Bài tiểu luận Bài tiểu luận CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ DANH MỤC VỐN CỔ PHẦN GVHD ThS Đào Trung Kiên BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM Chiến lược quản lý danh mục vốn cổ phần Nhóm 24 Trang 1 DANH SÁCH NHÓM 24 Họ và tên Lớp 1 Huỳnh Thị Thảo Hiền NH3 2 Phạm Xuân Như NH1 3 Nguyễn Xuân Trung NH2 4 Nguyễn Thị Anh Phương NH1 5 Phạm Minh Thắng NH2 Chiến lược quản lý danh mục vốn cổ phần Nhóm 24 Trang 2 Nhận xét của giảng viên Chiến lược quản lý danh mục vốn cổ phần Nhóm 24 Trang 3 CHIẾN LƯỢC.
Trang 1Bài tiểu luận
CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ DANH MỤC VỐN CỔ PHẦN
GVHD: ThS Đào Trung Kiên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Trang 2DANH SÁCH NHÓM 24
Trang 3Nhận xét của giảng viên:
Trang 4
CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ DANH MỤC VỐN CỔ PHẦN
1 Tổng quan về quản lý danh mục cổ phiếu thụ động:
Danh mục đầu tư là một tập hợp tất cả các loại chứng khoán mà nhà đầu tư đưa vào danh sách để đầu tư
Đầu tư theo danh mục nhằm phân tán và hạn chế rủi ro Tất cả những nhà đầu tư đều mong muốn đạt được mức lợi suất đầu tư tối đa ứng với mỗi mức rủi ro của danh mục
a Nguyên lý chính:
Chiến lược này hiểu một cách đơn giản là chiến lược mua và nắm giữ - Buy and Hold Nhà đầu tư sẽ mua và nắm giữ chứng khoán trong một thời gian dài, trong suốt thời gian đó, họ hầu như không điều chỉnh hoặc chỉ điều chỉnh một cách tối thiểu danh mục đầu tư
Theo chiến lược này nhà đầu tư sẽ chọn một chỉ số chứng khoán nào đó làm chuẩn chẳng hạn như chỉ số S&P 500 Họ mua và nắm giữ tất cả các chứng khoán có trong chỉ số với tỷ trọng của mỗi chứng khoán trong danh mục đầu tư giống như tỷ trọng của các chứng khoán đó trong chỉ số Danh mục đầu tư của họ tăng giảm đúng bằng tốc độ tăng giảm của chỉ số S&P 500, nói cách khác, nó giống như bản photocopy thu nhỏ của chỉ số S&P 500
Chiến lược này được cổ vũ bởi Lý thuyết thị trường hiệu quả
Chỉ số chuẩn phổ biến ở thị trường Mỹ là : S&P 500, 400 và 200; Wilshine 5000; Russel 2000; …
b Mục đích:
Phương pháp này xây dựng một danh mục đầu tư đảm bảo mang lại một mức lợi suất gần giống với mức lợi suất của chỉ số đó
Trang 5Trong một số trường hợp danh mục cũng cần được cơ cấu lại khi tái đầu tư các khoản cổ tức nhận về, do đó sẽ có việc tách cổ phiếu, gộp cổ phiếu hoặc loại một số cổ phiếu ra khỏi danh sách Vì vậy, hiệu quả của danh mục này được đánh giá dựa trên khả năng của người quản lý danh mục trong việc tuân theo chỉ số chuẩn , tức là khả năng giảm thiểu những sai lệch do với chỉ số chuẩn
Chiến lược đầu tư theo chỉ số phù hợp với những nhà đầu tư dài hạn, có mức độ chấp nhận rủi ro thấp, đặc biệt với những người mới tham gia thị trường còn thiếu nhiều kiến thức và kinh nghiệm đầu tư hay những người không có thời gian để theo dõi sát các diễn biến thị trường Do vậy, mục tiêu mà họ đặt ra là danh mục đầu tư đạt được mức sinh lời cũng như độ rủi ro tương đương với mức chung toàn thị trường
