SỰ CẦN THIẾT LẬP QUY HOẠCH Quảng Ninh có bờ biển dài 250 km, diện tích vùng biển trên 6.000 km2, có trên 43.000 ha rừng ngập mặn, chương bãi và bãi triều có điều kiện phát triển nuôi cá
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN THỦY SẢN
Quảng Ninh là một trong 7 tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Quảng Ninh và các tỉnh lân cận như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc và Bắc Ninh đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế của cả nước Quảng Ninh có vị trí địa lý chiến lược, kết nối Hà Nội và Hải Phòng với khu vực phía Nam Trung Quốc, tạo nền tảng thúc đẩy giao thương và thu hút đầu tư Thành phố Hạ Long cách thủ đô Hà Nội 150 km, cách sân bay Nội Bài 120 km và khoảng 80 km tới hệ thống cảng biển Hải Phòng và sân bay Cát Bi Dải bờ biển Quảng Ninh dài khoảng 250 km; biên giới trên đất liền và trên biển với Trung Quốc lần lượt là khoảng 120 km và 191 km Nơi đây có cửa khẩu quốc tế Móng Cái và ba khu kinh tế cửa khẩu, gồm Móng Cái, Hoành Mô và khu kinh tế cửa khẩu thứ ba.
Quảng Ninh với 4 cảng biển quan trọng (Cẩm Phả, Cái Lân, Hòn Gai, Vạn Gia) đã và đang biến tỉnh thành trung tâm trung chuyển hàng hóa xuất khẩu của miền Bắc, kết nối hiệu quả với thị trường quốc tế và đặc biệt là Trung Quốc, trong đó thủy sản là mặt hàng chủ lực Mô hình này mở ra cơ hội hợp tác kinh tế thủy sản sâu rộng với Trung Quốc – nước có sản lượng thủy sản lớn nhất thế giới – đồng thời khẳng định Quảng Ninh là tỉnh công nghiệp – dịch vụ, nơi dịch vụ và du lịch phát triển mạnh mẽ Đây là tiềm năng và lợi thế nổi trội, hình thành nền tảng cho ngành thủy sản trở thành lĩnh vực kinh tế trọng tâm, tạo thêm việc làm cho người lao động, mở rộng thị trường tiêu thụ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời góp phần bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia.
1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
Quảng Ninh là tỉnh miền núi - duyên hải, với hơn 80% diện tích đất đai là đồi núi Địa hình Quảng Ninh được chia thành các loại địa hình chính gồm địa hình quần đảo ven biển, vùng đồi núi, vùng trung du và đồng bằng ven biển.
Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triền sông và bờ biển Đó là vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Quảng Yên, nam Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái Vùng trung du và đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông nghiệp, thủy sản Địa hình quần đảo ven biển: Có trên hai nghìn hòn đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp, đã tạo ra nhiều vũng, vịnh, là điều kiện thuận lợi cho các loài thủy sinh vật trú ngụ và sinh sống; là nơi neo đậu tự nhiên để tránh, trú bão cho tàu thuyền khai thác hải sản; nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm năng phát triển thủy sản rất lớn
Quảng Ninh có khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa rõ rệt trong năm Nhiệt độ trung bình khoảng 21–23°C, lượng mưa bình quân khoảng 1.995 mm và độ ẩm trung bình từ 82–85% Mùa hè ở Quảng Ninh nóng ẩm và mưa nhiều, trong khi mùa đông lạnh và ít mưa Nhiệt độ và lượng mưa trung bình theo tháng trong năm được thể hiện như sau.
Hình 1: Nhiệt độ trung bình các tháng tại tỉnh Quảng Ninh
Hình 2: Lƣợng mƣa trung bình các tháng giai đoạn 2005 – 2015 tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh đón khoảng 1.433,6 giờ nắng mỗi năm, và lượng nắng tập trung nhiều từ tháng 5 đến tháng 12, trong khi tháng 3 và tháng 4 là thời điểm có số giờ nắng thấp nhất.
