đến vị trí, vai trò của gia đình và người phụ nữ trong mối quan hệ và tác độnglẫn nhau với vấn đề dân số, văn hóa, cũng như sự phát triển bền vững của môitrường, hướng tìm ra con đường t
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình vận động và phát triển của lịch sử nhân loại, gia đìnhvới tư cách là một thiết chế xã hội đặc thù có một vị trí và vai trò đặc biệtquan trọng trong sự vận động và phát triển của từng chế độ xã hội Gia đình lànơi giữ gìn, bảo vệ và chuyển giao các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc từthế hệ này sang thế hệ khác Gia đình là nhân tố góp phần bảo đảm cho sựphát triển bền vững của mỗi quốc gia dân tộc Một nhà tư tưởng phương Tây
đã khẳng định: gia đình khó phá bỏ hơn quốc gia, nếu gia đình tan rã thì nhânloại sụp đổ Nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của gia đình đối với sự trườngtồn của mỗi quốc gia dân tộc và nhân loại, Liên Hợp quốc đã lấy năm 1994 là
“Năm quốc tế gia đình” với biểu tượng mái nhà bao bọc trái tim và đưa ra thôngđiệp “Gia đình, những nguồn lực và trách nhiệm cho một thế giới đang đổithay” Như vậy, gia đình không chỉ là vấn đề của một quốc gia mà đã trởthành mối quan tâm của toàn nhân loại
Ở Việt Nam, vấn đề gia đình luôn được đặt ra ở vị trí mang tầm chiếnlược quốc gia Cụ Phan Bội Châu - một sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX - đã từngkhẳng định: nước là một cái nhà lớn, nhà là một cái nước nhỏ Trong bài nóichuyện tại Hội nghị thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân - Gia đình (tháng 1/1959),Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xãhội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của
xã hội là gia đình Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạtnhân cho tốt” [40, tr.523] Thủ tướng Phạm Văn Đồng thì quan niệm: “Ba trụcột của ý thức cộng đồng người Việt đó là gia đình (nhà), làng và nước Ngàynay xây dựng một xã hội công bằng, văn minh đòi hỏi chúng ta phải trở lại vớinhững giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp từ gia đình” [39, tr.2]
Từ khi bước vào công cuộc đổi mới đất nước cho đến nay, qua các kỳĐại hội, Đảng ta luôn luôn nhấn mạnh đến vai trò quan trọng đặc biệt của giađình trong sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nướcvới các nội dung: gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong
Trang 2sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới; gia đình làmôi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách conngười, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lựcphục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, dưới tác độngcủa mặt trái nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng của văn hóa và lối sốngPhương Tây, gia đình và văn hóa gia đình Việt Nam đang đứng trước nhiềunguy cơ thách thức Kết cấu gia đình ngày càng trở nên lỏng lẻo, tỷ lệ giađình tan vỡ ngày càng cao, các tệ nạn xã hội lan tràn, bạo lực dưới mọi hìnhthức diễn ra ở khắp mọi nơi… Nhiều gia đình Việt Nam không còn tế bàolành mạnh của xã hội, không còn là môi trường trong sáng để nuôi dưỡng,giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ, không góp phần tạo nguồn nhân lực cóchất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Có ýkiến đã cho rằng khủng hoảng gia đình đang trở thành vấn đề nóng của xã hộiViệt Nam hiện nay, khủng hoảng gia đình bắt đầu từ sự tha hóa xuống cấpcủa văn hóa gia đình Rõ ràng vấn đề văn hóa gia đình và các vấn đề liên quanđến văn hóa gia đình ở nước ta hiện nay đã trở thành vấn đề thời sự nóngbỏng cấp thiết không những được đặt trên bàn nghị sự của quốc gia mà cònđược đặt trên bàn nghị sự của tất cả các địa phương trong cả nước
Bình Liêu là một huyện nghèo miền núi, dân tộc, vùng cao biên giới,nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Quảng Ninh, có tỷ lệ dân tộc thiểu số cao nhấttỉnh (trên 96%), đời sống của đồng bào các dân tộc còn gặp nhiều khó khănnhất là ở vùng sâu, vùng xa… Từ khi đổi mới đến nay, Bình Liêu cũng phảiđối mặt với tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hộinhập quốc tế Rất nhiều gia đình không còn giữ được bản sắc văn hóa tốt đẹpcủa dân tộc mình, lúng túng bất lực khi gia đình khủng hoảng bạo lực, con
hư, ngoại tình, ly hôn, nghèo… Dân tộc Tày là dân tộc có dân số đông nhất
huyện (chiếm khoảng 58,4%), có ảnh hưởng lớn nhất về chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội trên địa bàn nhưng cũng là dân tộc có nguy cơ đánh mất bản sắcnhiều nhất
Trang 3Hiện nay UBND huyện đang xây dựng Đề án “Quy hoạch bảo tồn vàphát huy giá trị di sản văn hóa, danh thắng gắn với phát triển kinh tế du lịchcủa huyện Bình Liêu đến năm 2020, định hướng đến 2030” để mở ra mộthướng đi mới trong việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Chính vìvậy, việc nghiên cứu văn hóa gia đình người Tày ở huyện Bình Liêu vào thờiđiểm này có tính khả thi cao trong việc góp phần bảo tồn, phát huy và pháttriển bản sắc văn hóa tộc người Tày ở huyện Bình Liêu, đồng thời góp phần
phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Đề tài “Văn hóa gia đình người Tày
ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh hiện nay” được thực hiện nhằm đáp
ứng yêu cầu cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn của vấn đề văn hóa gia đình
đặt ra hiện nay trên địa bàn huyện Bình Liêu
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa gia đình trongthời kỳ mở cửa, hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế, từ khi đổi mới đấtnước cho đến nay, trên phạm vi cả nước đã có nhiều công trình nghiên cứukhoa học, nhiều bài viết về văn hóa gia đình và các nội dung có liên quan đếnvăn hóa gia đình với nhiều cách tiếp cận khác nhau
Xu hướng thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về gia đình, gia đình
Việt Nam truyền thống và gia đình Việt Nam hiện đại, những biến đổi gia đình ởViệt Nam hiện nay, đề xuất các giải pháp để giúp gia đình Việt Nam thích ứng vàphát triển trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập sâu rộng với quốc tế hiện nay
Theo xu hướng này có một số công trình tiêu biểu sau:
- Một vài nét nghiên cứu về gia đình Việt Nam (1990) của nhóm tác giả
Trung tâm Nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ thuộc Trung tâmKhoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia biên soạn Công trình này đề cập đếnmột số vấn đề lý luận nghiên cứu về vai trò, vị trí của gia đình trong xã hội,nhưng mới chỉ đặt vấn đề và gợi ý là chủ yếu
- Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam (1991) của tập thể
các tác giả Viện Xã hội học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân vănQuốc gia phối hợp với Khoa Xã hội học Trường Đại học Gothenburg (Thụy
Trang 4Điển), Nxb Khoa học xã hội Các tác giả Việt Nam và Thụy Điển đã tiến hànhkhảo sát thực tiễn ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước về đặc điểm gia đình ViệtNam trước những năm 1990
- Văn minh Phương Đông và gia đình Việt Nam truyền thống (1994),
Trung tâm Khoa học Xã hội và nhân văn Quốc gia do Quỹ Toyota Foundationtài trợ, đã có những khảo sát và nghiên cứu, đánh giá bước đầu về gia đìnhtruyền thống ở Việt Nam qua một số mốc lịch sử
- Gia đình trẻ và việc hình thành nhân cách thanh niên (1999) của Phó
Tiến sĩ Dương Tự Đam, Nxb Thanh niên Công trình đã đề cập đến một sốvấn đề lý luận và phương pháp tiếp cận về gia đình và gia đình trẻ; thực trạnggia đình trẻ và chức năng giáo dục phát triển nhân cách thế hệ trẻ; gia đình trẻ
- nội dung và phương pháp giáo dục con cái
- Gia đình Việt Nam, các trách nhiệm, các nguồn lực trong sự đổi mới của đất nước (1995) của Giáo sư Lê Thi, Nxb Khoa học xã hội Công trình đã
giới thiệu với đông đảo bạn đọc một số hiểu biết về Năm Quốc tế về gia đình
và Chương trình hành động của Ban chỉ đạo Năm Quốc tế về gia đình Việt Nam;giới thiệu một số ý kiến của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta trongBan chỉ đạo Năm Quốc tế gia đình Việt Nam; ý kiến của một số chuyên gia khoahọc về thực trạng gia đình Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra; vai trò, vịtrí của gia đình trong sự đổi mới của đất nước; những kiến nghị về chính sáchkinh tế, xã hội cần quan tâm để giúp các gia đình làm tròn trách nhiệm đượcgiao phó, vươn lên xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc
- Gia đình & Phụ nữ trong biến đổi văn hóa - xã hội nông thôn (2001)
của Tiến sĩ Nguyễn Linh Khiếu Công trình đã đề cập đến những vấn đề lýluận mang tính khái quát chung về sự biến đổi văn hóa - xã hội nông thôn tácđộng đến gia đình và phụ nữ; kết quả khảo sát gia đình và phụ nữ trong biến đổivăn hóa - xã hội nông thôn tại 10 điểm nghiên cứu cụ thể của cả 3 miền Bắc -Trung - Nam, ở cả đồng bằng và miền núi, cả người kinh và người dân tộc
- Gia đình, Phụ nữ Việt Nam với dân số, văn hóa và sự phát triển bền vững (2004) của Giáo sư Lê Thi, Nxb Khoa học xã hội Công trình đã đề cập
Trang 5đến vị trí, vai trò của gia đình và người phụ nữ trong mối quan hệ và tác độnglẫn nhau với vấn đề dân số, văn hóa, cũng như sự phát triển bền vững của môitrường, hướng tìm ra con đường tốt nhất cho tương lai phát triển của nhândân, của gia đình và người phụ nữ Việt Nam.
- Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam (2012) của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Ngọc Văn, Nxb Khoa học xã hội Công trình đã đề cập đến những
vấn đề lý luận về gia đình và biến đổi gia đình; biến đổi gia đình ở Việt Nam(về chức năng kinh tế, chức năng sinh đẻ, chức năng xã hội hóa, chức năngtâm lý - tình cảm; sự biến đổi cấu trúc (về quan hệ hôn nhân, quan hệ vợchồng, quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình); quan điểm và giải pháp chínhsách về những vấn đề đặt ra từ sự biến đổi của gia đình Việt Nam…
Xu hướng thứ hait, nghiên cứu về các vấn đề lý luận và thực tiễn về văn
hóa gia đình Đi sâu tìm hiểu về định nghĩa, cấu trúc của văn hóa gia đình, vaitrò của văn hóa gia đình đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội và nhâncách cá nhân; văn hoá gia đình truyền thống và những biến đổi về giá trị văn hóagia đình trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại Vai trò của người phụ nữtrong việc xây dựng văn hóa gia đình và thực hiện các chức năng của gia đình
Theo xu hướng này có một số công trình tiêu biểu sau:
- Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em
(2001) của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Như Hoa, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa– Thông tin Công trình đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn vềvăn hóa gia đình và gia đình văn hóa, sự lệch chuẩn văn hóa gia đình và suythoái nhân cách trẻ em, Văn hóa gia đình - yếu tố quan trọng của việc hìnhthành và phát triển nhân cách trẻ em
- Văn hóa gia đình và sự phát triển xã hội (2002) của nhiều tác giả,
Nxb Văn hóa dân tộc, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật Công trình này là tập hợp bàiviết của 26 tác giả nghiên cứu về văn hóa gia đình ở nhiều khía cạnh khác nhau(về khái niệm văn hóa gia đình, văn hóa gia đình Việt Nam và nền kinh tế vậnhành theo cơ chế thị trường ở Việt Nam, vai trò của giáo dục gia đình trong bàitrừ tệ nạn xã hội, vai trò của âm nhạc trong giáo dục văn hóa gia đình, gia đình
Trang 6và vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên, người phụ nữ và vấn đề giáodục nhân cách cho trẻ em, sắc thái văn hóa gia đình người Chăm…).
- Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị (2003) của Tiến sĩ Lê Quý
Đức và Thạc sĩ Vũ Thy Huệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Công trình của haitác giả đã đề cập đến các vấn đề lý luận chung về văn hóa gia đình và vai trò củavăn hóa gia đình trong đời sống xã hội, văn hóa gia đình Việt Nam trong lịch sử
và vai trò của người phụ nữ, tình hình gia đình và văn hóa gia đình ở đô thị hiệnnay, vai trò của người phụ nữ trong xây dựng văn hóa gia đình ở đô thị hiện nay,những biến đổi và lựa chọn đối với văn hóa gia đình và vai trò của người phụ nữ
Xu hướng thứ ba, các luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ nghiên cứu về gia đình
và văn hóa gia đình theo các tiếp cận của các chuyên ngành Chủ nghĩa xã hộikhoa học, Văn hóa học… Theo hướng nghiên cứu này có các luận văn sau:
- Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay (2001), Luận án Tiến sĩ Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học của
Nghiêm Sĩ Liêm (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh)
- Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình Việt Nam hiện nay (2003), Luận án Tiến sĩ Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa
học của Dương Thị Minh (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh)
- Gia đình trong việc bảo vệ chăm sóc trẻ em của nước ta hiện nay (2004), Luận văn Thạc sĩ Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học
của Phạm Thị Xuân (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh)
- Phát huy vai trò của người phụ nữ trong việc xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay (2006), Luận văn Thạc sĩ Triết học, chuyên
ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học của Lê Cẩm Lệ (Học viện Chính trị - Hànhchính quốc gia Hồ Chí Minh)
- Gia đình truyền thống với việc xây dựng gia đình văn hóa mới của người Mường ở Hòa Bình (2005), Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học của Đặng
Trọng Nghĩa (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội)
- Văn hóa gia đình và xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay (2009), Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Văn hóa học của tác giả Nguyễn
Thị Nguyệt (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh)
Trang 7- Văn hóa gia đình ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình hiện nay (2012),
Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Văn hóa học của tác giả Võ Thị Thanh Thủy(Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh)…
Các tác giả Luận án Tiến sĩ và Luận văn Thạc sĩ viết về đề tài gia đình
và văn hóa gia đình đều đã đề cập đến cả lý luận và thực tiễn các vấn đề cóliên quan đến thực trạng gia đình và văn hóa gia đình; vai trò của gia đình vàvăn hóa gia đình đối với việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ; đốivới việc xây dựng gia đình văn hóa trong phạm vi một địa phương, xây dựnggia đình văn hóa của một tộc người dân tộc thiểu số; vai trò của người phụ nữtrong gia đình và trong việc xây dựng gia đình văn hóa…đồng thời các tác giả
đã đưa ra được các nhóm giải pháp thiết thực có tính khả thi phù hợp đề tàinghiên cứu của bản thân nhằm góp phần xây dựng gia đình Việt Nam no ấm,tiến bộ, hạnh phúc góp phần tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứngyêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước
Ngoài ra, ở nước ta còn có hàng trăm bài viết của các tác giả có tâmhuyết, có trách nhiệm nghiên cứu gia đình và văn hóa gia đình trong bối cảnhđất nước đổi mới, mở cửa, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, trong cơ chế thịtrường…được tăng tải trên các báo và tạp chí
Nhìn chung, các công trình khoa học kể trên và các bài viết về các vấn
đề có liên quan đến văn hóa gia đình đều đã đề cập đến đề tài nghiên cứu củabản thân cả về phương diện lý luận và thực tiễn Đây là các tài liệu quan trọng
để tác giả tham khảo để thực hiện đề tài Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiệnnay chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về văn hóa gia đình tộc người
Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh Vì vậy, đề tài “Văn hóa gia đình người Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh hiện nay” không trùng với
bất kỳ công trình nào đã được công bố
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Từ việc tìm hiểu đặc điểm của văn hóa gia đình truyền thống của ngườiTày ở địa phương, luận văn đi sâu phân tích thực trạng văn hóa gia đình
Trang 8người Tày ở huyện Bình Liêu từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi chođến nay, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng văn hóagia đình người Tày, góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hộicủa địa phương, đồng thời góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tộcngười Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh.
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
Một là, làm rõ cơ sở lý luận chung về văn hóa gia đình, cấu trúc của văn
hóa gia đình, tổng quan về người Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh
Hai là, khảo sát, tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng văn hóa gia
đình người Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh thời kỳ đổi mới đất nước
Ba là, dự báo xu hướng xu hướng biến đổi của văn hóa gia đình người
Tày đến năm 2020, tầm nhìn 2030, từ đó đề xuất phương hướng, nhiệm vụ vàgiải pháp nhằm nâng cao chất lượng văn hóa gia đình người Tày ở huyệnBình Liêu tỉnh Quảng Ninh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là văn hóa gia đình người Tày ởhuyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh hiện nay
có người Tày tập trung cư trú trên địa bàn huyện Bình Liêu
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng, Nhà nước về
Trang 9văn hóa gia đình Những thành tựu lý luận nghiên cứu về văn hóa gia đìnhcủa giới học thuật trong và ngoài nước.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp lôgic và lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu trường hợp,phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp liên ngành
6 Đóng góp mới của luận văn
Tổng hợp và kế thừa những thành quả nghiên cứu lý luận về văn hóagia đình, trên cơ sở những tư liệu tập hợp được, luận văn là công trình đầu tiênnghiên cứu một cách tương đối hệ thống về văn hóa gia đình người Tày ởhuyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1 Ý nghĩa lý luận
Thông qua việc nghiên cứu văn hóa gia đình của một tộc người thiểu sốtrong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, luận văn đã làm rõ thêm một số vấn đề lýluận về văn hóa gia đình
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể giúp các cơ quan chức năng
và cán bộ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa tham mưu đề xuất các chính sáchnhằm bảo tồn, phát huy và phát triển giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đìnhngười Tày nói riêng và gia đình các tộc người khác trên địa bàn huyện nóichung gắn với việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho các trường THCS và THPT trênđịa bàn khi học sinh tìm hiểu về văn hóa các dân tộc thiểu số ở địa phương;đồng thời là tài liệu tham khảo cho cán bộ miền xuôi lên công tác ở Bình Liêumuốn gắn bó lâu dài với vùng đồng bào dân tộc thiểu số
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương, 10 tiết
Trang 10Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH
VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN BÌNH LIÊU
TỈNH QUẢNG NINH
1.1 QUAN NIỆM VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH
1.1.1 Quan niệm về gia đình
Gia đình là một dạng cộng đồng đặc biệt, một thể chế xã hội có tínhtoàn cầu Là thiết chế xã hội bền vững nhất, khó phá bỏ nhất Gia đình gắnliền với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia dân tộc và của
cả nhân loại Gia đình có tầm quan trọng đặc biệt như vậy, cho nên vấn đề giađình từ lâu đã trở thành đề tài được các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học ởnhiều chuyên ngành khác nhau quan tâm lý giải Tuy nhiên do gia đình là mộtthiết chế xã hội phức tạp gắn chặt với các yếu tố về chính trị, kinh tế, văn hóa
- xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc…và do mục đích nghiên cứu khác nhau,cách tiếp cận khác nhau cho nên các quan niệm về gia đình cũng khác nhau
Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác (C.Mác và Ph.Ăng ghen) quanniệm: “Hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo ranhững người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ
và con cái, đó là gia đình” [38, tr.41] Theo quan niệm mác xít, gia đình đượctạo thành bởi hai mối quan hệ cơ bản: quan hệ hôn nhân (chồng - vợ) và quan
hệ huyết thống (cha mẹ - con cái), đồng thời nhấn mạnh chức năng quan trọngcủa gia đình đó là chức năng duy trì nòi giống, bảo đảm sự tồn tại và pháttriển của cá nhân và xã hội
Các tác giả trong Từ điển Tiếng việt cho rằng gia đình là “Đơn vị xãhội, thành lập trên cơ sở dòng máu, bắt đầu có từ thời đại thị tộc mẫu hệ, trongthời đại phong kiến thường có cha, mẹ, con cháu, có khi có cả chắt, trong thờiđại Tư bản chủ nghĩa thường chỉ có vợ chồng và con cái” [67, tr.174] Địnhnghĩa này đã khái quát được một số dấu hiệu đặc trưng của gia đình: gia đình là
tế bào của xã hội, là một xã hội thu nhỏ, có quan hệ huyết thống, có lịch sử hình
Trang 11thành và phát triển gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người qua cáchình thái kinh tế xã hội Sự biến đổi của mô hình gia đình gắn liền với sự biếnđổi của các hình thái kinh tế - xã hội Tuy nhiên quan niệm này chưa phản ánhđược vai trò của gia đình đối với xã hội qua các chức năng của nó.