c Ưu điểm:
Ưu điểm lớn nhất của của phương pháp đầu tư này là: hạn chế được khá nhiều rủi
ro và dễ áp dụng cũng như cắt giảm chi phí nghiên cứu khi chỉ cần theo dõi các thông tin vĩ mô để dự đoán xu hướng thị trường trong dài hạn mà không cần phải mất công sức và thời gian phân tích cơ bản hay kỹ thuật từng cổ phiếu riêng lẻ trong ngắn hạn
2 Kỹ thuật xây dựng danh mục chỉ số:
a Sao chép hoàn toàn:
Nhà đầu tư sẽ mua tất cả các loại cổ phiếu trong chỉ số chuẩn theo đúng tỷ trọng vốn mà cổ phiếu đó chiếm giữ trong chỉ số này
Ưu điểm: nhà đầu tư chắc chắn thu được lợi suất giống với lợi suất của chỉ số chuẩn
Nhược điểm: vì phải mua nhiều cổ phiếu nên chi phí giao dịch rất lớn, có thể làm giảm lợi suất đầu tư Tái đầu tư từ cổ tức bị phân tán do mỗi công ty có một chiến lược chi trả cổ tức vào thời điểm khác nhau nên luồng cổ tức nhận về rải rác, sẽ bị lỡ các cơ hội đầu tư tốt
Các nhà đầu tư sẽ xây dựng danh mục đầu tư mô phỏng theo một chỉ số chứng khoán nhất định như Dow Jone, S&P 500, FTSE 100…
Trang 6Ví dụ: trên sàn Y có 4 cổ phiếu A,B,C, D với số lượng cổ phiếu phát hành lần
lượt là 5 triệu, 10 triệu, 5 triệu, 15 triệu Quĩ Z, đầu tư theo “Y index” tức là họ có thể xây dựng danh mục đầu tư của mình theo tỉ lệ 1:2:1:3, tương đương với việc có thể họ
sẽ mua 400.000 cổ phiếu A, 800.000 cổ phiếu B và 400.000 cổ phiếu C và 12.000 cổ phiếu D
b Lấy mẫu:
Nhà đầu tư chỉ chọn một số cổ phiếu đại diện cho chỉ số chuẩn theo tỷ trọng mà
cổ phiếu đó chiếm giữ trong chỉ số chuẩn
Ưu điểm: giảm thiểu chi phí giao dịch
Nhược điểm: không đảm bảo nhận được mức lợi suất giống với lợi suất của chỉ
số chuẩn
Một số quỹ đầu tư chỉ số đầu tư 100% tài sản của họ theo tỉ lệ đã nêu trên vào tất
cả các cổ phiếu thuộc một chỉ số nhất định Ví dụ như nếu một quỹ đầu tư chọn đầu tư hoàn toàn vào một chỉ số là S&P 500 thì có nghĩa là quỹ chỉ số đó sẽ đầu tư vào cổ phiếu của 500 công ty lớn nhất của thị trường chúng khoán Hoa Kỳ do đó theo sát sự biến chuyển của chỉ số S&P 500 Một số quỹ đầu tư khác thì lại dùng phương pháp
“mẫu đại diện”, có nghĩa là họ sẽ đầu tư từ 80% đến 95% tài sản của họ vào những cổ phiếu thuộc một chỉ số họ đã chọn Còn từ 5%-20% còn lại sẽ được đầu tư vào những tài sản khác như các hợp đồng tương lai, quyền chọn, các hợp đồng hoán đổi hoặc các
cổ phiếu không thuộc chỉ số họ đã chọn Tất cả đều tùy thuộc vào mục tiêu của những người quản lý quỹ
c Tối ưu hóa bình phương (lập trình bậc 2):
Phương pháp này khá phức tạp và chỉ có các nhà đầu tư chuyên nghiệp mới áp dụng
Các thông tin quá khứ về mức độ biến động của giá các cổ phiếu và mối tương quan giữa các cổ phiếu được đưa vào chương trình máy tính để phân tích, chọn lọc danh mục các cổ phiếu sao cho giảm thiểu sự chênh lệch giữa lợi suất của danh mục với lợi suất của chỉ số chuẩn
