Trong xã hội hiện nay, do những khác biệt về giới tính không thể loại bỏ được, người phụ nữ và trẻ em luôn phía yếu, là phía chịu nhiều thiệt thòi, cần bảo vệ. Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc bình đẳng giới, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà mẹ và trẻ em, Luật Hôn nhân gia đình đã có những quy định riêng để bảo đảm bình đẳng giới cho phụ nữ khi họ thực hiện chức năng làm mẹ. Cụ thể, pháp luật hôn nhân gia đình đã quy định trường hợp hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng tại khoản 3 điều 51 Luật Hôn nhân gia đình 2014. Để tìm hiểu cụ thể hơn về vấn đề hạn chế quyền yêu cầu ly hôn, em xin lựa chọn đề tài số 6: “Phân tích quy định của pháp luật về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn. Nêu những vướng mắc, bất cập và hướng dẫn hoàn thiện pháp luật về vấn đề này” cho bài tập tiểu luận của mình.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN
MÔN HỌC
KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT CÁC TRƯỜNG HỢP LY HÔN VÀ TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
Đề bài số 6:
Phân tích quy định của pháp luật về hạn chế quyền yêu cầu
ly hôn Nêu những vướng mắc, bất cập và hướng hoàn thiện
pháp luật về vấn đề này
HỌ VÀ TÊN
MÃ SINH VIÊN LỚP CHUYÊN NGÀNH
Trang 2Hà Nội
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 3
NỘI DUNG 3
I Khái quát chung về quyền ly hôn và hạn chế quyền yêu cầu ly hôn 3
1 Ly hôn 3
2 Quyền yêu cầu ly hôn 4
3 Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn 4
II Quy định pháp luật hạn chế quyền yêu cầu ly hôn 5
1 Quy định pháp luật về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn qua các thời kỳ 5
2 Nội dung quy định pháp luật về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn 6
III Vướng mắc, bất cập và hướng dẫn hoàn thiện pháp luật về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn 11
1 Những hạn chế, vướng mắc 11
2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 13
KẾT LUẬN 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong xã hội hiện nay, do những khác biệt về giới tính không thể loại bỏ được, người phụ nữ và trẻ em luôn phía yếu, là phía chịu nhiều thiệt thòi, cần bảo
vệ Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc bình đẳng giới, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà mẹ và trẻ em, Luật Hôn nhân gia đình đã có những quy định riêng để bảo đảm bình đẳng giới cho phụ nữ khi họ thực hiện chức năng làm mẹ Cụ thể, pháp luật hôn nhân gia đình đã quy định trường hợp hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng tại khoản 3 điều 51 Luật Hôn nhân gia đình 2014 Để tìm hiểu cụ thể hơn về vấn đề hạn chế quyền yêu cầu ly hôn, em xin lựa chọn đề tài
số 6: “Phân tích quy định của pháp luật về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn Nêu
những vướng mắc, bất cập và hướng dẫn hoàn thiện pháp luật về vấn đề này”
cho bài tập tiểu luận của mình
NỘI DUNG
I Khái quát chung về quyền ly hôn và hạn chế quyền yêu cầu ly hôn
1 Ly hôn
Kết hôn và ly hôn là quyền nhân thân và là quyền dân sự cơ bản của con người Pháp luật công nhận cho nam, nữ quyền quyết định việc kết hôn để xác lập quan hệ vợ chồng thì cũng quy định cho vợ, chồng quyền yêu cầu ly hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân C Mác đã khẳng định: "Ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện: Cuộc hôn nhân này là cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là
bề ngoài và lừa dối Đương nhiên, không phải sự tuỳ tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tuỳ tiện của những cá nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được là cuộc hôn nhân đã chết hoặc chưa chết, bởi vì, như mọi người đều biết, việc xác nhận sự kiện chết tuỳ thuộc vào thực chất của vấn đề, chứ không phải vào nguyện vọng của những bên hữu quan”
Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng
Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân Nếu kết hôn là hiện tượng nhằm xác lập qua hệ vợ chồng thì ly hôn là hiện tượng dẫn đến chấm dứt quan hệ hôn nhân Ly hôn à mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ Khi quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục duy
