MỞ ĐẦU PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Trong bối cảnh nước ta đang chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; đồng thời, xuất hiện những khó khăn, thách thức mới đan xen Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để các dân tộc trong nước cùng phát triển trong quá trình phân công lao động, sử dụng tài nguyên, tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại Bên cạnh đó, có thể phát sinh những tiêu cực tác động đến nhiều mặt trong đời sống của đồ.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nước ta đang chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; đồng thời, xuất hiện những khó khăn, thách thức mới đan xen Phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để các dân tộc trong nước cùng phát triển trong quá trình phân công lao động, sử dụng tài nguyên, tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại…Bên cạnh đó, có thể phát sinh những tiêu cực tác động đến nhiều mặt trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, đó là sự phân hóa giàu nghèo, đạo đức xã hội xuống cấp, bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc bị mai một, môi trường sinh thái đang bị xâm hại nghiêm trọng; các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng âm mưu “Diễn biến hòa bình”, chúng lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc chế độ, kích động, chống lại chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta
Hiện nay, cộng đồng quốc tế đã có những đánh giá tích cực về những thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế - xã hội (KT - XH), trong đó có các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo và dân tộc Quyền bình đẳng và sự đoàn kết, gắn bó giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam; sự phát triển, tiến bộ tích cực của các dân tộc thiểu số ở nước ta dưới con mắt của bạn bè quốc tế, đã thực sự là nhân tố quan trọng cho sự ổn định chính trị - xã hội (CT - XH) - tiền đề hết sức cần thiết để tăng cường hội nhập kinh tế thế giới, phát triển toàn diện đất nước
Xã Đức Liễu huyện Bù Đăng có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống Công tác dân tộc trong những năm qua tại đây đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận Để đánh giá, nhìn nhận lại việc thực hiện chính sách đối với người đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) xã Đức Liễu huyện Bù Đăng và từ đó có những giải pháp, kiến nghị để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác dân tộc tại xã Tôi quyết định chọn đề
Trang 2tài “Công tác dân tộc tại xã Đức Liễu huyện Bù Đăng - Thực trạng và giải pháp” làm bài thu hoạch thực tế cuối khóa.
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Công tác dân tộc
- Phạm vi: xã Đức Liễu huyện Bù Đăng (năm 2019)
3 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với những nội dung cơ bản là: "Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển"
Đặc biệt là thời kỳ đổi mới, vấn đề dân tộc ở nước ta cùng với các vấn đề về đoàn kết các dân tộc và công tác dân tộc ngày càng được Ðảng ta xác định, bổ sung
và khẳng định toàn diện, đầy đủ hơn và thể hiện trong từng văn kiện của Đảng, nhằm định hướng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc Đại hội lần thứ VI của Đảng – Đại hội chính thức mở đầu công cuộc đổi mới – đã đặt ra nhiều vấn đề đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc và
đề ra một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi (Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 27/11/1989) Đại hội lần thứ VIII của Đảng khẳng định:
"Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược" Đại hội lần thứ IX của Đảng một lần nữa khẳng định lại và phát triển thêm: "Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng” Đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khóa IX) đã ra Nghị quyết riêng về Công tác dân tộc, trong đó nhấn
mạnh: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài,
đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam" Sau 20 năm
thực hiện công cuộc đổi mới, Đại hội lần thứ X của Đảng một lần nữa khẳng định:
Trang 3“Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự
nghiệp cách mạng nước ta”.