Trang 7Nhược điểm: khi các dữ liệu đầu vào có sự thay đổi thường xuyên thì lợi suất danh mục sẽ có sự chênh lệch lớn với lợi suất chỉ số chuẩn
3 Hiệu chỉnh lỗi:
Khi thực hiện chiến lượng quản lý thụ động thì mục tiêu của nhà đầu tư là phải giảm thiểu tối đa sự chênh lệch giữa lợi nhuận danh mục và chỉ số chuẩn , tức là phải giảm thiếu tối đa việc truy tìm lỗi
Việc hiệu chỉnh lỗi là khoảng chênh lệch giữa sự biến động lợi suất của danh mục không liên quan tới sự biến động lợi suất của chỉ số chuẩn
Đặt: Wi= tỷ trọng đầu tư của cổ phiếu i trong thời gian t
Rit= lợi tức của cổ phiếu i trong thời gian t
Rbt= lợi tức của danh mục chuẩn trong thời gian t
Lợi tức của danh mục quản lý trong thời gian t:
𝑹𝒑𝒕 = ∑ 𝑾𝒊 𝑹𝒊𝒕
𝑵
𝒊=𝟏
( N: số cổ phiếu trong danh mục quản lý)
Từ đó ta tính được t là sự chênh lệch lợi suất giữa danh mục quản lý và danh mục chuẩn trong khoảng thời gian t:
∆𝒊= ∑ 𝑾𝒊 𝑹𝒊𝒕𝑵
𝐢=𝟏(𝐓 − 𝟏)
Trang 8Hiệu chỉnh lỗi hằng năm: TE
P: số chu kỳ lợi tức trong 1 năm
dụng mẫu nhỏ hơn
4 Phương pháp đầu tư danh mục chỉ số:
a Index Fund (quỹ chỉ số tương hỗ):
Index Fund là hình thức đầu tư vào các quỹ chỉ số bằng cách mua chứng chỉ của quỹ
Index Fund luôn cố gắng sao chép càng giống chỉ số chung càng tốt Và để làm được điều này các Index Fund thường mua một tỷ lệ bằng nhau tất cả các cổ phiếu
0
Số cổ phiếu
Trang 9nằm trong chỉ số đó Ví dụ Quỹ Vanguard Index Funds đầu tư vào tất cả 500 cổ phiếu của chỉ số S&P 500
Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi không thể mua hết tất cả các cổ phiếu thì Index Fund sẽ mua các cổ phiếu có mức vốn hóa lớn trên thị trường mà nó đầu tư Ví
dụ chỉ số Extanded Index Funds đầu tư vào 2000 cổ phiếu có vốn hóa lớn nhất trong tổng số 4500 cổ phiếu của chỉ số Wilshire 4500
Các Index Fund thường tập trung mua các mã chứng khoán có mức vốn hóa lớn
và tác động mạnh đến thị trường
Yếu tố quyết định thành công của quỹ Index Funds là việc quản lý chi phí hoạt động sao cho thấp nhất
Hiện nay, rất nhiều quỹ chỉ số tương hỗ đã ra đời tại các thị trường tiên tiến như
Mỹ, Châu Âu, cung cấp các sản phẩm tài chính đầu tư theo chỉ số Các sản phẩm này
mở rộng ra từ những chỉ số tổng hợp như DJIA, NASDAQ, FTSE 100, DAX 30, DJ Euro Stoxx, đến các chỉ số ngành riêng biệt nhằm đáp ứng tối đa các nhu cầu đầu tư Quỹ đầu tư chỉ số tương hỗ có một số điểm ưu việt sau đây:
• Với đặc điểm đầu tư theo chỉ số thị trường chứng khoán nên Index Fund trở thành một hình thức đầu tư phân tán rủi ro tốt và chi phí khá thấp (thường dưới 1%) Chính điều này đã giúp Index Fund thu hút các nhà đầu tư tổ chức, cũng như các cá nhân đầu tư vào Index Fund với mục tiêu nắm giữ lâu dài hoặc phục vụ chiến lược giao dịch ngắn hạn