Nhà nghiên cứu xã hội học Lê Thi quan niệm:
Khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thànhtrên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, nảy sinh quan hệ quan
hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng, nộingoại), đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số người được gia đìnhnuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống các thành viên gia đình gắn bóvới nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm), giữa họthường có những điều ràng buộc có tính pháp lý, được nhà nước thừa nhận vàbảo vệ (được ghi trong Luật hôn nhân và gia đình của nước ta) Đồng thờitrong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép và cấm đoánquan hệ tình dục giữa các thành viên [59, tr.42]
Ở đây, tác giả đã đề cập tới nhiều nét đặc trưng, bản chất cơ bản của giađình nhưng nặng về trình bày phân tích chưa khái quát cô đọng
Các tác giả trong Ban biên soạn giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa họcquan niệm:
Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hìnhthành, duy trì và củng cố chủ yếu trên cơ sở hôn nhân và huyếtthống… yếu tố huyết thống và tình cảm là nét bản chất nhất của giađình Nhưng xét rộng hơn và đầy đủ hơn, gia đình không chỉ là mộtđơn vị tình cảm tâm lý mà còn là một tổ chức kinh tế, tiêu dùng (sởhữu, sản xuất, thu nhập, chi tiêu); một môi trường giáo dục văn hóa(văn hóa gia đình và cộng đồng); một cơ cấu - thiết chế xã hội (có
Trang 12mà thành viên của nó bị ràng buộc lẫn nhau bởi một quan hệ hônnhân, quan hệ ruột thịt, cộng đồng, tồn tại và trách nhiệm đạo đứclẫn nhau: gia đình chính là cái tất yếu xã hội mà trong đó cái nhucầu xã hội về việc tái tạo dân cư cả về mặt thể xác lẫn tâm hồnđược bảo đảm [53, tr.72]
Các quan niệm trên đã đề cập đến cơ sở hình thành, bản chất, cấu trúc
và một số chức năng của gia đình
Dưới góc nhìn văn học, nhà văn Ma Văn Kháng quan niệm: “Gia đìnhcái đơn vị xã hội nhỏ nhất của xã hội loài người, mặc những biến động lớn,nhỏ, mặc sự tan có khi của cả một tập thể cộng đồng lớn này khác, vẫn cứ tồntại và vững bền” [36, tr.14] Quan niệm này cũng nhấn mạnh vai trò gia đình
là tế bào của xã hội và khẳng định tính bền vững của gia đình
Chỉ thị số 49 - CT/TW ngày 21/02/2005 của Ban Bí thư “về xây dựnggia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” khẳng định:
Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trườngquan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách conngười, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lạicác tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng
về gia đình, mỗi quan niệm có một cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau về giađình song chưa có quan niệm nào phản ánh đầy đủ, toàn diện về cơ sở hìnhthành, đặc trưng, bản chất, vai trò, chức năng của gia đình
Trên cơ sở tìm hiểu và kế thừa các quan niệm về gia đình nêu trên, dướigóc độ chuyên ngành văn hóa học, có thể quan niệm về gia đình như sau: giađình là khái niệm được dùng để chỉ một nhóm xã hội được hình thành trên cơ
Trang 13sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống được nảy sinh từ quan hệ hônnhân (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại …) có chung một khônggian sinh tồn Gia đình là nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hìnhthành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, là nơi lưu giữ và sángtạo văn hóa của cộng đồng dân tộc, quốc gia và nhân loại, là nhân tố thúc đẩy
xã hội phát triển
Cấu trúc gia đình thường được xem xét trên các tiêu chí sau:
Hình thái cấu trúc mẫu hệ hay phụ hệ, hình thái cấu trúc đa hệ hay giađình hạt nhân, cấu trúc gia đình đầy đủ hay gia đình không đầy đủ (gia đìnhkhuyết), cấu trúc hôn nhân một vợ, một chồng hay đa phu đa thê
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, hình thái gia đình phụ hệ (đànông giữ vai trò chủ thể, quyết định mọi việc trong gia đình), gia đình đa thế hệ(thường gồm 3 thế hệ trở lên cùng chung sống: cụ, ông bà, cha mẹ, con cháu,chắt…) phổ biến Còn trong xã hội hiện đại, hình thái gia đình hạt nhân (chỉ
có vợ, chồng, hoặc gia đình gồm có bố mẹ và những người con chưa trưởngthành (gia đình có một hoặc hai thế hệ) chiếm đại đa số Bên cạnh đó, trong
xã hội hiện nay xuất hiện ngày càng nhiều cấu trúc gia đình không đầy đủ (giađình chỉ có một người hay có bố hoặc mẹ cùng với con cái do góa, ly hôn, lythân hoặc chỉ có phụ nữ đơn thân không lấy chồng nhưng có con) Với tưcách là một tế bào xã hội, gia đình chịu ảnh hưởng rất nhiều của quá trìnhbiến đổi về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật.Song gia đình lại không chịu sự tác động của môi trường xã hội bên ngoàimột cách thụ động, mà có sự phát triển tương đối độc lập, vừa có tính liên tục
kế thừa, vừa có tính đổi mới Gia đình có sức sống dẻo dai, bền bỉ, năng độngnhưng có khi lại cố hữu trong việc duy trì truyền thống cũ, phản kháng, chốnglại sự xâm nhập của cái mới
1.1.2 Quan niệm về văn hóa gia đình
1.1.2.1 Quan niệm về văn hóa
Thuật ngữ văn hóa xuất hiện trong ngôn ngữ nhân loại từ rất sớm Ngay
từ thời La Mã cổ đại, trong tiếng La Tinh đã xuất hiện từ “văn hóa” (culture)
Trang 14Từ Văn hóa lúc đầu có nghĩa “gieo trồng trên đất đai” sau chuyển nghĩa sang
“vun trồng trí tuệ, vun trồng tinh thần, giáo dục con người” Theo định nghĩacủa từ Hán - Việt “văn hóa” có nghĩa là “văn trị giáo hóa”, “hóa nhân tịchdục” tức là phải giáo dục cảm hóa con người để có thể quản lý, điều hành xãhội bằng “văn” Thông qua nhân nghĩa, nhân văn coi trọng giáo dục để bình
ổn xã hội, tạo lập kỷ cương Văn hóa trong từ nguyên của cả phương Đông vàphương Tây đều có chung một nghĩa căn bản là sự giáo hóa, vun trồng nhâncách con người, làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn
Từ đó cho đến nay đã có hàng trăm quan niệm khác nhau về văn hóa,
có thể kể đến một số quan niệm về văn hóa được nhiều người biết đến nhưquan niệm về văn hóa của F.Mayor, nguyên tổng giám đốc Tổ chức Giáo dục,khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNETSCO), quan niệm về vănhóa của UNETSCO, quan niệm về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Khi nghiên cứu các quan niệm về văn hóa, chúng tôi đồng tình vớinhận định đánh giá chung về những đặc điểm cơ bản của văn hóa như sau:
Thứ nhất, theo nghĩa rộng nhất, văn hóa là toàn bộ hoạt động sáng tạo
của con người nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con ngườitrong quá trình lịch sử Như vậy, có văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.Gắn với văn hóa vật chất là toàn bộ những gì do con người sản xuất ra nhằmđáp ứng nhu cầu vật chất như ăn, mặc, ở, sinh hoạt, đi lại, công cụ sản xuất,phương tiện chiến đấu…nói lên mức độ biểu hiện và trình độ phát triển tronglĩnh vực sản xuất và đời sống vật chất của con người Gắn với văn hóa tinhthần là toàn bộ những thành tựu về khoa học, các giá trị đạo đức, thẩm mỹ, tínngưỡng, tôn giáo, lễ hội, phong tục, ngôn ngữ…nói lên mức độ biểu hiện vàtrình độ phát triển các lực lượng bản chất người trong sản xuất tinh thần
Thứ hai, trong văn hóa có văn hóa cá nhân và văn hóa cộng đồng Văn
hóa cá nhân là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà cá nhân tích lỹđược trong quá trình hoạt động thực tiễn Nó chi phối sự lựa chọn và quyếtđịnh của mỗi cá nhân trong những hành vi ứng xử xã hội của họ Văn hóacộng đồng (xã hội) là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần thể hiện thành
Trang 15hệ thống các giá trị và chuẩn mực ứng xử xã hội do cộng đồng (xã hội) sángtạo, sàng lọc và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn Nó có khả năngliên kết và điều tiết mọi hành xử của các thành viên trong cộng đồng ấy.
Thứ ba, văn hóa là mô hình các thiết chế xã hội để đảm bảo cho sự trao
truyền, vận thông các giá trị, chuẩn mực văn hóa Hệ thống thiết chế xã hội văn hóa bao gồm: gia đình, nhà trường, nhà nước, các đoàn thể chính trị xãhội, tôn giáo Trong các mô hình thiết chế xã hội đó, tổ chức gia đình có vaitrò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn và trao truyền hệ giá trị với cácchuẩn mực văn hóa tốt đẹp cho các thế hệ kế tiếp
-Thứ tư, văn hóa chính là phương thức ứng xử của con người Các
phương thức, quy tắc ứng xử tạo nên hệ thống giá trị chuẩn mực, khuôn mẫuđược tích lũy trong đời sống cộng đồng tạo thành hệ giá trị văn hóa của mỗicộng đồng Và gia đình chính là môi trường đặc biệt, thể hiện phương thứcứng xử đầu tiên của con người, để ứng xử xã hội
Thứ năm, văn hóa gắn với giáo dục, đào tạo con người Giáo dục là
một hiện tượng văn hóa và cũng là một phương thức trao truyền văn hóa Nếukhông có giáo dục con người sẽ trở về trạng thái mông muội, dã man nhưđộng vật Như vậy, văn hóa chỉ có ở con người
Thứ sáu, văn hóa trong thời đại ngày nay là nền tảng tinh thần của xã
hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội
Từ nội dung văn hóa, có thể thấy gia đình là một hiện tượng văn hóacủa con người, xuất hiện và tồn tại gắn với sự tồn tại và phát triển của conngười Văn hóa là tiền đề quan trọng trong sự hình thành gia đình và là yếu tố
cơ bản của gia đình
1.1.2.2 Quan niệm về văn hóa gia đình
Trước hết phải khẳng định rằng gia đình là một hiện tượng văn hóa.Gia đình chỉ có trong xã hội loài người, không có trong thế giới động vật.Biểu hiện rõ nhất là trong quan hệ tính giao Trong gia đình của con người có
sự cấm đoán tính giao giữa những người cùng huyết thống (cha mẹ, con cái,anh (chị) em ruột, họ hàng gần, thậm chí cả cha mẹ nuôi với con nuôi) Động
Trang 16vật không có ý thức về điều đó Con người đi từ hôn nhân cùng huyết thống(quần hôn) đến hôn nhân một vợ, một chồng là một bước tiến về văn hóa (trítuệ, đạo đức, pháp luật) Quan hệ tính giao của con người không chỉ nhằm mụcđích sinh sản, duy trì nòi giống, thỏa mãn nhu cầu bản năng mà còn nhằm đápứng nhu cầu tình cảm, nhu cầu tinh thần, đạo đức, nhu cầu sức khỏe…
Gia đình hình thành các mối quan hệ rộng lớn theo chiều dọc và chiềungang Theo chiều dọc có mối quan hệ huyết thống từ kỵ, cụ, ông bà, cha mẹ
- con cái - cháu chắt - chút chít đến anh chị em ruột Theo chiều ngang, giađình có các mối quan hệ liên quan, ràng buộc: họ hàng nội, họ hàng ngoạicủa ông bà, bố mẹ, của vợ hoặc chồng… Các mối quan hệ đó đều được coitrọng và ứng xử theo những chuẩn mực đã được cộng đồng chấp nhận Đây làmột đặc trưng văn hóa chỉ có ở con người không có trong đời sống bầy đàncủa động vật
Từ đây có thể khẳng định rằng, gia đình của con người là một hiệntượng văn hóa, một thiết chế sinh học xã hội đặc biệt
Thứ hai, gia đình là một giá trị văn hóa Gia đình đáp ứng nhu cầu tồn
tại và các nhu cầu đặc biệt thiêng liêng không vụ lợi đó là tình thương, tìnhyêu, hạnh phúc, trách nhiệm, nghĩa vụ tinh thần mang tính người của con người.Gia đình vừa là kết quả, vừa là nơi nuôi dưỡng tình yêu và hạnh phúc lứa đôigắn với những điều bí ẩn của quan hệ tình dục và bản năng duy trì nòi giống [23,tr.29] Gia đình là bến đỗ bình yên, điểm tựa tinh thần vững chắc nhất cho conngười trong suốt cả cuộc đời Gia đình là một giá trị văn hóa thiêng liêng thấmsâu vào tư tưởng, tình cảm, lý tưởng sống của mỗi con người
Thứ ba, gia đình là một thực thể văn hóa [23, tr.31] Bởi vì, tất cả các
quan hệ và hoạt động sống của gia đình đều biểu hiện đặc trưng văn hóa củacon người Trong gia đình hệ giá trị và chuẩn mực xã hội được các thành viênchấp nhận, chia sẻ và thực hiện để ứng xử với nhau và ứng xử với cộng đồng
Hệ thống giá trị văn hóa gia đình được thể chế hóa bằng gia đạo, gia huấn, gia
lễ và bằng pháp luật của Nhà nước, bằng dư luận xã hội Hệ thống giá trị đó
Trang 17là cơ sở tồn tại của gia đình, giữ cho đời sống gia đình bền vững, an sinh,hạnh phúc.