Trang 4trì thì ly hôn là một việc cần thiết cho vợ chồng và cho xã hội, nói không chỉ làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng với nhau mà còn giúp giải quyết xung đột, mâu thuẫn, bế tắc trong cuộc sống gia đình Do đó, vợ chồng có quyền được yêu cầu ly hôn khi ho thấy cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục
2 Quyền yêu cầu ly hôn
Theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, quyền yêu cầu ly hôn nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật là quyền nhân thân gắn liên với nhân thân của vợ, chồng Hay nói cách khác, chỉ có vợ, chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn và cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu ly hôn là Tòa án nhân dân Đồng thời, giải quyết ly hôn phải dựa vào thực chất của quan hệ vợ chồng mà chính vợ, chồng là người xác định một cách chính xác nhất thực chất mối quan hệ giữa họ Quyền yêu cầu ly hôn là quyền của vợ và chồng Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định những trường hợp đặc biệt về quyền giải quyết ly hôn bao gồm:
Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ
Quyền ly hôn khác với quyền yêu cầu ly hôn Nếu quyền ly hôn là quyền
tự nhiên có ngay khi ợ chồng kết hôn, là quyền dân sự tuyệt đối không bị hạn chế, bất kỳ chỉ thể nào cũng có quyền ly hôn cho dù có hay không có đủ năng lực hành vi dân sự và được thực hiện bằng chính hành vi của chủ thể có quyền Còn đối với quyền yêu cầu ly hôn không phải là quyền tự nhiên mà là quyền vợ chông
có được thông qua việc thực hiện quyền ly hôn của mình trước pháp luật và chỉ
có được khi các chủ thể có yêu cầu và thực hiện theo đúng các thủ tục pháp luật quy định Quyền yêu cầu ly hôn có thể bị hạn chế trong trường hợp nhất định, ví
dụ quy định tại khoản 3 điều 51 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định về việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng khi vợ đang có thai, sinh con và nuôi con dưới 12 tháng
Như vậy, quyền yêu cầu ly hôn là một trong những quyền tự do cơ bản của
vợ chồng, là quyền nhân thân gắn liền với vợ chồng, phát sinh thông qua việc thực hiện quyền ly hôn của mình trước luật
Trang 53 Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn
Hạn chế quyền là việc Nhà nước đưa ra các quy định đặt ra các giới hạn nhất định để các chủ thể không được hưởng, không được làm
Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn là giới hạn của pháp luật mà khi có những điều kiện được quy định trong Luật thì người chồng không được quyền yêu cầu
ly hôn
Việc đặt ra giới hạn đối với quyền yêu cầu ly hôn nhằm mục đích bảo vệ
bà mẹ, trẻ em, bảo đảm quyền và lợi ích của người phụ nữ khi họ đang trong những hoàn cảnh đặt biệt: đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, tạo điều kiện tốt nhất về vật chất và tinh thần cho người mẹ thực hiện thiên chức của mình Bởi lẽ, trong thời kì mang thai và nuôi con nhỏ, người phụ nữ gần như không thể thực hiện các công vệc khác để tạo ra thu nhập, họ gặp những khó khăn về kinh tế, hơn nữa, họ gặp phỉa những vấn đề về sức khỏe và tâm lý, tâm lý thường nhạy cảm, bất ổn, dễ xúc động và hay có những thay đổi nhất định về tâm
lý theo chiều hướng tiêu cực Do đóm họ rất cần phải có sự quan tâm chăm sóc của người chồng Còn đối với trẻ em thì đây là thừi gian cần phải có sự bao bọc của cả bố và mẹ để trẻ phát triển toàn diện và ổn định Do đó, cần thiết phải có một cơ chế phấp lý bảo vệ, hỗ trợ người mẹ và trẻ em trong giai đoạn mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ
Việc quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn có ý nghĩa vô cùng quan trọng Quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn đã thể hiện và làm cụ thể chi tiết một trong những nguyên tắc của luật hôn nhân và gia đình, đó là nguyên tắc bảo