• Cơ chế hoạt động của quỹ chỉ số cũng làm cho giá chứng chỉ quỹ thường theo sát giá trị tài sản ròng (NAV), chứ không biến động quá xa như các quỹ tương hỗ khác Hơn nữa, các quỹ tương hỗ lại tính thêm 20% phí trên phần tăng trưởng của giá trị tài sản ròng, có nghĩa là lợi nhuận có được, họ phải chia cho nhà quản lý quỹ 20% Các quỹ chỉ số không thu khoản phí này Nhược điểm: nhà đầu tư chỉ có thể thanh toán hết vị thế của mình vào cuối ngày giao dịch tại mức giá đóng cửa ( không được giao dịch trong ngày), và có thể phát sinh thêm các khoản thuế không mong muốn khi có những nhu cầu ngoài dự kiến để bán một phần danh mục đầu tư
Trang 10b Quỹ giao dịch: ( Exchange Trade Funds)
Hạn chế của Index fund là chỉ được giao dịch sau khi thị trường đóng cửa, Quỹ ETFs ra đời với cách thức hoạt động giống như Index Fund nhưng hạn chế được yếu điểm này và được phép giao dịch trên thị trường chứng khoán giống như một cổ phiếu thông thường Ngoài ra cách thức hoạt động của ETFs còn làm hạn chế các khoản thuế phải nộp và qua đó làm giảm chi phí hoạt động
Có thể thấy lợi thế lớn nhất của loại hình đầu tư này là độ rủi ro và biến động về giá trị không lớn Nói một cách khác, đây là một cách đầu tư khá an toàn vì số vốn đầu
tư được rải ra nhiều cổ phiếu khác nhau nên sự biến đổi của một cố phiếu không làm thay đổi đến hiệu quả chung
Giá chứng chỉ quỹ ETF có thể giao dịch tại một mức giá cao hơn hoặc thấp hơn mức giá NAV của quỹ ETF đó Tuy nhiên những khoảng chênh lệch giữa giá thị trường và giá NAV của ETF thông thường sẽ được san bằng thông qua hoạt động arbitrage (mua bán đồng thời) của các nhà đầu tư tổ chức Nhìn chung, giá giao dịch của ETF phản ánh khá chính xác giá trị thực của các cổ phiếu trong rổ cổ phiếu của quỹ ETF
Trang 11II Quản lý danh mục cổ phiếu chủ động:
1 Tổng quan về quản lý danh mục cổ phiếu chủ động:
Mục tiêu của chiến lược quản lý danh mục chủ động nhằm tìm kiếm lợi nhuận vượt quá lợi nhuận của danh mục thụ động chuẩn hoặc thu được mức lợi nhuận trên trung bình ứng với một mức rủi ro nhất định
Quản lý danh mục đầu tư chủ động được đặt trên nền tảng dự báo và điều chỉnh theo rủi ro Trong quản lý danh mục đầu tư chủ động, việc điều chỉnh thay thế các chứng khoán cũng như thay đổi tỷ trọng nắm giữ các chứng khoán luôn được tiến hành thường xuyên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo về các yếu tố có liên quan
Danh mục chủ động nhằm cộng dồn các giá trị gia tăng liên quan đến các đại lượng chuẩn theo thời gian thị trường và tìm cách mua cổ phiếu dưới giá trị, những ngành nghề có xu hướng phát triển tốt thì được phân bổ với tỷ trọng lớn hơn, trong đó tập trung vào những cổ phiếu có tiềm năng hoặc cổ phiếu tạm thời bị định giá thấp
Trang 12Quy trình quản lý danh mục đầu tư chủ động:
• Xác lập mục tiêu của khách hàng đặt ra
• Theo dõi đánh giá các biến động của cổ phiếu trong danh mục và tái cấu trúc danh mục khi cần thiết
Công việc của một nhà quản lý danh mục chủ động không hề đơn giản:
• Với chiến lược này thì thông tin về biến động giá của tài sản hết sức quan trọng, nhà quản lý phải theo dõi, phân tích các ước lượng các đặc trưng của tài sản, sau đó chọn nhóm tài sản để đầu tư và thường xuyên theo dõi các biến động của cổ phiếu trong danh mục và tái cấu trúc danh mục khi cần thiết