Trên cơ sở tìm hiểu các quan niệm khác nhau về văn hóa gia đình,chúng tôi đồng tình với quan niệm về văn hóa gia đình của nhà nghiên cứu LêQuý Đức và Vũ Thy Huệ như sau:
Văn hóa gia đình là dạng đặc thù của văn hóa cộng đồng, bao gồmtổng thể sống động các hoạt động sống của gia đình mang đặc trưngvăn hóa bị chi phối bởi các giá trị, chuẩn mực, truyền thống, thị hiếucủa một cộng đồng mà các thành viên gia đình đã chọn lựa để ứng
xử với nhau trong gia đình và ngoài xã hội [23, tr.33].
1.2 CẤU TRÚC VĂN HÓA GIA ĐÌNH
Các nhà nghiên cứu trong sách chuyên khảo “Người phụ nữ trong vănhóa gia đình đô thị”, đã phân tích cấu trúc văn hóa gia đình theo các dạnghoạt động cơ bản của gia đình và theo các hệ giá trị của gia đình
Theo các dạng hoạt động cơ bản của gia đình, các nhà nghiên cứu
đã chia cấu trúc văn hóa gia đình thành ba dạng:
Thứ nhất, văn hóa sản sinh và nuôi dạy con cái
Để đáp ứng nhu cầu trên, văn hóa gia đình đã tích lũy một loạt những trithức, kinh nghiệm, cách thức, thái độ và các thể chế cho sinh nở và nuôidạy con người Từ những hiểu biết về quan hệ tính giao (rộng hơn quan
hệ tình dục) đến việc chăm sóc giáo dục thai nhi (thai giao) ở trongbụng mẹ đến lúc trưởng thành Từ những thể chế đón nhận một sinh thểngười ra đời cho đến lúc làm lễ trưởng thành Từ những tri thức của
“thủa còn thơ” đến những kinh nghiệm, bản năng sống, phương thứcứng xử trong gia đình và xã hội [23, tr.34 -35]
Thứ hai, văn hóa vật chất và tiêu dùng các sản phẩm vật chất
Để đáp ứng nhu cầu vật chất, gia đình và các thành viên của nó phảitiến hành sản xuất ra các sản phẩm vật chất cho sinh hoạt hàng ngày
về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Những sản phẩm ấy vàcác phương thức sử dụng nói lên trình độ chiếm lĩnh, khai thác các
Trang 18vật thể trong tự nhiên, trình độ phát triển lực lượng bản chất của conngười trong lĩnh vực sản xuất và đời sống vật chất Từ những kinhnghiệm hiểu biết, kỹ năng, bí quyết trong sản xuất sản phẩm tiêudùng đến cách thức, kỹ thuật công nghệ chế tác công cụ sản xuất,các phương tiện sử dụng, vũ khí chiến đấu… từ cách tiêu dùng,phân phối, hưởng thụ, trao đổi, dâng biếu các sản phẩm vật chất đếnthể chế phân chia tài sản, thừa kế gia sản đã tạo nên văn hóa vật chấtcủa gia đình [23, tr.34 - 35].
Thứ ba, văn hóa tinh thần và hưởng thụ các sản phẩm tinh thần
Bên cạnh những biểu hiện, kinh nghiệm, cách thức ứng xử trong vănhóa sản sinh, nuôi dạy con người, văn hóa sản xuất và tiêu dùng vậtchất của gia đình là toàn bộ những giá trị đạo đức, tín ngưỡng tâmlinh, phong tục tập quan, thị hiếu thẩm mỹ và cả những bí quyếtnghề nghiệp truyền thống… là phương diện văn hóa tinh thần củagia đình Chúng được đúc kết lại thành hệ giá trị, chuẩn mực, khuônmẫu văn hóa của gia đình (trong gia đình cổ truyền gọi là giaphong) Hệ giá trị văn hóa gia đình là yếu tố cốt lõi làm nên đặcđiểm riêng của mỗi loại hình gia đình và có sức mạnh chi phối đờisống tâm lý, tâm linh, hành vi ứng xử của các thành viên trong giađình [23, tr.35 - 36]
Theo các hệ giá trị của gia đình, cấu trúc văn hóa gia đình cũng được chia làm 3 loại:
Một là, các giá trị cấu trúc Đó là các giá trị gắn với các quan hệ bên
trong và bên ngoài của gia đình như quan hệ vợ - chồng; quan hệ giữa cha mẹ
- con cái; quan hệ giữa các anh, chị, em; quan hệ giữa ông bà và các cháutrong gia đình; quan hệ giữa gia đình với họ tộc và cộng đồng Chúng thể hiệnthái độ, phương thức ứng xử giữa các thành viên trong gia đình và giữa giađình với họ tộc và cộng đồng
Hai là, các giá trị chức năng Đó là các giá trị thể hiện vị trí, vai trò của
gia đình đối với sự phát triển xã hội qua các chức năng: sinh sản - tái sản xuất ra
Trang 19con người, giáo dục, kinh tế, thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, tình cảm của cácthành viên trong gia đình.
Ba là, các giá trị tâm linh Đó chính là hạt nhân bất biến của văn hóa gia
đình Các gia đình tuân theo, tôn thờ những giá trị không vụ lợi, những giá trị bắtnguồn từ cái thiêng liêng và cái bí ẩn trong đời sống tâm linh của con người
Tuy nhiên, sự chia tách cấu trúc văn hóa gia đình theo hai dạng kể trêncũng chỉ là tương đối, bởi nhiều yếu tố thể hiện trong các dạng hoạt động cơbản của gia đình và thể hiện ở hệ giá trị của gia đình không phải lúc nào cũng
có sự tách biệt rõ ràng mà chúng vừa có mặt ở dạng này, vừa có mặt ở dạngkia (như văn hóa sản sinh nuôi dạy con người với chức năng sinh sản tái sảnxuất ra con người và chức năng giáo dục, văn hóa vật chất với chức năng kinh
tế, văn hóa tinh thần với các giá trị tâm linh…)
Chính vì vậy, nghiên cứu về văn hóa gia đình người Tày chúng tôi tậptrung nghiên cứu ở một số lĩnh vực chủ yếu sau:
Một là, văn hóa sản sinh nuôi dạy con cái.
Hai là, văn hóa vật chất và tiêu dùng các sản phẩm vật chất
Ba là, văn hóa tinh thần và tiêu dùng các sản phẩm tinh thần
Bốn là, văn hóa ứng xử trong các mối quan hệ của gia đình.
1.3 VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ, VĂN HÓA - XÃ HỘI
1.3.1 Vai trò của văn hóa gia đình đối với sự phát triển kinh tế
Gia đình là một đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ và năng động có đónggóp lớn trong nền kinh tế quốc dân Kinh tế hộ gia đình thực sự đóng vai tròquan trọng trong việc duy trì sự tăng trưởng tổng thu nhập quốc dân hàng năm
và đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia Thực hiện chứcnăng kinh tế, các gia đình tiến hành các hoạt động lao động sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ tạo ra các sản phẩm về vật chất và tinh thần trước hết là để đápứng nhu cầu của gia đình, sau là để phục vụ cho nhu cầu xã hội, tăng thêm thunhập chính đáng, phát triển kinh tế gia đình, giải quyết việc làm, xóa đói giảmghèo, làm giàu chính đáng Thực hiện chức năng kinh tế còn là việc các gia
Trang 20đình sử dụng nguồn thu nhập để mua sắm rất nhiều loại sản phẩm, phươngtiện, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần của các thành viêntrong gia đình như: lương thực, thực phẩm, nhà ở, quần áo, phương tiện đi lại,các đồ dùng, vật dụng trong gia đình, nuôi dạy con cái, chữa bệnh, vui chơi giảitrí…thông qua đó góp phần thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển, giúp tăngtrưởng nền kinh tế quốc dân Vai trò của văn hóa gia đình trong việc thực hiệnchức năng kinh tế hết sức quan trọng Sản xuất kinh doanh vì mục đích gì?Phương thức thực hiện ra sao? Văn hóa giữ vai trò định hướng, hướng dẫn cáchoạt động của gia đình Định hướng đúng giúp cho gia đình tổ chức thực hiệnmột cách phù hợp, chính đáng, kích thích lao động sản xuất phát triển, tạo ra cácsản phẩm có chất lượng thỏa mãn nhu cầu và lợi ích của người tiêu dùng Ở đây,văn hóa và đạo đức gia đình có vai trò quan trọng chi phối mục đích sản xuất,kinh doanh của các gia đình theo hướng nhân văn, nhân bản “mình vì mọingười” Văn hóa gia đình cũng ngăn cản những hoạt động bất chính trong sảnxuất kinh doanh như hám lời, kinh doanh bất chính, chỉ vì lợi nhuận mà làm thiệthại đến sức khỏe và kinh tế của người tiêu dùng… qua đó văn hóa gia đình gópphần làm cho nền kinh tế phát triển lành mạnh, bền vững.
