1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam ( agribank)

92 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (13)
    • 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (13)
    • 1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI (14)
      • 1.2.1. Mục tiêu tổng quát (14)
      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (14)
    • 1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU (14)
    • 1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU (15)
      • 1.4.1. Đối tượng nghiên cứu (15)
      • 1.4.2. Phạm vi nghiên cứu (15)
    • 1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (15)
      • 1.5.1. Lựa chọn phương pháp (15)
      • 1.5.2. Mô hình nghiên cứu (16)
    • 1.6. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI (17)
    • 1.7. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU (17)
      • 1.7.1. Nghiên cứu nước ngoài (17)
      • 1.7.2. Nghiên cứu trong nước (18)
      • 1.7.3. Khe hở cần nghiên cứu tiếp (19)
  • CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY CỦA ngân hàng thương mại ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (22)
    • 2.1.1. Các khái niệm (22)
    • 2.1.2. Quy chế cho vay của ngân hàng thương mại (23)
    • 2.2. CƠ SỞ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (26)
      • 2.2.1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa (26)
      • 2.2.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa ảnh hưởng đến hoạt động vay vốn ngân hàng (27)
      • 2.2.3. Chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (28)
    • 2.3. PHÁT TRIỂN CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI (32)
      • 2.3.1. Quan điểm về phát triển cho vay của ngân hàng thương mại (32)
      • 2.3.2. Chỉ tiêu đánh giá phát triển cho vay của ngân hàng thương mại đối với (33)
      • 2.3.3. Các yếu tố tác động đến phát triển cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (37)
    • 2.4. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ HỖ TRỢ TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (39)
      • 2.4.1. Tổng quan quốc tế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (39)
      • 2.4.2. Kinh nghiệm của một số quốc gia hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (41)
      • 2.4.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam (44)
  • CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI DNNVV TẠI (46)
    • 3.1. TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CỦA AGRIBANK CHI NHÁNH 7 (46)
      • 3.1.1. Tổ chức và mạng lưới (46)
      • 3.1.2. Tình hình nhân sự (47)
      • 3.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh (47)
    • 3.2. CHO VAY VÀ PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (56)
      • 3.2.1. Quy mô và cơ cấu khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (56)
      • 3.2.3. Doanh số giải ngân, thu nợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (59)
      • 3.2.4. Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (61)
      • 3.2.5. Thu nhập lãi ròng (62)
      • 3.2.6. Đánh giá thực trạng phát triển cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa . 50 CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ (62)
    • 4.1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA AGRIBANK GIAI ĐOẠN 2021 – 2025 (70)
      • 4.1.1. Mục tiêu chiến lược đến 2025 (70)
      • 4.1.2. Nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp chủ yếu (70)
      • 4.1.3. Định hướng hoạt động của Agribank Chi nhánh 7 (71)
    • 4.2. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH 7 (72)
      • 4.2.1. NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU (72)
      • 4.2.2. NHÓM GIẢI PHÁP HỖ TRỢ (75)
    • 4.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HỖ TRỢ GIẢI PHÁP (78)
      • 4.3.1. Kiến nghị đối với Chính phủ (78)
      • 4.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước (82)
      • 4.3.3. Kiến nghị đối với Agribank (83)
      • 4.3.4. Kiến nghị đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (84)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH PHAN HOÀNG HẢI PHÁT TRIỂN CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM (AGRIBANK) CHI NHÁNH 7 LUẬN VĂN THẠC SỸ TP Hồ Chí Minh 2021 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH PHAN HOÀNG HẢI PHÁT TRIỂN CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM (AGRIBANK).

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY CỦA ngân hàng thương mại ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

Các khái niệm

Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình ngân hàng được thực hiện đầy đủ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác dựa trên giấy phép hoạt động nhằm mục tiêu lợi nhuận Theo Luật các TCTD (2010), NHTM hoạt động trong phạm vi được cấp phép và chịu trách nhiệm huy động vốn, cho vay, thanh toán và cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và nền kinh tế.

Hoạt động ngân hàng là hình thức kinh doanh cung cấp thường xuyên một tập hợp nghiệp vụ ngân hàng cơ bản, như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản, nhằm kết nối nguồn vốn giữa người gửi tiền, người vay và các tổ chức kinh tế, đồng thời đảm bảo thanh toán và lưu thông dòng tiền trong nền kinh tế.

Nhận tiền gửi là hoạt động của tổ chức, cá nhân nhằm tiếp nhận tiền ở các hình thức như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu và tín phiếu, cùng các hình thức nhận tiền gửi khác, với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ gốc và lãi cho người gửi theo thỏa thuận.

Cấp tín dụng là hoạt động thỏa thuận giữa tổ chức, cá nhân và bên cho vay để người dùng có thể sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả Các hình thức cấp tín dụng phổ biến gồm cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác Mục đích của cấp tín dụng là đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng đồng thời đảm bảo sự hoàn trả đầy đủ và đúng hạn theo các điều kiện đã thỏa thuận.

Cung ứng dịch vụ thanh toán là hoạt động cung cấp các phương tiện thanh toán và thực hiện các giao dịch thanh toán cho khách hàng thông qua tài khoản của chính họ Điều này giúp khách hàng có thể tiếp cận và sử dụng các phương thức thanh toán hiện đại một cách nhanh chóng, an toàn và thuận tiện, đồng thời đảm bảo tính bảo mật của thông tin thanh toán trên nền tảng liên kết với tài khoản cá nhân Mục tiêu của dịch vụ là tối ưu trải nghiệm thanh toán, nâng cao độ tin cậy của giao dịch và hỗ trợ khách hàng thực hiện các thanh toán một cách hiệu quả qua nền tảng tài khoản của họ.

Trong nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTM thì nghiệp vụ cho vay đóng vai trò chủ chốt, đưa lại doanh thu và lợi nhuận nhiều nhất cho NHTM

Cho vay là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại (NHTM), theo đó NHTM trao hoặc cam kết trao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định theo thỏa thuận, với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi, được quy định tại Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.

Quy chế cho vay của ngân hàng thương mại

(1) Hoạt động cho vay của NHTM đối với khách hàng được thực hiện theo thoả thuận giữa NHTM và khách hàng

(2) Khách hàng phải sử dụng vốn vay đúng mục đích; hoàn trả vốn vay cả gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn đã cam kết

Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại phải tuân thủ đầy đủ pháp luật và phù hợp với các chính sách của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; từ đó, điều kiện vay vốn được xây dựng rõ ràng, minh bạch và công bằng, đảm bảo an toàn tài chính, giảm thiểu rủi ro và tạo điều kiện tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và cá nhân nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

NHTM xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng đáp ứng các điều kiện sau:

(1) Khách hàng có năng lực pháp luật (pháp nhân) hoặc năng lực dân sự (cá nhân), có nhu cầu vốn sử dụng vào mục đích hợp pháp

(2) Khách hàng có dự án hoặc phương án sử dụng vốn khả thi

(3) Khách hàng có khả năng tài chính để trả nợ

(4) NHTM không cho vay đối với các nhu cầu vốn mà NHNN quy định không được cho vay

Căn cứ vào thời hạn cấp tín dụng, nghiệp vụ cho vay của NHTM được chia làm ba loại:

(1) Cho vay ngắn hạn: các khoản cho vay có thời hạn tối đa 01 năm

(2) Cho vay trung hạn: các khoản cho vay có thời hạn trên 01 năm và tối đa 05 năm

(3) Cho vay dài hạn: các khoản cho vay có thời hạn trên 05 năm

Phương thức cho vay là một trong những nội dung cốt lõi của nghiệp vụ ngân hàng thương mại, được thực hiện theo nhiều hình thức đa dạng như cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay hợp vốn, cho vay quay vòng, cho vay tuần hoàn và cho vay lưu vụ đối với doanh nghiệp nông nghiệp.

Hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại được phân loại theo loại hình khách hàng, gồm cho vay đối với khách hàng cá nhân và cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp; trong đó khách hàng doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).

Căn cứ vào tiềm ẩn rủi ro của khoản vay, dư nợ cho vay của NHTM được phân thành 5 nhóm nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 nhằm mục đích áp dụng các biện pháp phòng ngừa và xử lý rủi ro phù hợp NHTM dựa vào các tiêu chuẩn định lượng và định tính để đánh giá mức độ rủi ro của các khoản vay, từ đó phân loại nợ và cam kết ngoại bảng vào các nhóm nợ thích hợp.

(1) Nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn): Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro là 0%

(2) Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý): Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro là 5%

(3) Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn): Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro là 20%

(4) Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ): Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro là 50%

(5) Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn): Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro là 100%

Trong 5 nhóm nợ nói trên thì nợ thuộc nhóm 2 đến nhóm 5 là nợ quá hạn, nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 được gọi là nợ xấu Tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng cho vay của NHTM

Việc phân loại nợ và trích lập dự phòng của các NHTM trong giai đoạn 2017-

Trong năm 2020, việc áp dụng được thực hiện theo các văn bản Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, Thông tư 02/2013/TT-NHNN và Thông tư 09/2014/TT-NHNN sửa đổi một số điều của Thông tư 02/2013/TT-NHNN Từ ngày 01/10/2021, Thông tư 02/2013/TT-NHNN đã được thay thế bởi Thông tư 11/2021/TT-NHNN.

Xét theo mục đích sử dụng vốn vay, cho vay của NHTM được phân thành hai loại chính: cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh và cho vay phục vụ đời sống Đối với khách hàng doanh nghiệp, NHTM chỉ cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh nhằm hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh và tăng trưởng của doanh nghiệp.

Mức cho vay, lãi suất cho vay và phí cho vay: Mức cho vay do NHTM căn cứ vào phương án sử dụng vốn, khả năng tài chính của khách hàng, khả năng nguồn vốn của ngân hàng và các giới hạn cấp tín dụng để xem xét, quyết định mức cho vay cụ thể.

Lãi suất cho vay được xác định hằng năm dựa trên lãi suất tính trên năm và căn cứ vào quan hệ cung cầu vốn trên thị trường cùng với mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp NHNN có quy định khác Ngân hàng thương mại (NHTM) và khách hàng vay vốn thỏa thuận về mức lãi suất và có thể áp dụng hình thức lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi tùy từng sản phẩm, điều kiện vay vốn và chính sách của từng ngân hàng.

Phí cho vay gồm các loại phí liên quan đến hoạt động cho vay như phí trả nợ trước hạn, phí cam kết rút vốn và phí cho vay hạn mức tín dụng dự phòng; các khoản phí này do NHTM công bố công khai và minh bạch để người vay nắm rõ chi phí thực tế và dễ dàng so sánh giữa các sản phẩm vay.

Biện pháp bảo đảm tiền vay

Việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP của Chính phủ về giao dịch bảo đảm Ngân hàng thương mại (NHTM) có thể áp dụng hai biện pháp bảo đảm tiền vay là bảo đảm tiền vay bằng tín chấp và bảo đảm tiền vay bằng tài sản thông qua thế chấp, cầm cố tài sản; đặt cọc, ký cược, ký quỹ; bảo lãnh của bên thứ ba Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tín chấp chỉ áp dụng đối với bên đi vay là cá nhân, hộ gia đình nghèo theo chuẩn nghèo áp dụng trong từng thời kỳ Như vậy, đối với khách hàng doanh nghiệp, nếu NHTM áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay thì sẽ áp dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản.