• Nếu nhà quản lý nhận thấy thị trường có xu hướng đi lên khác với số đông thì họ sẽ điều chỉnh danh mục theo nguyên tắc tăng hệ số của danh mục bằng cách bán các tài sản có hệ số thấp và mua những tài sản có hệ số
cao ( với là mức nhạy cảm của tài sản đối các nhân tố ảnh hưởng)
Khó khăn của chiến lược quản lý danh mục cổ phiếu chủ động:
• Việc quản lý danh mục chủ động luôn luôn trả chi phí giao dịch cao hơn
Trang 13• Danh mục chủ động luôn chịu rủi ro lớn hơn so với danh mục chuẩn thụ động
2 Các chiến lược quản lý danh mục cổ phiếu chủ động:
a Chiến lược cơ bản:
Nhà đầu tư sẽ mua và giữ cổ phiếu với lợi nhuận đang tăng và bán cổ phiếu (hoặc bán khống) với những cổ phiếu có lợi nhuận đang giảm Quan điểm cơ bản của chiến lược này là cuối cùng thì giá cổ phiếu công ty cũng phải đi theo mức độ lợi nhuận của doanh nghiệp
Nhà đầu tư thường dùng 3 chiến lược sau:
• Chuyển những quỹ vào và ra các loại cổ phiếu, trái phiếu và T-Bill phụ thuộc vào những dự đoán và phí rủi ro được ước tính của thị trường
• Chuyển các quỹ giữa những lĩnh vực cổ phiếu và ngành khác nhau hoặc giữa các hình thức đầu tư khác nhau để có thể bắt được các yếu tố giá trị trên thị trường trước khi phần còn lại của thị trường nhận biết được
• Chú tâm vào việc chọn cổ phiếu, tìm kiếm những cổ phiếu cá biệt bị định giá thấp – mua rẻ bán cao
Chiến lược luân chuyển tài sản giữa các lĩnh vực cổ phiếu và ngành khác nhau phụ thuộc nhiều vào nhận thức của nhà quản lý về cách xác định giá trị của thị trường
so với những loại tài sản khác
Nền kinh tế trong suốt xu hướng vận động dài hạn của nó phải trải qua nhiều chu
kỳ Mỗi chu kỳ đều gồm một giai đoạn mở rộng, tăng trưởng lên đến đỉnh điểm, sau
đó là giai đoạn thu hẹp, suy thoái và chạm đáy Thị trường chứng khoán cũng vậy, luôn có tính chu kỳ và lấy nền kinh tế làm nền tảng Hơn nữa, thị trường chứng khoán nhạy cảm với thông tin luôn là tấm gương dự báo sớm những biến động của chu kỳ kinh tế Không cổ phiếu nào có thể chống lại xu hướng thị trường Nhưng trong mỗi một chu kỳ của nền kinh tế và của thị trường chứng khoán, các ngành khác nhau và cổ phiếu của các ngành đó sẽ thể hiện sức mạnh vượt trội hơn toàn bộ thị trường ở từng thời điểm khác nhau Dù trong giai đoạn tăng trưởng hay suy thoái của thị trường, biết lựa chọn cổ phiếu sinh lời chính là bí quyết thành công của nhà đầu tư Mô hình dưới
Trang 14đây sẽ thể hiện mối tương quan giữa chu kỳ của thị trường chứng khoán và chu kỳ kinh tế Mô hình này chỉ ra rằng, trong một chu kỳ kinh tế điển hình tại mỗi thời điểm khác nhau sẽ có những ngành sinh lời hơn so với toàn bộ thị trường
b Chiến lược kỹ thuật:
Đối với chiến lược này, nhà đầu tư sẽ khảo sát các xu thế giá trong quá khứ để phỏng đoán các thông tin về các chuyển động giá trong tương lai, chỉ dựa vào phân tích xu thế giá thuần hoặc có thêm các thông tin kinh tế hỗ trợ Có 2 trường hợp có thể xảy ra: giá sẽ tiếp tục chuyển động theo xu thế hoặc giá sẽ chuyển động ngược xu thế