Gia đình là cái nôi hình thành, nuôi dưỡng, chăm sóc con người về thểchất, là môi trường quan trọng giáo dục con người về đạo đức, về tri thức đểcon người tham gia một cách tích cực, chủ động vào các hoạt động phát triểnkinh tế của gia đình và đất nước Rõ ràng, với chức năng sản sinh ra conngười và chức năng giáo dục, gia đình là nơi cung cấp nguồn nhân lực có chấtlượng phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, tạo động lực cho nền kinh
tế đất nước phát triển bền vững
1.3.2 Vai trò của văn hóa gia đình đối với sự phát triển văn hóa dân tộc
Thứ nhất, văn hóa gia đình là nơi giữ gìn sống động nhất bản sắc văn
hóa dân tộc Tất cả những giá trị tốt đẹp nhất của nền văn hóa dân tộc đượchình thành trong lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước hầu hết đềuđược các gia đình trân trọng, giữ gìn, vun đắp và phát huy Đó là lòng yêu quê
Trang 21hương, đất nước; lối sống nghĩa tình, nhân ái, bao dung; tinh thần hiếu hoc,đức tính cần cù, chăm chỉ, sáng tạo trong lao động sản xuất và chiến đấu; tinh
tế, mềm dẻo, linh hoạt trong ứng xử; dũng cảm, kiên cường, bất khuất trướcmọi khó khăn thử thách….Các giá trị tốt đẹp trong mối quan hệ giữa cácthành viên trong gia đình, họ tộc và ngoài xã hội luôn được gìn giữ trong như:
vợ chồng hòa thuận, chung thủy; ông bà, cha mẹ hết lòng yêu thương, chămsóc, dạy bảo con cháu; con cháu hiếu thuận với ông bà, cha mẹ; anh (chị) emruột yêu thương đùm bọc lẫn nhau; họ tộc quan tâm đoàn kết, giúp đỡ nhautrong cuộc sống; hàng xóm láng giềng “tối lửa, tắt đèn” có nhau Các phongtục tập quán tốt đẹp của cha ông được lưu truyền qua các thế hệ như: thờ cúng
tổ tiên, người có công với nước; thực hiện các nghi lễ trang trọng trong ngàycưới, ngày tang; làm lễ mừng thọ cho người cao tuổi; kính già, yêu trẻ; kínhtrên nhường dưới; tôn kính thầy giáo, thầy thuốc; kính trọng bậc hiền tài…
Các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc không chỉ được các gia đình gìngiữ mà còn được các gia đình trao truyền lại cho các thế hệ con cháu nối tiếpqua cách ứng xử hàng ngày với người thân và với xã hội Mỗi gia đình trongcộng đồng các dân tộc Việt nam bên cạnh việc lưu giữ những giá trị văn hóatốt đẹp chung của cả dân tộc Việt Nam còn lưu giữ và trao truyền những giátrị văn hóa đặc sắc của tộc người mình cho con cháu Có thể dễ dàng nhậnthấy điều này, khi trong gia đình người Việt, người Tày, người Dao, Sán Chỉ,H.Mông…có những nét riêng đặc sắc không giống nhau Chính điều này đãtạo nên tính chất phong phú, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam
Chính văn hóa gia đình đã làm cho văn hóa dân tộc ăn sâu vào máu thịtcủa tất cả những người con Việt Nam, đã tạo ra cái thẻ căn cước để mỗi ngườiViệt Nam ra nước ngoài không lẫn với bất kỳ dân tộc nào trên thế giới Đồngthời tạo ra sức mạnh đề kháng để chống lại tác động tiêu cực của nền kinh tếthị trường và sự xâm lăng của các nền văn hóa ngoại bang
Thứ hai, văn hóa gia đình góp phần phát triển văn hóa dân tộc
Trong văn hóa gia đình không chỉ vận hành những giá trị tốt đẹp củanền văn hóa dân tộc mà còn vận hành cả những yếu tố mới của thời đại được
Trang 22cộng đồng chấp nhận Đó lối sống khoa học, thực tế phù hợp với quy luật của
tự nhiên; tinh thần bình đẳng, dân chủ; đề cao tính năng động, sáng tạo; coitrọng khả năng độc lập, tự chủ; khuyến khích, tạo điều kiện cho tài năng pháttriển, yêu cái đẹp, thích nghi nhanh với môi trường mới, khát vọng vươn lênlàm giàu chính đáng, sự tiêu dùng có tính văn hóa…
Từ đây, có thể khẳng định rằng văn hóa gia đình thực sự là cái nôi, làcái gốc để nền văn hóa dân tộc phát triển
1.3.3 Vai trò của văn hóa gia đình đối với sự phát triển xã hội
Gia đình là một thiết chế xã hội, nó là nhân tố tích cực thúc đẩy sự pháttriển của xã hội thông qua việc thực hiện các chức năng hết sức quan trọng: tái sảnxuất ra con người, duy trì nòi giống, cung cấp nguồn nhân lực cần thiết cho xã hội,tái sản xuất ra sức lao động qua việc nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho cácthành viên trong gia đình Gia đình gánh vác trách nhiệm nặng nề trong việc táisản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Nó cũng là đơn vị tiêu dùng
mà những nhu cầu đa dạng phong phú là yếu tố thúc đẩy nền sản xuất phát triển
Rõ ràng văn hóa gia đình chiếm vị trí hàng đầu trong sự phát triển xã hội
Một xã hội phát triển là một xã hội ổn định có của cải dồi dào, conngười có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc Khi còn ấu thơ thì được ấp ủ,yêu thương Khi trưởng thành thì được hưởng những niềm vui của cuộc đời.Khi gặp khó khăn, bệnh tật, rủi ro thì được an ủi, chăm sóc Về già thì có nơinương tựa, không bị hiu quạnh, cô đơn Đến khi từ giã cõi đời thì có ngườikhóc thương, chăm lo chu đáo phần mộ… Tất cả những điều ấy chỉ có thể tìmthấy trong văn hóa gia đình Như thế đủ thấy văn hóa gia đình có vị trí quantrọng như thế nào đối với con người và xã hội
Gia đình là cái gốc của con người đồng thời là cái gốc của xã hội Vănhóa gia đình là nền tảng của văn hóa cá nhân và văn hóa cộng đồng Vì thế,văn hóa gia đình tốt sẽ có con người tốt, có con người tốt sẽ có xã hội tốt Cònvăn hóa gia đình không tốt, sẽ tạo ra những con người không tốt Con ngườikhông tốt sẽ gây ra những hành động gây bất ổn cho xã hội Rõ ràng xã hộikhông thể phát triển lành mạnh nếu thiếu yếu tố văn hóa trong gia đình
Trang 231.4 TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN BÌNH LIÊU TỈNH QUẢNG NINH
1.4.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, lịch sử xã hội huyện Bình Liêu
1.4.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Bình Liêu là huyện miền núi, biên giới, dân tộc nằm ở phía đông bắctỉnh Quảng Ninh có tọa độ địa lý từ 21026’15’’ đến 210 39’50 vĩ độ Bắc và từ
107016’20’’ đến 107035’50 kinh độ Ðông [69, tr.5]
Bình Liêu cách thành phố Hạ Long - thủ phủ của tỉnh Quảng Ninh120km Phía Đông giáp huyện Hải Hà (Quảng Ninh), phía Tây giáp huyệnĐình Lập (Lạng Sơn), phía Nam giáp huyện Ðầm Hà và Tiên Yên (QuảngNinh), phía Bắc có tuyến biên giới dài 42,999 km giáp khu Phòng Thành -Thành phố Phòng Thành và huyện Ninh Minh thành phố Sùng Tả (Quảng Tây
- Trung Quốc) với khu kinh tế Cửa khẩu Hoành Mô - Đồng Văn, đây là cầunối giao lưu kinh tế - thương mại giữa các địa phương trong và ngoài tỉnhQuảng Ninh với khu Phòng Thành - tỉnh Quảng Tây Trung Quốc [69, tr.5]
Bình Liêu có tổng diện tích đất tự nhiên là 47 510, 05 ha Phía đông cónhiều dãy núi cao, cao nhất là ngọn Cao Xiêm cao 1.333m và ngọn núi Cao BaLanh cao 1.050m Diện tích đất nông nghiệp của huyện rất hẹp, khoảng 7.000 hachiếm 15,6% tổng diện tích đất đai toàn huyện (trong đó hơn 4.000ha là đồi cỏ cóthể chăn thả đại gia súc, đất trồng lúa và hoa màu hơn 164ha chủ yếu là ruộng bậcthang trải dài theo các thung lũng, sườn dồi, bãi bồi ven sông) Ðất rừng rất rộngvới diện tích 34.683, 78 ha chiếm 73% diện tích tự nhiên của huyện (trong đó đấtrừng phòng hộ là 14.524,37ha, rừng sản xuất là 20.159,41ha) [69, tr.7]
Ở vị trí xa biển, có nhiều núi cao, ít sông suối, Bình Liêu chịu ảnhhưởng của khí hậu lục địa Vì vậy, khí hậu ở dây có bốn mùa rõ rệt, mùa đônglạnh và rét kéo dài 6 tháng trong một năm, có khi xuống tới 40C, thường cósương muối ảnh hưởng xấu đến việc trồng trọt và chăn nuôi Lượng mưa trungbình hàng năm khoảng trên 2.400mm nên độ ẩm tương đối cao [13, tr.7]
1.4.1.2 Lịch sử xã hội
Trang 24Bình Liêu ngày nay dưới thời phong kiến Việt Nam khi Pháp chưa xâmlược gồm hai tổng Bình Liêu và Kiến Duyên của Châu Tiên Yên, thuộc phủHải Ninh (Phủ Hải Ninh gồm có ba châu: Móng Cái, Tiên Yên, Hà Cối) thuộctỉnh Quảng Yên Ngày 12/3/1883, thực dân Pháp đánh chiếm tỉnh Quảng Yên,sau đó chiếm huyện Bình Liêu và từng bước tiến hành củng cố ách thống trịcủa chúng Ngày 10/12/1906 Phủ toàn quyền Pháp ra Nghị định tách 3 châu:Móng Cái, Hà Cối, Tiên Yên khỏi tỉnh Quảng Yên, thành lập tỉnh mới HảiNinh Ngày 14/12/1912 Phủ toàn quyền Pháp ra Nghị định xóa bỏ tỉnh HảiNinh lập đạo quan binh thứ nhất Ngày 16/12/1919 Phủ toàn quyền Pháp ranghị định tách hai tổng Bình Liêu và Kiến Duyên khỏi Châu Tiên Yên, lậpchâu Bình Liêu gồm hai tổng Bình Liêu và Kiến Duyên Tổng Bình Liêu gồmcó: thị trấn Bình Liêu, xã Lục Hồn, xã Tình Húc, xã Vô Ngại, xã Húc Động.Tổng Kiến Duyên gồm có: xã Hoành Mô, xã Đồng Tâm, xã Đồng Văn và mộtphần Pháp cắt cho Trung Quốc năm 1893 (nay là xã Đồng Tông, huyệnPhòng Thành, tỉnh Quảng Tây Trung Quốc) [13, tr.5 - 6].