Tài sản bảo đảm tiền vay là các tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai mà pháp luật cho phép giao dịch; các tài sản hình thành trong tương lai gồm các trường hợp: tài sản hình thành từ vốn vay, tài sản đang ở giai đoạn hình thành hoặc được tạo lập hợp pháp tại thời điểm ký kết giao dịch bảo đảm, và tài sản đã hình thành thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu nhưng sau thời điểm ký kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật.

CƠ SỞ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

2.2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa

Việc xác định DNNVV (Doanh nghiệp nhỏ và vừa) trên phạm vi toàn cầu, dù không có chuẩn hóa hoàn toàn giữa các quốc gia, phổ biến dựa trên ba tiêu chí cơ bản: quy mô lao động, quy mô vốn và quy mô doanh thu Ba yếu tố này giúp phân loại doanh nghiệp một cách nhất quán, hỗ trợ so sánh giữa các nền kinh tế và tạo nền tảng cho chính sách hỗ trợ, quản trị rủi ro và đánh giá môi trường kinh doanh cho DNNVV ở nhiều quốc gia.

Theo Luật hỗ trợ DNNVV năm 2017, DNNVV bao gồm các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân không quá 200 người Để được công nhận DNNVV, doanh nghiệp phải đáp ứng một trong hai tiêu chí về quy mô tài chính: tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 100 tỷ đồng.

Nghị định 38/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định rõ các tiêu chí phân loại doanh nghiệp thành siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo từng lĩnh vực hoạt động, nhằm xác định điều kiện nhận hỗ trợ và các chương trình ưu đãi phù hợp với quy mô và đặc thù hoạt động của từng doanh nghiệp; nội dung chi tiết được trình bày ở trang kế tiếp.

Bảng 2.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa

Để xác định quy mô doanh nghiệp theo tiêu chí liên quan đến bảo hiểm xã hội (BHXH), có ba ngưỡng chính: (1) số lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 10 người, tổng nguồn vốn ≤ 3 tỷ đồng và tổng doanh thu năm ≤ 3 tỷ đồng; (2) số lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 100 người, tổng nguồn vốn ≤ 20 tỷ đồng và tổng doanh thu năm ≤ 20 tỷ đồng; (3) số lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 200 người, tổng nguồn vốn ≤ 100 tỷ đồng và tổng doanh thu năm ≤ 200 tỷ đồng.

Khung đánh giá quy mô doanh nghiệp dựa trên ba chỉ tiêu: số lao động tham gia BHXH bình quân năm, tổng nguồn vốn và tổng doanh thu Với số lao động tham gia BHXH bình quân năm tối đa 10 người cho mức nhỏ, tối đa 100 người cho mức vừa, và tối đa 200 người cho mức lớn Tương ứng, tổng nguồn vốn tối đa là 3 tỷ đồng ở mức nhỏ, 20 tỷ đồng ở mức vừa, và 100 tỷ đồng ở mức lớn Tổng doanh thu hàng năm cũng được chia thành tối đa 3 tỷ đồng (nhỏ), tối đa 20 tỷ đồng (vừa), và tối đa 200 tỷ đồng (lớn) Những ngưỡng này giúp nhận diện quy mô doanh nghiệp và xác định điều kiện, thủ tục liên quan đến BHXH và quản lý tài chính.

Trong năm, doanh nghiệp được phân loại theo số lao động tham gia BHXH bình quân và có ba mức hạn mức tương ứng về nguồn vốn và doanh thu: tối đa 10 người tham gia BHXH, tối đa 50 người, hoặc tối đa 100 người Tương ứng với từng mức này, tổng nguồn vốn giới hạn lần lượt là ≤ 3 tỷ đồng, ≤ 50 tỷ đồng và ≤ 100 tỷ đồng; đồng thời tổng doanh thu năm giới hạn lần lượt là ≤ 10 tỷ đồng, ≤ 100 tỷ đồng và ≤ 300 tỷ đồng.

(Nguồn: Theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP)

2.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa ảnh hưởng đến hoạt động vay vốn ngân hàng

Thứ nhất, do quy mô vốn chủ sở hữu hạn chế nên DNNVV phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn huy động bên ngoài để mở rộng hoạt động kinh doanh, trong đó nguồn vốn vay ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn Tuy nhiên, việc tiếp cận vốn vay ngân hàng của DNNVV thường đối mặt với rào cản về năng lực tài chính và năng lực đảm bảo tài sản còn hạn chế.

Nhìn chung, các DNNVV, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, có tính năng động và linh hoạt cao trong phát triển sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng yêu cầu của thị trường Vì vậy, đây là thị trường tiềm năng cho hoạt động mở rộng cho vay của các ngân hàng thương mại (NHTM).

Theo Luật Doanh nghiệp 2015 và các văn bản liên quan, thủ tục và điều kiện thành lập DNNVV dưới các mô hình như doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH hoặc công ty cổ phần, không phải là công ty đại chúng, vẫn khá đơn giản Vì vậy, hàng năm có hàng trăm nghìn DNNVV được thành lập mới Ví dụ, năm 2020 có 133.205 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 100 tỷ được thành lập, được ghi nhận trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Đây là thị phần tiềm năng lớn để các ngân hàng thương mại mở rộng quy mô cho vay.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thành lập mới rất nhanh do điều kiện thành lập đơn giản, nhưng rút khỏi thị trường lại khá nhanh vì khó duy trì hoạt động kinh doanh Ví dụ, năm 2020 có 101.719 doanh nghiệp bị giải thể, phần lớn thuộc DNNVV (theo Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp) Nhìn chung, vòng đời hoạt động ngắn và lịch sử vay vốn ngân hàng của DNNVV cũng ngắn khiến họ gặp khó khăn trong tiếp cận vốn vay từ các ngân hàng thương mại (NHTM).

Thứ năm, các DNNVV còn hạn chế về năng lực và kinh nghiệm quản trị tài chính, đặc biệt là khả năng xây dựng và quản trị tài chính cho các dự án đầu tư và phương án kinh doanh Những hạn chế này là một trong những nguyên nhân chính gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại trong quá trình xem xét, thẩm định và quyết định cho vay.

2.2.3 Chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Việc tạo thuận lợi cho sự phát triển của DNNVV đang được xem là quan điểm chung của nhiều quốc gia trên thế giới Các nước đang dần chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang hỗ trợ gián tiếp cho DNNVV nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, tăng cường tiếp cận tài chính và tín dụng, đồng thời nâng cao năng lực công nghệ và quản trị Chính sách cũng chú trọng xúc tiến mở rộng thị trường, cung cấp thông tin và tư vấn, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, cũng như hỗ trợ khởi nghiệp và phát triển sáng tạo.

Trong nỗ lực hỗ trợ tiếp cận tài chính cho DNNVV, tín dụng được xem là biện pháp chủ lực Các mô hình phổ biến gồm quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV, quỹ phát triển DNNVV và các chương trình dự án hỗ trợ tín dụng khác Ở Việt Nam, chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với DNNVV ngày càng được hoàn thiện theo hướng pháp lý hoá Từ ngày 07/01/2018, chính sách hỗ trợ của Nhà nước dành cho DNNVV được điều chỉnh bởi Luật hỗ trợ DNNVV số 04/2017/QH14 Theo luật này, chính sách hỗ trợ vốn tín dụng cho DNNVV được triển khai đồng thời qua ba kênh: Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV, Quỹ phát triển DNNVV và thực hiện chính sách hỗ trợ tín dụng từ hệ thống ngân hàng.

Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV là một tổ chức tài chính nhà nước ngoài ngân sách được thành lập theo Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg, hoạt động tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với vốn điều lệ tối thiểu 100 tỷ đồng do ngân sách cấp tỉnh cấp, không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng phải bảo toàn và phát triển vốn Quỹ được coi là 'cứu cánh' để DNNVV tiếp cận tín dụng từ các ngân hàng thương mại Hoạt động bảo lãnh tín dụng cho DNNVV của Quỹ được thực hiện theo Nghị định 34/2018/NĐ-CP Đối tượng được cấp bảo lãnh tín dụng là các DNNVV đầu tư sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực ưu tiên theo quy định của NHNN trong từng thời kỳ và các lĩnh vực hoặc dự án thuộc diện ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương trong từng thời kỳ Để được bảo lãnh tín dụng, DNNVV phải đáp ứng các điều kiện sau:

Một dự án đầu tư hoặc phương án kinh doanh có hiệu quả và có khả năng hoàn trả vốn vay sẽ được Quỹ bảo lãnh tín dụng thẩm định và quyết định cấp bảo lãnh.

(2) Có dự án dầu tư hoặc phương án kinh doanh mà vốn chủ sở hữu tham gia tối thiểu 20%;

PHÁT TRIỂN CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI

2.3.1 Quan điểm về phát triển cho vay của ngân hàng thương mại

Phát triển cho vay của ngân hàng thương mại (NHTM) được đẩy mạnh nhằm đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vốn vay của nền kinh tế Quá trình này được thực hiện trên nền tảng hoạt động an toàn và bền vững, tuân thủ pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế để tăng khả năng cấp vốn cho doanh nghiệp và người dân một cách hiệu quả.

Tuy nhiên, ở góc độ phát triển cho vay của NHTM đối với DNNVV cần được hiểu trên các nội dung sau:

Phát triển cho vay của NHTM đối với DNNVV được đánh giá dựa trên quy mô hoạt động cho vay tăng lên, với hai chỉ tiêu chính là quy mô khách hàng và quy mô vốn cho vay Để tăng quy mô cho vay, NHTM phải huy động tối đa nguồn vốn và sử dụng tối đa các nguồn vốn có thể huy động.

Hoạt động cho vay của NHTM đối với DNNVV có tiềm ẩn rủi ro cao, vì vậy phát triển tín dụng đối với DNNVV phải đi đôi với tăng cường chất lượng cho vay Chất lượng cho vay của NHTM được đánh giá qua quy mô nợ xấu, nợ có khả năng mất vốn và nợ quá hạn, cả về tuyệt đối lẫn tỷ lệ so với tổng dư nợ Sự cân bằng giữa quy mô cho vay và chất lượng nợ là nền tảng để quản trị rủi ro tài chính và đảm bảo hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Thứ ba, khi phát triển cho vay của các NHTM đối với DNNVV, cần đánh giá sự gia tăng quy mô thu nhập từ cho vay ở cả hai khía cạnh tuyệt đối và tương đối Việc đo lường quy mô thu nhập từ cho vay giúp đánh giá hiệu quả nguồn vốn và đóng góp của hoạt động cho vay vào lợi nhuận và tăng trưởng của ngân hàng, đồng thời cho phép so sánh với các chỉ tiêu như dư nợ, lãi suất và rủi ro tín dụng Nhờ đó, chiến lược cho vay đối với DNNVV có thể được điều chỉnh để tối ưu hóa doanh thu từ cho vay và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường tài chính.

