu mỡ khoáng đo được tại tất cả các điểm quan trắc đều códấu hiệu vượt QCVN Đặc biệt trên hệ thống sông Mã, nơi thường xuyên diễn ra cáchoạt động giao thông đường thủy chỉ số dầu mỡ khoáng đo được cao nhất năm 2005tại các điểm quan trắc vượt từ 1,33 đến 2,67 lần so với QCVN
+ Nước các hệ thống sông nhánh và hồ chứa
Hệ thống sông nhánh: Tại các hệ thống sông nhánh trong tỉnh như sông CầuChày, sông Bưởi, sông Yên, sông Nhà Lê và hệ thống các sông nội tỉnh như sôngHạc, sông Cầu Cốc, sông Lai Thành, số liệu quan trắc 2 năm gần đây cho thấy chỉ sốBOD, COD, TSS, NH3, Dầu mỡ khoáng nhìn chung đều vượt QCVN, mức độ ônhiễm của các thông số này có chiều hướng tăng dần từ thượng lưu xuống hạ lưu.Ngoài ra chỉ số Coliform quan trắc được tại các thời điểm khác nhau đã cho thấy có
Trang 27Vào mùa khô, các sông vùng triều Thanh Hoá đều bị tác động mạnh mẽ củatriều biển và mặn từ biển xâm nhập vào các sông Nguyên nhân do lượng mưa giảmnhỏ hẳn, lượng dòng chảy và mực nước các sông xuống rất thấp, không thắng được
áp lực dòng triều, cho nên triều mặn theo sông thâm nhập vào đất liền khá sâu Khinước triều dâng cao, dòng triều chảy ngược mang nước biển có độ mặn xâm nhập vàosông, càng vào sâu trong sông, năng lượng dòng triều do phải khắc phục nhiều trở lựcnên càng giảm, mặt khác dòng triều mặn không ngừng bị nguồn nước từ thượng lưu
về hoà tan nên độ mặn được giảm thấp liên tục
Càng vào sâu độ mặn càng giảm nhanh Theo số liệu đo được tại các năm đặctrưng độ mặn tại một số vị trí trên các sông như sau:
Bảng 2: Đặc trưng độ mặn xâm nhập ở một số sông trong tỉnh
STT Trạm đo Thuộc sông K/c tới
biển (km)
Đặc trưng độ mặn xâm nhập Smax ‰ Năm xuất
Trang 28(Nguồn: Báo cáo tổng hợp dự án điều tra quy hoạch nguồn nước phục vụ yêu cầu cấp nước sinh hoạt và phát triển KT - XH vùng ven biển TH đến năm 2015)
Tình trạng nhiễm mặn tại các sông vùng ven biển là vấn đề nóng vào mùa khôhàng năm mà tỉnh ta đang có nhiều phương án và tốn nhiều công sức, tiền vốn để giảiquyết như: Nâng cấp kênh mương để đưa nước từ xa vào vùng nhiễm mặn; lập dự ánxây dựng đập ngăn mặn trên sông…
1.3.2 Môi trường đất
Theo kết quả quan trắc môi trường tỉnh Thanh Hóa năm 2009 và dựa vào tiêuchí của tổ chức FAO-UNESCO để đánh giá chất lượng nông hoá thổ nhưỡng cho kếtquả như sau:
+ Đất nông nghiệp
Tại các khu vực trồng cây nông nghiệp trên địa bàn TP Thanh Hóa (xã ĐôngHải; Quảng Thắng) và các huyện như Quảng Xương; Bỉm Sơn; Thọ Xuân; Yên Định;Thiệu Hóa, Nông Cống, Nga Sơn, Hậu Lộc, Hà Trung cho thấy đất ở đây có hàmlượng Nitơ tổng, P2O5, K2O5 ở mức trung bình đến giàu Các mẫu còn lại đều có kếtquả phân tích phản ánh hàm lượng Nitơ tổng ở mức nghèo
Đánh giá độ mặn của đất thông qua hàm lượng Cl- và SO42- cho thấy: Tất cả cácmẫu đất đều cho kết quả phân tích có độ mặn thấp
So sánh hàm lượng kim loại nặng trong đất rau màu ven đô với QCVN 03:2008/BTNMT (giới hạn hàm lượng tổng số của một số kim loại nặng trong một số loại đất)cho thấy: hàm lượng Cd và As đều nằm trong giới hạn cho phép