Trước năm 1945 nhân dân các dân tộc ở huyện Bình Liêu phải chịu ách
đô hộ hà khắc của bọn thực dân phong kiến với nhiều thứ thuế như: thuế đinh,thuế điền, thuế rừng, thuế chăn nuôi ; bộ máy bạo lực chủ yếu là quân sự củađạo quan binh thức nhất; hành động cướp phá, quấy nhiễu của bọn Phỉ tronghuyện cấu kết với bọn phỉ và quân Tưởng bên Trung Quốc tràn sang… chonên cuộc sống vô cùng nghèo khổ, cơ cực Nhiều gia đình phải lên núi cao,phải bỏ trốn vào rừng sâu Mỗi gia đình hàng năm thiếu ăn từ 3 đến 5 tháng,nên quanh năm phải ăn cháo loãng, củ khoai, củ sắn, nhiều gia đình phải điđào củ mài để kiếm sống Hầu hết dân mù chữ, ít hiểu biết, ăn ở thiếu vệ sinh,dịch bệnh, sốt rét thường xuyên đeo bám…Để dễ bề cai trị nhân dân, thực dânPháp vừa reo rắc văn hóa đồi trụy, cờ bạc, rượu, nghiện hút… vừa khuyếnkhích và phát triển những tập tục lạc hậu như: mê tín dị đoan, ma chay, cưới
gả tốn kém Hậu quả, nhiều người vì nghiện hút phải bán hết ruộng, có ngườiphải bán cả vợ Nhiều người làm lụng vất vả suốt đời không đủ trả tiền lấy vợhoặc trả tiền vay nợ để cưới vợ
Trang 25Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủcộng hòa (nay là nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời, ngày20/11/1945, chính quyền cách mạng Bình Liêu được thành lập tại Đình Lục
Nà xã Lục Hồn Châu Bình Liêu được đổi thành huyện Bình Liêu Từ khi cóĐảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng bào các dân tộc Bình Liêu một lòng,một dạ theo Đảng, góp phần đáng kể vào sự nghiệp cách mạng chung củanhân dân cả nước: đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, xây dựng chủnghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc mảnh đất biên cương của Tổ quốc Từ khi đấtnước đổi mới đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân các dân tộchuyện Bình Liêu hăng hái lao động, sản xuất, phát triển kinh tế văn hóa - xãhội, cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc
Bình Liêu là một huyện có nhiều dân tộc cùng chung sống, dân tộcthiểu số chiếm trên 96% dân số toàn huyện, chủ yếu là 5 dân tộc chính (Tày,Dao, Sán Chay, Kinh, Hoa) Với trên 96% là người dân tộc thiểu số, BìnhLiêu có lịch sử văn hóa lâu đời, có một bề dày văn hóa vô cùng phong phú, đadạng, và độc đáo Mỗi dân tộc có một nét văn hóa riêng độc đáo: người Tày
có lễ hội Đình Lục Nà, lễ hội Lồng tồng, lễ hội Au pò, có đời sống tinh thầnphong phú nổi bật là hát Then; người Sán Chỉ có lễ hội Soóng Cọ, người Dao
có lễ hội Kiêng gió [13, tr.8]
Các dân tộc ở huyện Bình Liêu có nhiều phẩm chất tốt đẹp: hiền lành, thậtthà, giản dị, thủy chung son sắt; trọng nghĩa, trọng tình, trọng lẽ phải; ghét sự dốitrá, lừa lọc, phản trắc; cần cù chịu khó trong lao động; dũng cảm kiên cường trongchiến đấu, yêu quê hương đất nước, một lòng, một dạ theo Đảng
Tình hình kinh tế - xã hội hiện nay của huyện Bình Liêu
Bình Liêu hiện nay có 08 đơn vị hành chính gồm 07 xã và 01 thị trấn,trong đó có 06 xã giáp với biên giới Trung Quốc, có 104 thôn, bản, khu phố.Tổng dân số toàn huyện tính đến 31/12/2013 là 6.666 hộ với 30.171.000 nhânkhẩu Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, củaTỉnh và sự chỉ đạo sát sao của Huyện ủy, Bình Liêu đã phấn đấu vươn lên,khắc phục mọi khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
Trang 26Về kinh tế, trong 3 năm 2011, 2012, 2013 kinh tế của huyện có sự tăng
trưởng tương đối ổn định Năm 2011, tổng giá trị sản xuất tăng 5,28% so vớinăm 2010 đạt 100,09% kế hoạch; năm 2012 tổng giá trị sản xuất tăng 10,3% sovới năm 2011 đạt 100,02% kế hoạch; năm 2013 tổng giá trị sản xuất tăng 6,75%
so với năm 2012 đạt 100,24% kế hoạch Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúnghướng (nông nghiệp 40,4% giảm 1,65% so với năm 2012; công nghiệp 16,36%tăng 0,87% so với năm 2012; dịch vụ 43,24% tăng 0,78% so với năm 2012) Tỷ
lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 29,5% (năm 2011) xuống 16,56% (năm 2013) Tỷ lệdân số khu vực thị trấn được sử dụng nước sạch đạt khoảng 85,6%, tỷ lệ dân sốnông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh là 79,55% [34, tr.2]
Về văn hóa, xã hội, năm 2013 có 4.874/6.545 hộ gia đình văn hóa đạt tỷ
lệ 74,5% đạt 100% kế hoạch Thôn, bản, khu phố văn hóa lần đầu công nhận07/17 đạt 41,18% kế hoạch, công nhận lại danh hiệu thôn, bản, khu phố vănhóa sau 3 năm là 11/18 đơn vị đăng ký đạt 61,11%, sau 5 năm là 7/10 đơn vịđăng ký chiếm 70% Tỷ lệ hộ gia đình nghe Đài tiếng nói Việt Nam đạtkhoảng 80,41%; tỷ lệ hộ gia đình xem các kênh VTV Truyền hình Việt Namđạt 88,4% Toàn huyện có 28 trạm thu, phát sóng điện thoại di động, 765 thuêbao Internet; 14 điểm kinh doanh Internet [33, tr.7]
Toàn huyện có 27 trường học với 512 lớp học đạt 99,61% kế hoạch; tỷ
lệ huy động học sinh ra học đạt 96,58% kế hoạch Chất lượng giáo dục đượcnâng lên: năm học 2012 - 2013 giáo dục mầm non 94,57% trẻ ở nhà trẻ;91,54% trẻ mẫu giáo có cân nặng bình thường Giáo dục tiểu học: giỏi 22,6%(tăng 4,28% so với năm học 2011 - 2012), khá 36,9% tăng 1,78% Giáo dụcTHCS: giỏi 8,35% (tăng 1,65%), khá 31,59% (tăng 0,75%) Giáo dục THPT:giỏi 1,45% (tăng 0,05%), khá 30,03% (tăng 2,93%) [33, tr.7]
Tỷ lệ khám bệnh cho nhân dân tại Trung tâm Y tế huyện và các Trạm
Y tế xã là 85.232 lượt người Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là17,16% Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 17,2% [33, tr.7 - 8]…
Nhìn chung kinh tế - xã hội của huyện trong những năm qua có nhiềuchuyển biến tích cực; đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nhân dân
Trang 27được cải thiện; chủ quyền biên giới quốc gia, an ninh chính trị, an ninh vùngdân tộc và trật tự an toàn xã hội được giữ vững Tuy nhiên, so với mặt bằngchung của tỉnh Quảng Ninh thì trình độ dân trí của huyện vẫn còn thấp Đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn nhất là đồngbào vùng cao, vùng sâu, vùng xa Bình Liêu vẫn còn là huyện nghèo của tỉnh
Những điều kiện về vị trí, địa lý, lịch sử xã hội của huyện đều có ảnhhưởng không nhỏ đến việc xây dựng văn hóa gia đình của các tộc người trênđịa bàn huyện nói chung và văn hóa gia đình người Tày nói riêng
1.4.2 Dân tộc Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh là tỉnh đa dân tộc, là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộcanh em: Tày, Dao, Sán Chay, Kinh, Hoa, Dân tộc Tày ở Quảng Ninh có dân
số đông thứ ba sau dân tộc Kinh và dân tộc Dao chiếm 2,88% dân số toànTỉnh Bình Liêu là huyện tập trung đông nhất cộng đồng dân tộc Tày sinhsống với gần 14.000 người, chiếm 44% dân số dân tộc Tày trên địa bàn toàntỉnh [58, tr.11]
Hiện nay, dân tộc Tày ở huyện Bình Liêu có tất cả 3.793 hộ/ 6.872 hộ(theo số liệu thống kê đến ngày 01/3/2014) với 15.740 nhân khẩu, có 46 dòng
họ cùng sinh sống trên khắp địa bàn 7 xã, 1 thị trấn của huyện Trong đó chủyếu là các dòng họ: họ Hoàng (lớn nhất), họ Vi, họ La, họ Trần, họ Lý, họNgô, họ Lương, họ Mạ, họ Tô, họ Lô, họ Chu, họ Lài, họ Loan, họ Nông, họGiáp, họ Đặng, họ Đinh [51, tr.2]
Cộng đồng người Tày ở huyện Bình Liêu là cộng đồng dân cư hìnhthành và phát triển từ lâu đời, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển củađịa phương Dân tộc Tày ở huyện Bình Liêu mang nhiều đặc điểm chung củacộng đồng dân tộc Tày ở Việt Nam và cộng đồng dân tộc Tày ở Tỉnh QuảngNinh về nguồn gốc, đặc điểm văn hóa, địa bàn sinh sống Nhưng cũng cónhững đặc điểm riêng mang tính vùng, miền rõ nét
Thứ nhất, người Tày sinh sống ở tất cả các xã và thị trấn trong huyện,
nhiều nhất là ở xã Tình Húc, Lục Hồn, Vô Ngại Địa bàn sinh sống tập trung
ở vùng thấp và khu vực trung tâm Chính vì vậy, tính cố kết cộng đồng của
Trang 28người Tày ở địa phương trong các mối quan hệ gia đình, họ tộc và với cộngđồng thôn, bản, làng xóm rất chặt chẽ và khăng khít
Thứ hai, cộng đồng người Tày ở huyện Bình Liêu có tính ổn định cao,
có truyền thống văn hóa lâu đời, phong phú, đa dạng và đặc sắc cả về văn hóavật chất và văn hóa tinh thần Đỉnh cao của giá trị văn hóa truyền thống củangười Tày ở địa phương đó chính là diễn xướng Then với hai loại hình phổbiến: diễn xướng Then nghi lễ và diễn xướng Then văn nghệ Ngày 25 tháng
3 năm 2013 diễn xướng Then nghi lễ của người Tày Bình Liêu đã được BộVăn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốcgia Người Tày ở huyện Bình Liêu có ý thức giữ gìn nhiều giá trị văn hóa tốtđẹp của dân tộc đồng thời chủ động tiếp biến nét đẹp văn hóa của các dân tộckhác để làm giàu cho văn hóa của dân tộc mình