Tại Đại hội lần thứ XI, Đảng ta kế thừa các quan điểm, đường lối của các Đại hội trước đó, tiếp tục thể hiện tư tưởng kiên trì, nhất quán; “Đoàn kết các dân tộc
có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội vùng dân tộc thiểu số Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc"
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã tiếp tục bổ sung, phát triển chủ trương đường lối về dân tộc và chính sách dân tộc: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây nam Bộ và Tây duyên hải miền Trung Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc"
Trang 4Cùng với việc triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng DTTS, trong giai đoạn từ 2003 đến nay tiếp tục thực hiện 5 Chỉ thị và các Kết luận của Ban Bí thư về công tác đổi mới đối với một số dân tộc: Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 23/9/1994 của Ban Bí thư về một số công tác ở vùng dân tộc Mông; Thông tri số 03/TT-TW ngày 17/10/1991 của Ban Bí thư về công tác ở vùng đồng bào Chăm; Chỉ thị số 68/CT-TW ngày 18/4/1991 và hiện nay là Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10/01/2018 của Ban Bí thư về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tình hình mới; Chỉ thị số 62-CT/TW ngày 08/11/1995 của Ban Bí thư
về việc “Tăng cường công tác người Hoa trong tình hình mới”
Như vậy có thể thấy, giai đoạn từ 2003 đến 2019, chủ trương, đường lối về công tác dân tộc, chính sách dân tộc được Ban Chấp hành trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đặc biệt quan tâm và ban hành bằng những văn bản cụ thể, làm cơ
sở cho Nhà nước thể chế hóa thành chính sách dân tộc Điểm đổi mới quan trọng nhất trong giai đoạn này là sự bổ sung, phát triển đường lối, quan điểm về vấn đề dân tộc trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, trong đó, đáng chú ý là: (i) Thay đổi trật tự các từ thể hiện quan điểm, từ “bình đẳng, đoàn kết, thương yêu,
tôn trọng ” của Đại hội XI thành “bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết ” ; (ii) Bổ sung
thêm quan điểm “giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc "; (iii) phát triển
quan điểm "giúp nhau cùng tiến bộ " thành "giúp nhau cùng phát triển "; (iv) Bổ sung thêm địa bàn trọng điểm vùng có đông đồng bào DTTS "Tây duyên hải miền
Trung”, ngoài 3 khu vực là Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ như Đại hội XI xác
định; (v) bổ sung, phát triển "Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, chất lượng
nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc".
Trang 5PHẦN NỘI DUNG Thực trạng công tác dân tộc tại xã Đức Liễu trong thời gian qua (2019)
1 Khái quát về xã Đức Liễu
- Xã Đức Liễu nằm ở phía Tây Nam huyện Bù Đăng, giáp các xã Minh Hưng, Nghĩa Bình, Thống Nhất, Phước Sơn, huyện Bù Đăng và xã Phước Tân, huyện Phú Riềng Diện tích tự nhiên là 8.740,29 ha, thổ nhưỡng chủ yếu là đất đỏ Bazan rất phù hợp cho trồng nhiều loại cây lâu năm có giá trị thu nhập cao: Như Điều, Cà phê, tiêu, Cao su, trồng rừng, cây ăn trái, cây Ca cao và các cây công nghiệp ngắn ngày như mì, mía, đậu… Dân số trên địa bàn xã tính đến tháng 10/2017 có 3.024 hộ; 12.971 nhân khẩu
- Đức Liễu có đường giao thông chính quốc lộ 14 đi qua Đây là một trong những tuyến đường quan trọng nối liền các tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh Nam Bộ
Xã có đường ĐT 750 đi qua huyện Bù Gia Mập, nằm gần trung tâm huyện và cách trung tâm hành chính thị xã Đồng Xoài 30 km, cách thị trấn Đức Phong về phía Bắc 19 km Là cửa ngõ giao thương của Trung tâm kinh tế - văn hóa - xã hội, tập trung hàng hoá nông sản, dịch vụ phát triển có nhiều điều kiện để tiếp thu và hưởng thụ những sản phẩm của khoa học công nghệ để vận dụng vào sản xuất, chăn nuôi, phát triển các ngành dịch vụ tăng nhanh thu nhập cho người dân
Trang 6- Xã có 11% là đồng bào dân tộc thiểu số với 16 dân tộc anh em chung sống; mặt bằng dân trí nhìn chung còn thấp, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, kết cấu hạ tầng chưa cao; thời tiết trong những năm qua diễn biến phức tạp làm dịch bệnh, mất mùa điều thường xảy ra; giá cả các mặt hàng nông sản chủ lực của địa phương như như Cà phê, Cao su giảm, không ổn định cùng với tình trạng được mùa mất giá và tác động tiêu cực do suy thoái kinh tế của nền kinh tế thị trường trên thế giới và trong khu vực đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống nhân dân, dẫn đến việc đóng góp của nhân dân để xây dựng chương trình Nông thôn mới còn hạn chế.2 Thực trạng chính sách đối với người đồng bào dân tộc thiểu số
2.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân
2.1.1 Một số kết quả đạt được
- Tình hình đời sống kinh tế của đại bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã có xu hướng phát triển ổn định, cuộc sống vật chất, tinh thần từng bước được nâng lên Song do thời tiết năm nay thất thường đã làm ảnh hưởng đến cây trồng như cây điều bị mất mùa nên đồng bào dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn
Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 4%, tỷ lệ hộ cận nghèo chiếm 1,7%
- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tương đối ổn định, bà con đồng bào dân tộc yên tâm lao động, sản xuất
và đón một mùa Xuân Mậu Tuất trong không khí vui tươi, lành mạnh, an toàn và tiết kiệm Nhìn chung bà con chấp hành và thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà Nước
- Về triển khai thực hiện Chỉ thị số 07 của UBND tỉnh: UBND xã đã chỉ đạo các ngành chuyên môn phối hợp với các Hội, đoàn thể trên địa bàn tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người dân hiểu rõ về những ảnh hưởng xấu của việc bán điều non, cầm cố đất, vay tiền lãi suất cao làm ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình phát triển kinh tế gia đình nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội, anh ninh –
Trang 7quốc phòng trên địa bàn xã nói chung Đồng thời, tăng cường công tác quản lý về đất đai, về nhân hộ khẩu và an ninh trật tự trên địa bàn, thống kê lập danh sách và
có biện pháp giáo dục các đối tượng môi giới, cho vay nặng lãi trên đại bàn Nắm chắc tình hình các hộ dân bán điều non, cầm cố, bán đất sản xuất, đất ở để có phương án xử lý kịp thời Năm 2019 trên địa bàn xã chưa phát hiện ra hộ nào bán điều non, cầm cố đất, bán đất sản xuất, vay lãi suất cao trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số
- Về y tế: Mở rộng tới các ấp, mỗi ấp đều có y tế thôn bản, trên dịa bàn xã có
1 trạm y tế, có các trang thiết bị phục vụ cho công tác khám chữa bệnh Cán bộ làm công tác kế hoạch hóa gia đình thường xuyên phối hợp với các ấp tuyên truyền cho người dân nên tỷ lệ sinh con thứ 3 cũng giảm dần
Công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc được các cấp ngành quan tâm cấp 2751 thẻ BHYT miễn phí cho người đồng bào dân tộc thiểu số trên toàn xã
và Nam Đô được cấp 485 thẻ BHYT thuộc diện vùng kinh tế đặc biệt khó khăn
- Việc phát triển sản xuất, đẩy nhanh công tác xóa đói giảm nghèo vùng đồng
bào dân tộc thiểu số Kết quả thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế; hỗ trợ phát
triển sản xuất, phát triển ngành nghề:Tổ chức được 28 lớp tập huấn về trồng trọt và chăn nuôi, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho bà con nhân dân với 1250 lượt người tham dự Mở lớp hướng dẫn mở lớp dạy cạo mũ cao su cho các thanh niên trong độ tuổi lao động được 02 lớp
- Kết quả thực hiện các chính sách an sinh xã hội; công tác giảm nghèo vùng DTTS: Chính sách an sinh xã hội: UBND xã phối hợp với các ban ngành đoàn thể,
tổ chức vận động toàn dân cùng với Đảng, chính quyền địa phương góp phần chăm lo đời sống các gia đình chính sách bằng những việc làm cụ thể: Vận động các tổ chức, cá nhân tặng quà cho hộ nghèo, hội cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã
Trang 8hội và các đối tượng khác được tổng trị giá 250 triệu đồng Trong năm 2019 các ban ngành đoàn thể các cấp đã hỗ trợ xây trên 04 căn nhà tình thương, Đại đoàn kết cho hộ nghèo là người ĐBDTTS, giá trị hỗ trợ từ 40 triệu đến 60 triệu
2.1.2 Nguyên nhân của những kết quả
- Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời cấp trên và trực tiếp là của Đảng ủy, HĐND, UBND xã; các tổ chức, đoàn thể trong quá trình thực hiện cũng như quá trình kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách đối với người đồng bào dân tộc thiểu số
- Cán bộ làm công tác dân tộc, tôn giáo đã chủ động phối hợp với các ban ngành, đoàn thể liên quan, kịp thời tham mưu UBND xã triển khai thực hiện các chương trình, chính sách cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, người có đạo trên địa bàn xã
- Nhận thức của đồng bào dân tộc ngày càng được nâng lên Từ những hỗ trợ của chương trình 134, 135 các hộ đồng bào DTTS đã biết sử dụng đúng mục đích
và có hiệu quả vào việc phát triển sản xuất Nhờ đó, đời sống vật chất của các hộ dân đồng bào DTTS trên địa bàn xã từng bước cải thiện và không ngừng nâng cao Đồng bào các dân tộc thiểu số luôn phát huy truyền thống xây dựng tình đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội ở địa phương
2.2 Những hạn chế và nguyên nhân
2.2.1 Những hạn chế, bất cập
- Công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch, trình tự, thủ tục đầu tư xây dựng
cơ bản còn nhiều bất cập, mất nhiều thời gian Trình độ năng lực một số cán bộ còn hạn chế, từ đó làm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai thi công các công trình và công tác giải ngân thanh quyết toán chậm, kéo dài
- Có nhiều chương trình dự án đầu tư cho vùng đồng bào DTTS thời gian từ khi phê duyệt đối tượng được thụ hưởng đến khi thụ hưởng còn dài
Trang 9- Tỷ lệ hộ nghèo là người DTTS còn cao.
