1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa gia đình ở thành phố bảo lộc lâm đồng hiện nay

111 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa Gia Đình Ở Thành Phố Bảo Lộc Lâm Đồng Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Lâm Đồng
Chuyên ngành Văn Hóa
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Bảo Lộc
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 603 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những trình bày trên đây cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng củagia đình nói chung, văn hóa gia đình nói riêng trong việc tạo ra môi trườnglành mạnh, nuôi dưỡng, giáo dục nhân cách c

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là nền tảng của xã hội Sự ổn định và phát triển của xã hội phụthuộc rất lớn vào gia đình Một xã hội phát triển phồn vinh chỉ có thể xâydựng trên nền tảng của gia đình ấm no, hạnh phúc Là thiết chế xã hội cơ bản,gia đình không chỉ là môi trường quan trọng nhất để hình thành nuôi dưỡng

và giáo dục nhân cách con người mà gia đình còn là nơi bảo tồn và phát huycác giá trị văn hóa dân tộc Gia đình là tế bào của xã hội, do đó xây dựng vănhóa gia đình có mối quan hệ chặt chẽ với việc giữ gìn và phát huy bản sắc vănhóa truyền thống dân tộc Con người là chủ thể của văn hoá và cũng là sảnphẩm của văn hóa Cá thể người chỉ trở thành con người nhờ có quá trìnhnhập thân văn hóa, mà trước hết diễn ra trong môi trường gia đình Chính giađình là một thiết chế văn hoá góp phần tạo dựng nên nền tảng của xã hội Xãhội càng phát triển, càng phản ánh sự đa dạng phong phú trong cuộc sống giađình Gia đình càng hoàn thiện, càng ổn định và có nền tảng văn hoá sẽ gópphần xây dựng lối sống tốt đẹp cho xã hội Khi gia đình và xã hội không gắnkết, đồng phát triển sẽ tạo nên sự trì trệ, xáo trộn và mất ổn định xã hội

Trong các văn kiện của Đảng, vấn đề gia đình chiếm vị trí quan trọngNghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đã khẳng định: “Gia đình là tế bào của xãhội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh

tế mới, con người mới" Các Nghị quyết Đại hội lần thứ VII, VIII, IX, X củaĐảng Cộng sản Việt Nam đều đề cập đến vị trí, vai trò của gia đình trong sựnghiệp xây dựng và phát triển đất nước Đến Đại hội XI của Đảng, vị trí, vaitrò của gia đình được xác định cụ thể và rõ ràng hơn: Phát huy giá trị truyềnthống của gia đình Việt Nam, thích ứng với những giá trị của quá trình CNH,HĐH Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ

ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọnghình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huyvăn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc

Trang 2

Từ những trình bày trên đây cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng củagia đình nói chung, văn hóa gia đình nói riêng trong việc tạo ra môi trườnglành mạnh, nuôi dưỡng, giáo dục nhân cách con người, tạo nguồn nhân lựcphục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ở nước ta, trong quá trình đổi mới, với truyền thống giàu lòng nhân ái,thủy chung, trọng tình nghĩa, giá trị của đạo đức gia đình, văn hóa gia đình vàvai trò của gia đình trong quan hệ nhà - làng - nước vẫn được chú trọng Hiệnnay, nhiều gia đình Việt Nam vẫn giữ gìn và phát huy được những đức tính,phẩm chất tốt đẹp của đạo đức gia đình, văn hóa gia đình truyền thống Cùngvới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đời sống vật chất và đời sốngtinh thần của mỗi gia đình được nâng lên, là điều kiện thuận lợi cho việc pháthuy các giá trị của văn hóa gia đình Việt Nam

Tuy nhiên, bên cạnh đó,văn hóa gia đình ở nước ta hiện nay đang đặt ranhiều vấn đề Sự tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, của các sản phẩmphi văn hóa, của lối sống thực dụng phương Tây… đang làm băng hoại vănhóa, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ các gia đình Những quan

hệ thiêng liêng trong gia đình như cha mẹ và con cái, vợ chồng, anh em vớinhững chuẩn mực đạo đức cơ bản là tình nghĩa, thủy chung, hiếu thảo, hòathuận đang có nguy cơ bị xâm hại, lấn át bởi sức mạnh của đồng tiền Nhiềubiểu hiện tiêu cực về đạo đức gia đình đã và đang phát sinh, ảnh hưởng khôngnhỏ tới đạo đức cá nhân và văn hóa gia đình trên địa bàn cả nước nói chung ởthành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng nói riêng

Thành phố Bảo Lộc là một thành phố mới được thành lập của tỉnh LâmĐồng, thuộc đô thị miền núi của khu vực nam Tây Nguyên, nằm trên caonguyên Di Linh, là trung tâm kinh tế khu vực phía nam của tỉnh Là một thànhphố đô thị loại 3, thành phố Bảo Lộc có tính chất đặc thù riêng, hoàn toànkhác so với nhiều thành phố trong cả nước Đó là thành phố miền núi thuộccao nguyên vừa có thành thị và nông thôn, với 11 đơn vị hành chính, gồm 6phường và 5 xã; là địa bàn cư trú của hơn 20 dân tộc anh em sinh sống Với 4tôn giáo chính gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, trong đó tín đồcác tôn giáo chiếm tỷ lệ hơn 50% dân số toàn thành phố hiện nay [47]

Trang 3

Cũng như các địa phương khác trong cả nước, trong điều kiện pháttriển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và đô thị hóa, văn hóa gia đình ởthành phố Bảo Lộc đang có những biến đổi mạnh mẽ, đan xen cả yếu tố tíchcực và tiêu cực Do đó, việc nghiên cứu thực trạng văn hóa gia đình ở thànhphố Bảo Lộc, trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp và kiến nghị thiết thựcnhằm xây dựng văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc, đảm bảo cho sự pháttriển bền vững ở đây là việc làm cần thiết và có ý nghĩa

Xuất phát từ những lý do đó, tôi lựa chọn đề tài“Văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc - Lâm Đồng hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp hệ đào

tạo thạc sĩ Văn hoá học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, ở nước ta, xuất hiện nhiều công trình nghiêncứu về gia đình, văn hóa gia đình Liên quan đến đề tài, có thể kể đến nhiềuhướng nghiên cứu, cụ thể như sau:

Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về gia đình nói chung

- Một vài nét nghiên cứu về gia đình Việt Nam (1990), của tập thể tác

giả Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ, thuộc Trung tâmKhoa học xã hội nhân văn Quốc gia Trong công trình này, các tác giả đãnghiên cứu về vai trò, vị trí của gia đình trong xã hội nhưng mới chỉ đặt vấn

đề và gợi ý là chủ yếu

- Những nghiên cứu xã hội về gia đình Việt Nam (1991), của tập thể tác

giả của Viện Xã hội học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốcgia phối hợp với Khoa xã hội học Trường đại học Gothenburg (Thụy Điển) đãtiến hành khảo sát ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước về đặc điểm của gia đìnhViệt Nam trước những năm 1990

- Văn minh Phương Đông và gia đình Việt Nam truyền thống (1994),

Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia do quỹ ToyotaFounddation tài trợ, đã có những khảo sát và nghiên cứu, đánh giá bước đầu

về gia đình truyền thống ở Việt Nam qua một số mốc lịch sử của Việt Nam

- Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa (1998) của tác giả Lê

Ngọc Văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Ở công trình này, tác giả đã tập trung trình

Trang 4

bày về chức năng xã hội hóa để làm rõ sự biến đổi chức năng của gia đìnhViệt Nam truyền thống khi xã hội Việt Nam chuyển từ xã hội nông nghiệpsang xã hội công nghiệp.

- Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới (2003) của GS.

Lê Thi (kết quả cuộc điều tra về gia đình Việt Nam có quy mô lớn nhất từtrước tới nay), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Công trình này tác giả đã trìnhmột cách tổng thể về gia đình Việt Nam Quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế tạo ra nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi,đồng thời cũng đặt gia đình và công tác gia đình trước nhiều khó khăn, tháchthức Mặt trái của cơ chế thị trường và lối sống thực dụng tác động mạnh tớicác giá trị đạo đức truyền thống và lối sống Sự phân hóa giàu nghèo giữa cácgia đình đang có sự gia tăng

- Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam (2012) của tác giả Lê Ngọc

Văn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Công trình này trình bày hệ thống vềnhững vấn đề gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam trong hơn hai thậpniên vừa qua và gợi ý cho những nghiên cứu tiếp tục về chủ đề gia đình trongthời gian tới

Thứ hai, những công trình nghiên cứu về văn hóa gia đình

- Văn hóa gia đình và sự phát triển xã hội (1994) của nhiều tác giả, do

nhà văn Lê Minh chủ biên, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội

- Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em

(2001) của PGS.TS Lê Như Hoa, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội

- Văn hóa gia đình (2007) của GS Vũ Ngọc Khánh, Nxb Thanh niên, Hà

Nội

- Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị (2003) của TS Lê Quý

Đức và Ths Vũ Thy Huệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề lý luận vàthực tiễn về gia đình, văn hóa gia đình, xây dựng văn hóa gia đình, sự biến đổicủa gia đình và văn hóa gia đình trong bối cảnh mới, những vấn đề của gia đìnhViệt Nam từ truyền thống đến hiện tại, cũng như ảnh hưởng của văn hóa gia đìnhđối với sự phát triển của cá nhân nói riêng và xã hội nói chung

Trang 5

Thứ ba, các đề tài, luận văn, luận án nghiên cứu gia đình, xây dựng gia đình văn hóa, văn hóa gia đình dưới góc độ triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học và văn hóa học, có thể kể đến một số công trình sau:

- Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay

(2001), Luận án tiến sĩ triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học củaNghiêm Sỹ Liêm (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)

Trong luận án này, tác giả đã làm rõ vai trò, các yếu tố ảnh hưởng đến giađình và thực trạng của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay

- Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình Việt Nam hiện nay (2003), Luận án tiến sĩ Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã

hội khoa học, của Dương Thị Minh (Học viện Chính trị quốc gia Hồ ChíMinh) Trong luận án này, tác giả đã khẳng định vị trí, vai trò của phụ nữ ViệtNam được xác định là một nhiệm vụ quan trọng, tạo bình đẳng thực sự để chị

em vừa có cơ hội thể hiện, cống hiến năng lực của mình

- Gia đình trong việc bảo vệ chăm sóc trẻ em của nước ta hiện nay

(2004), Luận văn thạc sĩ Triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa họccủa Phạm Thị Xuân (Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)

Tác giả đã đề cập và khẳng định trẻ em là thành phần quan trọng cấuthành gia đình Cha mẹ và các thành viên trong gia đình là những người gầngũi mật thiết thường xuyên ở bên cạnh trẻ em, việc chăm sóc con trẻ khôngchỉ là trách nhiệm mà còn là “bản năng” của họ

- Phát huy vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay (2006), luận văn thạc sĩ Triết học, chuyên ngành chủ nghĩa

xã hội khoa học của Lê Cẩm Lệ Tác giả cũng đề cập tới vai trò quan trọng củangười phụ nữ trên cơ sở thực hiện chức năng của gia đình trong tỉnh Bạc Liêu

- Văn hóa gia đình và vấn đề xây dựng gia đình văn hóa ở thủ đô Hà Nội (2003), Luận văn thạc sỹ văn hóa học của Đỗ Xuân Đán (Trường Đại học

Văn hóa Hà Nội) Tác giả phân tích thực trạng trong bối cảnh CNH, HĐH đấtnước đồng thời khảo sát về cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa ở HàNội

Trang 6

- Văn hóa gia đình và xây dựng văn hóa gia đình trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

(2009), Luận văn thạc sĩ Văn hóa học của Nguyễn Thị Nguyệt (Học viện Chính trị

- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) Trong luận văn này, tác giả đã đánh giá thựctrạng việc xây dựng gia đình văn hóa và văn hóa gia đình ở tỉnh Hà Tĩnh

- Văn hóa gia đình ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình hiện nay (2012),

Luận văn Thạc sĩ của Võ Thị Thanh Thủy (Học viện Chính trị - Hành chínhquốc gia Hồ Chí Minh) Luận văn này nghiên cứu các phương diện lý luận vềvăn hóa gia đình, tập trung khảo sát văn hóa gia đình được thể hiện ở các hệgiá trị của gia đình

- Văn hóa gia đình trong việc giáo dục trẻ em trước tuổi đến trường tiểu học (tỉnh Hưng Yên), Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành văn hóa học của Lê

Thị Hiền Tác giả đã đề cập đến vai trò của gia đình, văn hóa gia đình trongviệc hình thành nhân cách cho trẻ, góp phần tạo ra môi trường phát triển lànhmạnh, toàn diện cho trẻ

Như vậy, có thể nói, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiêncứu về văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc - Lâm Đồng Trên cơ sở kết quảnghiên cứu của các tác giả đi trước, luận văn nghiên cứu, khảo sát về văn hóagia đình ở thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng hiện nay, đề xuất những giảipháp, kiến nghị để phát huy các giá trị văn hóa gia đình ở Bảo Lộc trong thờigian tới

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Trên cơ sở hệ thống lại những vấn đề lý luận về văn hóa gia đình, luậnvăn nghiên cứu thực trạng văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc, tỉnh LâmĐồng trong thời gian vừa qua và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng caochất lượng, hiệu quả công tác xây dựng văn hóa gia đình của địa phương thờigian tới

3.2 Nhiệm vụ

- Hệ thống những vấn đề lý luận về văn hóa gia đình, vai trò của vănhóa gia đình đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Bảo Lộc, tỉnhLâm Đồng hiện nay

Trang 7

- Khảo sát, đánh giá thực trạng văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc,tỉnh Lâm Đồng.

- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quảcông tác xây dựng văn hóa gia đình của địa phương thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: từ năm 2005 đến nay

- Về không gian: thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng về xây dựng nền văn hoá tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó có vấn đề xây dựng văn hóa gia đình

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành và đa ngànhnhư: văn hoá học, lịch sử, nhân học, xã hội học và các phương pháp nghiêncứu cơ bản khác: phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, logic và lịch sử,thống kê … để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu

6 Những đóng góp về khoa học của luận văn

Luận văn nghiên cứu thành công sẽ có những đóng góp sau:

- Đánh giá thực trạng văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc, tỉnh LâmĐồng từ năm 2005 đến nay

- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quảcông tác xây dựng văn hóa gia đình của địa phương thời gian tới

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho cácluận văn, luận án, đề tài nghiên cứu về văn hóa gia đình

Trang 8

Làm cơ sở cho các cơ quan chức năng của thành phố Bảo Lộc trongquá trình thực hiện công tác gia đình và xây dựng văn hóa gia đình ở thànhphố Bảo Lộc.

Làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác tuyên truyền vận động chocác cơ quan, ban, ngành, đoàn thể thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 9

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH

1.1.1 Quan niệm về văn hóa gia đình

1.1.1.1 Quan niệm về văn hóa

Sự phát triển của loài người gắn liền với văn hoá ngay từ những bước

đi lịch sử đầu tiên của mình Văn hoá xuất hiện cùng với con người Tuykhông phải ngay lúc đó đã có một khái niệm văn hoá nhưng có thể nói rằng từvăn hoá xuất hiện khá sớm trong ngôn ngữ của nhiều dân tộc trên thế giớingay từ thời cổ đại như Trung Hoa, Ấn Độ, Ai Cập, Hy Lạp

Ở phương Đông, từ văn hoá mà chúng ta đang sử dụng có cội nguồn từtiếng Hán Trong ngôn ngữ Hán, hai từ văn và hoá xuất hiện khá sớm, như hai

từ đơn có nghĩa riêng biệt Văn có nghĩa là vẻ đẹp, hoá có nghĩa là biến đổi,biến hoá Văn hoá gộp lại theo nghĩa gốc là làm cho đẹp, trở thành đẹp đẽ

Ở phương Tây, dựa theo sự nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học ngườiĐức W.Vunđơ, từ văn hoá bắt nguồn từ một động từ tiếng Latinh “colere” sauchuyển thành cultural, có nghĩa là cày cấy, vun trồng Về sau, từ culturalchuyển nghĩa từ trồng trọt cây cối chuyển sang vun trồng tinh thần, trí tuệ.Nhờ có quá trình gieo trồng tinh thần này mà loài người mới tạo ra được sựkhác biệt về bản chất với muôn loài Cũng chính nhờ có văn hoá mà từngcộng đồng dân tộc có thể tự nhận thức về mình và mới có thể tự phân biệtmình với người khác Sau này, trong ngôn ngữ hiện đại, Culture trong tiếngAnh, Pháp, Kutur tiếng Đức, Kultura tiếng Nga đều chỉ văn hoá

Trong khoa học xã hội và nhân văn, từ văn hoá được đưa vào trongkhoa học sớm nhất là ở Đức bởi Pu-phen-dooc, nhà nghiên cứu pháp luậtngười Đức năm 1774 và đến năm 1783, được ghi vào từ điển với nghĩa vănhoá là toàn bộ những gì do hoạt động xã hội của con người tạo ra, văn hoá làcái đối lập với trạng thái tự nhiên

Trang 10

Đầu thế kỷ XX, các ngành khoa học nghiên cứu về văn hoá nở rộ trênthế giới, có rất nhiều ngành khoa học cùng lấy thuật ngữ văn hoá làm đốitượng nghiên cứu như Dân tộc học, Sử học, Xã hội học, Nhân học…, mỗi nhànghiên cứu thường nhấn mạnh một khía cạnh đặc sắc của văn hóa, phù hợpvới cách tiếp cận của họ Kết quả là ra đời hàng nghìn định nghĩa về văn hóa,trong đó, nhà văn hóa học người Nga, A.X.Ka-rơ-min đã tổng hợp và phân ra

14 nhóm định nghĩa văn hóa như sau: [34, tr.6]

Định nghĩa mang tính chất miêu tả thiên về liệt kê các yếu tố riêng lẻ

và các biểu hiện của văn hóa, như: phong tục, tín ngưỡng, các dạng hoạtđộng: nghệ thuật, giáo dục, khoa học, thể dục thể thao

Định nghĩa mang tính chất nhân loại học;

Xuất phát từ chỗ cho rằng văn hóa là một tổng thể các sản phẩm dohoạt động người tạo ra, thế giới vật thể, đối lập với thiên nhiên, là những thứ

do con người sáng tạo ra (thiên nhiên thứ hai)

Định nghĩa mang tính chất giá trị;

Giải thích văn hóa như là tổng thể các giá trị tinh thần và vật chất, docon người sáng tạo ra

Định nghĩa mang tính chất chuẩn mực;

Xác nhận rằng nội dung của văn hóa tạo ra các chuẩn mực và quy tắc,

để điều tiết đời sống mọi người

Định nghĩa mang tính chất thích nghi;

Văn hóa được giải thích như là phương thức đáp ứng các nhu cầu, nhưmột dạng hoạt động đặc biệt, là cái vốn có ở con người, bằng cách truyền đạtkinh nghiệm mà con người thâu lượm được từ thế hệ này đến thế hệ khác

Định nghĩa mang tính chất lịch sử;

Nhấn mạnh rằng văn hóa là sản phẩm của lịch sử xã hội và phát triểnbằng cách truyền đạt kinh nghiệm mà con người thâu lượm được từ thế hệ nàyđến thế hệ khác

Định nghĩa mang tính chất chức năng;

Trang 11

Xác định văn hóa thông qua các chức năng, văn hóa thực hiện các chứcnăng trong xã hội, các chức năng ấy tạo nên sự thống nhất và mối tương liêngiữa chúng trong văn hóa.

Định nghĩa mang tính chất ký hiệu học;

Xem xét văn hóa như là hệ thống ký hiệu, được xã hội sử dụng

Định nghĩa mang tính chất biểu tượng;

Nhấn vào sự quan tâm đến việc sử dụng các biểu tượng trong văn hóa.Định nghĩa mang tính chất thông diễn học;

Liên quan đến văn hóa như một đa số văn bản, chúng được thông giải

và được suy ngẫm bởi mọi người

Định nghĩa mang tính chất tinh thần;

Xác định văn hóa như là đời sống tinh thần của xã hội, như là dòng tưtưởng và các sản phẩm khác của sáng tạo tinh thần, chúng được tích lũy trong

ký ức xã hội

Định nghĩa mang tính chất tâm lý học;

Chỉ ra mối liên hệ giữa văn hóa với tâm lý học ứng xử (hành vi) củamọi người và nhận thấy trong văn hóa có những đặc điểm quy ước về mặt xãhội của tâm lý người

Định nghĩa mang tính chất học tập;

Xem xét văn hóa như là cái mà con người học được (chứ không phải là

di truyền sinh học)

Định nghĩa mang tính chất xã hội học;

Văn hóa được quan niệm như là nhân tố tổ chức đời sống xã hội, như làtổng thể các ý tưởng, các nguyên tắc, các định chế xã hội, bảo đảm duy trìhoạt động tập thể của mọi người

Trong toàn bộ các dạng định nghĩa vừa kể trên đây, mỗi dạng đều cónội dung hợp lý, chỉ ra những (nét) đặc điểm ít hay nhiều quan trọng củavăn hóa

Luận văn tìm hiểu về văn hóa của một nhóm xã hội đặc thù là gia đình,trên một địa bàn cụ thể là thành phố Bảo Lộc - Lâm Đồng Với cách tiếp cận

Trang 12

này, văn hóa mang ý nghĩa của nhân tố có khả năng gắn kết các thành viêncủa gia đình thông qua việc chia sẻ các giá trị, thực hiện các chuẩn mực, cáchoạt động chung, thực hiện các chức năng của gia đình, qua đó hình thành nênvăn hóa gia đình.

1.1.1.2 Quan niệm về gia đình

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, “gia đình” là một trong những phạmtrù sớm xuất hiện trong lịch sử nhân loại; và từ “gia đình” có lẽ được sử dụngnhiều nhất trong ngôn ngữ hàng ngày và trong nhiều lĩnh vực hoạt động xãhội cũng như trong các nghiên cứu về gia đình, song hiếm khi “gia đình”được định nghĩa một cách rõ ràng Ngày nay, chúng ta vừa biết nhiều hơn lạivừa biết ít hơn về gia đình, bởi sự biến đổi và tính đa dạng của gia đình.Trong thực tế không có một loại gia đình đồng nhất cũng như không có mộthình thức gia đình giống nhau ở mọi nơi và mọi thời điểm Gia đình khôngchỉ khác nhau giữa các quốc gia và các nền văn hóa mà thậm chí còn khônggiống nhau từ gia đình này đến gia đình khác trong một nền văn hóa

Xác định gia đình có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của mỗi người,trong nhận thức xã hội, đồng thời còn là cơ sở để xây dựng những chính sách,chương trình phù hợp với gia đình Trong các nghiên cứu, gia đình không chỉ làchủ thể nghiên cứu mà còn là một đơn vị cơ bản để thu hút thông tin, phân tích

số liệu Vì thế việc xác định khái niệm gia đình là hết sức cần thiết cho việc tiếnhành những nghiên cứu về gia đình, định hướng các vấn đề nghiên cứu

Cho dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về gia đình đã được triểnkhai, song “gia đình là gì” vẫn còn đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi Chođến nay gia đình được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Và thuật ngữgia đình vẫn là “một thuật ngữ được định nghĩa lỏng lẻo nhất trong từ vựngcủa nhà xã hội học” [36, tr.34] Khó khăn trong việc xác định khái niệm giađình do nhiều nguyên nhân Trước hết bởi gia đình là một thuật ngữ hết sứcquen thuộc với tất cả mọi người Gia đình là nơi mỗi người sinh ra và lớn lênkhi nhắc tới khái niệm gia đình ai cũng có thể có ngay những hình dung về

nó Chính sự quen thuộc này khiến nhiều người tưởng hiểu rất rõ về gia đình

Trang 13

lại cảm thấy rất mơ hồ khi được yêu cầu cung cấp những tiêu chí để nhận diệngia đình Thứ hai, gia đình là một nhóm xã hội đặc thù, khác với các nhóm xãhội khác, gia đình hội tụ trong đó tất cả các yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa

và cả kinh tế Sự phức tạp trong chính đặc điểm của gia đình khiến việc địnhnghĩa gia đình trở nên khó khăn Thứ ba, gia đình luôn biến đổi cùng với sự biếnđổi của xã hội, của nền văn hóa mà gia đình tồn tại trong đó Không dễ dàng đểxác định một khái niệm gia đình đúng với tất cả các dạng gia đình khác nhau vềmặt văn hóa, lịch sử Thực tế lịch sử phát triển của loài người đã cho thấy, gia đình