Lươ ̣ng mưa: Theo số liệu của 10 trạm quan trắc trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2005 – 2015 cho thấy lƣợng mƣa trung bình năm của tỉnh vào khoảng 1.926 mm/năm, biến động lƣợng mƣa giữa các trạm quan trắc trong địa bàn tỉnh tương đối lớn khoảng 1.749mm Mưa nhiều nhất tại Móng Cái với lượng mưa trung bình năm khoảng 3.174 mm; nơi có lƣợng mƣa ít nhất tại Bến Triều (huyện Đông Triều) với lƣợng mƣa trung bình năm là 1.176 mm Mƣa tại tỉnh Quảng Ninh phân bố không đều trong năm, phân hóa theo mùa tạo ra hai mùa: mùa mƣa và mùa khô Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Lƣợng mƣa thấp nhất là vào tháng 1 (lƣợng mƣa trung bình là 2,3 mm) Mùa mƣa thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 trong đótháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7 (420,3 mm) Vào mùa mƣa do lƣợng mƣa lớn, kéo dài trong nhiều ngày cộng với địa hình miền núi dốc, hệ thống sông, suối của tỉnh ngắn, nhỏ nên trên địa bàn tỉnh thường xảy ra lũ quét, sạt lở gây thiệt hại không nhỏ đến hoạt động sản xuất nông – lâm – ngƣ nghiệp của tỉnh Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình của tỉnh là 82-85%, cao nhất vào tháng 3 đạt tới 91%, thấp nhất vào tháng 12 đạt 74% Sự chênh lệch độ ẩm không khí phụ thuộc vào độ cao, địa hình và sự phân hóa theo mùa, mùa mƣa có độ ẩm không khí cao hơn mùa khô
Gió: Tỉnh Quảng Ninh có 2 loại gió thổi theo mùa chính là gió đông bắc và gió đông nam Gió đông bắc hoạt động từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Gió mùa đông bắc tràn về theo đợt, và thường lạnh, giá rét ảnh hưởng đến mùa màng, các hoạt động và sức khỏe của con người Gió đông nam hoạt động từ tháng 5 đến tháng 9, gió thổi từ vịnh vào mang theo nhiều hơi nước
Bão: Hàng năm, từ tháng 6 đến tháng 10, trong vùng Quảng Ninh thường có lốc, áp thấp nhiệt đới và bão đổ bộ Vùng biển Quảng Ninh mỗi năm trung bình chịu ảnh hưởng của 5 đến 6 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, thường xảy ra vào tháng 7, 8, 9 Các cơn bão này ngoài gây thiệt hại về người, tài sản ở vùng ven biển còn ảnh hưởng lớn đến hoạt động nuôi trồng, khai thác thuỷ sản
Biến đổi khí hậu và nước biển dâng sẽ có những tác động trái chiều đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh nói chung và ngành thủy sản nói riêng Theo Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu dự báo đến năm 2030 nhiệt độ trung bình ở Quảng Ninh có thể tăng thêm khoảng 0,7°C so với giai đoạn 1980–1999; đồng thời lượng mưa trung bình hàng năm có thể tăng khoảng 2,0% so với mức trung bình 1989–1999, nhưng phân bố mưa sẽ ngày càng tập trung vào mùa mưa và ít hơn vào mùa khô Do địa phương ít chịu ảnh hưởng của nước biển dâng so với cả nước, đến năm 2020 mực nước biển ở Quảng Ninh có thể tăng từ 7–8 cm và đến năm 2030 là 11–12 cm so với giai đoạn 1980–1999 Những biến đổi này có thể tạo ra những tác động trái chiều lên ngành thủy sản tỉnh Quảng Ninh.
Bảng 1: Kịch bản biến đổi khí hậu về nhiệt độ và lƣợng mƣa tỉnh Quảng Ninh
Trung bình XII - II III - V VI - VIII IX - XI
Mức tăng nhiệt độ ( 0 C) so với thời kỳ 1980 - 1999
Mức thay đổi lƣợng mƣa năm (%) so với thời kỳ 1980 -1999
Nguồn: Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, 2012 Đối với khai thác thủy sản: Sự thay đổi khí hậu có tác động đến các hệ sinh thái biển, làm biến động nguồn lợi thủy sản vì vậy làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cộng đồng ngƣ dân khai thác khu vực ven biển BĐKH làm cho số lượng các cơn bão tăng lên, với cường độ ngày càng mạnh, các đợt gió mùa Đông Bắc kéo dài và các hiện tượng thời tiết bất thường khác đã tác động đáng kể đến hoạt động khai thác thuỷ sản, gây thiệt hại về người và tàu cá hoạt động trên biển Đối với Nuôi trồng thủy sản: BĐKH gây ảnh hưởng đến nhiệt độ: Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng cho quá trình sinh trưởng và phát triển của sinh vật nói chung và các loài thủy sản nói riêng Mỗi loài có khoảng nhiệt độ thích ứng riêng Khả năng chống chịu của chúng nằm trong khoảng giới hạn nhất định Nhiệt độ nước trong các ao nuôi tăng lên do hiện tượng nắng nóng kéo dài, đã làm cho tôm, cá chết hàng loạt, đặc biệt nghiêm trọng đối với các ao hồ có độ sâu nhỏ Ngoài ra, thay đổi nhiệt độ tạo điều kiện phát sinh nhiều loại dịch bệnh
Độ mặn là yếu tố sống còn đối với nuôi trồng thủy sản mặn và lợ ở ven biển Khi xảy ra mưa lớn và lũ, độ mặn ở các ao nuôi có thể giảm đột ngột, khiến tôm cá sốc mặn, chết hàng loạt hoặc chậm lớn, từ đó làm giảm sản lượng và gây thiệt hại cho người nuôi Hiện tượng giảm đột ngột độ mặn này đặc biệt ảnh hưởng nghiêm trọng ở các vùng cửa sông và ven biển, nơi nước ngọt và nước mặn giao thoa và độ mặn biến động mạnh, tác động tiêu cực đến nghề nuôi trồng thủy sản mặn, lợ.