vệ bà mẹ và trẻ em, bảo vệ phụ nữ có thai và thai nhi Đồng thời, điều luật cũng thể hiện tính sâu sác, tính nhân văn và tiến bộ trong tư tưởng cũng như trong bản chất nội dung pháp luật nước ta nói cung và pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng Quyền của trẻ em và phụ nữ- những người yếu thế luôn được pháp luật thôn trọn, đề cao và bảo vệ
II Quy định pháp luật hạn chế quyền yêu cầu ly hôn
1 Quy định pháp luật về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn qua các thời kỳ
Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, từ tính nhân đạo của pháp luật, luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta quy định hạn chế quyền yêu cầu
ly hôn của người chồng trong một số trường hợp Từ khi Nhà nước Việt Nam dân
Trang 6chủ cộng hoà ra đời cho đến nay, đã có 4 luật về hôn nhân và gia đình được ban hành đó là Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật hôn nhân và gia đình năm
1986, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Luật hôn nhân và gia đình năm
2014 Các luật đều quy định quyền yêu cầu ly hôn chỉ thuộc về vợ, chồng Tuy nhiên, quy định về trường hợp người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn có
sự khác nhau:
Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật hôn nhân và gia đình năm
1986 quy định: Trong trường hợp người vợ có thai, chồng chỉ có thể xin ly hôn sau khi vợ đã sinh đẻ được một năm Theo đó, quyền yêu cầu ly hôn của người chồng bị hạn chế dựa vào hai yếu tố: 1) Người vợ đang có thai và 2) Người vợ sinh con chưa được một năm Trong đó yếu tố thứ hai chỉ dựa trên sự kiện sinh của người vợ Nếu người vợ "có sinh mà không có dưỡng” thì người chồng vẫn
bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định, khi người vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn Như vậy, theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng căn cứ vào hai yếu tố: 1) Người vợ đang có thai và 2) Người vợ đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi Phân tích yếu tố thứ hai có thể nhận thấy nhà làm luật dường như không chú ý đến sự kiện sinh mà chỉ quan tâm đến việc người vợ đang nuôi con Như vậy đối với trường hợp "có sinh mà không
có dưỡng” thì người chồng vẫn có quyền yêu cầu ly hôn
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới
12 tháng tuổi Có thể nhận thấy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã kế thừa quy định của cả ba luật trước đó về vấn đề hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng Theo đó, việc xác định quyền yêu cầu ly hôn của người chồng dựa vào trạng thái có thai, nuôi con và sự kiện sinh con của người vợ
2 Nội dung quy định pháp luật về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn
Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, nhà làm luật đã xây dựng quy định về việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình
2014 Cụ thể, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã xây dựng một điều khoản quy định cụ thể về nội dung này tại khoản 3 điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
Trang 7“3 Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có
thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”
Theo đó, người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp: vợ đang có thai, đang sinh con, đây đều là những khoảng thời gian đặc biệt
a Chủ thể bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn
Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn là chế định đặt ra để hạn chế quyền của chủ thể có quyền yêu cầu yêu cầu ly hôn Theo quy định của pháp luật, việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn đặt ra với quyền yêu cầu ly hôn của người chồng Trường hợp người vợ có thai hoặc đang sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu xin ly hôn Trong trường hợp này, tòa án
sẽ không thụ lý đơn xin ly hôn của người chồng Người chồng phải đợi đến khi người vợ sinh con xong và đứa trẻ trên 12 tháng tuổi mới được tiếp tục xin ly hôn
Trường hợp hạn chế quyền yêu cầu ly hôn chỉ áp dụng đối với người chồng