Chất lượng đất ở đây phù hợp với việc thâm canh như hiện nay Tuy nhiên, đãxuất hiện một số xã ven biển đất bị nhiễm mặn gây khó khăn cho người nông dântrong việc canh tác các cây lương thực
Nhìn chung chất lượng môi trường đất, đặc biệt là đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh còn tương đối ổn định Chưa có biểu hiện ô nhiễm do phân bón hóa học, hóa
Trang 29- Ô nhiễm do sử dụng phân bón hoá học: Sử dụng phân bón không đúng kỹthuật trong canh tác nông nghiệp nên hiệu quả phân bón thấp, có trên 50% hàm lượngđạm; 50% lượng Kali và xấp xỉ 80% lân dư thừa trực tiếp hay gián tiếp gây ô nhiễmmôi trường đất Các loại phân vô cơ thuộc nhóm chua sinh lý như: K2SO4, (NH4)2SO4,KCl, Super phôtphat còn tồn dư axit đã làm chua đất, nghèo kiệt các cation kiềm vàxuất hiện nhiều độc tố trong môi trường đất như Al3+, Fe3+, Mn2+, giảm hoạt tính sinhhọc của đất và năng suất cây trồng.
- Ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật: Hóa chất bảo vệ thực vật có đặc điểm rấtđộc đối với mọi sinh vật, tồn dư lâu dài trong môi trường đất - nước, tác dụng gây độckhông phân biệt, nghĩa là gây chết tất cả những sinh vật có hại và có lợi trong môitrường đất
1.3.3 Hiện trạng môi trường không khí
Chất lượng môi trường không khí trong những năm gần đây có chiều hướng giatăng ô nhiễm Tuy nhiên vấn đề ô nhiễm mới chỉ xảy ra cục bộ tại một số điểm Nềnkinh tế của ta đang có những tăng trưởng đáng kể nhưng đồng thời cũng gây nên áplực đối với môi trường Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ngày càng mở rộng
và phát triển với quy mô lớn Nếu không có biện pháp kiểm soát thích hợp thì đâychính là nguồn gây ô nhiễm môi trường lớn nhất Bên cạnh đó giao thông vận tảicũng góp phần làm suy giảm chất lượng môi trường
a Chất lượng không khí ở các khu công nghiệp
Đến nay toàn tỉnh Thanh Hoá đã hình thành 5 khu công nghiệp đang hoạt động,bao gồm: Khu công nghiệp tập trung Lễ Môn; Khu công nghiệp Đình Hương; Khucông nghiệp Lam Sơn (huyện Thọ Xuân); Khu công nghiệp Bỉm Sơn và khu côngnghiệp Nghi Sơn I (Khu kinh tế Nghi Sơn – Tĩnh Gia)
Qua kết quả phân tích chúng ta có thể nhận thấy, chất lượng môi trường tại cáckhu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã bị ô nhiễm Tập trung chủ yếu vàocác hơi khí như NO2; SO2 và bụi lơ lửng Tuy nhiên dấu hiệu ô nhiễm tại các khu vựcnày có chiều hướng giảm trong thời gian gần đây Cụ thể:
+ Chỉ số NO2 đo được vượt TCCP tại 3/5 (60%) điểm đo trong năm 2005; 1/6(16,7%) điểm đo năm 2006 và 1/4 (25%) điểm đo năm 2008
+ Chỉ số SO2 đo được vượt TCCP tại 4/5 (80%) điểm đo trong năm 2005; 2/6(33,3) điểm đo năm 2006 và 2007 và 1/4 (255) điểm đo năm 2008
Trang 30+ Chỉ số bụi lơ lửng đo được vượt TCCP tại 5/5 (100%) điểm đo trong năm 2005; 5/6(83,3%) điểm đo năm 2006; 4/6 (66,7%) điểm đo năm 2007 và 1/4 (25%) điểm đo năm 2008.