- Do thiếu việc làm, các hộ đồng bào DTTS chủ yếu đi làm thuê, làm mướn nên nguồn thu nhập thấp và bấp bênh vì vậy tỷ lệ hộ nghèo là đồng bào
2.2.2 Nguyên nhân của hạn chế
- Công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, mục đích, ý nghĩa của việc thực hiện chương trình 135 chưa đạt kết quả cao, nhận thức của người dân
và một bộ phận cán bộ chưa được nâng cao, ý thức cộng đồng tham gia xây dựng, quản lý, sử dụng công trình còn nhiều hạn chế, còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự
hỗ trợ của Nhà nước
- Đặc thù xã Đức Liễu là xã khó khăn, đồng bào DTTS thiếu vốn sản xuất, kiến thức còn hạn chế, trong khi đó chất lượng đội ngũ cán bộ còn nhiều bất cập Trình độ chuyên môn, năng lực tổ chức thực hiện của bộ phận cán bộ cấp xã còn yếu Hiệu quả hoạt động của Ban giám sát xã còn hạn chế, chưa phân biệt rõ của sự giám sát cộng đồng và giám sát chuyên ngành, trình độ và năng lực cán bộ giám sát chưa đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra
- Tình trạng lạm phát, giá cả vật tư tăng, nên mức độ vốn đầu tư không đảm bảo đủ để thực hiện các công trình, dự án đã đề ra
- Phần lớn đồng bào DTTS có trình độ văn hóa thấp Tâm lý ỷ lại, trông chờ vào chính sách, hỗ trợ từ nhà nước và lòng hảo tâm của các tổ chức, cá nhân
3 Một số giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách đối với người đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Đức Liễu huyện Bù Đăng trong thời gian tới
3.1 Một số giải pháp
Một là, tiếp tục tăng cường phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước; đặc biệt là các chính sách an sinh xã hội liên quan đến dân tộc thiểu số, nhằm đưa chính sách pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống; đồng thời, nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật Tuyên
Trang 10truyền, vận động con em đồng bào dân tộc thiểu số tham gia công tác phổ cập giáo dục chống mù chữ tại địa phương Tăng cường làm tốt hơn công tác quản lý về dân tộc, tôn giáo, xử lý và giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh liên quan
Hai là, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xây dựng nông thôn mới.
Tập trung triển khai xây dựng nhanh các công trình trọng điểm Tiếp tục đầu tư tạo
cơ hội cho nông dân, nhất là những nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số chuyển đổi cơ cấu sản xuất, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi, thúc đẩy phát triển sản xuất
để tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích và tăng giá trị thu nhập cho người lao động Quy hoạch và đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, thuỷ lợi phục
vụ nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm Xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp, nông hộ hoàn chỉnh, mô hình sản xuất, kinh doanh tổng hợp để nhân rộng Tăng cường trang bị kiến thức cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo biết lập kế hoạch sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm; đồng thời,
có chính sách phát huy khả năng và tiềm năng về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản
lý của một số dân tộc có trình đọ phát triển cao hơn
Ba là, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách dân tộc và
đồng bào, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, cụ thể: dự án hỗ trợ cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số; tập trung chỉ đạo giải quyết cơ bản về điện, nước sinh hoạt theo chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; thực hiện tốt chính sách tín dụng đối với người nghèo, trong đó quan tâm hôn đồng bào dân tộc thiểu
số nghèo có mã số, tạo điều kiện giúp đồng bào dân tộc nghèo có nhu cầu được vay vốn tín dụng kịp thời
Bốn là, phát huy tiềm năng và lợi thế của từng vùng đồng bào, dân tộc Phát
triển đa dạng các mô hình kinh tế hộ gia đình theo hướng phát triển hàng hoá xuất khẩu; có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp đầu tư vào vùng dân tộc thiểu số; hỗ