1.2.3 Sông ngòi và chế độ thuỷ văn
Quảng Ninh có tới 30 con sông, suối dài trên 10 km, phần lớn là các con sông nhỏ và diện tích lưu vực thường không quá 300 km2; trong số đó có 4 sông lớn ở hạ lưu Thái Bình, Ka Long, Tiên Yên và Ba Chẽ Bên cạnh đó, tỉnh còn 11 sông nhỏ có chiều dài 15–35 km, diện tích lưu vực thường nhỏ hơn 300 km2, phân bố dọc theo bờ biển, gồm Tràng Vinh, Hà Cối, Đầm Hà, Đồng Cái Xương, Hà Thanh, Đồng Mỏ, Mông Dương, Diễn Vọng, Man, Trới và Míp Tất cả các sông suối ở Quảng Ninh đều ngắn, nhỏ, có độ dốc lớn; lưu lượng và lưu tốc rất khác biệt giữa các mùa, mùa đông nước cạn, có chỗ trơ ghềnh đá, còn mùa hạ lại xuất hiện lũ thác, nước dâng lên rất nhanh Lưu lượng mùa khô khoảng 1,45 m3/s, mùa mưa lên tới 1500 m3/s, chênh nhau khoảng 1.000 lần.
Thủy triều khu vực Quảng Ninh thuộc chế độ nhật triều đều, phần lớn các ngày trong tháng có một lần nước lên và một lần nước xuống, còn số ngày còn lại có hai lần lên xuống trong một ngày Biên độ triều ở khu vực này thuộc loại lớn nhất nước ta, đạt từ 3,5–4,5 mét vào kỳ nước cường Việc nắm được đặc điểm thủy triều Quảng Ninh giúp lên kế hoạch cho hoạt động du lịch, vận tải và khai thác hải sản an toàn và hiệu quả.
1.2.4 Tài nguyên đất a Các nhóm đất chính Đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đƣợc chia thành 12 nhóm đất [25], diện tích, chất lƣợng thổ nhƣỡng gồm các nhóm đất chính nhƣ sau:
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN THỦY SẢN TỈNH QUẢNG NINH
2.1 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh
2.1.1 Dân số, lao động và việc làm
2.1.1.1 Về dân số và cơ cấu dân số
Theo số liệu thống kê tỉnh Quảng Ninh, năm 2015 toàn tỉnh có trên 1,23 triệu người, tỷ lệ tăng dân số bình quân trong giai đoạn 2010 – 2015 của tỉnh đạt 1,3%/năm Dân cƣ tập trung đông tại các thành phố, thị xã của tỉnh, tỷ lệ dân sống ở thành thị chiếm 61,4% tổng số dân toàn tỉnh, tại các vùng nông thôn
Quảng Ninh hiện có dân số tương đối cân bằng giới với nam chiếm 50,5% và nữ 49,5%, và sự di dân từ khu vực nông thôn ra thành thị diễn ra mạnh mẽ cho thấy kinh tế tỉnh đang có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên, xu hướng này đồng thời tiềm ẩn nhiều rủi ro về nguồn nhân lực cho phát triển nông, lâm nghiệp và thủy sản, đặc biệt là lao động trong khai thác thủy sản, có thể ảnh hưởng đến tính bền vững của các ngành kinh tế chủ lực trong thời gian tới.