đã tồn tại với rất nhiều kiểu loại, từ gia đình cùng dòng máu, tới gia đình cặp đôi,gia đình một vợ, một chồng,… khác biệt trong bản chất của nó Cho đến nay, giađình đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau

Từ điển tiếng Việt do tác giả Văn Tân chủ biên - Nhà xuất bản khoa học

xã hội phát hành - định nghĩa “ Gia đình là đơn vị xã hội thành lập trên cơ sởcùng dòng máu, bắt đầu có từ thời đại thị tộc mẫu hệ; trong thời đại phongkiến, thường có cha mẹ, con cháu, có khi có cả chắt nữa, trong thời đại tư bảnthường chỉ có vợ chồng và con cái” [71, tr.17]

Từ điển tiếng Việt, 1996 do tác giả Hoàng Phê chủ biên - Nhà xuất bản

Đà Nẵng định nghĩa gia đình là: “Tập hợp người cùng sống chung thành mộtđơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòngmáu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái” [71, tr.17]

Theo cách tiếp cận vĩ mô, gia đình được định nghĩa với tư cách là mộtthiết chế xã hội, một đơn vị cơ sở của xã hội, thực hiện những chức năng xãhội nhất định, trước hết là chức năng tái sinh sản ra con người Trong cuốn từđiển xã hội học của G.Endweeit và G Trommsdorff, các tác giả đưa ra địnhnghĩa gia đình như sau: Gia đình là một nhóm thuộc loại đặc biệt vì nó biểuhiện một cấu trúc vai trò nhất định (bố, mẹ, con gái, con trai, cháu, em,…),với nó thì sự tách biệt về giới tính và thế hệ là tiêu chí của cơ cấu gia đình(bằng một hay đa thế hệ, nam, nữ) và qua nó sẽ chuyển hóa một quan hệ hợptác và đoàn kết rất đặc biệt mà ở tất cả các xã hội đều tổ chức theo nghi lễ sựthành lập của nó [80, tr.27] Ngoài ra, xã hội cũng trao cho nhóm xã hội này

Trang 14

những chức năng rất đặc biệt Theo định nghĩa này, gia đình được xác định làmột nhóm có cấu trúc và đảm nhận chức năng trong xã hội.

Khái niệm về gia đình mang tính pháp lý ở Việt Nam được ghi trongLuật Hôn nhân và gia đình, năm 2000 (điều 8): “Gia đình là một tập hợpnhững người gắn bó với nhau theo hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc doquan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ vớinhau theo quy định của luật này” [49, tr.12]

Bên cạnh sự quy định của pháp luật, trong cuộc sống gia đình duy trìphương thức ứng xử, tình nghĩa giữa vợ chồng, cha me, con cái lòng biết ơn, sựquan tâm chăm sóc người già, trẻ em, sự hy sinh vì người thân của gia đình

Gia đình là một cộng đồng người mang tính huyết thống (thân tộc) khácvới cộng đồng làng xã, (phường bản) mang tính địa lý hành chính Gia đìnhcũng khác với cộng đồng người (mang đặc trưng chung về nguồn gốc xuấthiện…) Nó cũng khác cộng đồng dân tộc hình thành trên quan hệ chính trị,kinh tế, xã hội

Như vậy, có nhiều định nghĩa về gia đình với các cách tiếp cận khácnhau Dưới góc độ văn hóa học, khái niệm gia đình trong luận văn chỉ mộtcộng đồng người (nhóm xã hội) có quan hệ mật thiết với nhau trong sinh hoạtvật chất và tinh thần mang tính đặc thù dựa trên quan hệ hôn nhân và huyếtthống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên, các quan hệ pháp

lý hay luật tục khác

Định nghĩa này đã nêu bật được đặc trưng quan trọng và chức năng củagia đình trong việc sinh sản, giáo dục con người Đồng thời nhấn mạnh vai tròcủa việc xã hội hóa con người, biến con người tự nhiên thành con người xã hội.,duy trì sự sống và chuyển giao các giá trị văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khácqua những giá trị chuẩn mực trong quan hệ ứng xử cơ bản của gia đình

1.1.1.3 Quan niệm về văn hóa gia đình

Văn hóa gia đình là một nội dung quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu

về gia đình Nghiên cứu văn hóa gia đình giúp chúng ta có cơ sở khoa học đểhiểu đúng đắn bản chất và truyền thống của gia đình Việt Nam, trên cơ sở đó,

Trang 15

xác định những giải pháp để phát huy vai trò to lớn của gia đình trong sự pháttriển chung của xã hội Tuy nhiên, cho đến nay, các công trình nghiên cứu vềvăn hóa gia đình “Chưa đưa ra được một định nghĩa đầy đủ và một cách giảithích thuyết phục về khái niệm văn hóa gia đình Điều này đã gây ra khó khăncho việc xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu của văn hóa gia đình” [80,tr.47] Một số nhà nghiên cứu định nghĩa văn hóa gia đình bằng việc liệt kêcác yếu tố được coi là thuộc về văn hóa gia đình, một số tác giả khác xác địnhvăn hóa gia đình là các giá trị, chuẩn mực tốt đẹp của đời sống gia đình màmỗi thành viên trong gia đình phải chấp nhận tuân theo

Nếu coi văn hóa là gồm tất cả những gì làm cho cộng đồng này phânbiệt với cộng đồng khác, thì văn hóa gia đình, một bộ phận của văn hóa nóichung cũng “bao gồm tất cả những gì làm cho gia đình của một cộng đồng, xãhội này, dân tộc này, khu vực này khác với gia đình của các cộng đồng, xãhội, dân tộc, khu vực khác” [80, tr.52] Nghiên cứu văn hóa gia đình là tìmhiểu những dấu ấn để lại trong đời sống vật chất, tinh thần của gia đình đượcbiểu hiện thông qua các mối quan hệ, cấu trúc, chức năng, sinh hoạt, đời sốngtâm linh… của gia đình Đó là những dấu ấn “được duy trì qua lịch sử, trởthành truyền thống, ăn sâu vào tiềm thức, tâm lý, chi phối hành vi, cách ứng

xử giữa các thành viên trong gia đình, giữa gia đình với xã hội, tiếp nối từ thế

hệ này sang thế hệ khác Những dấu ấn để lại trong đời sống gia đình ở cáccộng đồng, quốc gia, dân tộc không giống nhau, tạo nên tính đa dạng của vănhóa gia đình” [80, tr.53] Xuất phát từ quan niệm như vậy, tác giả Lê NgọcVăn đưa ra định nghĩa về văn hóa gia đình:

Văn hóa gia đình là hệ thống các giá trị, chuẩn mực khu biệt đặc thùđiều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và mối quan

hệ giữa gia đình và xã hội, phản ánh bản chất của các hình thái giađình đặc trưng cho cộng đồng các tộc người, các dân tộc và các khuvực khác nhau được hình thành và phát triển qua lịch sử lâu dài củađời sống gia đình, gắn liền với những điều kiện phát triển kinh tế,môi trường tự nhiên và xã hội [80, tr.54]

Trang 16

Theo tác giả Lê Ngọc Văn, các thành tố của văn hóa gia đình không tồntại một cách cô lập mà liên kết với nhau tạo thành một hệ thống thực hiện cácchức năng của văn hóa gia đình, cùng với sự biến đổi của xã hội, văn hóa giađình cũng có những biến đổi mạnh mẽ, từ sự thay đổi của mỗi chức năng cũngnhư vị trí, mối quan hệ của các chức năng trong hệ thống văn hóa gia đình.

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh cho rằng, văn hóa con người bắt đầu từchính văn hóa gia đình Văn hóa gia đình không phải là một cái gì trừu tượng,chung chung mà được thể hiện cụ thể, sinh động trong nếp sống, sinh hoạt,suy nghĩ, tình cảm của mỗi người và mỗi thành viên trong gia đình Văn hóagia đình chính là gia phong của gia đình đó, bao gồm gia giáo (nền giáo dụctheo truyền thống gia đình); gia lễ (nghi lễ truyền thống hay tập tục riêngtrong cung cách ăn nói, ứng xử); gia huấn (truyền dạy cho con cháu nhữngđiều hay lẽ phải phù hợp với gia đình và đạo lý của xã hội); gia phả (để biếtcông đức của tổ tiên); gia đạo (đạo lý của gia tộc); gia pháp (nguyên tắc, quy tắccủa gia đình); gia thanh (tiếng thơm của gia đình); gia thế (thế lực của gia đình).Với tư cách là văn hóa của một nhóm xã hội, văn hóa gia đình và văn hóa xã hội

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, biến đổi cùng với văn hóa xã hội

Xuất phát từ quan niệm cho rằng, gia đình là một thiết chế văn hóa - xãhội đặc biệt, bao trùm trong toàn bộ cuộc sống gia đình là sự chi phối của hệthống giá trị văn hóa, các chuẩn mực đạo đức của cộng đồng xã hội đối vớinhận thức, thái độ, hành vi của các thành viên trong gia đình khi giải quyếtcác mối quan hệ trong và ngoài gia đình theo hướng Chân - Thiện - Mỹ, tácgiả Hoàng Hồng Hạnh đưa ra định nghĩa “Văn hóa gia đình là hệ thống giá trịvăn hóa được tích hợp từ các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại của mộtdân tộc, thể hiện nhận thức, thái độ, hành vi của các thành viên trong việcthực hiện các chức năng của gia đình và ứng xử trong các mối quan hệ cánhân - gia đình - xã hội, nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ vàhạnh phúc” [71, tr.479] Văn hóa gia đình có vai trò hết sức quan trọng đốivới sự phát triển của cá nhân, gia đình và xã hội Sức mạnh nội sinh của hệthống giá trị văn hóa gia đình “sẽ quy định thái độ, tình cảm, cách thức ứng

Trang 17

xử, tổ chức cuộc sống tích cực giữa các thành viên trong gia đình và mối quan

hệ của gia đình với xã hội” [71, tr.479]

Từ những trình bày trên đây về văn hóa gia đình, trong luận văn này,văn hóa gia đình được quan niệm như sau:

Văn hóa gia đình là dạng đặc thù của văn hóa cộng đồng bao gồmtổng thể sống động các hoạt động sống của gia đình mang đặc trưngvăn hóa bị chi phối bởi các giá trị, chuẩn mực, truyền thống, thị hiếucủa một cộng đồng mà các thành viên trong gia đình đã chọn lựa vàứng xử với nhau trong gia đình và ngoài xã hội [24, tr.33]

1.1.2 Cấu trúc văn hóa gia đình

Từ các cách tiếp cận khác nhau về văn hóa gia đình nên việc phân chiacấu trúc văn hóa gia đình cũng đa dạng Quan niệm văn hóa gia đình là hệ

thống các giá trị, các tác giả của đề tài cấp Nhà nước Văn hóa gia đình thuộc

chương trình KX06, do PGS,TS Lê Minh làm chủ nhiệm, xác định cấu trúcvăn hóa gia đình gồm ba yếu tố: các giá trị cấu trúc, các giá trị chức năng vàcác giá trị tâm linh Cũng ở cách tiếp cận này, nhóm nghiên cứu đề tài cấp Bộ

Bạo lực gia đình dưới góc độ tiếp cận văn hóa học, chia văn hóa gia đình

thành những nhóm giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại: nhóm giá trị vănhóa tâm linh, nhóm giá trị tình cảm - đạo đức, nhóm giá trị xã hội - công dân.Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh chia giá trị văn hóa gia đình thành hai loại: thứnhất là các giá trị văn hóa gia đình gắn với đời sống hiện hữu, với các quan hệhiện hữu của gia đình và các thành viên của nó Tiêu biểu như cấu trúc giađình, kiến trúc nhà ở… Thứ hai là các giá trị về mặt tâm linh, những giá trịbền vững và có thể xem là hằng số của văn hóa gia đình, hạt nhân của văn hóagia đình

Luận văn nghiên cứu văn hóa gia đình dưới góc độ văn hóa của mộtnhóm xã hội là gia đình, tập hợp những người có quan hệ mật thiết với nhautrong cả đời sống vật chất, tinh thần và các quan hệ đặc thù khác theo hônnhân và huyết thống Do đó, cấu trúc văn hóa gia đình được lựa chọn, là cơ sở

để khảo sát thực trạng văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc - Lâm Đồng

Trang 18

được xác định bởi ba yếu tố: văn hóa sản sinh và nuôi dạy con người, văn hóavật chất và tiêu dùng các sản phẩm vật chất, văn hóa tinh thần và hưởng thụcác sản phẩm tinh thần.