mà không áp dụng đối với người vợ Trong những khoảng thời gian nhất định, người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn Tuy nhiên, quy định này chỉ hạn chế quyền ly hôn của người chồng Có nghĩa là nếu người vợ làm đơn xin ly hôn, mặc dù đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, thì tòa án vẫn thụ lý, giải quyết như những trường hợp bình thường khác
b Các trường hợp hạn chế quyền yêu cầu ly hôn
Trường hợp 1: Người vợ đang mang thai
Việc xác định trạn thái có thai của người vợ dựa trên cơ sở sinh học thông qua quá trình thụ thai và phát triển của trứng để hình thành thai nhi Thụ thai là
sự thụ tinh và làm tổ của trứng Thụ tinh là sự kết hợp giữa một giao tử đục là tinh trình và một giao tử cái là noãn để hình thành một tế bào mới gọi là trứng, trứng di chuyển vào buồng tử cung để làm tổ Sau khi làm tổ, trứng phát triển qua hai thời kỳ:
- Thời kỳ thứ nhất: bắt đầu từ khi thụ tinh đến khi hết 8 tuần lễ đầu Đây là thời kỳ hình thành bào thai
- Thời kỳ thứ hai: Bắt đầu từ tháng thứ đến khi đủ tháng Đây là thời kỳ phát triển của thai Thai nhi đã được hình thành đầy đủ các bộ phận và tiếp tục lớn lên, phát triển và hoàn chỉnh các tổ chức của thai
Trang 8Thời kỳ mang thai được tính từ khi trứng hoàn thành quá trình làm tổ trong buồng tử cung đến khi thai nhi được sinh ra Tuy nhiên, cần phải hiểu, việc mang thai phải do người vợ mang thai chứ không phải do người phụ nữ khác mang thai con chung của vợ chồng Thời gian mang thai của mỗi người phụ nữ là khác nhau, thường kéo dài trong 30-40 tuần Đối với trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm thì thời gian người vợ mang thai có thể ngắn hơn
Tuy nhiên, luật chỉ quy định trạng thái người vợ đang có thai mà không quy định cụ thể là thai nhi đó có phải của người chồng hay không Do đó, không phân biệt là người vợ mang thai con của người chồng hay không phải của người chồng thì người chồng đều bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn Tức là trong trường hợp người vợ đang mang thai hộ con của cặp vợ chồng khác, hoặc trường hợp người vợ mang thai con của người đàn ông khác thì trong thời gian người vợ mang thai, người chồng cũng không có quyền yêu cầu ly hôn
Trường hợp 2: Người vợ sinh con
So với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định bổ sung trường hợp người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn khi người vợ “sinh con” Việc bổ sung trường hợp này đã hợp lý hay chưa, hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều
Quan điểm 1, ủng hộ việc bổ sung thuật ngữ “sinh con” vào quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng cần phải quy định một cách rõ ràng và cụ thể những trường hợp không
có quyền yêu cầu ly hôn, theo đó cần quy định sinh con cũng là 1 trường hợp cụ thể trong những trường hợp người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn Đồng thời, việc bổ sung trường hợp này đã khắc phục “lỗ hổng” về thời gian thực hiện chức năng sinh đẻ của người phụ nữ, ngoài giai đoạn mang thai và nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi Việc mang thai, sinh con, nuôi con dưới 12 tháng tuổi là một quy trình nối tiếp nhau, giai đoạn này liên kết với giai đoạn kia và đều là những thời điểm nhạy cảm của người phụ nữ và trẻ em, là khoảng thời gian người phụ
nữ gặp những khó khăn nhất về sức khỏe, tinh thần
Quan điểm 2, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc bổ sung trường hợp sinh con là không thực sự cần thiết và không có nhiều ý nghĩa thực tiễn Bởi vì, giai đoạn sinh con là một khoảng thời gian khá ngắn, thường thì là vài giờ Đồng thời,
Trang 9khoảng thời gian sinh con khó mà phân biệt được với thời gian mang thai và nuôi con Việc sinh con là một sự kiện, diễn ra tại một thời điểm nhất định chứ không phải một khoảng thời gian hoặc cùng lắm là tính từ khi bác sĩ, người đỡ đẻ thực hiện các công việc chuyên môn để đứa bé chào đời, khoảng thời gian này chỉ diễn
ra vài tiếng đồng hồ trước khi đứa trẻ được ra khỏi bụng mẹ thì người mẹ vẫn đang trong giai đoạn mang thai, sau khi ra khỏi bụng mẹ thì người mẹ chuyển sang giai đoạn nuôi con nếu đứa trẻ còn sống, nếu đứa trẻ chết trong hoặc sau khi