Trong nội dung thứ tư, sự phát triển cho vay của các ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) được đánh giá dựa trên khả năng chống đỡ và xử lý rủi ro đối với các khoản nợ xấu Khả năng trích lập dự phòng và quy mô dự phòng rủi ro nợ xấu tác động đến hiệu quả phát triển cho vay của NHTM.

Phát triển cho vay của các ngân hàng thương mại đối với DNNVV được đánh giá dựa trên mức độ đáp ứng ngày càng tốt hơn đối với quy trình thẩm định, thủ tục vay vốn nói chung và điều kiện vay vốn nói riêng, cũng như điều kiện bảo đảm tiền vay.

2.3.2 Chỉ tiêu đánh giá phát triển cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Tăng quy mô khách hàng

Quy mô khách hàng là chỉ tiêu đầu tiên đánh giá sự phát triển cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Để tăng quy mô cho vay, ngân hàng trước hết phải mở rộng thị phần bằng chiến lược giữ chân khách hàng hiện tại và mở rộng thu hút khách hàng mới Đánh giá quy mô khách hàng ở kỳ sau so với kỳ trước được thực hiện qua các chỉ tiêu chủ chốt như mức tăng dư nợ cho vay, sự mở rộng danh mục khách hàng và mức độ thâm nhập thị trường Kết quả tăng trưởng quy mô khách hàng phản ánh hiệu quả của các chiến lược giữ chân và thu hút khách hàng, từ đó định hình xu hướng phát triển cho vay của NHTM đối với DNNVV.

Số lượng DNNVV tăng trong kỳ = Số lượng DNNVV cuối kỳ sau – Số lượng DNNVV cuối kỳ trước

Tỷ lệ DNNVV tăng trong kỳ =

Số DNNVV cuối kỳ sau × 100%

Số DNNVV cuối kỳ trước được dùng làm căn cứ để đánh giá tỷ trọng khách hàng giữa các lĩnh vực cho vay, từ đó xác định cơ cấu cho vay theo từng lĩnh vực dựa trên các chỉ tiêu được quy định sau Quá trình này giúp nhận diện sự phân bổ tín dụng giữa các ngành, cân bằng rủi ro và tối ưu hóa danh mục cho vay Việc theo dõi và cập nhật liên tục các chỉ tiêu này sẽ hỗ trợ quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả tín dụng cho từng lĩnh vực.

Tỷ trọng DNNVV từng lĩnh vực =

Tăng quy mô cho vay và thu nợ

Quy mô cho vay của DNNVV được xác định qua ba chỉ tiêu chính: doanh số cho vay, doanh số thu nợ trong kỳ và dư nợ cuối kỳ Doanh số cho vay cho biết số vốn đã được ngân hàng giải ngân cho khách hàng DNNVV trong kỳ, phản ánh quy mô cấp vốn đã thực hiện Doanh số thu nợ trong kỳ cho biết lượng nợ ngân hàng thu được trong kỳ (gồm nợ đúng hạn và nợ thu trước hạn), đánh giá hiệu quả thu hồi nợ Dư nợ cuối kỳ cho thấy số vốn ngân hàng đang cho vay đối với DNNVV tại thời điểm kết thúc kỳ, là thước đo quan trọng của rủi ro tín dụng và tình hình thanh khoản của danh mục cho vay.

Tỷ lệ tăng trưởng cho vay là chỉ tiêu dùng để đánh giá sự phát triển quy mô cho vay, cho phép so sánh mức độ tăng trưởng cho vay của quý này với quý cùng kỳ năm trước, hoặc quý sau so với quý trước, hoặc năm sau so với năm trước, và nó bao gồm 4 chỉ tiêu sau.

Tỷ lệ tăng doanh số cho vay

Doanh số cho vay DNNVV kỳ này × 100%

Doanh số cho vay DNNVV kỳ trước

Tỷ lệ tăng trưởng doanh số thu nợ

Doanh số thu nợ DNNVV kỳ này × 100%

Doanh số thu nợ DNNVV kỳ trước

Tỷ lệ tăng dư nợ cho vay DNNVV =

Dư nợ cho vay DNNVV cuối kỳ này × 100%

Dư nợ cho vay DNNVV cuối kỳ trước Đánh giá tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân giai đoạn nhiều năm, cần xác định qua chỉ tiêu sau:

Tỷ lệ dư nợ bình quân giai đoạn =

Tổng tỷ lệ tăng trưởng dư nợ các năm trong giai đoạn

Số năm của giai đoạn Đánh giá khả năng luân chuyển vốn tín dụng thông qua vòng quay tín dụng, cần xác định qua chỉ tiêu sau:

Vòng quay vốn tín dụng (lần) =

Doanh số thu nợ trong kỳ

Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn

Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho biết ngân hàng đã khai thác nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn như thế nào Nếu tỷ lệ này cao là tín hiệu cảnh báo rủi ro, ngược lại tỷ lệ này thấp chứng tỏ ngân hàng chưa khai thác hiệu quả nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn

Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn =

Vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn × 100% Nguồn vốn ngắn hạn

Chất lượng cho vay của NHTM đối với DNNVV được đánh giá thông qua các tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn và tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5) trên tổng nợ xấu

Nợ xấu theo phân loại nợ (Nợ nhóm 3,4,5) × 100%

Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ nhóm 2 đến nhóm 5 × 100%

Tỷ lệ nợ nhóm 5 trên nợ xấu =

Trích lập dự phòng rủi ro

Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động nhằm dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra với nợ cấp tín dụng nói chung và nợ cho vay nói riêng Việc trích lập dự phòng rủi ro giúp ổn định kết quả kinh doanh và tăng cường quản trị rủi ro tài chính cho tổ chức Dự phòng rủi ro được phân biệt thành hai loại chính: dự phòng chung và dự phòng cụ thể.

Trong quản trị tài chính, dự phòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được, trong khi dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể.

Dự phòng rủi ro được NHTM xác định và trích lập hàng quý trong năm Số tiền dự phòng được dùng để xử lý rủi ro của các khoản nợ nhóm 5 và các khoản nợ khó đòi khác Trong trường hợp số dư dự phòng rủi ro cuối quý trước nhỏ hơn số dự phòng phải trích lập của quý sau, NHTM phải trích lập bổ sung để bù thiếu hụt Ngược lại, nếu số dư dự phòng cuối quý trước lớn hơn số dự phòng phải trích của quý sau, NHTM được hoàn nhập số chênh lệch thừa.

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ HỖ TRỢ TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

2.4.1 Tổng quan quốc tế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Không chỉ ở nước ta mà nhiều quốc gia trên thế giới xem DNNVV là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế xã hội; nhưng bản chất vốn có của DNNVV khiến các doanh nghiệp này đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình phát triển, do đó việc hỗ trợ DNNVV được xem là mục tiêu chính sách phát triển thiết yếu tại nhiều quốc gia Theo từng giai đoạn lịch sử, với các điều kiện và phương pháp tiếp cận khác nhau, mỗi quốc gia lựa chọn mô hình hỗ trợ phù hợp, nhưng dù là mô hình nào thì mục tiêu chung vẫn là giúp DNNVV vượt qua các khó khăn cố hữu và phát huy ưu thế riêng của mình Những vấn đề cần được hỗ trợ tập trung vào: tiếp cận tài chính và tín dụng, thông tin và tư vấn, đào tạo nguồn nhân lực và ươm mầm, sáng tạo, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp nhỏ và vừa (Chính phủ - 2016, Báo cáo quốc tế về hỗ trợ DNNVV).

Kể từ những năm 1950 đến nay, thế giới đã xuất hiện ba mô hình hỗ trợ DNNVV (doanh nghiệp nhỏ và vừa) với tác động tích cực ở từng giai đoạn lịch sử và tại một số quốc gia nhất định Mỗi mô hình phản ánh bối cảnh kinh tế và mục tiêu phát triển riêng, từ đó mang lại lợi ích cho DN nhỏ và vừa như tăng trưởng, đổi mới và hội nhập thị trường Việc nhận diện và phân tích ba mô hình này giúp xác định cách thiết kế chính sách phù hợp với đặc thù quốc gia và thời kỳ, đồng thời rút ra bài học thực tiễn cho chiến lược hỗ trợ DNNVV trong tương lai.

Phát triển DNNVV theo định hướng chính trị là một mô hình được nhiều nước lựa chọn làm chiến lược đầu tàu Theo mô hình này, chính phủ tập trung nguồn lực để phát triển DNNVV theo hướng mở rộng quy mô trên phạm vi toàn vùng miền, coi DNNVV là cứu cánh giải quyết việc làm, đảm bảo cân đối sự phát triển vùng miền và tạo đối trọng với sự lũng đoạn của các doanh nghiệp lớn.

Phát triển DNNVV có lựa chọn là một mô hình tiếp cận hỗ trợ đã được các nước áp dụng từ thập niên 70–80 của thế kỷ XX Chính phủ đã dành ngân sách trợ cấp lớn cho các chương trình hỗ trợ DNNVV ở các ngành sản xuất kỹ thuật cao, sản phẩm mới hoặc dịch vụ mới, điển hình tại Hàn Quốc Mô hình này cho thấy sự hỗ trợ quá mức của nhà nước có thể bóp méo thị trường và không phù hợp với xu hướng tự do hóa kinh tế Từ năm 1991, Ngân hàng Thế giới đã tuyên bố chấm dứt toàn bộ các khoản cho vay trực tiếp đối với DNNVV Điều này cho thấy cần chọn một mô hình hỗ trợ phát triển DNNVV mới, phù hợp với xu hướng tự do hóa và quốc tế hóa của nền kinh tế và đòi hỏi hạn chế tối đa sự can thiệp trực tiếp của chính phủ vào nền kinh tế.

Mô hình "Tạo điều kiện thuận lợi để DNNVV phát triển" là khuôn khổ hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) được hình thành từ đầu thập niên 1990 Theo mô hình này, Chính phủ đóng vai trò kiến tạo, xây dựng chính sách và phải cụ thể hoá bằng pháp luật để hình thành một môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy sự phát triển của DNNVV CIEM (2018) nhấn mạnh rằng những khung pháp lý rõ ràng và các chính sách được chuẩn hóa bằng luật là yếu tố then chốt để DNNVV tăng trưởng bền vững trong nền kinh tế.

Phân tích ưu nhược điểm của các mô hình hỗ trợ phát triển DNNVV cho thấy mô hình "Tạo điều kiện thuận lợi để DNNVV phát triển" là phù hợp nhất với Việt Nam Trong mô hình này, chính phủ cần tập trung nghiên cứu và ban hành chính sách, thiết kế và áp dụng các biện pháp, đồng thời xây dựng và thực thi các thể chế và quy định cụ thể nhằm khắc phục các khó khăn của DNNVV về vốn, tiếp cận tín dụng, công nghệ, quản trị, thông tin và nguồn lực nhân sự Đây là lộ trình hỗ trợ tối ưu cho DNNVV tại Việt Nam theo Trần Minh Sơn – Chương trình 585.