Bảng 2: Hiện trạng dân số tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010-2015 Đvt: Nghìn người
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh 2010 - 2015, Cục thống kê Quảng Ninh
2.1.1.2 Về lao động, cơ cấu lao động và việc làm
Năm 2015, tổng số người trong độ tuổi lao động của tỉnh là 716,3 nghìn người, chiếm 58,1% tổng dân số toàn tỉnh Tốc độ tăng trưởng lao động bình quân của tỉnh giai đoạn 2010 – 2015 là 2,2%/năm Trong đó, tỷ lệ người thất nghiệp năm 2015 chiếm 1,18 % dân số Tỷ lệ thất nghiệp ở nữ giới (3,28%) cao hơn nam giới (2,48%) và ở thành thị (4,19%) cao hơn nông thôn (1,53%) [15]
Trong giai đoạn 2010 – 2015, cơ cấu lao động của tỉnh cho thấy khu vực nông, lâm, thủy sản có xu hướng tăng 2,4% mỗi năm, khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 1,4% mỗi năm và khu vực dịch vụ tăng 2,7% mỗi năm Nhìn chung, số lao động tham gia vào các lĩnh vực và thành phần kinh tế liên tục tăng qua các năm, cho thấy lao động ngày càng có xu hướng tham gia nhiều hơn vào khu vực dịch vụ Trong khi đó, lao động ở khu vực nông, lâm, thủy sản có xu hướng dần ổn định.
Bảng 3: Hiện trạng lao động tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010-2015 Đvt: nghìn người
TĐTT (%/Năm) Lao động toàn tỉnh 642,3 682,4 707,1 710,5 716,3 2,2
Nông, lâm và thủy sản 265,0 275,0 285,0 297,0 298,0 2,4 Công nghiệp-xây dựng 182,2 199,6 205,1 195,0 195,7 1,4
Nông, lâm và thủy sản 3,79 4,62 4,92 5,04 6,02 9,7 Công nghiệp - Xây dựng 13,93 15,2 15,85 16,26 17,98 5,2
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh 2010 - 2015, Cục thống kê Quảng Ninh
2.1.2 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Quảng Ninh là một tỉnh có vị trí quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh), đƣợc xem nhƣ một phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế ở phía Bắc Trong những năm vừa qua, Quảng Ninh đã có những bước tiến đáng kể trong việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế thoát khỏi sự phụ thuộc vào nông nghiệp và công nghiệp khai thác than, thay vào đó là phát triển các ngành dịch vụ Nhờ đó mà kinh tế toàn Tỉnh tăng trưởng với tốc độ cao trong nhiều năm qua Năm 2015, tổng giá trị GRDP của tỉnh ƣớc đạt 60.338 tỷ đồng, chiếm 2,1% tổng GDP cả nước Giai đoạn 2010 – 2015, tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh là 5,6%/năm.Trong đó, ngành dịch vụ đạt tốc độ cao nhất, bình quân đạt 6,8%/năm Tiếp đến là khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 5,7%/năm Khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 3,1%/năm
Năm 2015, dù thời tiết diễn biến phức tạp, ngành thủy sản tỉnh Quảng Ninh vẫn duy trì và phát triển theo hướng nuôi trồng tập trung các loại thủy sản cho hiệu quả kinh tế cao, kết hợp khai thác xa bờ và bảo vệ nguồn lợi thủy sản nhằm hướng tới phát triển bền vững Tổng giá trị sản phẩm ngành thủy sản tỉnh Quảng Ninh trong năm đạt 2,098 tỷ đồng, chiếm 3,5% tổng GRDP của tỉnh và 2,3% tổng giá trị sản phẩm thủy sản cả nước.
Bảng 4: Hiện trạng GRDP tỉnh Quảng Ninh qua các năm (theo giá SS: 2010) ĐVT: Tỷ đồng
Hạng mục Năm 2010 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 TĐTT
Tỷ trọng so với toàn tỉnh (%) 9,4 8,5 8,7 8,4 8,3
Hạng mục Năm 2010 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 TĐTT
Nguồn: Tính toán theo số liệu từ Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh 2010 -2015
Cơ cấu kinh tế của tỉnh đang từng bước chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng Dịch vụ – Du lịch, đồng thời duy trì phát triển ngành Công nghiệp – Xây dựng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và giảm dần tỷ trọng các ngành Nông - Lâm - Thủy sản Cụ thể, tỷ trọng nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 9,4% năm 2010 xuống 8,3% năm 2015; tỷ trọng Công nghiệp - Xây dựng có xu hướng giảm nhẹ từ 56,8% năm 2010 xuống 55,9% năm 2015; trong khi tỷ trọng ngành Dịch vụ tăng từ 33,8% năm 2010 lên 35,9% năm 2015.