ra khỏi bụng mẹ thì đương nhiên người mẹ không còn trong trạng thái mang thai, nuôi con, chấm dứt căn cứ hạn chế quyền Do đó, việc bổ sung trường hợp “sinh con” là không phù hợp trong thực tiễn
Trường hợp 3: Người vợ nuôi con dưới 12 tháng tuổi
Nuôi con dưới 12 tháng tuổi là việc người mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc, cung cấp những thứ cần thiết cho đứa con dưới 12 tháng tuổi nhằm tạo điều kiện để duy trì và phát triển cuộc sống của người đó Đứa con dưới 12 tháng tuổi phải là con của người vợ, giữa đứa trẻ và người vợ phải có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép
Việc nuôi dưỡng và chăm sóc một đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi rất vất vả và khó khăn đối với hầu hết ông bố, bà mẹ Hơn nữa, trong khoảng thời gian sau khi sinh con và đang nuôi con nhỏ, người phụ nữ phải đối mặt với rất nhiều vấn đề về sức khỏe, kinh tế và tinh thần, cũng như áp lực trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc con Thậm chí trong khoảng thời gian này, người phụ nữ rất dễ mắc bệnh trầm cảm Theo thống kê, tỷ lệ phụ nữ bị trầm cảm sau sinh hiện nay chiếm khoảng 15% trong 3 tháng đầu và 25% trong vòng 12 tháng sau sinh Đây là chứng bệnh rất phổ biến và nguy hiểm, người bệnh có thể bị trầm cảm nhẹ, vừa hoặc nặng, thoáng qua hoặc kéo dài, dẫn đến những hành động tiêu cực cho bản thân Do đó, trong hoàn cảnh này, cả người vợ và con dưới 12 tháng tuổi rất cần có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ từ người chồng Nếu trong hoàn cảnh đặc biệt như vậy, người chồng thực hiện quyền yêu cầu ly hôn càng gây tác động tiêu cực đến tâm
lý của người vợ
Tuy nhiên, việc quy định trường hợp hạn chế quyền ly hôn của người chồng khi con dưới 12 tháng tuổi cần xem xét một số vấn đề sau: (1) người mẹ có
Trang 10cần nuôi dưỡng con trực tiếp không? (2) đứa con này có bắt buộc là con của người chồng hay không?
Thứ nhất, điều luật chỉ quy định là “nuôi con” không quy định cụ thể về vấn đề nuôi con trực tiếp hay không Trên thực tế, nhiều bà mẹ sau khi sinh con nhưng không trực tiếp nuôi con mà thuê người nuôi con hoặc nhờ bố mẹ, người thân thích nuôi dưỡng đứa trẻ nhưng người mẹ vẫn cung cấp các điều kiện cần thiết để đứa trẻ có thể duy trì cuộc sống và phát triển khỏe mạnh như: cung cấp tiền, cung cấp nơi ở, đồ dùng của đứa trẻ… Theo quan điểm của người viết bài,
do luật không quy định cụ thể phải nuôi con trực tiếp nên trường hợp người mẹ không trực tiếp nuôi con nhưng cung cấp đầy đủ những điều kiện để đứa trẻ sống
và phát triển bình thường thì vẫn thuộc trường hợp nuôi con dưới 12 tháng tuổi
Thứ hai, điều luật chỉ quy định là “con dưới 12 tháng tuổi” mà không quy định cụ thể là con nuôi của vợ chồng, con riêng của vợ, con nuôi riêng của vợ Ví dụ: tháng 3/2019, chị B nhận nuôi cháu C 6 tháng tuổi, và kết hôn với anh A vào tháng 3 năm 2019, sau khi kết hôn, anh A và chị B cùng chăm sóc, nuôi dưỡng cháu C, đến tháng 6/2019 anh A muốn ly hôn với chị C Trong trường hợp này, mặc dù cháu C không phải con của anh A, và chị C không trực tiếp mang thai, sinh con và nuôi cháu C 6 tháng ngay sau khi đẻ mà chị C chỉ nhận nuôi cháu kể
từ tháng thứ 6 Tuy nhiên, chị C vẫn thuộc trường hợp người mẹ nuôi con dưới
12 tháng tuổi, nên tại thời điểm tháng 6 năm 2019 anh A vẫn bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn
Trường hợp vợ chồng nhờ người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo xác định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng của cả bên nhờ mang thai hộ
và bên mang thai hộ
Đối với bên mang thai hộ: Nếu người vợ đang mang thai hộ thì chồng của
họ không có quyền yêu cầu ly hôn Bởi vì, về mặt sinh học rõ ràng người vợ đang mang thai Do đó, người chồng của người mang thai hộ cũng không có quyền yêu cầu ly hôn trong thời gian người vợ mang thai hộ và sinh con Với trường hợp sau khi người mang thai hộ sinh con, pháp luật quy định người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ Do vậy, nếu người vợ