Thứ ba, dân tộc Tày ở huyện Bình Liêu là dân tộc tiến bộ, sớm giác
ngộ cách mạng và một lòng đi theo Đảng Là cộng đồng dân cư tham gia tíchcực nhất, mạnh mẽ nhất vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội địa phương từ chínhtrị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng… Là cộng đồng có vai tròquan trọng hàng đầu, có tính chất quyết định trong việc phát triển kinh tế, vănhóa xã hội địa phương (tỷ lệ người dân tộc Tày là cán bộ, công chức, viênchức công tác tại các cơ quan Đảng, đoàn thể, chính quyền các cấp chiếm đa
số - 751 người/1.021 người chiếm 73,56%, tỷ lệ đảng viên là người dân tộcTày là 1.105 người /1733 người chiếm 63,76%, tham gia vào Ban chấp hànhĐảng bộ huyện chiếm 66,67%, tham gia vào Ban Thường vụ Huyện ủy chiếm50%; là trưởng, phó các cơ quan, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoànthể huyện chiếm 75,65%) [5, tr.4]
Thứ tư, với những đặc điểm trên, cộng đồng người Tày ở huyện Bình
Liêu có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng các dân tộc khác đang sinh sống trênđịa bàn
Tiểu kết Chương 1
Với nhiều chức năng quan trọng đặc thù, gia đình và văn hóa gia đìnhđược giới nghiên cứu trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu với nhiều ý
Trang 29kiến khác nhau Qua việc tìm hiểu các ý kiến về gia đình và văn hóa gia đình,luận văn đã lựa chọn được quan niệm về văn hóa gia đình phù hợp với đề tàinghiên cứu văn hóa gia đình của một tộc người thiểu số Đồng thời luận văn
đã chỉ rõ cấu trúc của văn hóa gia đình và giới hạn phạm vi nghiên cứu về vănhóa gia đình người Tày ở huyện Bình Liêu theo bốn nội dung chủ yếu của cấutrúc văn hóa gia đình Bên cạnh đó, luận văn cũng đã chỉ rõ được vai trò củavăn hóa gia đình đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội; khái quát tổngquan về người Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh Đây chính là cơ sở lýluận và thực tiễn để luận văn làm rõ hơn thực trạng văn hóa gia đình ngườiTày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng ninh trong xã hội truyền thống và trong xãhội hiện đại được triển khai ở Chương 2
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH NGƯỜI TÀY
Ở HUYỆN BÌNH LIÊU TỈNH QUẢNG NINH HIỆN NAY
2.1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG NGƯỜI TÀY BÌNH LIÊU
2.1.1 Văn hóa gia đình truyền thống người Tày Bình Liêu là văn hóa gia đình tiểu nông, sản xuất nhỏ mang tính chất miền núi, nông dân, nông thôn
Do điều kiện vị trí, địa lý, lịch sử xã hội quy định nên trong xã hộitruyền thống, văn hóa gia đình người Tày ở huyện Bình Liêu là văn hóa gia đìnhtiểu nông, sản xuất nhỏ, mang tính chất miền núi, nông dân, nông thôn Đặcđiểm này được thể hiện rõ trong các hoạt động cơ bản của gia đình như sau:
Văn hóa gia đình người Tày truyền thống thể hiện trong lĩnh vực sản sinh và nuôi dạy con cái
Đó là quy mô gia đình đông con Xuất phát từ việc sinh con gắn liềnvới chức năng tình dục, nhu cầu sinh nhiều con gắn liền với nhu cầu về sứclao động và bị chi phối bởi tư tưởng chủ đạo “đông con, nhiều cháu là nhà cóphúc”, phải có con trai để có người thừa kế sản nghiệp và thờ cúng tổ tiên.Cho nên, trong các gia đình truyền thống thường có rất nhiều con Các cặp vợchồng sinh năm 1950 trở xuống thường có ít nhất là 6 người con, trung bình
có từ 8 đến 10 người con, nhiều gia đình có trên 10 người con
Văn hóa sản sinh của gia đình người Tày truyền thống thường gắn liềnvới yếu tố tín ngưỡng, tâm linh Khi con dâu có mang, mẹ chồng thường mời
Bà Then đến “trái đang”, tức là cúng để cầu thần linh, ông bà, tổ tiên phù hộcho cơ thể thai phụ và thai nhi khỏe mạnh, đến ngày sinh thì “mẹ tròn, convuông” Sau khi đứa trẻ sinh được ba ngày, gia đình đi mời Thầy cúng tới làm
lễ nhằm xua đuổi tà ma xâm nhập, rửa sạch nhà cửa sau khi đẻ và làm lễ cầumong sức khỏe cho cháu nhỏ Cũng vào hôm đó gia đình làm lễ dựng bàn thờ
Mé Mụ (Mẹ Hoa - Vị thần ban phát và quản lý con cái) cho đứa trẻ Khi trẻ
Trang 31được một tháng tuổi, gia đình tiếp tục mời Thầy cúng về làm lễ đầy tháng chotrẻ Trong ngày lễ đầy tháng, Thầy cúng sẽ thay mặt gia đình cảm ơn Mé Mụ
đã ban phúc cho gia đình thêm con, thêm cháu và xin Mé Mụ tiếp tục phù hộ,che chở cho đứa trẻ khỏe mạnh hay ăn chóng lớn Đồng thời báo cáo tổ tiêngia đình đã có thêm một thành viên mới Sau khi làm lễ xong Thầy cúng buộcmột sợi chỉ ngũ sắc vào tay và một túi vải nhỏ trong có đựng lá bùa (bảnmệnh) đeo vào cổ để bảo vệ đứa trẻ khỏi tà ma
Khi đứa trẻ lớn lên, nếu là con trai sẽ được những người đàn ông trongnhà dạy làm các công việc nặng nhọc như: cày, bừa, phát rẫy, săn bắn, đánh
cá, làm nhà làm cửa, tham gia các công việc chung của họ tộc, làng bản…Nếu
là con gái thì được dạy cách cấy, gặt, trồng dâu nuôi tằm dệt vải, làm vườntược, trồng rau cỏ, chăn nuôi, làm các công việc nội trợ khác trong gia đình.Khi con lớn lên cha mẹ dạy con các đức tính tốt đẹp để làm người như: thậtthà, trung thực, thẳng thắn, không được nói dối, không được ăn cắp, ăn trộm,lừa lọc phản trắc; phải cần cù, chăm chỉ chịu khó làm ăn Để rèn luyện vàhình thành các đức tính tốt đẹp cho con cái, cha mẹ yêu cầu các con phải laođộng để trải nghiệm Tùy theo giới tính và lứa tuổi, cha mẹ phân công con cáilàm việc phù hợp với sức mình Ngoài ra cha mẹ còn dạy con cái biết ứng xửvới các thành viên trong gia đình, dòng họ, hàng xóm, láng giềng, cộng đồngthôn bản theo tư tưởng chính danh, tam cương, ngũ luân, ngũ thường; đứchạnh của người con gái và phẩm chất của người con trai Dạy con lòng tựtrọng, tình yêu quê hương, gia đình làng xóm; có lối sống nghĩa tình, ăn ở cótrước có sau, nhân hậu, vị tha, bao dung độ lượng…
Quan tâm giáo dục con cái, các gia đình truyền thống đã góp phần xâydựng được nhiều thế hệ trong cộng đồng người Tày Bình Liêu có chức sắc ởđịa phương, hăng hái tham gia cách mạng, chịu khó tăng gia lao động sảnxuất và chiến đấu góp phần quan trọng vào việc xây dựng Bình Liêu ngàycàng phát triển Tiêu biểu là ông Tô Thiêm Thuận sinh năm 1902 quê ở xãTình Húc, sớm giác ngộ hăng hái tham gia cách mạng, ông trở thành vị Chủtịch đầu tiên của Ủy ban cách mạng lâm thời Bình Liêu thành lập vào tháng
Trang 3211/1945 Ông Loan Thanh Nghiệp sinh năm 1935 quê ở xã Đồng Tâm nguyên Giám đốc bệnh viện huyện - là người đầu tiên ở huyện Bình Liêu cótrình độ Đại học, tốt nghiệp Đại học y Hà Nội, ông là người bản địa đầu tiênđặt nền móng xây dựng ngành y khoa chăm sóc sức khỏe cho nhân dân theokiến thức y học hiện đại Anh Lô Văn Chắn sinh năm 1956 quê ở xã HúcĐộng, học giỏi anh được Nhà nước cử đi du học ở Liên Xô học tại TrườngĐại học cầu đường Matxcova lớp xây dựng đường ô tô Trở về nước, rấtnhiều cánh cửa rộng lớn mở ra trước mắt anh, nhưng anh đã chọn con đườngtrở về xây dựng quê hương bản quán Hiện nay, anh là Phó Bí thư, Chủ tịchHĐND huyện…
-Văn hóa gia đình người Tày truyền thống trong lĩnh vực văn hóa vật chất và tiêu dùng các sản phẩm vật chất
Do sống chủ yếu ở vùng thấp, thung lũng ven các sườn đồi nên ngườiTày có nhiều kinh nghiệm trong canh tác lúa nước và trồng các loại cây hoamàu để phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt của mình Trải qua quá trình làmruộng nương lâu đời, người Tày đã đúc rút được chu kỳ lao động sản xuất,nông nghiệp, thâm canh gối vụ xen kẽ nhau liên tiếp và có kỹ thuật canh táclúa, hoa màu với quy trình rất chặt chẽ
Do trình độ sản xuất nông nghiệp lạc hậu nên công cụ sản xuất trongcác gia đình người Tày hết sức thô sơ như: cày, bừa, cuốc, xẻng, thuổng, mai,liềm, dao, phân ký, cốc lồ, thùng gánh nước phân…
Đối với các sản phẩm trồng trọt, các gia đình người Tày thường sửdụng các loại cây lương thực sau trong các bữa ăn: gạo, ngô, khoai (khoailang, khoai sọ), sắn, đỗ tương, lạc và dùng các loại rau làm thực phẩm chính
Do điều kiện rừng núi, nhiều đồi cỏ nên chăn nuôi đại gia súc pháttriển, phổ biến nhất là chăn nuôi trâu, bò để lấy sức kéo sau là ngựa, dê Cácloại gia cầm được nuôi phổ biến là: lợn, gà, ngan, vịt, ngỗng, cả sáy… Trong
đó thịt lợn là thức ăn chính của người Tày trong các bữa ăn, còn gà, vịt, ngan,ngỗng, cả sáy chỉ được dùng làm thức ăn trong các ngày lễ, tết, gia đình cókhách Gia súc gia cầm ban ngày thường thả rông, đến tối mới lùa về chuồng
Trang 33Ngoài ra các gia đình còn đào ao thả cá và nuôi ong mật để phục vụ cho cuộcsống của mình
Trước kia rừng cây rậm rạp sát đến nhà dân ở, sông suối rất nhiều tôm,cua, cá, ốc …nên các gia đình người Tày thường săn bắn, hái, lượm và đánh