2.4.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nhật Bản là nền kinh tế phát triển đứng thứ ba trên thế giới sau Mỹ và Trung Quốc Mặc dù có hàng nghìn tập đoàn, công ty đa quốc gia danh tiếng toàn cầu, Nhật Bản có tỷ lệ DNNVV chiếm 98,7% tổng số doanh nghiệp, sử dụng 70% lực lượng lao động và đóng góp trên 50% giá trị gia tăng trong sản xuất, đồng thời chiếm tới 43,7% GDP (theo Chính phủ-2016 và Báo cáo quốc tế về hỗ trợ DNNVV) Vì vậy, chính phủ Nhật Bản coi lực lượng DNNVV là xương sống của nền kinh tế và đã triển khai các chính sách hỗ trợ tối đa phát triển khu vực này Ngay từ những năm 1936–1965, Nhật Bản đã hình thành năm định chế tài chính nhằm cung cấp tài chính và tín dụng cho DNNVV, tạo ra năm kênh hỗ trợ tài chính đa dạng cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Ngân hàng Trung ương Hiệp hội Công Thương (1936) chủ yếu cho vay đối với các DNNVV đang suy yếu nhằm vực dậy họ, chấp nhận rủi ro để hỗ trợ phục hồi hoạt động sản xuất và đảm bảo sự ổn định cũng như tăng trưởng của hệ thống công thương.

(2) Tổ chức tài chính nhân dân (1949) chủ yếu cho vay các khoản vay quy mô nhỏ đối với các doanh nghiệp siêu nhỏ

Ngân hàng tín dụng Shinkin thành lập năm 1949 là ngân hàng tư nhân trực thuộc Bộ Tài chính, có mạng lưới chi nhánh rộng khắp các địa phương và nguồn vốn được đóng góp từ các hội viên.

Tổ chức tài chính DNNVV – JFC (1953) chủ yếu cung cấp vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) theo các giai đoạn và chương trình phát triển kinh tế do chính phủ triển khai Các giai đoạn này được thiết kế để đáp ứng nhu cầu vốn trong những thời kỳ đặc thù, ví dụ như giai đoạn khủng hoảng kinh tế năm 2008 và công tác khắc phục hậu quả sóng thần năm 2011 Nhờ vai trò hỗ trợ tài chính này, JFC góp phần duy trì hoạt động của DNNVV và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh thách thức. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Nâng cao bài viết SEO về JFC và DNNVV với [Pollinations.AI](https://pollinations.ai/redirect/kofi) – công cụ AI miễn phí dành cho người tạo nội dung!

Hiệp hội bảo lãnh tín dụng được thành lập từ năm 1965 và xây dựng hệ thống hoạt động rộng khắp các địa phương, thực hiện bảo lãnh cho DNNVV vay vốn tại các ngân hàng thương mại tư nhân; thông tin này được ghi nhận bởi TS Nguyễn Thị Quỳnh Anh (8/2019).

Các định chế tài chính tham gia hỗ trợ tín dụng phát triển DNNVV thực hiện thông qua bốn phương thức chủ yếu là cho vay trực tiếp, bảo lãnh vay tại các NHTM tư nhân, cho thuê tài chính và cấp bù lãi suất cho vay thương mại Cụ thể, cho vay trực tiếp giúp DNNVV tiếp cận nguồn vốn với lãi suất cạnh tranh và thời hạn vay linh hoạt; bảo lãnh vay tại các NHTM tư nhân giảm rủi ro tín dụng cho ngân hàng và mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp; cho thuê tài chính cho phép doanh nghiệp sử dụng thiết bị và tài sản với chi phí vốn ban đầu thấp; cấp bù lãi suất cho vay thương mại hỗ trợ giảm chi phí vốn, từ đó nâng cao tính khả thi và cạnh tranh của dự án phát triển DNNVV.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2017 số lượng DNNVV ở Hàn Quốc chiếm tới 99% tổng số doanh nghiệp, cho thấy khu vực SME đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế nước này Hàn Quốc đã triển khai sớm các chính sách tiếp cận tài chính và tín dụng cho DNNVV và đạt được thành công lớn trong thập niên 70–80 của thế kỷ trước nhờ chương trình hỗ trợ DNNVV có định hướng tập trung vào các ngành xuất khẩu, đặc biệt là công nghiệp điện tử.

Hỗ trợ tài chính, tín dụng cho DNNVV tại Hàn Quốc được triển khai thông qua

3 mô hình là: hệ thống quỹ chính sách, hệ thống quỹ bảo lãnh tín dụng và hệ thống tài chính hỗ trợ lẫn nhau

(1) Quỹ chính sách do chính phủ thành lập cung cấp các khoản vay dành cho

Chương trình cho vay dành cho DNNVV với lãi suất và thời hạn ưu đãi nhằm mục đích hỗ trợ vốn cho hình thành cơ sở vật chất (tài sản cố định ban đầu), cấp vốn cho hoạt động sản xuất – kinh doanh và đảm bảo sự ổn định kinh doanh trước các tác động của thiên tai và khủng hoảng kinh tế.

Hệ thống quỹ bảo lãnh tín dụng gồm Quỹ bảo lãnh tín dụng Hàn Quốc, Quỹ bảo lãnh công nghệ Hàn Quốc và Quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương, chuyên cung cấp bảo lãnh cho DNNVV có công nghệ nhưng thiếu vốn và tài sản thế chấp ngân hàng Các quỹ này giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn vốn tín dụng bằng cách bảo lãnh các khoản vay, tạo điều kiện để đầu tư, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới mà họ sở hữu Nhờ cơ chế bảo lãnh linh hoạt và đồng bộ này, DNNVV có thể mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao năng lực công nghệ và thúc đẩy sự đổi mới trong nền kinh tế.

(3) Hệ thống tài chính hỗ trợ lẫn nhau giữa các DNNVV thông qua các hội, nhóm

DNNVV Các khoản tài chính hỗ trợ thông qua các hợp đồng mua bán trả góp

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI DNNVV TẠI

TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CỦA AGRIBANK CHI NHÁNH 7

3.1.1 Tổ chức và mạng lưới

Agribank Chi nhánh 7 được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 01/04/2008 theo Quyết định số 169/QĐ/HĐQT-TCCB ngày 29/02/2008 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Địa chỉ chi nhánh là 40/2 Nguyễn Văn Linh, Phường Tân Thuận Tây, Quận 7, TP Hồ Chí Minh Mạng lưới chi nhánh ngoài hội sở của Agribank Chi nhánh 7 có 02 Phòng giao dịch.

• Phòng giao dịch Huỳnh Tấn Phát tại địa chỉ 970 Huỳnh Tấn Phát, Phường Phú Thuận, Quận 7, TP Hồ Chí Minh

• Phòng giao dịch Nguyễn Lương Bằng tại địa chỉ 1578 Huỳnh Tấn Phát, Phường Phú Mỹ, Quận 7, TP Hồ Chí Minh

Theo Quyết định số 1082/QĐ-HĐTV-TCCB, ngày 29/06/2012 của HĐTV Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam “V/v: Chuyển Chi nhánh

7 chi nhánh loại II trực thuộc Agribank Việt Nam được chuyển đổi thành chi nhánh loại III trực thuộc Agribank Chi nhánh Phước Kiển Chi nhánh 7 đã sáp nhập vào Chi nhánh Phước Kiển và đến ngày 28/02/2014 đã bàn giao hai Phòng giao dịch về phụ thuộc Chi nhánh Phước Kiển, theo quyết định số 23/QĐ/NHNoPK-HCNS ngày 17/02/2014 của Giám đốc Agribank Chi nhánh Phước Kiển.

Ngày 8/12/2015, Agribank Việt Nam đã ban hành Quyết định 941/QĐ-HĐTV-TCTL chuyển chi nhánh 7 từ Agribank Phước Kiển về trực thuộc Agribank Việt Nam Tiếp theo, Hội đồng quản trị Agribank ban hành Nghị quyết số 122/NQ-HĐTV ngày 21/10/2016 về chủ trương thay đổi chi nhánh quản lý và địa điểm hoạt động của các Phòng giao dịch Sau khi nhận được sự chấp thuận của Thanh tra giám sát NHNN, ngày 12/8/2017, hai Phòng giao dịch Nguyễn Lương Bằng và Huỳnh Tấn Phát chính thức trực thuộc sự quản lý của Agribank Chi nhánh.

7 Đến 01/08/2020, Agribank Chi nhánh 7 đang tạm xếp hạng 3 (theo văn bản số 3268/NHNo-TCTL ngày 28/04/2017 về thông báo xếp hạng chi nhánh), mạng lưới chi nhánh gồm Hội sở với 04 phòng nghiệp vụ (Phòng Tổng hợp, Phòng Kế toán – Ngân quỹ, Phòng Kế hoạch kinh doanh, Phòng Dịch vụ Marketing) và 2 Phòng giao dịch trực thuộc Lao động trong định biên 44 người, trong đó Ban Giám đốc gồm Giám đốc và 02 Phó Giám đốc

Tính đến thời điểm 01/08/2020 tổng số lao động trong định biên của chi nhánh là 44 người, trong đó:

• Phòng Kế toán – Ngân quỹ: 11 người (01 Trưởng phòng, 01 Phó phòng)

• Phòng Tổng hợp: 05 người (01 Trưởng phòng, 01 Phó phòng)

• Phòng Kế hoạch kinh doanh: 7 người (01 Trưởng phòng, 02 Phó phòng)

• Phòng Dịch vụ Marketing: 04 người (01 Trưởng phòng, 01 Phó phòng)

• Phòng Giao dịch Huỳnh Tấn Phát: 06 người (01 Giám đốc, 01 Phó Giám đốc)

• Phòng Giao dịch Nguyễn Lương Bằng: 08 người (01 Giám đốc, 01 Phó Giám đốc)

3.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh

Để đánh giá kết quả kinh doanh của Agribank Chi nhánh 7, tác giả khảo sát số liệu từ năm 2017 đến năm 2020 trên cơ sở tổng hợp các báo cáo hàng năm của ngân hàng, nhằm đảm bảo tính cập nhật và độ dài thời gian cần thiết để đánh giá hiệu quả kinh doanh.

Trong giai đoạn 2017–2020, Agribank Chi nhánh 7 ghi nhận nguồn vốn huy động tăng trưởng ổn định và bền vững Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn hàng năm bình quân đạt 7,33%, giúp chi nhánh chủ động nguồn vốn cho hoạt động tín dụng và bảo đảm thanh khoản Đến cuối năm 2020, nguồn vốn huy động của chi nhánh đạt 1.610 tỷ đồng, tăng 23,7% so với 2017 Thành quả huy động vốn vững chắc được thể hiện từ việc đẩy mạnh huy động vốn khu vực dân cư, với tiền gửi cá nhân đóng vai trò chiến lược chủ đạo trong thu hút và phát triển nguồn vốn kinh doanh Tỷ lệ tiền gửi cá nhân trong tổng nguồn vốn huy động bình quân hàng năm đạt 91,55%, cao nhất 96,15% và thấp nhất 87,14%.