Văn hóa sản sinh và nuôi dạy con người

Việc sinh đẻ, tái sản xuất ra thế hệ tương lai một mặt để đáp ứng nhucầu của xã hội Mặt khác, đáp ứng nhu cầu của chính những thành viên tronggia đình, đặc biệt là những người đóng vai trò làm cha, làm mẹ Con cái là tàisản vô giá mà mỗi một cặp vợ chồng khi kết hôn có được Mong muốn thiênchức được làm cha, làm mẹ là điều tất yếu và thiêng liêng cao cả của các giađình Niềm vui, hạnh phúc của người làm cha, làm mẹ là được chăm sóc, nuôidạy, dưỡng dục con cái Vì vậy, khi tái sản xuất ra thế hệ tương lai, sinh con

dù trai hay gái đều rất thiêng liêng cao cả trong mỗi gia đình

Để đáp ứng nhu cầu dạy dỗ con cái, các gia đình đã “tích lũy một loạtnhững tri thức, kinh nghiệm, cách thức, thái độ và các thể chế cho việc sinh

nở, nuôi dạy con người” Từ những hiểu biết về quan hệ tính giao hay quan hệtình dục đến việc chăm sóc giáo dục thai nhi (thai giáo) ở trong bụng mẹ đếnlúc trưởng thành, từ lúc một sinh thể người được sinh ra cho tới lúc trưởngthành Những tri thức đó được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khácthông qua vai trò của giáo dục gia đình Do vậy, giáo dục trong gia đình làmột yếu tố quan trọng của văn hóa gia đình Bài học đầu tiên của con người làtrong gia đình, nơi diễn ra quá trình nhập thân văn hóa của con người từ tuổithơ ấu Giáo dục trong gia đình diễn ra liên tục trong cuộc đời con người Đó

là sự tác động một cách “kiên trì, thường xuyên, tổng thể và sâu sắc của giađình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi con người” [71,tr.358] Giáo dục gia đình chủ yếu được thực hiện bằng tình cảm, vừa toàndiện, vừa cụ thể và mang tính cá biệt cao

Giáo dục gia đình được thực hiện thông qua cách thức tổ chức đời sốnggia đình, quá trình tổ chức các hoạt động của các thành viên, dựa trên nềntảng căn bản là sự gương mẫu, sự nêu gương của các bậc cha mẹ Nguyên tắccủa giáo dục trong gia đình là tôn trọng nhân cách, cá tính và phẩm chất riêng

Trang 19

của mỗi thành viên Nội dung giáo dục gia đình rất phong phú, bao gồm: hành

vi đạo đức, tri thức căn bản; thái độ, kỹ năng sống và lao động, thể chất vàthẩm mỹ Trong đó, kỹ năng sống là một nội dung mới và đặc biệt quan trọngcủa giáo dục gia đình trong xã hội hiện đại Mục tiêu của giáo dục gia đình làtạo ra những con người hiếu thảo, có đạo đức trong sáng, có lối sống lànhmạnh, có trách nhiệm với gia đình và xã hội

Văn hóa vật chất và tiêu dùng các sản phẩm vật chất

Để đáp ứng nhu cầu vật chất, gia đình và các thành viên của nó phảitiến hành sản xuất ra các sản phẩm vật chất cho những sinh hoạt hàng ngày về

ăn, mặc, ở, đi lại và các phương thức sử dụng Những sản phẩm ấy và cácphương thức sử dụng nói lên trình độ chiếm lĩnh, khai thác các vật thể trong

tự nhiên, trình độ phát triển lực lượng bản chất của con người trong lĩnh vực sảnxuất và đời sống vật chất Từ những kinh nghiệm hiểu biết, kỹ năng, bí quyếttrong sản xuất sản phẩm tiêu dùng đến cách thức, kỹ thuật công nghệ chế táccông cụ sản xuất, các phương tiện sử dụng… từ cách tiêu dùng, phân phối,hưởng thụ, trao đổi, dâng biếu các sản phẩm vật chất đến thể chế phân chia tàisản, thừa kế gia sản đã tạo nên văn hóa vật chất của gia đình

Văn hóa tinh thần và hưởng thụ các giá trị tinh thần

Bên cạnh những biểu hiện, kinh nghiệm, cách thức ứng xử trong vănhóa sản sinh, nuôi dạy con người, văn hóa sản xuất và tiêu dùng vật chất củagia đình là toàn bộ giá trị đạo đức, tín ngưỡng tâm linh, phong tục, tập quán,thị hiếu thẩm mỹ và cả những bí quyết nghề nghiệp truyền thống… là phươngdiện văn hóa tinh thần của gia đình Chúng được đúc kết lại thành hệ giá trị,chuẩn mực, khuôn mẫu văn hóa của gia đình mà trong gia đình truyền thốnggọi là gia phong Hệ giá trị văn hóa gia đình là yếu tố cốt lõi làm nên đặcđiểm riêng của mỗi loại hình gia đình và có sức mạnh chi phối đời sống tâm

lý, tâm linh, hành vi ứng xử của các thành viên trong gia đình, trong đó nổibật là mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái

Quan hệ giữa cha mẹ và con cái bao gồm hai chuẩn mực cơ bản đó là

Từ và Hiếu Từ đòi hỏi và thể hiện tình thương, trách nhiệm với con cái Tình

Trang 20

thương và trách nhiệm của cha mẹ với con cái được hình thành trong lòng sâucủa sinh hoạt gia đình của nền văn hóa truyền thống dân tộc Trong đời sốngthường nhật, tình thương ấy được thể hiện ở sự quan tâm chăm sóc cho đờisống tinh thần và vật chất, cho tương lai của những đứa con Nuôi con khỏe,dạy con ngoan khôn lớn, trưởng thành, nhân cách ứng xử trong quan hệ cha

mẹ, anh em, họ hàng và cộng đồng xã hội, dựng vợ, gả chồng và cố gắng chắtchiu, dành dụm cho con một chút sản nghiệp vừa là trách nhiệm và vừa làniềm vui của cha mẹ Tình thương yêu và trách nhiệm đó tạo nên công nghĩasinh thành dưỡng dục của cha mẹ mà ca dao đã nói:

Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Con cái yêu quý, kính trọng, biết ơn và hiếu thảo với cha mẹ là chuẩnmực và trách nhiệm của những người con trong gia đình Đã có nhiều tấmgương hiếu thảo với gia đình, ông bà, cha mẹ được thể hiện qua hành độngchăm chỉ học tập làm làm việc, rèn đức luyện tài

1.1.3 Vai trò của văn hóa gia đình

1.1.3.1 Truyền tải văn hóa từ thế hệ trước đến thế hệ sau

Gia đình là nơi bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyềnthống Việt Nam trong thời kỳ đất nước đổi mới và hội nhập

Gia đình có vai trò rất lớn trong việc hình thành và phát triển của xãhội, góp phần xây dựng, tô thắm, làm rạng rỡ thêm bản sắc văn hoá dân tộc;

là nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng vàgiáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốtđẹp, chống lại tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc muốn tồn tại và phát triển đềuphải biết chăm sóc và bảo vệ gia đình

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò của gia đình trong xã hội:

“Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã

Trang 21

hội tốt thì gia đình càng tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì muốnxây dựng chủ nghĩa xã hội phải chú ý hạt nhân cho tốt” [42, tr.523].

Gia đình là tế bào của xã hội, cấu thành cộng đồng xã hội, là nền tảngcủa sự cấu kết cộng đồng Chính vì vậy mà khi gia đình có nguy cơ sụp đổ thì

xã hội không tránh khỏi chao đảo, kỷ cương xã hội trở nên yếu kém, chuẩnmực xã hội, giá trị đạo đức bị đảo lộn Cho nên Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấnmạnh xã hội tốt thì gia đình càng tốt và ngược lại gia đình tốt thì xã hội mớitốt Thông qua sự giữ gìn, giáo dục các giá trị truyền thống, văn hóa gia đình

đã thực hiện chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc

Các giá trị truyền thống văn hóa gia đình cũng như truyền thống vănhóa của dân tộc được các gia đình quan tâm giáo dục con cháu Đó là việcgiáo dục lòng yêu nước và ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, lòngdũng cảm, kiên cường, lòng nhân ái thủy chung, việc truyền dạy đức tính cần

cù chịu khó, tinh thần lạc quan và ý chí phấn đấu vươn lên trong cuộc sống,giáo dục lòng hiếu thảo, biết ơn ông bà, tôn kính tổ tiên, tinh thần học tập,ham hiểu biết, nâng cao tri thức, kinh nghiệm, đạo đức, lối sống, thẩm mỹ chocon cái và tinh thần tôn sư, trọng đạo, thông qua lễ tết và thờ cúng tổ tiên;thông qua các quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia đình và giữa cácgia đình với nhau; thông qua việc giữ gìn nền văn hóa nghệ thuật truyền thốngcủa dân tộc và giữ gìn các di sản văn hóa…những giá trị ấy được truyền thụ

và giáo dục cho các thế hệ con cháu từ khi mới sinh ra cho đến lúc trưởngthành, từ đời này sang đời khác

1.1.3.2 Duy trì sự cân bằng của đời sống gia đình

Ở nước ta hiện nay, đang thực hiện đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH vàhội nhập kinh tế quốc tế trong xu hướng toàn cầu hóa Sự giao lưu, mở cửa hộinhập đã đem đến cho gia đình Việt Nam nhiều cơ hội phát triển kinh tế, giao lưuhội nhập với các nền văn hóa tiến tiến của các nước trên thế giới Song, bên cạnhnhững mặt tích cực đó, mặt trái của cơ chế thị trường cũng nẩy sinh nhiều vấn đềtác động đến đời sống gia đình Việt Nam đang đứng trước những thử thách sóng

Trang 22

gió Chính vì vậy, cơ sở của sự cần bằng trong đời sống gia đình có được chính

là ở việc lựa chọn các giá trị văn hóa truyền thống của gia đình Bên cạnh đó,còn phải biết tiếp thu những tinh hoa của giá trị mới, hợp với thời đại là yếu tốcần thiết để vận dụng cụ thể trong các quan hệ ứng xử cơ bản của gia đình đểduy trì sự tồn tại, cân bằng bền vững của đời sống gia đình

1.1.3.3 Hình thành các giá trị văn hóa mới

Gia đình chính là môi trường tạo nên nhân cách con người ngay từ thuở

ấu thơ, là nơi chắp cánh cho chúng ta vào đời Gia đình là tế bào của xã hội, làhạt nhân cơ bản của sự phát triển xã hội, là nơi gắn kết tình cảm của mọi thế

hệ con người với nhau

Điều đó đã được khẳng định qua mấy nghìn năm lịch sử dựng nước vàgiữ nước của dân tộc Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, với xu hướng hòa nhậpvới cộng đồng quốc tế, chúng ta vẫn đang giữ gìn và phát huy những nét đặctrưng cơ bản về bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt vấn đề gia đình vẫn phảiđược nhìn nhận, xem xét dưới góc độ văn hóa, và là nền tảng chủ yếu để hìnhthành nhân cách văn hóa con người từ thuở ban đầu

Mỗi con người, ai cũng được sinh ra và lớn lên nơi mái ấm gia đình,những năm tháng của tuổi thơ đã đi qua để lại những ký ức tốt đẹp về một tổ

ấm gia đình, về hình ảnh của những người thân yêu trong gia đình Và chínhnhững tháng năm của thời thơ ấu đó có một ý nghĩa quyết định trong bướcđường hình thành nhân cách, lối sống, tư tưởng, văn hóa… của mỗi cá nhântrước những tác động và ảnh hưởng sâu sắc của môi trường văn hóa, xã hội vàtất cả cộng đồng

Chính vì vậy, gia đình hôm nay phải là một môi trường tái sản xuất ranhững con người mới phát triển toàn diện, có tri thức, có lương tâm, đạo đức,sống có đạo lý, biết kết hợp hài hòa giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhânnhằm thỏa mãn chung mọi nhu cầu về tâm lý, tinh thần, tình cảm và vật chấtcủa mỗi thành viên trong gia đình Giáo dục con cái từ thuở ấu thơ là chắp đôicánh cho các cháu vào đời với niềm vui sáng tạo, cảm nhận được vai trò làmchủ của mình trong việc chiếm lĩnh tri thức và có đầy đủ ý thức trách nhiệm

Trang 23

đối với gia đình, đất nước đang bước vào thiên niên kỷ mới Đó chính lànhững nền tảng quan trọng để trên cơ sở đó, các cá nhân sáng tạo và cốnghiến những giá trị văn hóa mới cho xã hội, tạo nên sự phát triển của xã hội.