b Chất lượng không khí ở các cụm công nghiệp và làng nghề
Với đặc điểm là các cụm công nghiệp, làng nghề nằm xen kẽ vào các khu dân
cư Môi trường tại các cụm công nghiệp, làng nghề đang có xu hướng ngày càng bị ônhiễm nặng, một phần là do các phương tiện vận chuyển vật liệu ra vào ngày càngnhiều trong khi hệ thống giao thông ngày càng xuống cấp, một phần là do các cơ sởsản xuất còn chưa chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường
Số liệu quan trắc tại 06 cụm CN và làng nghề cho thấy, đặc trưng ô nhiễm tạicác khu vực này là SO2 và bụi lơ lửng
+ Hơi khí SO2 tại 3/6 khu vực (làng nghề Đông Hưng Đông Sơn, Hải Bình Tĩnh Gia và Tiến Lộc - Hậu Lộc) có giá trị vượt TCCP từ 1,1 ÷ 2 lần
-+ Bụi lơ lửng tại 3/5 khu vực (Thiệu Đô, Đông Hưng, Hà Phong) có kết quảquan trắc một số năm đều vượt TCCP từ 1,08 ÷ 12,8 lần
c Chất lượng không khí ở một số nút giao thông trong tỉnh
Có thể nhận thấy chất lượng môi trường không khí tại các khu vực này chủ yếu
bị ảnh hưởng bởi các phương tiện tham gia giao thông với chất ô nhiễm chỉ thị là
NO2; SO2, bụi Pb Qua kết quả phân tích thu thập, chúng ta có thể nhận thấy chấtlượng môi trường không khí tại các nút giao thông bị ô nhiễm chủ yếu do các hơi khíđộc NO2; SO2, bụi Pb Các điểm quan trắc gồm: ngã ba Voi – TP.TH, Ngã tư Bưuđiện tỉnh, Ngã tư Phú Sơn – TPTH, TT Thị trấn Tĩnh Gia, Ngã ba đi Đền Sòng – BỉmSơn, ngã tư thị xã Sầm Sơn
- Tại hầu hết các nút giao thông nồng độ hơi khí SO2 vượt TCCP từ 1,04 ÷ 2,31 lần
- Nồng độ khí NO2 vượt TCCP từ 1,21 ÷ 1,74 lần
- Bụi Pb vượt TCCP từ 1,2 ÷ 3,3 lần
Trang 311.3.4 Thực trạng biển đổi khí hậu
Thanh Hoá đang phải đối mặt với nhiều tác động của BĐKH bao gồm tác độngđến cuộc sống, sinh kế, tài nguyên thiên nhiên, cấu trúc xã hội, hạ tầng kỹ thuật vànền kinh tế Thanh Hoá được đánh giá là một trong các địa phương bị ảnh hưởngnặng nề nhất của BĐKH và mực nước biển dâng sau đồng bằng sông Cửu Long vàđồng bằng sông Hồng Để ứng phó với BĐKH cần phải có những đầu tư thích đáng
và nỗ lực của toàn xã hội
1.3.4.1 Tình hình thiên tai trong những năm qua
Theo thống kê của Văn phòng Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão tỉnh ThanhHoá, tình hình bão lũ, sạt lở đất từ năm 1980-2009 trên địa bàn Thanh Hoá diễn ranhư sau:
a) Tình hình bão lũ
- Năm 1980, cơn bão số 6 với sức gió mạnh cấp 12 làm cho nước dâng cao ở diện rộng
từ Lạch Trường đến cửa Hới, nước dâng trung bình 1,0-1,5 m cao nhất 2-3 m
- Năm 1981, cơn bão số 2 sức gió cấp 10 đổ bộ vào phía Nam Thanh Hoá, làmcho nước biển dâng cao từ khu vực cầu Ghép trở vào nước dâng cao trung bình 1,5-2,0 m, riêng khu vực Hoằng Tân (Hoằng Hoá) nước biển dâng cao 1,9 m
- Năm 1989, cơn bão số 6 đã gây ra nước dâng cao ở vùng biển Sầm Sơn và cáckhu vực khác từ 2,5-2,9 m Riêng thị xã Sầm Sơn xác định được mực nước biển dângcao là 2,92 m