Tuy nhiên, hoạt động huy động vốn từ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tại ngân hàng đang đạt hiệu quả quá thấp, làm giảm khả năng tối ưu hóa chi phí vốn và cạnh tranh lãi suất trên thị trường Tỷ lệ CASA trên tiền gửi ngắn hạn bình quân trong giai đoạn vừa qua cho thấy nguồn vốn rẻ còn rất hạn chế, đặt ra thách thức lớn cho việc cải thiện cơ cấu nguồn vốn và tăng hiệu quả huy động.

2017 – 2020 chỉ là 7,54% và tỷ lệ CASA trên tổng vốn huy động bình quân của giai đoạn này là 6,37%

Bảng 3.1: Cơ cấu vốn tiền gửi không kỳ hạn (CASA) Đơn vị: Tỷ đồng

Tỷ lệ CASA trên tiền gửi ngắn hạn (%) 7,33% 7.68% 7,83% 7,32%

Tỷ lệ CASA trên tổng vốn huy động (%) 6,15% 6,42% 6,52% 6,4%

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Giống như xu hướng chung của ngành ngân hàng, Agribank Chi nhánh 7 đang đối mặt với khó khăn trong huy động vốn trung và dài hạn Tỷ lệ huy động vốn trung–dài hạn trong tổng nguồn vốn huy động bình quân hàng năm chỉ đạt khoảng 15,5%, cho thấy nguồn vốn dài hạn dành cho hoạt động tín dụng của chi nhánh còn nhiều thách thức.

Hình 3.1: Cơ cấu tiền gửi theo khách hàng Đơn vị: Tỷ đồng

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Hình 3.2: Cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Tiền gửi kỳ hạn trên 12 tháng 210 234 251 204

Tiền gửi kỳ hạn dưới 12 tháng 1.011 1.093 1.153 1.303

Tiền gửi không kỳ hạn 80 91 98 103

Hoạt động tín dụng là nguồn thu nhập chủ lực của hệ thống Agribank, nói chung và Agribank Chi nhánh 7 nói riêng Tuy nhiên, lĩnh vực này tiềm ẩn nhiều rủi ro, nên chiến lược tín dụng của Agribank là không ngừng mở rộng tín dụng nhưng trên nguyên tắc đảm bảo an toàn và không khuyến khích phát triển tín dụng “nóng” Ngân hàng chủ yếu tập trung hoạt động tín dụng vào khu vực khách hàng truyền thống, nhằm chiếm lĩnh thị phần của nhóm khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) và khách hàng cá nhân.

Giai đoạn 2017–2020, tổng dư nợ tín dụng cuối kỳ và dư nợ bình quân hàng năm tại Agribank Chi nhánh 7 liên tục tăng trưởng, cho thấy quy mô cho vay của chi nhánh được mở rộng và quản lý tín dụng được cải thiện Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ cuối kỳ theo từng năm thể hiện xu hướng tăng trưởng ổn định và bền vững của dư nợ tín dụng tại Agribank Chi nhánh 7.

2018 đạt 21,36%; năm 2019 đạt 6,49%; năm 2020 đạt 10,06%; bình quân đạt 12,63%

Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ bình quân hàng năm: Năm 2018 đạt 19,19%; năm 2019 đạt 13,25%; năm 2020 đạt 8,33%; bình quân đạt 13,59%

Những con số được công bố cho thấy tăng trưởng dư nợ tín dụng tại Agribank Chi nhánh 7 vẫn chưa thực sự ổn định Cụ thể, năm 2018 ghi nhận tốc độ tăng trưởng dư nợ khá cao, trong khi từ năm 2019 trở đi tỷ lệ tăng trưởng dư nợ đã chậm lại, cho thấy sự biến động và khó duy trì đà tăng trưởng ổn định của dư nợ tại chi nhánh này.

Hình 3.3: Dư nợ cuối kỳ giai đoạn 2017 – 2020 Đơn vị: Tỷ đồng

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Hình 3.4: Tốc độ tăng trưởng dư nợ cuối kỳ từ 2018 – 2020

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Hình 3.5: Dư nợ bình quân giai đoạn 2017 – 2020 Đơn vị: Tỷ đồng

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Tốc độ tăng trưởng dư nợ cuối kỳ

Hình 3.6: Tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân năm từ 2018 - 2020

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Về cơ cấu dư nợ tín dụng:

Giai đoạn 2017–2020, Agribank Chi nhánh 7 không có dư nợ cho vay bằng ngoại tệ, nên 100% dư nợ là từ cho vay nội tệ Trong khoảng thời gian này, dư nợ cho vay ngắn hạn được ghi nhận theo từng năm, phản ánh hoạt động cho vay nội địa của chi nhánh.

2020 tăng 28,92% so với năm 2017 Tuy nhiên tỷ lệ dư nợ cho vay ngắn hạn năm

Năm 2019 ghi nhận mức giảm nhẹ so với năm 2018, trong khi dư nợ cho vay trung và dài hạn cho thấy tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều so với dư nợ cho vay ngắn hạn.

Bảng 3.2: Cơ cấu dư nợ theo thời hạn giai đoạn 2017 – 2020 Đơn vị: Tỷ đồng

Dư nợ trung dài hạn

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân

Bảng 3.3: Cơ cấu dư nợ theo khách hàng giai đoạn 2017 – 2020 Đơn vị: Tỷ đồng

Dư nợ khách hàng cá nhân 541 51,37% 642 50,23% 704 51,73% 762 50,87%

Dư nợ khách hàng DN 512 48,63% 636 49,77% 657 48,27% 736 49,13%

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Dữ liệu cơ cấu dư nợ cho vay theo khách hàng cho thấy thị phần cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Agribank Chi nhánh 7 đạt gần 50% tổng dư nợ.

Tỷ trọng thị phần giữa hai loại khách hàng dường như duy trì ổn định trong suốt giai đoạn 2017 – 2020

Về sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn

Bảng 3.4: Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn Đơn vị: Tỷ đồng

Nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn 0,6 76,0 145,0 208,0

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Theo quy định của NHNN, nguồn vốn tối đa từ vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn là 40%, nhưng tỷ lệ này tại các ngân hàng vẫn còn thấp Điều này đảm bảo an toàn vốn cho ngân hàng, đồng thời cho thấy hoạt động cho vay trung và dài hạn tại ngân hàng còn bị hạn chế.

CHO VAY VÀ PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

3.2.1 Quy mô và cơ cấu khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa

Quy mô khách hàng DNNVV vay vốn tại Agribank Chi nhánh 7 không lớn nhưng số lượng liên tục tăng lên qua các năm trong giai đoạn 2017 – 2020 Nếu năm

2017 chỉ có 42 khách hàng thì năm 2020 có 69 khách hàng, tăng 64,28%

Cơ cấu khách hàng tại ngân hàng gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thuộc ba lĩnh vực: xây dựng – công nghiệp, thương mại – dịch vụ và nông – lâm – ngư nghiệp Trong đó, tỷ trọng của khách hàng DNNVV từ lĩnh vực thương mại – dịch vụ chiếm áp đảo so với hai lĩnh vực còn lại.

2017 tỷ trọng 90,47%, năm 2018 tỷ trọng 89,47%, năm 2019 tỷ trọng 85,24% và năm

Bảng 3.9: Quy mô và cơ cấu khách hàng DNNVV giai đoạn 2017 – 2020 Năm

Tỷ trọng Xây dựng - công nghiệp 3 7,14% 5 8,77% 8 13,11% 11 15,94%

- dịch vụ 38 90,48% 51 89,47% 52 85,25% 57 82,61% Nông - lâm ngư nghiệp 1 2,38% 1 1,75% 1 1,64% 1 1,45%

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Hình 3.7: Tốc độ tăng trưởng khách hàng DNNVV giai đoạn 2018 - 2020

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Chiến lược phát triển thị phần khách hàng của Agribank chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, nhằm mở rộng phạm vi tiếp cận và cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho người dân và doanh nghiệp nông nghiệp Qua số liệu được công bố, tại Agribank Chi nhánh 7 cho thấy xu hướng tăng trưởng thị phần ở khu vực nông nghiệp và nông thôn, phản ánh hiệu quả của các sản phẩm vay vốn, dịch vụ thanh toán và hỗ trợ tài chính nông nghiệp mà chi nhánh triển khai.

Đối với DNNVV, tốc độ tăng trưởng khách hàng và thị phần được xác định bằng việc điều chỉnh chiến lược theo thực tế địa bàn hoạt động Không giới hạn ở lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, chúng tôi tập trung vào các khu vực có tiềm năng và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhằm mở rộng mạng lưới khách hàng và tăng thị phần một cách bền vững Việc phân tích địa bàn, nắm bắt đặc thù ngành nghề và điều chỉnh giải pháp phù hợp sẽ nâng cao hiệu quả tiếp cận khách hàng DNNVV và tối ưu hóa nguồn lực.

3.2.2 Dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa

Tỷ trọng dư nợ cho vay đối với DNNVV giai đoạn 2017 – 2020 tại Agribank Chi nhánh 7 ổn định ở mức trên dưới 49%: 48,6% (2017), 49,7% (2018), 48,3%

Bảng 3.10: Tỷ trọng cho vay DNNVV Đơn vị: Tỷ đồng

Dư nợ cho vay DNNVV 512 636 657 736

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Giai đoạn 2017 - 2020 dư nợ cho vay đối với DNNVV tại Agribank Chi nhánh

7 liên tục tăng trưởng hàng năm Mức tăng trưởng năm cao nhất là 21,22% (2018), thấp nhất là 3,3% (2019), đạt mức tăng trưởng bình quân năm là 12,18%

Bảng 3.11: Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ giai đoạn 2017 – 2020 Đơn vị: Tỷ đồng

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Bảng 3.12: Quy mô dư nợ bình quân trên khách hàng DNNVV giai đoạn

Dư nợ bình quân/DNNVV 12,19 11,15 10,77 10,66

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Dư nợ cho vay bình quân trên mỗi khách hàng, được thể hiện qua bảng số liệu, cho thấy sự phù hợp giữa dư nợ và cơ cấu khách hàng DNNVV tại ngân hàng Do hơn 82% tổng số khách hàng DNNVV hoạt động trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ, ngân hàng chủ yếu cho vay bổ sung vốn lưu động cho nhóm khách hàng này nhằm đáp ứng nhu cầu ngắn hạn và duy trì hoạt động kinh doanh.

3.2.3 Doanh số giải ngân, thu nợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngân hàng ghi nhận lãi dự thu hàng quý dựa trên doanh số giải ngân chứ không phải dư nợ, và giai đoạn 2017–2020 cho thấy doanh số giải ngân đối với DNNVV tại Agribank Chi nhánh 7 liên tục tăng trưởng cả về tuyệt đối lẫn tương đối Năm 2020, doanh số giải ngân đạt 1.321 tỷ đồng, tăng 61,68% so với năm 2017 và tăng bình quân 17,81% mỗi năm, mức tăng này tương ứng với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trước thuế mà ngân hàng đạt được như đã phản ánh ở trên.