2.1.3 Giáo dục, y tế, an ninh trật tự và đời sống của nhân dân trong tỉnh Quảng Ninh
Giáo dục Quảng Ninh đạt nhiều thành tựu nổi bật với tỷ lệ người biết đọc biết viết lên đến 96,8%, cao hơn mức trung bình cả nước 94,0% Mức tiếp cận giáo dục tiểu học và trung học được duy trì ở mức cao, trong khi hệ thống giáo dục bậc đại học cần được tỉnh đầu tư nhiều hơn để hỗ trợ tăng trưởng các ngành nông nghiệp, thủy sản, du lịch và chế biến, chế tạo chất lượng cao Hệ thống giáo dục và mạng lưới trường lớp của tỉnh đáp ứng đầy đủ các loại hình đào tạo, và Quảng Ninh tiếp tục duy trì quy mô cũng như nâng cao chất lượng giáo dục ở các ngành và cấp học để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
- Y tế: Tuổi thọ trung bình của người dân trong tỉnh là 73,6 tuổi, tương đối cao so với mặt bằng của các nước đang phát triển Nhìn chung, tiếp cận y tế đạt yêu cầu so với hiện trạng phát triển của tỉnh Quảng Ninh đang tiếp tục đầu tƣ nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế cho các cộng đồng ở khu vực miền núi và xa xôi hẻo lánh
An ninh, trật tự xã hội được đảm bảo nhờ công tác quốc phòng an ninh hiệu quả; tuy nhiên mặt trật tự an toàn xã hội vẫn còn nhiều vấn đề bức xúc cần được giải quyết như tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường và cảnh quan xuống cấp Những thách thức này tác động đến chất lượng cuộc sống và sự phát triển bền vững của địa phương Vì vậy, tăng cường phối hợp giữa các cấp, triển khai giải pháp phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả sẽ góp phần cải thiện an ninh, trật tự và tạo môi trường sống an toàn, văn minh cho người dân.
Quảng Ninh có hệ thống cung cấp điện nước ổn định, đảm bảo 97% người dân có điện và 92% dân được tiếp cận nước hợp vệ sinh, góp phần nâng cao chất lượng sống và phát triển kinh tế - xã hội địa phương Chính quyền địa phương đang nỗ lực cải thiện thêm khả năng tiếp cận dịch vụ tại vùng sâu vùng xa bằng các dự án như đưa điện lưới quốc gia về đảo Cô Tô và các xã đảo huyện Vân Đồn.
Hiện nay, tỉnh có 52,22 ha đất dành cho các cơ sở dịch vụ xã hội, bao gồm Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh tại phường Nam Khê, thành phố Uông Bí; Cơ sở giáo dục và dịch vụ xã hội thành phố Hạ Long; Trung tâm cai nghiện Hoành Bồ; và cơ sở nuôi dưỡng và chữa bệnh xã hội tại địa phương.
22 phường Minh Thành – thị xã Quảng Yên; Trong những năm qua, người già, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn thường xuyên được quan tâm giúp đỡ
Lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao của tỉnh phát triển đa dạng, đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng Văn hóa và văn học nghệ thuật được chăm lo và tiếp tục phát triển với nhiều tác phẩm có giá trị, làm giàu đời sống tinh thần, nâng cao thị hiếu thẩm mỹ và trình độ thưởng thức của công chúng Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được triển khai rộng rãi, tạo nền tảng cho sự gắn kết cộng đồng và phát triển văn hóa bền vững.
Những tiến triển ổn định ở giáo dục, y tế, an ninh trật tự và đời sống của người dân tỉnh Quảng Ninh đang được duy trì và ngày càng phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng của các ngành kinh tế địa phương và đặc biệt thúc đẩy ngành thủy sản Quảng Ninh.
2.2 Vị trí, vai trò của ngành thủy sản đối với kinh tế tỉnh Quảng Ninh
2.2.1 Đóng góp của ngành thủy sản vào GRDP và quá trình hội nhập kinh tế của tỉnh Quảng Ninh
Theo Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh, năm 2015 GRDP của ngành thủy sản đạt 2.089 tỷ đồng, tăng gấp 1,3 lần so với năm 2010, chiếm 3,5% tổng GRDP của tỉnh và 42% tổng giá trị GRDP khu vực nông, lâm, thủy sản.