1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG

1.2.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên

Bảo Lộc là một thị xã trực thuộc tỉnh Lâm Đồng, được thành lập năm

1994 trên cơ sở tách huyện Bảo Lộc cũ thành hai đơn vị mới là thị xã Bảo Lộc

và huyện Bảo Lâm Bảo Lộc nằm trên tuyến quốc lộ 20, cách Thành phố ĐàLạt khoảng 110 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 190 km, cáchthành phố Phan Thiết (Bình Thuận) khoảng 100 km Tháng 3-2009, Bảo Lộcđược công nhận là đô thị loại III thuộc tỉnh và ngày 8-4-2010, Chính phủ đã

ra Nghị quyết thành lập thành phố Bảo Lộc (trực thuộc tỉnh Lâm Đồng) BảoLộc có diện tích 23.256 ha, chiếm 2,38% diện tích toàn tỉnh Lâm Đồng Phíađông, phía nam và phía bắc giáp với huyện Bảo Lâm Phía tây giáp với huyệnĐạHuoai Địa bàn huyện này thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên đã đượcUNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới Thành phố Bảo Lộcnằm trên cao nguyên Bảo Lộc-Di Linh, địa hình có sự phân hoá thành 3 dạngđịa hình chính là núi cao, đồi dốc và thung lũng:

Núi cao ở khu vực Tây Nam (900-1.100m) chiếm 11% diện tích toànthành phố, khoảng 2.500 ha

Đồi dốc với các ngọn đồi và dải đồi dốc có đỉnh tương đối bằng phẳng(800-850m), độ dốc sườn đồi lớn, chiếm 79,8% diện tích toàn thành phố, làđịa bàn sản xuất cây công nghiệp dài ngày như chè, cà phê, dâu tằm

Thung lũng tập trung ở Lộc Châu và Đại Lào, chiếm 9,2% diện tíchtoàn thành phố Đây là địa hình thấp, bằng phẳng, thích hợp phát triển cà phê

và chè, cũng có thể trồng cây dâu và cây ngắn ngày

Thành phố Bảo Lộc được xây dựng trên các ngọn đồi tương đối bằngphẳng có độ cao trung bình 850m, địa hình dốc từ Bắc xuống Nam, từ Đôngsang Tây So với các đô thị miền núi, Bảo Lộc có địa hình xây dựng lý tưởng,đẹp về cảnh quan thiên nhiên, thuận lợi về xây dựng và phát triển du lịch

Trang 24

Bảo Lộc có khí hậu thuận lợi nhất trong vùng cao nguyên, quanh nămmát mẻ Khí hậu theo chế độ nhiệt đới gió mùa nhưng biến thiên theo độ cao

và hình thể địa hình Với những điều kiện địa lý, tự nhiên như vậy, Bảo Lộc làvùng đất phù hợp để chuyên canh trà, cà phê, dâu tằm, chăn nuôi gia súc vàphát triển các ngành công nghiệp chế biến bao gồm các ngành chế biến trà, càphê, se tơ, dệt, may mặc

Thành phố Bảo Lộc có 11 đơn vị hành chính gồm 6 phường, 5 xã

1.2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

Với chức năng là vùng kinh tế trọng điểm phía nam tỉnh Lâm Đồng,đồng thời là trung tâm công nghiệp của cả tỉnh, trong những năm qua, kinh tếthành phố Bảo Lộc luôn tăng trưởng ở mức cao, cơ cấu kinh tế trên địa bànthành phố được chuyển dịch tích cực phù hợp với tính chất kinh tế đô thị theohướng: tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp.Với thế mạnh là các ngành công nghiệp chế biến nông sản, dệt may, tơ tằm,công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác, chế biến khoáng sản và cácngành công nghiệp hỗ trợ, phụ trợ…, với hàng trăm doanh nghiệp lớn, nhỏ đã cónhững đóng góp đáng kể trong sự phát triển kinh tế của Bảo Lộc Các khu, cụmcông nghiệp đã hình thành và đi vào hoạt động ổn định như: Khu công nghiệpLộc Sơn, cụm Công nghiệp - dịch vụ Lộc Phát, cụm công nghiệp Đại Lào…Thương mại - Dịch vụ - Du lịch trong những năm gần đây tăng trưởng ổnđịnh, hệ thống trung tâm thượng mại, siêu thị, chợ trung tâm, chợ khu dân cư,nhà hàng… được quan tâm đầu tư xây mới và nâng cấp như chợ trung tâmthành phố, Siêu thị Coop Mart,….; hệ thống cơ sở lưu trú phát triển mạnh với

52 khách sạn, nhà nghỉ, các dịch vụ: tài chính, ngân hàng, bưu chính viễnthông, dịch vụ kiểm hóa, kiểm định ngày càng phát triển theo hướng hiệnđại Trên địa bàn thành phố có hầu hết chi nhánh các ngân hàng lớn như Ngânhàng Nông nghiệp phát triển nông thôn, Ngân hàng Đầu tư phát triển BIDV,Ngân hàng Công thương (ViettinBank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần SàiGòn Thương tín (Sacombank), Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB), Ngân

Trang 25

hàng Á Châu (ACB)….với cơ sở vật chất khang trang cùng với hệ thống cácQuỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn các phường xã, hoạt động kinh doanh đạthiệu quả cao, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng chung của thành phố.Trong lĩnh vực nông nghiệp, phát huy thế mạnh của các loại cây công nghiệplâu năm trên địa bàn thành phố như trà, cà phê, dâu tằm với diện tích trà 7.756

ha, cà phê hơn 8000 ha, dâu tằm 160 ha, sản lượng trà, cà phê tăng hàng năm.Trong đó sản lượng chè tươi bình quân hàng năm đạt trên 75.000 tấn, sảnlượng chè chế biến đạt 17.000 tấn/ năm; Thành phố tập trung thực hiện các

mô hình ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, nâng cao hiệu quả sản xuấtnông nghiệp; Kinh tế trang trại phát triển, có trọng tâm, quy hoạch cụ thể theothế mạnh của địa phương Đến nay, thành phố Bảo Lộc có gần 100 trang trại,bao gồm trang trại chăn nuôi và trang trại trồng trọt phát triển theo hướng quy

mô, tập trung, đảm bảo cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến [76].Các hoạt động y tế, khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, vănhóa - thông tin, thể dục thể thao… có nhiều chuyển biến tiến bộ Toàn thànhphố hiện có 74 cơ sở giáo dục từ hệ mầm non đến cao đẳng, tỷ lệ kiên cố hóatrường lớp đạt 82% Thành phố đang tập trung triển khai các dự án xây dựngphân hiệu Đại học Tôn Đức Thắng, trường PTTH chuyên Bảo Lộc, góp phầnđào tạo nguồn nhân lực cho thành phố và khu vực [76]

Ngành y tế thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế,dân số, truyền thông sức khỏe cộng đồng, chăm sóc sức khỏe sinh sản; tỷ lệtăng dân số tự nhiên giảm còn 12,1%, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 12,5

%, tỷ lệ dân số đô thị sử dụng nước sạch trên 88%.Trên địa bàn thành phố có

2 bệnh viện cấp tỉnh, 2 phòng khám khu vực và có 11 trạm y tế phường, xã,Thành phố đang tập trung triển khai dự án xây dựng mới Bệnh viện II LâmĐồng Nhìn chung, các công trình y tế tương đối đầy đủ về lực lượng, trangthiết bị, đã đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe chonhân dân thành phố và các địa phương trong khu vực phía Nam của tỉnh [75]

Công tác thông tin tuyên truyền gắn với các sự kiện chính trị, văn hóaquan trọng và thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của thành phố được triển

Trang 26

khai sâu rộng đến các khu dân cư Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựngđời sống văn hóa” được quan tâm củng cố, kiện toàn và từng bước nâng caochất lượng Toàn thành phố có 94% số khu dân cư văn hóa, 36.4% số xãphường đạt chuẩn văn hóa, 66% cơ quan đơn vị văn hóa, 86% hộ gia đình vănhóa, 36% số xã phường có thiết chế nhà văn hóa, 56,3% số thôn, tổ dân phố

có Nhà sinh hoạt cộng đồng Thành phố đang tập trung thực hiện hạng mụcsân tập bóng đá và nhà thi đấu đa năng đi đôi với triển khai dự án xây dựngtrung tâm văn hóa thể thao thành phố tại khu quy hoạch Hà Giang Chươngtrình xây dựng nông thôn mới ở 5 xã của thành phố được tập trung đẩy mạnh

và gắn kết với thực hiện các nhiệm vụ của phong trào TDĐKXDĐSVH Côngtác quản lý nhà nước về văn hóa, thông tin cơ bản thực hiện tốt Đời sống vậtchất, tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao [48]

Bưu chính, viễn thông phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu thông tin liênlạc của nhân dân trên địa bàn thành phố số máy điện thoại cố định là 17máy/100 người và di động là 29 máy/100 người, cao hơn nhiều so với bìnhquân chung toàn tỉnh Toàn thành phố có một bưu cục trung tâm và 5 bưu cụccấp 3 được trang bị hiện đại, một trung tâm viễn thông, đã hòa mạng thông tintrong nước, quốc tế và phát triển khá đều, phủ sóng rộng khắp thành phố.Mạng đại lý bưu điện đa dịch vụ phát triển rộng khắp Mạng lưới đường thưcấp II, III bảo đảm hành trình 100% xã, phường, cơ quan, đơn vị trên địa bànthành phố có báo trong ngày, 100% số trường học trên địa bàn thành phố cómạng internet, 100% số xã, phường có đại lý dịch vụ internet Thành phố có

01 Đài Truyền thanh, truyền hình với quy mô, trang thiết bị cơ bản cùng với

hệ thống các trạm Truyền thanh FM tại các phường xã đáp ứng nhu cầu vềvăn hoá tinh thần của nhân dân địa phương cũng như thực hiện tốt nhiệm vụtuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luậtcủa nhà nước đến với mọi người dân tại cơ sở [48]

Thành phố đã nỗ lực trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội, xóađói giảm nghèo Đến nay, tỉ lệ hộ nghèo giảm còn 1,85% Giải quyết việc làmhàng năm cho gần 4.200 lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 37,8% [76]

Trang 27

Hoạt động của MTTQVN và các đoàn thể đã thực hiện có hiệu quả cácphong trào thi đua yêu nước, tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân Sựlãnh đạo của các cấp ủy Đảng, năng lực quản lý, điều hành của các cấp chínhquyền đã được nâng lên, lãnh đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các mục tiêu,nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh, xây dựng hệ thống chính trị.

Đặc trưng của dân cư: Do những biến cố lịch sử trong nhiều thập niêncủa thế kỷ trước và quá trình phát triển qua những lần điều chỉnh ranh giớihành chính nên đặc điểm dân cư và dân số địa phương cũng có nhiều biếnđộng: ngoài số ít đồng bào dân tộc thiểu số gốc bản địa (chiếm 2%), số đôngdân cư của thành phố là người lao động từ các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, duyênhải miền Trung, Bắc Trung Bộ và Nam Bộ di cư đến trong những năm 1930 -

1945, họ mang theo cả gia đình đến định cư lập nghiệp, làm ăn sinh sống saunhững lần bộ phu khai phá đất đai mở đồn điền của các nhà tư sản Pháp, đicông tra mở đường giao thông, hoặc chạy trốn khi bị địch truy lùng hoặc đànáp… sống phụ thuộc làm công cho các chủ đồn điền

Năm 1954, một bộ phận đồng bào công giáo từ các tỉnh phía Bắc di cưvào Sau năm 1975 thống nhất đất nước thực hiện công cuộc đổi mới và quátrình đô thị hóa xuất phát triển của kinh tế thị trường, một bộ phận khá đôngngười lao động từ các tỉnh phía Bắc, miền Trung, có cả đồng bào dân tộc thiểu

số đến định cư lập nghiệp và làm ăn sinh sống trong các nông, lâm trường, cơquan, xí nghiệp, cơ sở sản xuất… dẫn đến dân số trên địa bàn thành phố tăngnhanh Những biến động đó là một trong các nguyên nhân làm cho đặc điểm

về dân cư của thành phố thêm đa dạng, phong phú nhiều màu sắc về tínngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán, nhận thức hiểu biết của các tầng lớpnhân dân thành phố không đồng nhất

Tuy vậy, người dân thành phố Bảo Lộc đa số xuất thân từ những ngườilao động, là người nông dân với bản chất cần cù lao động, siêng năng trongmọi công việc, có tinh thần yêu nước, biết giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa,truyền thống dân tộc, có đường lối và sự lãnh đạo của Đảng tinh thần yêunước được phát huy, đoàn kết trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm và rất

Trang 28

quý trọng tự do độc lập.