Bảng 3.13: Tỷ lệ tăng doanh số giải ngân giai đoạn 2017 – 2020 Đơn vị: Tỷ đồng

Doanh số giải ngân DNVVV 817 1.074 1.242 1.321

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Hoạt động thu nợ không chỉ giúp ngân hàng thu hồi vốn để quay vòng vốn mà còn đánh giá khả năng thu hồi nợ đến hạn và đảm bảo chất lượng tín dụng Quản lý nợ hiệu quả giúp giảm nợ xấu, tối ưu luồng tiền và tăng tính thanh khoản của ngân hàng Nhờ đó, ngân hàng duy trì sự ổn định trong danh mục cho vay và nâng cao khả năng cấp tín dụng an toàn cho khách hàng.

Trong giai đoạn 2017–2020, doanh số thu hồi nợ đối với DNNVV tại Agribank Chi nhánh 7 liên tục tăng cả về số tuyệt đối lẫn tỷ lệ so với năm trước, phản ánh quy mô cho vay DNNVV được mở rộng ở thời kỳ này Cụ thể, doanh số thu nợ năm 2020 đạt 1.242 tỷ đồng, tăng 65,8% so với năm 2017 và tăng bình quân khoảng 19,04% mỗi năm trong giai đoạn, cho thấy xu hướng hồi vốn từ khách hàng DNNVV được duy trì mạnh mẽ.

Năm 2020 chỉ tăng 1,71% so với năm 2019, chủ yếu do ngân hàng thực hiện cơ cấu lại thời hạn nợ đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN Việc cơ cấu lại kỳ hạn nợ giúp giảm bớt gánh nặng trả nợ và duy trì khả năng thanh toán cho người vay trong bối cảnh khó khăn do đại dịch.

Bảng 3.14: Tỷ lệ tăng doanh số thu nợ giai đoạn 2017 – 2020 Đơn vị: Tỷ đồng

Doanh số thu nợ DNNVV 749 950 1.221 1.242

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Doanh số thu nợ đối với DNNVV hàng năm phản ánh vòng quay vốn tín dụng đối với loại hình doanh nghiệp này

Bảng 3.15: Vòng quay vốn tín dụng giai đoạn 2017 – 2020 Đơn vị tính: tỷ đồng

Vòng quay vốn tín dụng

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Vòng quay vốn tín dụng tăng cho thấy khả năng thu nợ của ngân hàng được cải thiện, đồng thời phản ánh xu hướng rút ngắn thời hạn cho vay trong các hợp đồng tín dụng với DNNVV (doanh nghiệp nhỏ và vừa) Điều này phù hợp với cơ cấu khách hàng DNNVV của ngân hàng, chủ yếu thuộc lĩnh vực thương mại – dịch vụ, nơi các DNNVV chủ yếu vay bổ sung vốn lưu động với thời hạn ngắn.

3.2.4 Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chất lượng tín dụng chung tại Agribank Chi nhánh 7 được đánh giá là lý tưởng, nhưng chất lượng tín dụng riêng đối với DNNVV còn lý tưởng hơn Các chỉ tiêu nợ quá hạn và dư nợ quá hạn giai đoạn 2017–2020 ở mức rất nhỏ, không đáng kể, cho thấy hiệu quả quản trị rủi ro và tuân thủ các quy định tín dụng của chi nhánh đối với dư nợ DNNVV.

Bảng 3.16: Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn giai đoạn 2017 – 2020 Đơn vị: Tỷ đồng

Tỷ lệ dư nợ quá hạn DNNVV (%) 0,0058% 0,006% 0,0025% 0,0011%

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Tác giả chưa có số liệu cụ thể về nợ xấu cho vay dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Tuy nhiên, nếu coi toàn bộ nợ quá hạn tại ngân hàng là nợ xấu, thì tỷ lệ nợ xấu đối với cho vay dành cho DNNVV được cho là rất nhỏ.

Nợ quá hạn và nợ xấu cho vay DNNVV tại ngân hàng đang ở mức rất thấp, nhờ ngân hàng thực hiện chính sách cơ cấu lại nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Xét nợ xấu chung của ngân hàng, tỷ lệ nợ nhóm 5 trên tổng nợ xấu ở mức khá cao; tuy nhiên, tổng nợ xấu ở quy mô nhỏ khiến tỷ lệ này không cho thấy ý nghĩa rõ ràng về chất lượng tín dụng.

Bảng 3.17: Nợ nhóm 5 và tỷ lệ nợ nhóm 5 (tính chung trên tổng dư nợ) Đơn vị: Tỷ đồng

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Giai đoạn 2017 – 2020, Agribank Chi nhánh 7 ghi nhận quy mô thu nhập lãi ròng tăng lên hàng năm

Bảng 3.18: Thu nhập lãi ròng và tăng trưởng thu nhập lãi ròng đối với DNNVV giai đoạn 2017 – 2020 Đơn vị: Tỷ đồng

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ngân hàng và tính toán của tác giả)

Hiện tại không có số liệu để xác định lợi nhuận trước thuế theo từng lĩnh vực cho vay đối với DNNVV Tuy nhiên, với quy mô thu nhập lãi ròng được ghi nhận, lợi nhuận trước thuế ở khu vực cho vay DNNVV dường như chưa tương xứng với tỷ lệ dư nợ của khu vực này Điều này có thể giải thích biên lợi nhuận lãi ròng cho vay DNNVV thấp hơn biên lãi ròng cho vay ở khu vực khách hàng cá nhân Biên lợi nhuận lãi ròng cho vay DNNVV thấp hơn được cho là do lãi suất cho vay ở khu vực này được ưu đãi hơn.

3.2.6 Đánh giá thực trạng phát triển cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách cho vay chung của Agribank

Chính sách cho vay đối với DNNVV tại Agribank Chi nhánh 7 tuân thủ chính sách chung của Agribank và được triển khai theo định hướng từ NHNN cùng chiến lược, điều kiện riêng của Agribank Chính sách cho vay đối với DNNVV của NHNN được thực hiện trên khuôn khổ pháp lý Luật hỗ trợ DNNVV và căn cứ vào thực tế điều hành chính sách tiền tệ nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Giai đoạn 2017 – 2020, chính sách cho vay đối với DNNVV của NHNN được thể hiện trên các nội dung sau:

ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA AGRIBANK GIAI ĐOẠN 2021 – 2025

4.1.1 Mục tiêu chiến lược đến 2025

Báo cáo thường niên năm 2020 của Agribank đã đưa ra mục tiêu chiến lược đến

(1) Giữ vững vị thế là NHTM đóng vai trò chủ lực tại Việt Nam

(2) Hoạt động kinh doanh minh bạch, cạnh tranh, an toàn, hiệu quả

(3) Phát triển dựa vào nền tảng công nghệ, quản trị ngân hàng tiên tiến, phù hợp với chuẩn mực hoạt động theo thông lệ quốc tế

(4) Năng động, sáng tạo để thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng đối với dịch vụ tài chính và ngân hàng, mục tiêu tiến tới tài chính toàn diện vào năm 2030 sẽ trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững Khách hàng được bảo đảm tiếp cận đầy đủ và thuận tiện tới các dịch vụ tài chính và ngân hàng chất lượng cao, được tích hợp công nghệ và đảm bảo an toàn Nhờ đó, tài chính toàn diện đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn và phục vụ cộng đồng một cách bền vững.

4.1.2 Nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp chủ yếu

Báo cáo thường niên năm 2020 của Agribank nêu rõ các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược đến năm 2025, đồng thời đề xuất khung hành động, lộ trình thực thi và các chỉ tiêu đo lường kết quả để tăng cường hiệu quả hoạt động, củng cố quản trị rủi ro và mở rộng quy mô phục vụ khách hàng trên thị trường.

Chúng tôi tập trung tối đa mọi nguồn lực để chuẩn bị toàn diện các công việc liên quan và sẵn sàng triển khai ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định cổ phần hóa Agribank Mức độ chuẩn bị được đảm bảo ở mức cao nhằm đảm bảo quá trình cổ phần hóa diễn ra suôn sẻ và đúng lịch trình khi quyết định được công bố.

Chúng tôi tiếp tục triển khai nghiêm túc các giải pháp hỗ trợ khách hàng nhằm tháo gỡ khó khăn do thiên tai và dịch bệnh gây ra, đặc biệt là đại dịch Covid-19, bảo đảm sự liên tục của dịch vụ và giúp khách hàng vượt qua thách thức Các biện pháp được thực hiện đồng bộ, nhanh chóng và linh hoạt, tập trung vào giảm thiểu tác động tiêu cực, hỗ trợ tài chính, gia hạn thanh toán và tư vấn phù hợp với từng trường hợp, nhằm duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh và sự ổn định của khách hàng trong mọi tình huống.

(3) Thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng; tập trung mở rộng nền tảng khách hàng gắn với phát triển sản phẩm dịch vụ

Phát triển đa dạng sản phẩm và dịch vụ hiện đại trên nền tảng công nghệ số, nhằm nâng cao chất lượng và sự cạnh tranh của các giải pháp ngân hàng Định hướng theo khách hàng là trung tâm, tối ưu hóa trải nghiệm người dùng và đáp ứng mọi nhu cầu, đồng thời gắn với mục tiêu phát triển ngân hàng số và ngân hàng bán lẻ.

(5) Đảm bảo an toàn thanh khoản và các tỷ lệ an toàn theo quy định

(6) Kiện toàn mô hình tổ chức, mạng lưới hướng tới khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh, quản trị điều hành, quản trị rủi ro

Chính sách tập trung nguồn lực để nâng cấp, mở rộng và hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị, điều hành và cung ứng dịch vụ ngân hàng tự động theo hướng số hóa và đa kênh Việc này giúp nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng, tối ưu trải nghiệm khách hàng và tăng hiệu quả vận hành thông qua hệ thống quản trị và điều hành hiện đại.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nền tảng cho hoạt động kinh doanh trong giai đoạn mới, giúp doanh nghiệp thích ứng nhanh với thị trường và các tiến bộ công nghệ của Cách mạng công nghiệp 4.0 Đào tạo và phát triển liên tục giúp đội ngũ nhân sự nắm bắt kỹ năng hiện đại, đáp ứng yêu cầu vận hành và tối ưu hóa hiệu quả công việc Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ tăng cường khả năng cạnh tranh, tối ưu hóa chi phí và nâng cao giá trị cốt lõi của doanh nghiệp trong bối cảnh 4.0 Do đó, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược nhân sự toàn diện, tập trung tuyển dụng, đào tạo, đánh giá, đãi ngộ và đổi mới liên tục để duy trì hiệu suất và sự tăng trưởng bền vững.

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế, quy trình nghiệp vụ nhằm đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật và Ngân hàng Nhà nước, đồng thời nâng cao tính chủ động và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của các đơn vị.