- Năm 1996, Áp thấp nhiệt đới ngày 13/8/1996 đã gây thiệt hại lớn về người vàtài sản cho ngư dân huyện Hậu Lộc Trên các triền sông đều xuất hiện nhiều đợt lũlớn liên tiếp, có triền sông vượt lũ lịch sử như sông Bưởi, sông Hoạt Do lũ lớn vàkéo dài đã làm vỡ một số tuyến đê và gây ngập úng nghiêm trọng trên diện rộng
- Năm 2000, do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 4, từ ngày 10-12/9 ở Thanh Hóa cómưa to và mưa rất to lượng mưa phổ biến từ 270-300mm, đây là đợt mưa diễn ra trêndiện rộng và có cường độ mạnh gây nên ngập úng và lũ lụt ở nhiều vùng
- Năm 2005, Thanh Hóa chịu nhiều ảnh hưởng từ mưa bão và ATNĐ Có 3 cơnbão là bão số 3, số 6 và số 7 đổ bộ trực tiếp vào Thanh Hóa và gây hậu quả hết sứcnặng nề cho các địa phương
Trang 32+ Sáng ngày 12/8/2005 bão số 3 có gió mạnh cấp 7, cấp 8 gây mưa to đến rất totrên diện rộng lượng mưa phổ biến 150-200 mm, trên các triền sông đều xuất hiện lũlớn, mực nước lũ xấp xỉ báo động 2, riêng sông Cầu Chày mực nước lũ xấp xỉ báođộng 3.
+ Chiều tối ngày 18/9, cơn bão số 6 đổ bộ vào phía Bắc tỉnh Nghệ An, NamThanh Hóa Tại Thanh Hóa có gió mạnh cấp 9, cấp 10, do bão đổ bộ vào lúc triềucường nên đã gây ra nước dâng cao tại các vùng ven biển từ 2,5-3m, trên các sôngxuất hiện lũ lớn ở mức báo động 2 và trên báo động 2
+ Đêm ngày 26, sáng ngày 27/9 bão số 7 đã đổ bộ trực tiếp vào Thanh Hóa vớisức gió mạnh cấp 12 và giật trên cấp 12, bão duy trì trong một thời gian dài đổ bộ vàolúc triều cường, đã làm cho nước biển dâng cao từ 4,5 – 5m, sau khi bão đổ bộ đã gâymưa lớn và lũ trên các triền sông Mã, sông Lèn lên nhanh ở mức báo động 2, riêngsông Bưởi trên báo động 3
- Năm 2006 có 3 cơn bão và 1 ATNĐ đổ bộ vào Việt Nam nhưng không ảnhhưởng trực tiếp đến Thanh Hóa Riêng Thanh Hóa đã xảy ra 9 đợt gió lốc ở cáchuyện Bá Thước, Như Xuân, Quan Sơn, Cẩm Thuỷ, Vĩnh Lộc, Ngọc Lặc, Thọ Xuân
và Hậu Lộc; đặc biệt là ngày 18/8/2006 do mưa lớn đã xảy ra lũ quét, sạt lở đất ở xãTrung Thành và xã Thành Sơn huyện Quan Hóa làm 2 người chết và gây thiệt hạiđáng kể về tài sản và sản xuất cho nhân dân
- Năm 2007 có 4 cơn bão và 3 ATNĐ đổ bộ trực tiếp vào nước ta, riêng ThanhHóa không có bão và ATNĐ đổ bộ trực tiếp nhưng chịu ảnh hưởng trực tiếp của 4cơn bão (số 1, số 2, số 4 và số 5) đặc biệt là cơn bão số 5 đổ bộ vào Hà Tĩnh - QuảngBình, nhưng Thanh Hóa có gió mạnh cấp 6 và cấp 7 Mưa lớn đã xảy ra trên diệnrộng lượng mưa phổ biến từ 200-300mm Vùng thượng nguồn sông Mã, sông Chulượng mưa phổ biến từ 400- xấp xỉ 800mm, hệ thống sông Mã xuất hiện một tổ hợp
lũ đặc biệt lớn một số sông lũ vượt lũ lịch sử như:
+ Sông Mã tại Lý Nhân, HMax đạt 13,24 m vượt lũ lịch sử năm 1927 là 0,04 m
Trang 33b) Tình hình lũ quyét và sạt lở đất
Lũ quét, sạt lở đất là hiện tượng thiên tai xảy ra ở các lưu vực sông suối, cácsườn dốc trên địa bàn miền núi Trên địa bàn Thanh Hoá trong vòng 10 năm trở lạiđây (1999-2009) đã xảy ra 4 trận lũ quét và sạt lở đất làm chết 12 người, cuốn trôi 47ngôi nhà, 76 đập thuỷ lợi nhỏ và làm hư hại nặng các công trình giao thông, thuỷ lợi trong đó điển hình là:
Năm 2005 xảy ra lũ quét, sạt lở đất tại huyện Thường Xuân và Quan Hoá làmchết 8 người, sạt lở đất gây ách tắc hàng chục km đường giao thông, cuốn trôi 17 ngôinhà, 76 đập loại nhỏ và hàng trăm cột điện, hàng chục ha đất canh tác bị mất
Ngày 18/8/2006 xảy ra lũ quét, sạt lở đất tại xã Trung Thành và Thanh Sơn,huyện Quan Hoá làm chết 2 người, 8 nhà bị sập đổ, cuốn trôi; 335 ha lúa và hoa màu bịvùi lấp, hư hỏng; 02 đập nhỏ và 462 máy thuỷ điện mini bị cuốn trôi
Năm 2009 tại Thọ Bình, huyện Triệu Sơn mưa lớn cục bộ gây sạt lở đất làmchết 02 người, nhiều nhà dân bị cuốn trôi
c) Hạn hán và xâm nhập mặn
Do lượng mưa phân bố không đều, mùa mưa chỉ xảy ra trong 4 tháng, các thángcòn lại lượng mưa không đáng kể vì vậy tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn vùng hạlưu thường xuyên xảy ra, đặc biệt năm 2010 nắng nóng kéo dài tình trạng hạn hánxâm nhập mặn xảy ra nghiêm trọng trên địa bàn 6 huyện, thị xã vùng biển, mặn đãlấn sâu vào nội địa trên 30 km, tổng diện tích đất bị hạn hán khu vực ven biển là4.882 ha, trong đó: Nga Sơn là 2.282 ha; Hoằng Hóa là 1.000 ha; Hậu Lộc là 1.200ha; Hà Trung là 400 ha Hạn hán và xâm nhập mặn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đếnsản suất nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt của 1.075.548 người dân
Trang 34Như vậy, trong các năm gần đây, sự biến đổi khắc nghiệt của khí hậu đã đe dọatrực tiếp đến đời sống con người và cả nền kinh tế với tần suất và cường độ củanhững cơn bão, đợt lũ, những đợt mưa lớn trên diện rộng, mưa lớn cục bộ gây ngậpúng, triều cường tăng đột biến, không theo quy luật tự nhiên, sự thiếu hụt nguồnnước; có thể nói thiên tai có thể xảy ra bất kỳ lúc nào Hơn nữa, với đường bờ biểndài 102 km, biến đổi khí hậu biểu hiện rõ nhất là nước biển dâng sẽ ảnh hưởng trựctiếp đến các ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, thủy lợi, giao thông vận tải, xây dựng,
du lịch và các hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học, môi trường, tài nguyên đất, tàinguyên nước… ở 6 huyện ven biển và 2 huyện tiếp giáp có địa hình thấp (NôngCống, Hà Trung) Mực nước biển dâng sẽ thu hẹp diện tích rừng ngập mặn, tạo điềukiện xói lở bờ biển, gây khó khăn cho nghề cá do những thay đổi theo hướng xấu đicủa phần lớn nguồn lợi thủy sản Tác động của BĐKH đến các khu vực khác trongnội địa nơi có địa hình đồi núi cao dễ bị tác động của hạn hán, lũ quét, sạt lở đất, cháyrừng và bệnh tật
1.3.4.2 Nhận định về biến đổi khí hậu ở Thanh Hóa
Qua chuỗi số liệu quan trắc khí tượng từ năm 1995 đến năm 2009 cho thấynhững biến đổi bất thường của thời tiết trong những năm gần đây như sau
Nhiệt độ:
Nhiệt độ có xu thế tăng lên, nhiệt độ trung bình trong 10 năm gần đây phổ biếncao hơn từ 0,1 – 0, 4 oC Nhiệt độ tối cao tuyệt đối đạt và vượt số liệu lịch sử (42,2oC)tại Tĩnh Gia tháng 7/2010 Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối không thấp như nhiều nămtrước đây kể cả trong những ngày rét đậm rét hại đầu năm 2008 (từ 6 – 7 oC trở lên)
Nắng nóng:
Nắng nóng có xu thế xuất hiện sớm và kết thúc muộn, số đợt nhiều hơn, xảy racục bộ và và diễn biến phức tạp, số ngày nắng nóng gay gắt nhiều hơn, điển hình làđợt nắng nắng kéo dài gần 30 ngày trong mùa hè năm 2008 nhiều ngày nắng nónggayy gắt, nhiệt độ tối cao tuyệt đối từ 39 – 41 oC; mùa hè năm 2010, nhiều đợt nắng
Trang 35Có nhiều biểu hiện bất thường, xuất hiện sớm (cuối tháng 8 đã xuất hiện khôngkhí lạnh), số đợt nhiều hơn, diễn biến tạp, nhưng cường độ không mạnh như nhiềunăm trước đây Nhưng lại có những đợt mang tính lịch sử như đầu năm 2008, một đợtkhông khí lạnh kéo dài liên tục trên 20 ngày, trong đó nhiều ngày rét đậm, rét hại.Nhìn chung những năm gần đây KKL hoạt động phức tạp hơn, số đợt nhiều nhưngcường độ không mạnh, nhiều mùa đông không có rét gây khó khăn cho sản xuất vụĐông Xuân.
Mưa:
Mưa có nhiều biểu hiện khác với quy luật thông thường nhiều năm, trong mùakhô ít mưa nhưng có ngày mưa trên 100 mm xảy ra cục bộ Trong những tháng caođiểm của mùa mưa bão, nhưng lượng mưa thiết hụt so với trung bình nhiều năm rấtnhiều, điển hình là năm 2006, 2008 và 2009
Mùa mưa đến muộn và kết thúc sớm, đặc biệt là một số năm gần đây mùa mưađến muộn kết thúc sớm hơn bình thường từ 15 ngày đến 1 tháng
Lượng mưa biến động lớn giữa các khu vực, có năm lượng mưa ở khu vực đồngbằng ven biến lớn hơn TBNN từ 500 – 800 mm, nhưng khu vực vùng núi lại thấp hơnTBNN từ 300 – 700, như năm 2006, 2008, 2009 và năm nay 2010 cũng là trường hợptương tự
Các đợt mưa lớn ít hơn cả về số đợt lẫn cường độ so với nhiều năm trước đâyđặc biệt là mưa lớn trên diện rộng, là do bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đếnThanh Hóa ít
Hạn hán:
Do mưa có biến động lớn, lượng mưa không nhiều, mùa mưa đến muộn và kếtthúc sớm nên thường xảy ra khô hạn thiếu nước trong vụ Đông Xuân cũng như vụ HèThu Vụ Đông Xuân hạn hán trên diện rộng xảy ra vào các năm 1993, 2003, 2004,
2005, 2007, 2008 và 2009, lượng nước thiếu hụt từ 30 – 80 %, có nơi 45 ngày liêntục không hề có mưa Đông Xuân 2010 – 2011 có khả năng xảy khô hạn thiếu nướctrên diện rộng là do mùa mưa năm 2010 kết thúc sớm, lượng mưa chỉ đạt ở mức thấphơn đến xấp xỉ so với TBNN
Khả năng dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu:
Trang 36Các số liệu và phân tích cho thấy BĐKH có những tác động tiềm tàng đến cáclĩnh vực, các địa phương và các cộng đồng khác nhau của Thanh Hoá BĐKH làmtăng khả năng bị tổn thương và tạo nguy cơ làm chậm hoặc đảo ngược quá trình pháttriển Những người nghèo nhất, thường tập trung ở các vùng nông thôn, đặc biệt ở dảiven biển và các khu vực miền núi là đối tượng chịu nguy cơ tổn thương lớn nhất doBĐKH.