Trình độ dân trí: Trước năm 1975 do chính sách áp bức bóc lột của chế

độ thực dân đế quốc, hệ thống giáo dục của Bảo Lộc kém phát triển, số người

mù chữ chiếm trên 10%, còn phổ biến là chỉ học hết cấp 1, đặc biệt trongđồng bào DTTS ít người biết chữ

Từ sau giải phóng, được Đảng và Nhà nước quan tâm đã tổ chức xóa

mù chữ đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, hoàn thành phổ cập giáodục THCS và hiện nay đang phấn đấu để hoàn thành phổ cập chương trìnhgiáo dục PTTH Cùng với các phương tiện thông tin đại chúng và các hoạtđộng văn hóa, văn nghệ, thể thao từng bước làm cho nhận thức trong cáctầng lớp nhân dân có những chuyển biến tích cực trên cơ sở các chủ trươngđường lối chính sách của Đảng và truyền thống văn hóa dân tộc Phần lớnlực lượng trong độ tuổi lao động có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn

kỹ thuật tương đối cao so với các năm trước đây và so với các huyện trongtoàn tỉnh

1.2.3 Môi trường văn hóa

Là vùng đa văn hóa, nhiều dân tộc, nhiều cộng đồng người và truyềnthống văn hóa của nhiều vùng miền trong cả nước về sinh sống Nên ngoàinhững đặc điểm của văn hóa gia đình Việt Nam nói chung thì vẫn có nhữngnét văn hóa gia đình của các vùng, miền cư dân vùng đồng bằng sông Hồng,Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ và văn hóa gia đình của tộc người,người bản địa KơHo và Châu Mạ sống xen kẽ giữa các hộ dân cư đều hòaquyện, tạo nên sự hỗn dung, đa dạng trong văn hóa

Do có khí hậu mát mẻ quanh năm nên Bảo Lộc là nơi lý tưởng để xâydựng các khu du lịch nghỉ dưỡng Bảo Lộc có nhiều thác, hồ, suối đẹp như:Thác ĐamB'ri, thác bảy tầng, hồ Nam Phương, suối Đá Bàn Khu du lịchĐamB'ri nổi tiếng với thác nước hùng vĩ cao 57m và các cánh rừng nguyênsinh, là địa điểm lý tưởng cho nghỉ dưỡng, cắm trại Năm 2010, Công trìnhgiải trí máng trượt dài nhất Đông Nam Á được thực hiện tại khu du lịch ThácĐamB'ri thu hút hàng năm trên 130 nghìn lượt du khách [75]

Trang 29

Hệ thống khách sạn, nhà nghỉ toàn thành phố hiện có 52 cơ sở lưu trú từ

3 sao, với tiện nghi được trang bị khá tốt đã đáp ứng được nhu cầu của kháchtham quan, du lịch đến với Bảo Lộc Mạng lưới các nhà hàng, các điểm dịch

vụ bán hàng đặc sản của địa phương và hàng trăm cơ sở chế biến, kinh doanhtrà, cà phê lớn nhỏ của thành phố sẵn sàng cung ứng cho du khách các sảnphẩm của địa phương với đa dạng các loại trà Ôlong, trà hương, trà đen đãlảm nên một thương hiệu trà Blao có tiếng từ bao đời nay

Và cũng chính vì vậy, cứ 2 năm một lần thành phố lại được tỉnh giaotrách nhiệm tổ chức Lễ hội văn hóa trà Lâm Đồng - một lễ hội ngành nghềtruyền thống của nhân dân Lâm Đồng - và như một điểm hẹn cho du kháchgần xa về với vùng trà B’Lao - Bảo Lộc để được hiểu hơn về vùng đất, conngười Bảo Lộc gắn bó với nghiệp trà gần 100 năm qua trên vùng đất bazan.Những điều kiện như vậy đã thu hút một lượng khách du lịch trong và ngoàinước đến với thành phố Bảo Lộc ngày càng tăng Do vậy, sự giao lưu văn hóatrên địa bàn thành phố được mở rộng, ít nhiều đã tác động đến lối sống củacác gia đình ở thành phố Bảo Lộc

Thời gian gần đây cảnh quan kiến trúc, bộ mặt đô thị được chỉnh trang,cải thiện đáng kể Văn hoá, xã hội có bước phát triển đồng bộ An ninh - Quốcphòng vững chắc, chính trị - xã hội ổn định Thu nhập bình quân đầu người,đời sống vật chất, tinh thần và dân trí của người dân thành phố đã được cảithiện đáng kể, đạt trên mức trung bình của cả nước Nhiệm vụ xây dựng Đảng

đã được chú trọng trên cả 3 mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức Phong trào thiđua yêu nước được các ngành, các cấp và nhân dân hưởng ứng và thu đượcnhiều kết quả

Với những kết quả đạt được nói trên, thành phố Bảo Lộc đã, đang và sẽtiếp tục đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của tỉnh Lâm Đồng

Trang 30

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Gia đình là một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng con người,một thiết chế văn hóa xã hội đặc thù, được hình thành tồn tại và phát triểntrên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng,giáo dục giữa các thành viên trong gia đình Trình độ phát triển kinh tế - xãhội quyết định quy mô, kết cấu, hình thức tổ chức và tính chất của gia đình.Tuy nhiên, với tư cách là “ Tế bào xã hội”, gia đình đã tác động to lớn đếntiến trình phát triển xã hội Vị trí, vai trò to lớn của gia đình và văn hóa giađình đối với xã hội được thể hiện qua các chức năng cơ bản của gia đình:chức năng sinh sản và nuôi dạy con người, chức năng kinh tế và tổ chứcđời sống gia đình, chức năng thỏa mãn các nhu cầu tâm - sinh lý, tình cảm

và chức năng giáo dục…

Có thể thấy, thông qua việc thực hiện những chức năng này mà gia đìnhtồn tại, phát triển, đồng thời tác động đến sự biến đổi chung của xã hội Xâydựng văn hóa gia đình là điều kiện để các giá trị văn hóa gia đình lan tỏa, chiphối nhận thức, thái độ và hành vi của các thành viên gia đình xử lý các mốiquan hệ trong và ngoài gia đình, hướng đến xây dựng gia đình hạnh phúc Thôngqua sự giữ gìn, giáo dục các giá trị truyền thống văn hóa gia đình, các giá trịtruyền thống văn hóa dân tộc cũng được bảo tồn và phát huy

Nghiên cứu văn hóa gia đình, vai trò của văn hóa gia đình đối với sựphát triển của xã hội luôn là một đề tài mở đối với các nhà khoa học và nhữngngười quan tâm đến gia đình, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà đất nước

ta đang trong quá trình đổi mới, sự xuất hiện các chuẩn mực và các giá trị mớiđan xen với những chuẩn mực truyền thống Vì vậy, việc phát huy những giá trịvăn hóa gia đình có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần, giữ gìn và phát triểnnhững giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam nói chung, ở thànhphố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng nói riêng, nhằm nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ

để văn hóa gia đình trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước hômnay và trong tương lai một cách bền vững

Trang 31

Chương 2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ BẢO LỘC,

TỈNH LÂM ĐỒNG HIỆN NAY

2.1 THỰC TRẠNG VĂN HÓA SẢN SINH VÀ NUÔI DẠY CON NGƯỜI TRONG CÁC GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ BẢO LỘC

2.1.1 Quan niệm về vấn đề con cái

Con cái là tài sản vô giá của cha mẹ, sự gắn kết bền vững của hạnhphúc gia đình Quan niệm về vấn đề con cái ở mỗi thời kỳ, với mỗi cộngđồng, địa phương lại có những điểm khác nhau

Trên địa bàn thành phố Bảo Lộc đa số các gia đình đều ý thức về vấn

đề sinh con và nuôi dạy con cái Là vùng đất có nhiều cư dân của hơn 20 tỉnhthành trong cả nước về cư trú, họ mang theo những phong tục, tập quán khácnhau giữa các vùng miền nên có những nhận thức và quan niệm khác nhau ởtừng thời kỳ, cho nên việc sinh con và nuôi dạy con cái cũng có nét đặc trưngvăn hóa Thời gian qua, ở đây đã có những thay đổi nhất định của các gia đìnhtrong quan niệm về con cái Trước đây, con cái được coi là tài sản chung của

bố mẹ Gia đình càng nhiều con càng có nhiều sức lao động do đó sẽ tạo rađược nhiều của cải cho gia đình Do đặc điểm của vùng núi khu vực Nam TâyNguyên, đất rộng, người thưa nên các gia đình thường mong muốn nhiều con

để có nguồn lao động dồi dào, tạo ra của cải vật chất cho mọi sinh hoạt tronggia đình Hơn nữa, nó cũng là nền tảng về tinh thần cho các bậc làm cha, làm

mẹ sau này khi trở thành ông bà, đến lúc ốm đau được “con đàn, cháu đống”quây quần chăm sóc, họ an tâm khi về già, trái gió trở trời Ngày nay, quanniệm này đã thay đổi cơ bản Đa số các cặp vợ chồng chỉ muốn có hai con đểnuôi dạy cho tốt Việc đầu tư cho con cái là nhằm phát triển hoàn thiện conngười với những chi phí lớn cho nuôi dưỡng, học tập, đào tạo nghề nghiệpkéo dài nhiều năm Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi đó là do xã hội hiện đại,cạnh tranh gay gắt trong nhiều lĩnh vực của đời sống nên cũng như các giađình Việt Nam hiện nay, nhiều gia đình ở Bảo Lộc không muốn sinh nhiều

Trang 32

con Mô hình gia đình truyền thống “ con đàn, cháu đống” không còn phùhợp Vì thế mà mô hình hạt nhân và gia đình chỉ có từ một đến hai con dần trởnên phổ biến.

Trên địa bàn thành phố Bảo Lộc chỉ còn một bộ phận rất nhỏ các giađình có quan niệm muốn sinh nhiều con Đó là ở những vùng có trình độ dântrí thấp, thường có từ 3 con trở lên mà buộc phải có con trai để nối dõi tôngđường, rơi vào những gia đình vùng sâu, vùng xa, vùng có đồng bào dân tộcthiểu số, một bộ phận vùng đồng bào theo đạo Thiên chúa giáo ở một sốphường, xã: Phường Blao, phường Lộc Sơn, phường Lộc Phát, xã Lộc Châu,

xã Lộc Nga, xã Lộc Thanh Có nơi tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên tới 17% Tỷ lệtăng dân số tự nhiên và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở những năm 2005 và 2008quá cao Năm 2005 là 1,36% dân số tự nhiên và tỷ lệ sinh con thứ 3 là 10,2%;năm 2008 là 1,46% dân số tự nhiên và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 13% caohơn các năm từ năm 2006 đến năm 2012 [68] Trong khi đó, công tác thôngtin giáo dục tuyên truyền ở một số địa phương trên địa bàn thành phố Bảo Lộcchưa đáp ứng tính đặc thù về nghề nghiệp, địa lý, dân tộc cũng như phong tục,tập quán của vùng này Bên cạnh đó là sự thiếu hiểu biết và sử dụng cácphương pháp kế hoạch hóa gia đình Đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đồngbào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào theo đạo Thiên chúa giáo do nhữngphong tục, tập quán, yếu tố tâm lý, văn hóa của đạo công giáo cấm phụ nữ đãmang thai thì không được phá thai, phải sinh con để nuôi nấng, cùng với tâm

lý muốn có nhiều con của xã hội cổ truyền, tư tưởng có con trai nối dõi tôngđường, đông con là nhờ hồng phúc vẫn tồn tại Đây cũng chính là nỗi trở ngạicho công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình còn gặp nhiều khó khăn trên địabàn thành phố

Qua khảo sát, điều tra các phường, xã trên địa bàn thành phố Bảo Lộckhi được hỏi về mong muốn số con trong gia đình có tới 80% là muốn có 2con, 15% muốn có 3 con và 5% muốn có từ 3 người con trở lên [ Phụ lục 2]

Điều đó cho thấy, mô hình mỗi gia đình chỉ có 2 con ở thành phố BảoLộc đang ngày càng phổ biến được các gia đình lựa chọn phù hợp trong việc

Trang 33

nuôi dạy con cái cho thuận tiện để tập trung phát triển kinh tế, nâng cao chấtlượng cuộc sống và có điều kiện để học tập, công tác Việc coi trọng con traicon gái gần như là tương đương không còn khoảng cách quá xa như trước đâychỉ coi trọng con trai.