(10) Tăng cường truyền thông, phát triển thương hiệu và văn hóa doanh nghiệp

4.1.3 Định hướng hoạt động của Agribank Chi nhánh 7

Theo mục tiêu chiến lược đến năm 2025 của Agribank, Agribank Chi nhánh 7 đã đưa ra các định hướng hoạt động tín dụng như sau:

Xác định hoạt động tín dụng là nguồn thu nhập chính của ngân hàng; tuy nhiên, phát triển tín dụng phải đi đôi với đảm bảo an toàn tài chính, không khuyến khích tăng trưởng tín dụng nóng và phải duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp dưới 1%.

(2) Có chính sách ưu đãi hỗ trợ tín dụng cho DNNVV để thu hút khách hàng, phát triển cho vay đối với khu vực DNNVV

(3) Tích cực hỗ trợ khách hàng, trong đó chủ yếu là DNNVV bị ảnh hưởng bởi Covid-19 theo các Thông tư của NHNN và chỉ đạo của Agribank

(4) Tăng cường công tác kiểm soát nội bộ, nâng cao chất lượng tín dụng và an toàn hoạt động

(5) Hợp lý hoá nhân sự, khuyến khích người lao động tăng năng suất lao động.

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH 7

4.2.1 NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU Định vị cho vay đối với DNNVV là chủ đạo

Dư nợ cho vay đối với DNNVV tại Agribank Chi nhánh 7 giai đoạn 2017 –

Trong năm 2020, tỷ lệ bình quân cho vay đối với DNNVV chiếm 48,92% trên tổng dư nợ cho vay, cho thấy việc cho vay đối với DNNVV là hoạt động cho vay chủ đạo mà ngân hàng cần xác định Với định vị này, Agribank Chi nhánh 7 quyết tâm và tích cực đẩy mạnh phát triển cho vay đối với DNNVV, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng tại chi nhánh.

Chiến lược phát triển kinh doanh của Agribank xem khu vực nông nghiệp và nông thôn là yếu tố chủ đạo; tuy nhiên, Agribank Chi nhánh 7 - ngân hàng hoạt động tại khu vực đô thị phát triển - đã điều chỉnh chiến lược để phù hợp với đặc thù địa bàn và sự khác biệt so với chiến lược chung của hệ thống Do đó, ngân hàng không thể tiếp tục phát triển theo hướng tập trung vào khách hàng ở lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; thay vào đó, việc phát triển khách hàng cá nhân đi kèm với tiềm ẩn rủi ro cao hơn và cần các biện pháp quản trị rủi ro thích hợp.

Chất lượng tín dụng cho vay đối với DNNVV tại Agribank Chi nhánh 7, theo đánh giá ở Chương 3, thể hiện thực nghiệm về mức độ an toàn tín dụng và cho thấy nợ xấu thực tế không đáng kể Đánh giá này cho thấy rủi ro nợ xấu được kiểm soát tốt, góp phần duy trì hiệu quả hoạt động và sự ổn định của chi nhánh trong cho vay DNNVV.

Do đó đẩy mạnh phát triển cho vay đối với DNNVV là phù hợp với định vị

Tăng tỷ trọng cơ cấu tiền gửi không kỳ hạn

Một trong những cản trở chính trong phát triển cho vay đối với DNNVV là lãi suất cho vay vẫn ở mức cao Các chương trình và gói cho vay ưu đãi dành cho DNNVV của Agribank không mở ra thường xuyên và quy mô vốn giới hạn nên nhiều DNNVV chưa thể tiếp cận Để giảm thiểu lãi suất cho vay cho DNNVV, ngân hàng cần đồng thời thực hiện ba biện pháp: tiết giảm chi phí hoạt động, hy sinh lợi nhuận và giảm lãi suất huy động vốn bình quân Trong đó tăng tỷ trọng CASA trong tổng vốn huy động được coi là biện pháp đặc biệt quan trọng, vì điều này giúp hạ lãi suất huy động và từ đó tạo dư địa để giảm lãi suất cho vay đối với DNNVV.

Trong thời gian qua, nhiều ngân hàng đã tận dụng lợi thế riêng và kết hợp chiến lược thu hút khách hàng mở tài khoản thành công, như Techcombank và Vietcombank, khiến mặt bằng lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng này thấp hơn mức trung bình của hệ thống từ 0,5–1% mỗi năm Để tăng CASA, Agribank Chi nhánh 7 cần thực hiện đồng thời hai biện pháp: tăng số lượng tài khoản mở mới và nâng hạn mức số dư trên các tài khoản hiện hữu Cách thứ nhất có hiệu quả nhưng bị giới hạn bởi sự cạnh tranh giữa các ngân hàng; tuy nhiên, nếu cách này thành công với nhóm khách hàng có thu nhập và chi tiêu cao, ngân hàng sẽ “bắn một mũi tên trúng hai mục tiêu”, vừa tăng số lượng tài khoản mở mới vừa nâng hạn mức số dư trên các tài khoản hiện có.

Cách thứ hai dựa trên nguyên tắc cùng có lợi giữa ngân hàng và khách hàng Khi khách hàng có tài khoản và nhận thấy các lợi ích từ dịch vụ ngân hàng, họ sẽ chấp nhận hạn mức số dư do ngân hàng quy định Những lợi ích mà khách hàng cảm nhận gồm việc được miễn phí thanh toán qua tài khoản, miễn phí chuyển tiền và miễn phí phí quản lý tài khoản, đồng thời ngân hàng cung cấp nhiều tiện ích và dịch vụ bảo đảm an toàn cho chủ tài khoản.

Mở rộng phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng

Mở rộng phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng đối với DNNVV vừa có lợi cho ngân hàng vừa có lợi cho DNNV

Ngân hàng áp dụng công cụ bù trừ số dư nội bảng để giảm thiểu rủi ro tín dụng, trong đó số dư nợ được điều chỉnh giảm theo số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng Đương nhiên để thực hiện bù trừ nội bảng, ngân hàng và khách hàng phải có sự thỏa thuận được ghi trong hợp đồng tín dụng.

Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng mang lại hai lợi ích chính cho DNNVV: đơn giản hóa thủ tục vay vốn và đáp ứng kịp thời nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh Đối với ngân hàng, phương thức này vừa giúp kiểm soát rủi ro tín dụng vừa mở cơ hội tăng CASA nhờ dòng tiền bán hàng của DNNVV thường có lệch thời gian vào – ra tiền Tuy nhiên, hạn mức tín dụng chỉ phù hợp với khách hàng có nhu cầu tín dụng thường xuyên và có nguồn thu bán hàng ổn định.

Tăng tỷ trọng cho vay đối với lĩnh vực công nghiệp – xây dựng

DNNVV hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng đang trở thành thị trường tiềm năng lớn cho các ngân hàng, khi nhóm doanh nghiệp này không chỉ có nhu cầu vốn vay ở quy mô lớn mà còn có mức độ sử dụng dịch vụ ngân hàng ngày càng cao Trong bối cảnh ngành công nghiệp - xây dựng phát triển, DNNVV cần nguồn vốn ổn định và đồng thời hưởng lợi từ các giải pháp tài chính toàn diện như quản lý dòng tiền, thanh toán và cấp tín dụng phù hợp với quy mô sản xuất Điều này mở ra cơ hội xây dựng mối quan hệ tài chính dài hạn giữa ngân hàng và DNNVV, giúp ngân hàng mở rộng thị phần và tối ưu hóa danh mục cho vay Vì vậy, ngân hàng có thể tăng cường cung cấp các sản phẩm ngân hàng số, dịch vụ quản lý rủi ro và giải pháp vốn linh hoạt để đáp ứng nhu cầu vốn và đa dạng hóa dịch vụ cho DNNVV trong ngành công nghiệp và xây dựng.

Tuy nhiên, phát triển cho vay đối với DNNVV lĩnh vực công nghiệp – xây dựng có ba vấn đề đặt ra cho ngân hàng Đó là:

Ngân hàng cần đảm bảo nguồn vốn cho vay trung hạn và dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và nhập khẩu hàng hóa Đối với các doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, ngân hàng phải sẵn sàng cấp vay và bảo lãnh bằng ngoại tệ, giúp tối ưu hóa chi phí, thanh toán thuận tiện và quản lý rủi ro tỷ giá trong quá trình nhập khẩu.

Thời hạn vay dài hơn đồng nghĩa với khó khăn của ngân hàng trong việc kiểm soát dòng tiền thu nợ Đặc biệt với các doanh nghiệp xây dựng bất động sản có luân chuyển dòng tiền đầu tư phức tạp, yêu cầu kiểm soát vốn và dòng nợ trở nên chi tiết và nghiêm ngặt hơn Vì vậy ngân hàng cần áp dụng các biện pháp kiểm soát chặt chẽ, cụ thể nhằm bảo đảm an toàn vốn, quản lý rủi ro và theo dõi thanh toán nợ một cách hiệu quả.

Hoạt động kinh doanh của DNNVV trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng và bất động sản tiềm ẩn rủi ro cao, không chỉ do biến động thị trường mà còn do rủi ro pháp lý đầu tư Vì vậy, ngân hàng khi cấp tín dụng cho DNNVV phải triển khai thẩm định và giám sát chặt chẽ nhằm bảo đảm khả năng trả nợ và giảm thiểu rủi ro cho danh mục cho vay Trong bối cảnh từ giai đoạn 2017 trở đi, yêu cầu về an toàn nguồn vốn và tuân thủ pháp lý càng được coi trọng để duy trì sự ổn định của các khoản cho vay đối với nhóm DNNVV hoạt động ở các lĩnh vực này.

Trong năm 2020, cơ cấu khách hàng DNNVV thuộc lĩnh vực công nghiệp – xây dựng tại Agribank Chi nhánh 7 chỉ đạt 11,24%, đòi hỏi ngân hàng cân đối lại nguồn lực để tăng tỷ trọng cho vay trong lĩnh vực này Để thúc đẩy tín dụng cho công nghiệp – xây dựng, ngân hàng nên ưu tiên phân bổ nguồn lực và đơn giản hóa thủ tục cho vay, giúp các doanh nghiệp dễ tiếp cận vốn hơn Việc tái phân bổ nguồn lực và đẩy mạnh cải thiện quy trình cấp tín dụng sẽ hỗ trợ DNNVV công nghiệp – xây dựng mở rộng quy mô sản xuất và tăng trưởng kinh doanh tại địa bàn.