Chiến lược đầu tư đi ngược xu thế giá: nhà đầu tư tin rằng giá cổ phiếu sẽ quay
ngược, thời điểm mua/ bán cổ phiếu tốt nhất là lúc thị trường trở nên sợ hãi/ ham muốn cổ phiếu đó
Chiến lược theo đuổi chuyển động giá: được xây dựng trên giả thiết xu thế giá
trong quá khứ vẫn tiếp tục, chỉ quan tâm đến xu thế giá trong quá khứ và tiếp tục mua khi xu thế tốt và bán khi xu thế xấu Giả sử cổ phiếu đang nóng trên thị trường sẽ tiếp tục nóng và cổ phiếu đang nguội lạnh vẫn tiếp tục như thế, điều này có thể trở thành trường hợp đơn giản rằng nhà đầu tư phản ứng không đầy đủ một cách có chu kỳ để
Trang 15c Chiến lược những điều bất thường và thuộc tính:
Nhà đầu tư tập trung vào những doanh nghiệp có những đặc tính khác thường: doanh nghiệp có chỉ số vốn hóa nhỏ/lớn, chỉ số P/E thấp/cao, hoặc cổ phiếu được phân loại tổng quát theo giá trị hoặc sự tăng trưởng Tuy nhiên, cần chú ý rằng cổ phiếu của các doanh nghiệp vốn nhỏ luôn rủi ro hơn cổ phiếu các doanh nghiệp có vốn lớn Trong quản lý danh mục cổ phiếu chủ động, có một số điều bất thường Hai trong
số chúng là hiệu quả cuối tuần và hiệu quả tháng Giêng Đây là những điều bất thường liên quan đến thời gian tạo nên lợi nhuận cho danh mục chủ động và nhiều giao dịch khác Nhà quản lý chỉ đầu tư vào cổ phiếu tại tháng Giêng có khả năng không bị tính phí hàng năm, trong khi nhiều giao dịch đã bao hàm hiệu quả cuối tuần (mua vào ngày thứ 2 và bán vào ngày thứ 6) nói chung tạo ra chi phí không hiệu quả của danh mục
❖ Hiệu quả cuối tuần:
Đây là một hiện tượng trong thị trường tài chính, trong đó giá cổ phiếu vào ngày thứ Hai thường thấp hơn so với ngày thứ Sáu trước đó
Một số lý thuyết giải thích rằng do các công ty có xu hướng tung ra các thông tin tiêu cực sau khi thị trường đóng cửa vào ngày thứ Sáu, các thông tin này ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý nhà đầu tư, do đó ảnh hưởng không tốt đến giá chứng khoán khi
mở cửa vào ngày thứ Hai
Theo một kiểu giải thích khác, hiệu ứng có thể được giải thích đơn giản là sự lạc quan của nhà đầu tư vào ngày thứ Sáu giảm dần đi qua 2 ngày nghỉ, do đó giá chứng khoán vào ngày thứ Hai có xu hướng không cao bằng
Hiệu ứng cuối tuần là đặc điểm thường xuyên của thị trường chứng khoán trong nhiều năm Theo thống kê của Cục dự trữ liên bang Mỹ, trước năm 1987, hiệu ứng cuối tuần thường xuyên diễn ra và biến mất trong khoảng thời gian từ 1987 đến 1998
Từ năm 1998, hiệu ứng này đã xuất hiện trở lại và còn đang gây nhiều sự tranh cãi
❖ Hiệu ứng tháng Giêng:
Theo hiệu ứng này thì giá cổ phiếu thường có xu hướng tăng lên trong tháng Giêng Nguyên nhân chính là do vào tháng 12 các nhà đầu tư thường có xu hướng bán mạnh cổ phiếu ra nhằm cụ thể hóa các số liệu tài chính trên sổ sách, nhằm tìm kiếm