Đối với các gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số gốc Tây Nguyên làngười KơHo và người Châu Mạ thì có những đặc điểm riêng Họ rất muốn giađình đông con, đặc biệt là có con gái thì càng tốt, đây là yếu tố của chế độmẫu hệ Con cái được sinh ra theo họ mẹ và người chồng phải ở rể phụ thuộcphần lớn vào bên gia đình vợ Việc sinh sản, chăm sóc và nuôi dạy con cáicòn rất hạn chế Do đó, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng gia tăng, việc giáo dục chocon cái ăn học còn nhiều hạn chế trong những vùng đặc thù này

Người KơHo và người Châu Mạ, trước đây họ sinh con theo tập tụcsàng lọc tự nhiên và những hủ tục kiêng kị Đứa bé sinh ra thường được đưa

ra suối để tắm rửa và mẹ chúng là những người cắt rốn, dùng thuốc là những

lá cây rừng, đa phần tự sinh ở nhà chứ ít có trường hợp tới trạm xá hay bệnhviện Trong nhà, ở thời điểm có người sinh đẻ và súc vật nuôi trong nhà cũng

đẻ thì họ kiêng kị không dám vào vì sợ rằng sẽ gặp điều không tốt…Hiện nay,những hủ tục đó đã dần mất đi, do quá trình giao lưu với các gia đình ngườiKinh, học tập ở người Kinh về những cách thức lao động sản xuất và sinhhoạt hàng ngày Đặc biệt, ở một số gia đình có điều kiện về kinh tế họ cũngđầu tư cho con cái ăn học, hiểu biết, tiếp cận với các phương tiện truyền thôngđại chúng nên đời sống dân trí được nâng lên, dễ hòa đồng và biết áp dụngkhoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất Họ chính là nhân tố để góp phần xâydựng tinh thần đại đoàn kết dân tộc giúp buôn làng xóa bỏ những hủ tụckhông còn phù hợp với cuộc sống mới

Trong quan niệm về giới tính con cái, phần lớn các hộ gia đình, nhất làcác hộ gia đình là cán bộ, công nhân viên chức và một bộ phận người dân đã

có những nhận thức thay đổi trong quan niệm phải có con trai để nối dõi tôngđường đã không còn phổ biến, các gia đình có ý thức về số lần sinh con vàkhoảng cách các năm sinh để thực hiện nuôi dạy cho tốt Việc sinh con trai,

Trang 34

con gái không còn là nỗi lo ngại và trở thành áp lực cho các cặp vợ chồng trẻ.Nhiều gia đình sẵn sàng đầu tư cho con cái ăn học bất kể là con trai hay congái Họ tự cân nhắc và thận trọng trong vấn đề nuôi dạy con cái phải đến nơi,đến chốn, mục đích là chăm sóc và nuôi dạy trẻ cho tốt, nuôi con khỏe, dạycon ngoan Khi được hỏi về sự coi trọng con trai hay con gái trong gia đình,chị Nguyễn Anh Thư ở phường II, thành phố Bảo Lộc cho biết:

“ Trong xã hội bây giờ, con trai và con gái đều như nhau Con nào thìmình cũng phải lo cho chúng nó ăn học nên người, đứa nào ráng học tốt thìmình sẵn sàng đầu tư, còn đứa nào học không được phải cho đi học nghề Đứanào cũng đối xử công bằng, chứ không có coi trọng con trai mà xem nhẹ congái Anh thấy đấy, khối gia đình có con trai rất nhiều mà cũng chẳng phụ giúp

bố mẹ chu đáo, nhất là lúc ốm đau, chỉ có con gái mới gần gũi với bộ mẹ vàchăm lo chu đáo nên bây giờ, mỗi gia đình chỉ có hai con, nếu gia đình nào

không có con gái là một thiệt thòi” Điều đó, ít nhiều đã cho thấy sự nhìn

nhận và đánh giá rất khác so với xã hội truyền thống, thậm chí ở một số giađình lại thích có được con gái [ Phục lục 3]

Biểu đồ 2.1: Khảo sát về sự quan tâm coi trọng con trai hay con gái

trong gia đình

Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả tháng 12/2013 [Phụ lục 2].

Các gia đình trẻ, gia đình cán bộ, công chức, gia đình ở thành phố biếtcách chăm sóc, giáo dưỡng thai nhi từ trong bụng mẹ, từ chế độ dinh dưỡng,nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí để đứa trẻ được sinh ra khỏe mạnh, thông minh, tạođiều kiện cho cha mẹ có đủ thời gian học tập và công tác, nâng cao chất lượng

Trang 35

cuộc sống của cá nhân và gia đình Đó cũng là xu hướng của các gia đình trẻ trênđịa bàn thành phố Đặc biệt, đối với những gia đình cán bộ, công chức thì quyềnquyết định số con và lựa chọn khoảng cách sinh con để nuôi dưỡng cho phù hợp

và thuận tiện Chính yếu tố này đã góp phần làm cho tỷ lệ tăng dân số tự nhiêncủa địa phương đạt được chỉ tiêu Từ năm 2005 là 1,36%, năm 2006 là 1,33,năm 2007 là 1,32 và cho tới năm 2012 là 1,25% [68]

Như vậy, qua phản ánh thực trạng quan niệm về sinh con trong các giađình ở thành phố Bảo Lộc đã có sự thay đổi so với trước đây Nguyên nhân là

do xã hội ngày một phát triển và quá trình đô thị hóa, hội nhập kinh tế, vănhóa của đất nước nói chung và thành phố Bảo Lộc nói riêng đã có những ảnhhướng tích cực, tác động mạnh mẽ vào ý thức, trong đời sống của các giađình, làm cho trình độ nhận thức, trình độ dân trí, điều kiện sống được nânglên rõ rệt Từ đó, việc sinh sản không bị ép buộc phải sinh nhiều con vì điềukiện sản xuất không cần phải có đông con để có nhiều lao động, nhu cầu kháctrong cuộc sống các gia đình được phát triển mạnh Cùng với việc tuyêntruyền về Pháp lệnh dân số của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có chuyểnbiến tích cực nên có sự thay đổi về quan niệm đông con sang ít con Mô hìnhgia đình chỉ có hai con để nuôi dậy cho tốt là khá phổ biến, các gia đình họđều hướng tới chất lượng của cuộc sống và nguồn nhân lực chất lượng cao

2.1.2 Giáo dục trong gia đình

Cũng giống gia đình Việt Nam nói chung, mục tiêu giáo dục trong giađình ở Bảo Lộc là tạo ra những người con hiếu thảo, có đạo đức trong sáng,

có lối sống, suy nghĩ lành mạnh, có thể chất mạnh khỏe và có chuyên môn,nghiệp vụ nghề nghiệp cao, đáp ứng yêu cầu của gia đình và xã hội Hay nóicách khác, giáo dục gia đình tạo ra những con người chân chính, có đời sống

ấm no, tự do, hạnh phúc, có năng lực, trí tuệ, có lối sống lành mạnh, đạo đứctrong sáng, hết mình vì mọi người, vì quê hương

Về nội dung giáo dục trong gia đình trước đây, hầu hết tất cả các giađình ở thành phố Bảo Lộc đều chú trọng trong việc giáo dục con cái và cácthành viên gia đình về những giá trị truyền thống như răn dạy con cái phải

Trang 36

biết sống có đạo đức: “đói cho sạch, rách cho thơm”, “giấy rách phải giữ lấylề” Ăn ở phải có nhân, có nghĩa, biết kính trên, nhường dưới trong gia đình,quan hệ họ hàng, cư xử phải đạo với cộng đồng xã hội Con người phái biếttrau dồi đạo đức, biết tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống, biết cảmthụ cái hay, cái đẹp, cái nhân văn cao cả, biết nhận ra cái xấu, cái phi đạo đức

để lên án Nội dung giáo dục trong gia đình ở thành phố Bảo Lộc tương đốitoàn diện cả về tri thức, kinh nghiệm, giáo dục đạo đức và lối sống, giáo dụcnhân cách và thẩm mỹ, ý thức cộng đồng… Trong nội dung giáo dục có sự kếthừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống nhưng có đổi mới cho sự phù hợpvới yêu cầu của điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay

Giáo dục thông qua làm gương của các bậc cha mẹ là vấn đề nhiều giađình ở Bảo Lộc quan tâm Đã có rất nhiều tấm gương cha mẹ làm lụng vất vả,

hy sinh để nuôi con cái ăn học trưởng thành và nhiều tấm gương con ngoan,trò giỏi, nhiều gia đình hiếu học, dòng họ hiếu học ở địa bàn thành phố… Đâycũng chính là nét văn hóa truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam nóichung và thành phố Bảo Lộc nói riêng Thành phố Bảo Lộc là địa phương cóphong trào học tập, khuyến học khuyến tài rất phát triển ở các gia đình đượcThủ tướng Chính phủ tặng bằng khen về công tác khuyến học, khuyến tài.Nhiều gia đình cũng nhận thức được rằng, trong điều kiện hiện nay, giáo dụcgia đình đều phải hướng con người, vì con người, nhằm tạo ra những conngười, cá nhân trưởng thành với tất cả những phẩm cách cần thiết của ngườilao động độc lập, tự chủ, năng động và có khả năng thích ứng với cơ chế củanền kinh tế thị trường

Chính vì thế không chỉ những hộ gia đình ở thành phố có điều kiện màrất nhiều hộ gia đình nông dân ở một số xã như ĐamBri, Đại Lào, Lộc Nga,Lộc Châu còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế vẫn cố gắng đầu tư cho con cái

ăn học, tất cả vì con, mong muốn sau này con cái có ăn có học để đỡ vất vảtrong cuộc sống, sống có ích, có ý nghĩa góp phần xây dựng xã hội phát triểnlành mạnh Ít còn tình trạng gia đình giáo dục con cái có nếp sống và suy nghĩthực dụng “tham lợi nhỏ, bỏ lợi lớn”, trước mắt là chỉ cần cho học hết cấp 2,

Trang 37

cho học lấy cái nghề nào đó để phụ giúp cuộc sống của gia đình Đặc biệt, khôngphân biệt giới tính trọng nam coi thường nữ trong lĩnh vực đầu tư học tập, coiđầu tư cho gia đình, đầu tư cho con cái ăn học là một sự phát triển bền vững

Nhiều gia đình, dòng tộc là những tấm gương tiêu biểu về học tập đượccộng đồng nhân rộng và noi theo Tiêu biểu như dòng tộc họ Phan ở Phường I,khu dân cư xóm 3 thôn 8 xã ĐamBri và ở nhiều hộ gia đình khác nữa Riêngdòng tộc họ Phan, chỉ tính từ năm 2009 đến 2013 đã có 710 con em các gia đình

là học sinh giỏi cấp I, II, cấp III đạt loại khá trở nên, đỗ đại học là 105 em, trong

đó có 03 tiến sĩ và 04 thạc sĩ [30] Các gia đình, họ hàng, dòng tộc hàng năm đềuđóng góp quỹ khuyến học cho các gia đình có con học giỏi Đối với dòng họPhan, mỗi năm các gia đình đều đóng góp từ 20 đến 30 triệu đồng cho quỹkhuyến học Chỉ tính riêng trong năm 2013, số tiền đóng góp quỹ khuyến họccủa dòng họ đã lên tới 97 triệu đồng để kịp thời động viên các gia đình trong họ

có hoàn cảnh khó khăn [30] Hàng năm, dòng tộc này đều chọn một số gia đìnhtiêu biểu, tổ chức họp mặt, giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm về nuôi dạy con cái họctập tốt cho các gia đình khác noi theo Những hoạt động đó đã trở thành phongtrào thi đua trong học tập trong dòng tộc và cộng đồng, số con em trong gia đìnhcủa dòng tộc, khu dân cư có kết quả học tập đạt loại trung bình giảm, không cócon em là học sinh cá biệt, hư hỏng Đặc biệt là, những người thành đạt trong

họ, mặc dù đi làm nơi xa nhưng hàng năm họ vẫn về để họp mặt, chia sẻ, đónggóp cả về vật chất và tinh thần cho con em trong họ tộc mình, thậm chí giúp đỡnhau giải quyết phần lớn công ăn việc làm cho dòng tộc Đây cũng là một trongnhững giá trị lớn về mặt tinh thần, thể hiện nghĩa cử cao đẹp của người Việt Nammang tính nhân văn cao đẹp luôn được thế hệ các gia đình ở thành phố Bảo Lộc

kế thừa và phát huy

Phương pháp giáo dục của các gia đình ở Bảo Lộc rất đa dạng Trên cơ

sở kế thừa các phương pháp của gia đình truyền thống như nói chuyện, giảnggiải, khuyên bảo, thưởng phạt hoặc răn đe, thăm quan, giao lưu học hỏi…nhưng chủ yếu và có hiệu quả nhất vẫn là phương pháp thuyết phục nêu gương.Việc giáo dục nghiêng về phân tích lý lẽ, giảng giải để con cái phân biệt đúng