Đối với DNNVV, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, thủ tục vay vốn tại ngân hàng phải được thiết kế đơn giản và thuận tiện để tiếp cận nguồn vốn dễ dàng Trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp này sẵn sàng ưu tiên sự nhanh gọn của quy trình vay vốn hơn mức lãi suất vay mong muốn Vì vậy, tối giản các bước, rút ngắn thời gian xét duyệt và hỗ trợ hồ sơ phù hợp là yếu tố quyết định giúp DNNVV tiếp cận vốn ngân hàng hiệu quả, từ đó thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Tăng phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng như tác giả đề xuất ở trên cũng là cách đơn giản hoá thủ tục cho vay, nhưng cho vay từng lần vẫn là phương thức cho vay áp dụng nhiều đối với DNNVV Thực tế sự chậm trễ trong thủ tục cho vay không phải lúc nào cũng là lỗi về phía doanh nghiệp mà không ít trường hợp do trách nhiệm của nhân viên tín dụng của ngân hàng Đơn giản hoá thủ tục cho vay được triển khai thông qua cụ thể hoá quy trình cho vay, quy định các bước cụ thể từ tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, thẩm định dự án vay vốn và tài sản bảo đảm, ký kết hợp đồng tín dụng, giải ngân và giám sát thu nợ, đến thanh lý hợp đồng và giải chấp tài sản bảo đảm Quy trình cho vay sau khi cụ thể hoá các bước, ngân hàng phải công khai trên website ngân hàng

Tăng tỷ trọng cho vay trung, dài hạn

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HỖ TRỢ GIẢI PHÁP

4.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ Để hỗ trợ NHTM nói chung và Agribank Chi nhánh 7 nói riêng phát triển cho vay đối với DNNVV, tác giả kiến nghị Chính phủ các vấn đề sau:

Thứ nhất, nghiên cứu ban hành nghị định điều hành sự phối hợp hỗ trợ tín dụng cho DNNVV

Hiện nay đang có ba định chế tín dụng triển khai cho vay, bảo lãnh đối với DNNVV là Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV, Quỹ phát triển DNNVV và Quỹ cho vay của NHTM Bên cạnh đó, Chính phủ còn triển khai một số chương trình, dự án hỗ trợ tín dụng khác cho DNNVV Tuy nhiên, qua quan sát thực tiễn đã cho thấy hoạt động hỗ trợ tín dụng cho DNNVV vẫn chưa có sự phối hợp đồng bộ, phát huy hiệu quả tổng thể, chưa có một đầu mối đủ thẩm quyền để điều hành

Chính phủ đã thành lập Hội đồng Phát triển DNNVV với thư ký là Cục Phát triển doanh nghiệp trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhưng trên thực tế hoạt động của hội đồng vẫn còn yếu Hoạt động hỗ trợ tín dụng cho DNNVV liên quan trực tiếp đến chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính theo Luật hỗ trợ DNNVV Để điều chỉnh hoạt động của các công cụ hỗ trợ, Chính phủ đã ban hành Nghị định 24/2018/NĐ-CP về Quỹ Bảo lãnh tín dụng DNNVV và Nghị định 39/2019/NĐ-CP về Quỹ Phát triển DNNVV Hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại đối với DNNVV không được điều chỉnh bởi một nghị định riêng mà theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN của NHNN.

Do mục tiêu hoạt động, quy mô và tính chất nguồn vốn của các định chế tín dụng hỗ trợ DNNVV khác nhau, quy chế cho vay giữa họ có sự khác biệt nhất định Để tối đa hóa nguồn lực và đáp ứng vốn tín dụng cho DNNVV một cách hiệu quả, Chính phủ cần nghiên cứu và ban hành Nghị định điều hành sự phối hợp hoạt động tín dụng giữa các định chế tín dụng nói trên.

Thứ hai, có chính sách quy định đẩy mạnh hoạt động số hoá của DNNVV

Nghị định của Chính phủ đã quy định nhiều hỗ trợ cho DNNVV từ thuế và tín dụng đến sáng tạo và phát triển chuỗi giá trị, nhưng vẫn chưa có cơ chế hỗ trợ cho hoạt động số hoá của DNNVV Khi các ngân hàng thương mại đẩy mạnh chuyển đổi sang ngân hàng số, khách hàng là DNNVV lại chưa được số hóa hoặc số hóa nhưng hiệu quả thấp, điều này trực tiếp cản trở hoạt động cho vay và việc tiếp cận vốn Do đó, tác giả kiến nghị Chính phủ xây dựng chính sách và quy định thúc đẩy doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng đẩy mạnh hoạt động số hoá, ưu tiên khung pháp lý cho dữ liệu số, thanh toán điện tử và nền tảng ngân hàng số Việc này sẽ tăng khả năng tiếp cận tài chính, cải thiện chuỗi giá trị và nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV trên thị trường.

Thứ ba, nghiên cứu có chính sách nâng giá đất nông nghiệp thế chấp vay vốn ngân hàng

Một cản trở lớn trong tiếp cận vốn tín dụng đối với DNNVV là khó đáp ứng tài sản thế chấp Hiện nay, các DNNVV chủ yếu dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất làm tài sản bảo đảm vay vốn ngân hàng Theo Luật đất đai hiện hành, khung giá đất nông nghiệp rất thấp, do đó ngân hàng định giá tài sản bảo đảm đối với đất nông nghiệp theo khung giá do luật này quy định.

Trong thực tế, nhiều thửa đất nông nghiệp ở các huyện ngoại thành TP Hồ Chí Minh thuộc dạng phi sản xuất và người dân đang kỳ vọng các chính sách đô thị hóa để chuyển mục đích sang đất xây dựng nhà ở Giá trị thị trường của loại đất này chỉ đạt từ 50–70% giá đất ở, trong khi giá trị thế chấp ngân hàng được xác định theo khung giá đất nông nghiệp với mức khoảng 100–200 nghìn đồng/m2, gây ra sự bất cập lớn cho khả năng tiếp cận vốn và đầu tư của người dân Điều này phản ánh sự cách biệt giữa giá thị trường và định giá ngân hàng, làm tăng áp lực cho quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

Ngày 09/03/2020, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 27 cho phép TP Hồ Chí Minh hưởng cơ chế đặc thù trong quy định hệ số giá đất đền bù giải phóng mặt bằng Theo nghị quyết, hệ số giá đất nông nghiệp được điều chỉnh cao hơn giá đất Nhà nước quy định từ 10 lần (huyện Cần Giờ) đến 35 lần (đất nông nghiệp xen kẽ đất ở tại các quận) Để cởi trói cho DNNVV, tác giả kiến nghị Chính phủ có chính sách quy định giá đất nông nghiệp dùng thế chấp vay vốn ngân hàng ở mức cao hơn, theo hướng như Nghị quyết 27 đối với TP Hồ Chí Minh.

Thứ tư, tăng quy mô vốn và điều chỉnh quy chế hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV

Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy mô hình Quỹ bảo lãnh tín dụng là công cụ hiệu quả giúp DNNVV tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng thương mại Tuy nhiên, ở Việt Nam Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV hoạt động theo Nghị định 34/2018/NĐ-CP nhưng thời gian qua chưa đạt hiệu quả như mong muốn Đến ngày 31/12/2020, có 28 quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương tham gia với tổng nguồn vốn khoảng 1.500 tỷ đồng, vẫn còn quá nhỏ so với nhu cầu vốn của doanh nghiệp Điều kiện bảo lãnh hiện nay yêu cầu doanh nghiệp phải thế chấp tài sản; nếu chỉ tín chấp, Chủ tịch quỹ hoặc Hội đồng tín dụng của quỹ phải chịu trách nhiệm bảo toàn vốn Cùng với đó, quy định hợp đồng bảo lãnh có thể bị hủy ngang cũng là một rào cản, hạn chế hiệu quả của mô hình.

Quy định bảo lãnh tín dụng yêu cầu có tài sản bảo đảm được thế chấp tương ứng với khoản vay, như thế chấp vay ngân hàng Rõ ràng, khi DNNVV có tài sản thế chấp họ sẽ dùng tài sản đó để vay từ ngân hàng chứ không phải xin bảo lãnh từ Quỹ bảo lãnh tín dụng Việc áp dụng tín chấp trong bảo lãnh tín dụng quy định trách nhiệm của Chủ tịch quỹ hoặc Hội đồng tín dụng quỹ, nhưng thực tế thao tác này lại khó thực thi.

Quy định hợp đồng bảo lãnh tín dụng được hủy ngang sẽ làm giảm động lực của các ngân hàng đối với hình thức cho vay DNNVV có bảo lãnh từ Quỹ bảo lãnh tín dụng, bởi nguy cơ tranh chấp giữa ngân hàng và Quỹ có thể nảy sinh khi ngân hàng chấp nhận cấp vốn Để Quỹ bảo lãnh tín dụng thực sự phát huy hiệu quả và hỗ trợ ngân hàng phát triển cho vay đối với DNNVV, Chính phủ cần nghiên cứu và điều chỉnh các bất cập trong quy định hoạt động của quỹ, đồng thời tăng quy mô vốn điều lệ của quỹ lên mức cao hơn Việc điều chỉnh này sẽ nâng cao sự tin cậy của ngân hàng đối với bảo lãnh tín dụng và tạo điều kiện cho DNNVV tiếp cận vốn dễ dàng hơn.

Thứ năm, quyết định gói ngân sách đủ lớn để hỗ trợ các doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng vực dậy sản xuất kinh doanh

Việc thực hiện Thông tư 14/2021/TT-NHNN của NHNN đang được các ngân hàng thương mại (NHTM) triển khai tích cực, với các biện pháp miễn giảm lãi, phí, cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng, bao gồm DNNVV Tuy nguồn lực tài chính của các ngân hàng có hạn, điều này đòi hỏi Chính phủ phải có các gói hỗ trợ từ ngân sách và phối hợp với gói hỗ trợ của ngân hàng, nhằm bổ sung nguồn lực để giúp doanh nghiệp vực dậy sản xuất kinh doanh sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát.

Gói hỗ trợ từ ngân sách Chính phủ được dùng để miễn giảm lãi, bồi đắp thiệt hại cho ngân hàng khi phải cơ cấu lại thời hạn trả nợ và khoanh nợ cho khách hàng Các biện pháp này giúp giảm gánh nặng thanh toán cho người vay và duy trì hoạt động cho vay của ngân hàng trong bối cảnh khó khăn Nhờ đó, hệ thống ngân hàng có thể ổn định hơn và hỗ trợ khách hàng vượt qua thách thức tài chính.

Thứ sáu, sửa đổi quy định để đẩy nhanh giải ngân gói tín dụng 7.500 tỷ đồng cho doanh nghiệp vay trả lương với lãi suất 0%

Gói tín dụng từ nguồn tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho vay trả lương với lãi suất 0% dành cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi Covid-19 được Chính phủ quyết định và giao cho Ngân hàng Chính sách xã hội triển khai từ quý II/2020, nhằm hỗ trợ chi phí lương và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, tính đến cuối tháng 6/2021, Ngân hàng Chính sách xã hội mới chỉ giải ngân được 6,1% nguồn vốn này.

Kết quả giải ngân thấp xuất phát từ việc điều kiện vay vốn dành cho chủ doanh nghiệp được quy định quá chặt, chưa phản ánh đúng thực tế thị trường Những yêu cầu như người vay phải sạch nợ xấu tại ngân hàng tại thời điểm vay và bắt buộc phải có tài sản thế chấp làm tài sản bảo đảm khiến nhiều hồ sơ bị từ chối hoặc kéo dài thời gian thẩm định Các nội dung này được nêu trong Nghị quyết 68/NQ-.

Ngày đăng: 20/07/2022, 20:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w