Khả năng tổn thương cần được đánh giá đối với từng lĩnh vực, khu vực và cộngđồng, cả hiện tại và tương lai Khả năng tổn thương do BĐKH (bao gồm cả biến độngkhí hậu, nước biển dâng và các hiện tượng khí hậu cực đoan) đối với một hệ thốngphụ thuộc vào tính chất, độ lớn, mức độ biến động khí hậu và những áp lực do BĐKH
mà hệ thống đó phải hứng chịu, tính nhạy cảm cũng như năng lực thích ứng của hệthống đó Năng lực thích ứng của một hệ thống phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên,kinh tế, xã hội và môi trường của hệ thống đó Tác động tổng hợp của BĐKH đối với
hệ thống càng lớn và năng lực thích ứng của hệ thống càng nhỏ thì khả năng tổnthương càng lớn
Ở Thanh Hoá, những lĩnh vực, đối tượng được đánh giá là dễ bị tổn thương doBĐKH bao gồm: nông nghiệp và an ninh lương thực, tài nguyên nước, sức khoẻ, nơi
cư trú, nhất là ven biển và miền núi
Các khu vực dễ bị tổn thương bao gồm 6 huyện, thị xã ven biển; 2 huyện có địahình thấp trũng là Nông Cống và Hà Trung (là những vùng hàng năm thường chịuảnh hưởng của bão, nước dâng do bão, lũ lụt) và các huyện vùng núi, nhất là nhữngnơi thường xảy ra lũ quét, sạt lở đất: huyện Mường Lát, Quan Hoá, Quan Sơn, ThạchThành
Có thể nói, về mặt tiêu cực, BĐKH làm tăng tính ác liệt của thiên tai, cả vềcường độ lẫn tần suất
Các cộng đồng dễ bị tổn thương bao gồm: nông dân, ngư dân (nhất là ở nhữngkhu vực dễ bị tổn thương), các dân tộc thiểu số ở miền núi, người già, phụ nữ, trẻ em
Trang 37Thanh Hoá có bờ biển dài 102 km, tổng diện tích tự nhiên 1.113.341 hanhiều vùng đất thấp ven biển Những vùng này hàng năm phải chịu ngập lụt nặng nềtrong mùa mưa và hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa khô BĐKH và nước biểndâng sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng nói trên, làm tăng diện tích ngập lụt, gây khókhăn cho thoát nước, tăng xói lở bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước ảnh hưởng đếnsản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt, gây rủi ro lớn đối với các công trình xâydựng ven biển như đê biển, đường giao thông, bến cảng, các nhà máy, các đô thị vàkhu dân cư ven biển Mực nước biển dâng và nhiệt độ nước biển tăng ảnh hưởngđến các hệ sinh thái biển và ven biển, gây tác động tiêu cực đối với các rạn san hô
và rừng ngập mặn, ảnh hưởng xấu đến nền tảng sinh học cho các hoạt động khaithác và nuôi trồng thủy sản ven biển Tất cả những điều trên đây đòi hỏi phải có đầu
tư rất lớn để xây dựng và củng cố hệ thống đê biển, nhằm ứng phó với mực nướcbiển dâng, phát triển hạ tầng kỹ thuật, di dời và xây dựng các khu dân cư và đô thị
có khả năng thích ứng cao với nước biển dâng
Trang 38b) Tác động của sự nóng lên toàn cầu
Nhiệt độ tăng lên ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm dịch chuyển cácranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và hệ sinh thái nước ngọt, làm thay đổi cơcấu các loài thực vật và động vật ở một số vùng, một số loài có nguồn gốc ôn đới và ánhiệt đới có thể bị mất đi dẫn đến suy giảm tính đa dạng sinh học
Đối với sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi và mùa vụ có thể bị thayđổi ở một số vùng, trong đó vụ đông có thể bị rút ngắn lại hoặc thậm chí không còn vụđông; vụ mùa kéo dài hơn Điều đó đòi hỏi phải thay đổi kỹ thuật canh tác Nhiệt độtăng và tính biến động của nhiệt độ lớn hơn, kể cả các nhiệt độ cực đại và cực tiểu,cùng với biến động của các yếu tố thời tiết khác và thiên tai làm tăng khả năng pháttriển sâu bệnh, dịch bệnh dẫn đến giảm năng suất và sản lượng, tăng nguy cơ và rủi rođối với nông nghiệp và an ninh lương thực