Trang 38

sai, tự điều chỉnh hành vi, thái độ, suy nghĩ của chúng Trước đây, giáo dụcmang tính khuôn phép lễ giáo có sẵn bằng sự chỉ bảo uy quyền, mệnh lệnhthậm chí kể cả bạo lực Phương pháp giáo dục ở đây là buộc phải tuân theo, phảichấp hành chứ không được phép phân tích đúng sai Con cái trong gia đình khôngđược phép cãi lại bố mẹ hay làm trái ý cha mẹ Tất cả các hành vi đi ngược lại ýkiến cha mẹ bất kể đúng sai đều bị lên án Cách thức giáo dục như thế tạo ra sự

ổn định, có tôn ti, trật tự trên dưới trong gia đình truyền thống Nhưng nó cũng tạo

ra những con người, cộng đồng thụ động, chỉ biết phục tùng, cam chịu, nặngđầu óc bảo thủ trì trệ, hạn chế trong việc giáo dục các tri thức mới

Tác động của kinh tế thị trường không chỉ làm thay đổi mục tiêu, nộidung giáo dục của gia đình mà còn tác động đến việc đổi mới phương thức giáodục Những gia đình có trách nhiệm, có ý thức đầy đủ về vai trò giáo dục giađình đã tìm mọi hình thức, biện pháp để tác động đến con cái theo hướng tíchcực thông qua sinh hoạt gia đình, các bậc ông bà, cha mẹ, chuyển tải nộidung văn hóa truyền thống cho con cháu như giáo dục nề nếp, gia phong, tạokhông khí gia đình ấm cúng, cởi mở, cha mẹ gần gũi lắng nghe con cái bày tỏ,định hướng con cái trong đời sống, đưa con cái đi thăm, viếng, du lịch tớinhững địa danh lịch sử, thắng cảnh thiên nhiên của đất nước…thông qua hìnhảnh, các phương tiện của truyền thông đại chúng giúp con tự nhận thức vàhoàn thiện nhân cách…đồng nghĩa với việc cá nhân, thành viên trong xã hộiphải tự vận động, tự quan tâm, tự chăm sóc bản thân nhiều hơn Chính vì thế,nhiều gia đình đã thay đổi cách giáo dục con cái theo hướng tạo tính tự lập đểcon cái phát huy vai trò chủ thể tích cực của mình Biểu hiện ở việc nhiều giađình đã có những thay đổi phù hợp về các giá trị cần giáo dục cho con cáinhư dạy con có ước mơ và biết làm giàu chính đáng, coi trọng những lao độngchân chính, có thu nhập cao hoặc biết sống đồng cảm với người khác, vớicộng đồng Hướng nội dung giáo dục của gia đình, thống nhất với giáo dụcnhà trường, xã hội góp phần tạo nên những người lao động đáp ứng yêu cầucủa điều kiện kinh tế xã hội mới

Nhìn chung, giáo dục trong các gia đình ở địa bàn thành phố Bảo Lộc

Trang 39

đã có sự thay đổi so với trước đây, giáo dục phần lớn do gia đình và nhàtrường đảm nhiệm nhưng vẫn chú trọng, trách nhiệm cao là ở chính gia đìnhthì bây giờ đã chú trọng cả ba yếu tố, gia đình, nhà trường và xã hội

Biểu đồ 2.2: Khảo sát về sự coi trọng giáo dục con cái trong gia đình

Qua số liệu điều tra cho thấy, tổng số là 200 phiếu trưng cầu ý kiếntrong 200 hộ gia đình, phương án lựa chọn nhiều nhất vẫn là cả ba yếu tố:

Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả tháng 12/2013 [Phụ lục 2]

Qua khảo sát ở các xã, phường trên địa bàn thành phố cho thấy ở cácgia đình bất kể là nông thôn, thành thị… cha mẹ càng có học vấn cao thì càngthấy được tầm quan trọng và sự tin tưởng đối với con cái họ Họ có thể nhìnnhận từ sự nhận thức từ kinh nghiệm thực tế của đời sống xã hội và bản thân

để có cách ứng xử phù hợp với con cái Đặc biệt, đối với các gia đình ởphường, rất quan tâm đến con cái thể hiện ở việc học tập, những mối quan hệcủa con, tôn trọng sự lựa chọn và biết dành thời gian để con cái tâm sự hoặcthậm chí còn tranh luận cả những vấn đề đang được xã hội quan tâm Điều đócho thấy sự bình đẳng và tính dân chủ tiến bộ trong các gia đình này màkhông hề làm mất đi uy tín cũng như vai trò của cha mẹ mà giúp con cái hiểuthêm về mình, những vấn đề mà thế hệ trẻ quan tâm cũng như những quanđiểm, suy nghĩ của họ về nghề nghiệp, giới tính, tình yêu và hôn nhân Đây làđiều ít gặp ở các gia đình truyền thống

Song bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường với quy luật cạnh tranh khốc

Trang 40

liệt đã và đang tác động đến quá trình giáo dục trong gia đình, tác động cótính hai mặt của cơ chế thị trường vừa tạo điều kiện cho giáo dục gia đìnhphát huy tính cao độ vai trò và thế mạnh của mình nhưng cũng vừa đặt ranhiều vấn đề, nhiều lo lắng thậm chí là bức xúc cho gia đình và xã hội Tácđộng của nền kinh tế hiện nay khiến cho nhiều gia đình đề cao vai trò pháttriển kinh tế, coi trọng quá mức giá trị vật chất nên các giá trị khác bị xemnhẹ, thậm chí là không quan tâm như: giáo dục con cái, xây dựng tổ ấm giađình, xây dựng quan hệ nội ngoại, quan hệ làng xóm, tổ dân phố… Nhiều giađình bị cuốn theo sự căng thẳng của những hoạt động kinh tế nên vẫn còn tìnhtrạng thiếu quan tâm đến việc dạy dỗ con cái Sự phát triển đa dạng các dịch

vụ công cộng đã khiến chức năng giáo dục, xã hội hóa của gia đình phải chia

sẻ nhiều hơn với nhiều thiết chế xã hội và các dịch vụ chăm sóc trẻ em nhưgia sư, bảo mẫu… Chính vì vậy đối với một số gia đình, việc dạy dỗ con cáigần như được chuyển giao toàn bộ chức năng cho nhà trường và xã hội Trướcđây, việc dạy dỗ con cháu về đạo đức, văn hóa là do cha, mẹ (hoặc ông, bà)đảm trách là chủ yếu thì đến nay, do bố mẹ quá bận rộn với công việc làm ăn,công việc xã hội, và rất nhiều công việc khác nên đa số các bậc phụ huynhđều gửi con đến trường ngay từ nhỏ hoặc thuê gia sư để uốn nắn, kèm cặp Dovậy, thời gian quan tâm chăm sóc hoặc chia sẻ tình cảm giữa ông, bà, cha, mẹ

và con cháu hầu như không nhiều hoặc rất hạn chế Điều đó đã dẫn đến nhiềutrường hợp đau lòng đáng tiếc xảy ra Nhiều gia đình mải làm ăn, khôngthường xuyên quan tâm, chăm sóc về tâm tư tình cảm, ước mong, khát vọng

cá nhân của con cái nơi tổ ấm gia đình, bởi thời gian gần gũi con cái quá ít,

mà nếu có gặp được để giáo dục thì lại nặng về quở trách hoặc chửi mắng,thậm chí bạo lực

Bên cạnh những bậc làm cha mẹ quan tâm, chia sẻ, tôn trọng, bìnhđẳng, hỏi ý kiến của con cái trong vấn đề giáo dục thì có những ông bố, bà mẹlại quá nghiêm khắc cứng nhắc trong việc giáo dục con cái Tuy có sự khácnhau trong cách thức giáo dục ở vùng thành thị, nông thôn, vùng sâu, vùngĐBDTTS, nhưng sự nghiêm khắc vẫn tồn tại ở những vùng nông thôn Tính

Ngày đăng: 20/07/2022, 13:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph.Ăngghen (1984), Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và sở hữu của nhà nước, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và sởhữu của nhà nước
Tác giả: Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1984
2. Toan Ánh (2012), Nếp cũ - Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua nếp cũ gia đình và Lễ - Tết - Hội hè, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ - Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua nếp cũ giađình và Lễ - Tết - Hội hè
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2012
4. Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã Bảo Lộc (2007), Lịch sử Đảng bộ thị xã Bảo Lộc, Tập 1+2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ thị xãBảo Lộc
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã Bảo Lộc
Năm: 2007
7. Mai Huy Bích (2009), Xã hội học gia đình, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học gia đình
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
8. Trần Văn Bính (1999), Toàn cầu và vấn đề gia đình, Tham luận tại Hội thảo: Tác động của toàn cầu hóa tới cơ cấu gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu và vấn đề gia đình", Tham luận tại Hộithảo: "Tác động của toàn cầu hóa tới cơ cấu gia đình
Tác giả: Trần Văn Bính
Năm: 1999
10.Bùi Đình Châu (2002), Văn hóa gia đình, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa gia đình
Tác giả: Bùi Đình Châu
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
11.Phan Đại Doãn (2010), Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế, văn hóa - xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế, văn hóa -xã hội
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
12.Khắc Dũng (2005), Nam Tây Nguyên những điều kỳ thú, Nxb Văn nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Tây Nguyên những điều kỳ thú
Tác giả: Khắc Dũng
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 2005
13.Thùy Dương (1995), Hạnh phúc gia đình, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạnh phúc gia đình
Tác giả: Thùy Dương
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 1995
14.Dương Tự Đam (1999), Gia đình và việc hình thành nhân cách thanh niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và việc hình thành nhân cách thanh niên
Tác giả: Dương Tự Đam
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1999
16.Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BanChấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
17.Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
18.Ngô Quốc Đông (2009), “Văn hóa gia đình bảo lưu và thách đố”, Diễn đàn Văn hóa nghệ thuật, (296) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa gia đình bảo lưu và thách đố”, "Diễnđàn Văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Ngô Quốc Đông
Năm: 2009
19.Đỗ Thái Đồng (1991), Gia đình truyền thống và những biến thái ở Nam bộ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình truyền thống và những biến thái ở Nam bộViệt Nam
Tác giả: Đỗ Thái Đồng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
20.Phạm Duy Đức (Chủ biên) (2004), Hoạt động giải trí ở đô thị Việt Nam hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Viện Văn hóa & Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giải trí ở đô thị Việt Namhiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phạm Duy Đức (Chủ biên)
Nhà XB: NxbVăn hóa - Thông tin
Năm: 2004
21.Phạm Duy Đức (Chủ biên) (2010), Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 xu hướng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn2011 - 2020 xu hướng và giải pháp
Tác giả: Phạm Duy Đức (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
22.Lê Quý Đức (1995), “Những giải pháp phát huy vai trò của văn hóa gia đình đối với quá trình nhập thân văn hóa của trẻ em”, Tạp chí Khoa giáo, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp phát huy vai trò của văn hóa giađình đối với quá trình nhập thân văn hóa của trẻ em”, "Tạp chí Khoagiáo
Tác giả: Lê Quý Đức
Năm: 1995
23.Lê Quý Đức (2000), Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong sụ nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong sụ nghiệp xâydựng nền văn hóa Việt Nam
Tác giả: Lê Quý Đức
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
24.Lê Quý Đức và Vũ Thị Huệ (2003), Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người phụ nữ trong văn hóa gia đìnhđô thị
Tác giả: Lê Quý Đức và Vũ Thị Huệ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
25.Phạm Thanh Hà (2011), Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnhtoàn cầu hóa hiện nay
Tác giả: Phạm Thanh Hà
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w