Nhiệt độ tăng, độ ẩm cao làm gia tăng sức ép về nhiệt đối với cơ thể con người,nhất là người già và trẻ em, làm tăng bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiệt đới, bệnhtruyền nhiễm thông qua sự phát triển của các loài vi khuẩn, các côn trùng và vật chủmang bệnh, chế độ dinh dưỡng và vệ sinh môi trường suy giảm
Sự gia tăng của nhiệt độ còn ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác như năng lượng,giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng, du lịch, thương mại,… liên quan đến chiphí gia tăng cho việc làm mát, thông gió, bảo quản và vận hành thiết bị, phương tiện,sức bền vật liệu
c) Tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai
Sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai, cả về tần số vàcường độ do BĐKH là mối đe dọa thường xuyên, trước mắt và lâu dài đối với tất cảcác lĩnh vực, các vùng và các cộng đồng Bão, lũ lụt, hạn hán, mưa lớn, nắng nóng, tốlốc là thiên tai xảy ra hàng năm ở nhiều vùng trong cả nước, gây thiệt hại cho sảnxuất và đời sống
Trang 39d) Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng tới tài nguyên đất
- Do tác động của biến đổi khí hậu mực nước biển dâng cao, nhiều diện tíchgieo trồng vùng ven biển và vùng thấp trũng của huyện Nông Cống và huyện HàTrung sẽ bị ngập, diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp Nước biển dâng làm vùng ven
bờ bị sạt lở ảnh hưởng trực tiếp đến các khu dân cư ven biển và có nguy cơ thu hẹp.Nước biển dâng làm mặn hóa đầm nước lợ ven biển ảnh hưởng xấu làm thay đổi cấutrúc hệ sinh thái làm thay đổi cơ cấu diện tích nuôi trồng thuỷ sản
- Tình trạng xâm nhập mặn ở vùng đồng băng ven biển và hạ lưu các sông đãxảy ra thường xuyên trên diện rộng và ngày càng nghiệm trọng đã làm ảnh hưởng đếnchất lượng đất canh tác Nhiều diện tích đất canh tác bị nhiễm mặn không thể trồnglúa do đó phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp
- Qua Hạn hán kéo dài ở nhiều nơi trên khắp địa bàn tỉnh cũng đã gây nên tìnhtrạng đất đai bị khô cằn Nhiều diện tích đất trồng lúa nước đã phải chuyển đổi thànhđất trồng màu, nhiều vùng chuyên canh nguyên liệu cho các nhà máy bị thu hẹp dokhông đủ nước tưới
- Mực nước biển gia tăng làm cho diện tích và cơ sở hạ tầng sản xuất muối bịảnh hưởng, đồng thời với những trận mưa lớn hơn có cường độ cao hơn cũng ảnhhưởng đến năng suất
II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH KINH TẾ.
2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1.1 Tăng trưởng và quy mô kinh tế
a Về tốc độ tăng trưởng
Trong hơn 20 năm đổi mới, cùng với xu thế phát triển chung của cả nước, kinh
tế của tỉnh Thanh Hoá đã từng bước ổn định và đang trên đà phát triển, đời sống nhândân được cải thiện rõ rệt Đặc biệt từ năm 2001 trở lại đây, thực hiện Nghị quyết Đạihội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và XVI, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 các giaiđoạn 2001-2005 và 2006-2010, kinh tế của tỉnh có bước phát triển khả quan
Tốc độ tăng trưởng bình quân 2001-2005 là 9,1%/năm và 11,3% giai đoạn2006-2010; trong đó nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,5%/năm, công nghiệp - xâydựng tăng 15,6%/năm và dịch vụ tăng 10,2%/năm Điều đáng chú ý là tốc độ tăngtrưởng kinh tế của tỉnh có xu hướng tăng dần vào các năm cuối kỳ của kế hoạch 5năm, tạo đà tăng trưởng thuận lợi cho thời kỳ tiếp theo
Trang 40Bảng 3: Tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2001 – 2010
n v : T ng, giá C 94 Đơn vị: Tỷ đồng, giá CĐ 94 ị: Tỷ đồng, giá CĐ 94 ỷ đồng, giá CĐ 94 đồng, giá CĐ 94 Đ