cá để lấy thực phẩm giàu chất dinh dưỡng phục vụ cho cuộc sống của mình.Việc săn bắn, đánh cá thường do đàn ông trong nhà thực hiện Họ thường đi sâuvào rừng rậm để săn, bắn các loại thú như: gà, chồn, cáo, hổ, chim, hươu, nai,lợn rừng…Việc đánh cá thì diễn ra thường xuyên Không chỉ đàn ông mà ngay
cả phụ nữ, trẻ em cũng tham gia đánh cá nhất là khi có nước lũ về Đàn bà, congái thì thường lên rừng hái rau và các loại củ trong rừng về làm thức ăn như: raungót rừng, rau dớn, rau tàu bay, mộc nhĩ, củ nâu, củ mài, măng rừng…
Các gia đình truyền thống rất giỏi làm các nghề thủ công Hầu hết các giađình đều tự làm ra các đồ vật thông dụng phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt hàngngày như: đan giần, sàng, nia, phân ký, cốc lồ, bồ, phên, sọt, rổ, rá, giỏ, vó…làmbằng tre, giang, nứa, mây, phơi khô, chẻ nhỏ; gùi (thông) làm bằng sợi đay…Nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa phát triển, nhiều gia đình biết làmmiến dong nhưng quy mô nhỏ lẻ, nhiều gia đình biết đóng gạch đất để làm nhà,
một số gia đình thì có nghề mộc, nghề sản xuất ngói nung, nghề, rèn, đúc, đục,
đẽo, một số gia đình lại có nghề cắt may…
Trong quá trình lao động sản xuất, tất cả các thành viên trong gia đìnhđều có trách nhiệm tham gia tùy theo giới tính và lứa tuổi của mình Cónhững gia đình người Tày ở xã Đồng Văn, có đầu óc kinh doanh, có tầm nhìn
xa, nhìn thấy hiệu quả kinh tế của cây hồi đã huy động các thành viên trồngrất nhiều hồi để cho con cháu sau này thừa hưởng (ở xã Đồng Văn có gia đìnhông Đàm Phương dưới thời Pháp thuộc đã trồng từ 7 ha đến 8 ha rừng hồi, cócây hồi đến nay đã hơn 100 tuổi; gia đình ông Loan Lộc trồng 2 rừng hồi gồmhàng nghìn cây)
Về nhà ở
Kiến trúc nhà ở truyền thống của gia đình người Tày thường làm theo kiểu
nhà sàn và nhà đất Nhà sàn có hai loại: một là nhà sàn mái tranh vách nứa, sàn
Trang 34nhà lát ván hay giát; hai là nhà sàn tường đất, sàn lát ván, ngói âm dương Sàn
phơi làm bằng cây tre dùng hoặc giát tre được dựng ở phía trước cửa nhà có thanglên xuống Nhà sàn có 3 tầng: tầng trên cùng là gác (có nơi để thờ cúng ở gianngoài, nơi để thóc giống, hoa màu giống ở gian trong…); tầng thứ hai ở giữa(có nơi tiếp khách, nơi ăn, ngủ, bếp…); tầng thứ 3 (tầng đất, nơi nhốt gia súc,gia cầm và để công cụ sản xuất…)
Nhà đất của người Tày tường trình bằng đất hoặc được xây bằng gạchđất, lợp ngói âm dương; thường được xây dựng theo kiểu hình chữ U Khunhà gồm nhà chính ở giữa, xung quanh là các nhà phụ (nhà bếp, nhà kho để đồdùng vật dụng…) Khối kiến trúc này được nối liền với nhau bằng những hànhlang Ở khoảng giữa là sân rộng để phơi các sản phẩm nông nghiệp, hoặc tập hợpdân bản khi gia đình có sự việc trọng đại (ma chay, cưới hỏi ) Trong nhà bàn thờ
tổ tiên được đặt ở gian chính giữa, nhìn thẳng ra cửa chính Nhà có nhiều buồng(buồng của ông bà, bố mẹ, con trai, con gái) Xung quanh ngôi nhà là cây cối,vườn tược thuận tiện cho việc tăng gia lao động sản xuất
Về văn hóa ẩm thực
Các gia đình truyền thống dùng gạo tẻ, gạo nếp, hoa màu và các thựcphẩm do trồng trọt, chăn nuôi, săn bắn hái lượm để chế biến làm đồ ăn, thứcuống hàng ngày Trong đó gạo tẻ là thành phần chủ đạo Gạo tẻ dùng để nấucháo và nấu cơm, ngoài ra còn dùng để xay bột tráng phở và tráng bánh cuốn.Gạo nếp dùng để đồ xôi và làm các loại bánh nếp (bánh trưng, bánh cooc mò,bánh đầu bạc, bánh lá ngải, bánh tài lồng ệt, bánh tải…)
Bữa ăn trong gia đình truyền thống của người Tày thường rất đơn giản.Ngày 3 bữa (sáng, trưa, chiều tối), cả ba bữa đều ăn cháo hoa với các món ănmặn: rau dưa muối chua, mòng chua, măng chua, tàu xì, trám xanh giã muốimặn, trám đen ngâm nước ấm bóc vỏ bóp với muối rang khô giã mịn, củ cảimặn, rau xanh muối Buổi sáng tùy theo vụ mùa các gia đình thường luộc khoailang, khoai sọ, ngô, sắn ăn trong cả ngày Cũng có hôm, các gia đình nấu cháo
ngô để ăn (ngô giã nhỏ rồi nấu như cháo) Trong các ngày lễ, tết, đám cưới, bữa
ăn trong các gia đình người Tày tươm tất hơn, thường có thịt lợn, thịt gà, thịt vịt,thịt ngan, thịt ngỗng, cá… với nhiều cách chế biến khác nhau
Trang 35Về trang phục
Trang phục được sử dụng trong các gia đình người Tày Bình Liêumang đặc điểm chung của tộc người Tày ở Việt Nam Màu sắc chủ đạo củatrang phục là màu chàm sậm đen ánh sắc tím hoặc màu đen Trang phụcthường rất ít hoặc không trang trí Họa tiết thổ cẩm của người Tày ở địaphương cũng khá đơn giản, đó là những họa tiết hình vuông, hình chữ nhật,hình quả trám…được trang trí trên mặt chăn, mặt khăn (khăn dùng để gói bộ
đồ hành nghề của bà Then), mặt địu, túi vải trang sức của phụ nữ…
Trang phục của nữ giới gồm: áo, quần, váy, yếm, dây lưng, khăn vấn đầu
và các loại đồ trang sức như vòng cổ, vòng tay, khuyên tai bằng bạc, dây xà tích
Áo dài năm thân, cài khuy bên nách phải, quần dài chấm gót, cạp quần khôngbuộc rút mà may kiểu lá tọa, khi mặc dùng dây vải thắt phủ ra ngoài cho chặt Phụ
nữ Tày thường chải đầu, vấn khăn gần giống như phụ nữ Kinh Tóc chải rẽ ngôigiữa, lọn tóc được bó gọn trong dải khăn, rồi quấn quanh đầu
Trang phục truyền thống của nam giới gồm: quần, áo dài, áo ngắn, khănvấn đầu, giầy vải Áo ngắn được may bằng cách ghép hai thân, hai thân trước vàhai thân sau xẻ ngực, hai bên vạt áo đính hàng cúc vải gồm 7 cái, cổ tròn dựngcao, hai túi nhỏ ở hai vạt trước, tay nối với thân áo ở vai rộng vừa phải Tà áo haibên nách xẻ cao Áo dài cũng 5 thân, gấu áo phủ quá đầu gối, áo cài cúc bên ngựctrái Loại áo này chỉ mặc trong dịp lễ, tết, hội hè hay có dịp đi xa
Văn hóa gia đình người Tày truyền thống thể hiện trong trong lĩnh vực tinh thần và tiêu dùng các sản phẩm tinh thần
Cộng đồng người Tày ở huyện Bình Liêu có một nền văn hóa tinh thầnphong phú bao gồm toàn bộ các phong tục tập quán tốt đẹp, ngôn ngữ, chữviết, văn học dân gian, diễn xướng dân gian, tri thức dân gian, trò chơi dângian… Nền văn hóa tinh thần phong phú ấy tồn tại trong từng gia đình NgườiTày Bình Liêu
Về phong tục tập quán
Trong hôn nhân người Tày thường chỉ kết hôn với những người cùngnhóm dân tộc, ở cùng một làng hoặc những làng xung quanh Hôn nhân của
Trang 36người Tày là hôn nhân đối ngẫu, tiến bộ một vợ, một chồng Tuổi kết hôn củangười Tày khá sớm thường từ 12 đến 16 tuổi, 18 tuổi trở lên bị coi là già, quálứa Nghi lễ hôn nhân trải qua trải qua nhiều thủ tục cầu kỳ, trang trọng:
Lễ xin lá số (so lộc mềnh) có hai bước: bước 1 so lộc mềnh khao (xin
bản mệnh trắng), bước 2 so lộc mềnh đeng (xin bản mệnh đỏ)
Lễ ăn hỏi, nhà trai mang đồ lễ đến nhà gái để xin cưới, nhà gái đưa ra lễ thách cưới Lễ cưới, có rất nhiều nghi lễ trong đó nổi bật lên là hát quan làng
đối đáp giữa nhà gái và nhà trai Nội dung lời đối đáp của quan làng nhà trailà: cảm tạ công ơn, sinh thành dưỡng dục của nhà gái, hứa hẹn cô dâu về nhàchồng sẽ được yêu thương sẽ có cuộc sống hạnh phúc, chúc đoàn đưa dâu trở
về may mắn, bình an; nội dung lời đối đáp của quan làng nhà gái là: cô dâucòn nhỏ dại, mong nhà chồng yêu thương chỉ bảo để nên người Đồng thờidặn dò cô dâu về nhà chồng phải chịu thương, chịu khó để làm người conngoan, người vợ hiền, người mẹ đảm
Lễ rửa mặt, họ hàng nhà trai sau khi ăn bữa trưa xong thì tiến hành lễ
rửa mặt Lễ này cô dâu trực tiếp thực hiện Cô dâu bê một chiếc chậu mới,trong chậu đặt những chiếc khăn mặt gấp theo chiều dọc, trải lên 1 chiếc bát,trong bát có 1 chiếc vòng tay bằng bạc Họ hàng nhà trai lần lượt theo thứ bậc
từ cao xuống thấp tiến hành rửa mặt Đầu tiên là bố mẹ chồng, sau là cụ, ông, bà,bác, bá, cô, dì, chú, thím, anh, chị,… ra chúc cô dâu những lời tốt đẹp, thả tiền(tùy tâm) vào bát và lấy khăn mặt Những người còn đủ vợ chồng thì lấy 2 chiếckhăn, những người góa bụa thì lấy 1 chiếc khăn, những người chưa có gia đìnhthì không tham gia vào lễ này Mục đích của lễ rửa mặt là để cô dâu nhận mặtanh em họ hàng của nhà trai và họ hàng nhà trai nhận mặt thành viên mới tronggia đình, học tộc, đồng thời mỗi người một ít, góp một chút vốn nhỏ để đôi vợchồng trẻ có vốn làm ăn Vì thế lễ rửa mặt trong đám cưới của các gia đìnhngười Tày có tính văn hóa cao, mang đậm tính nhân văn, nhân bản
Lễ lại mặt, ba ngày sau ngày cưới đôi vợ chồng mang lễ vật nhỏ đến nhà
gái Lễ vật gồm đôi gà, hai lít rượu Tới nhà gái, chú rể phải tự tay nấu 4 - 5mâm cơm để cảm ơn họ hàng nhà gái Và để một lần nữa để chú rể nhận biết
Trang 37họ hàng bên vợ Ý nghĩa của lễ lại mặt là để gia đình nhà gái yên tâm họ đã gảcon gái cho người có thể nhờ cậy
Đám cưới diễn ra trong các gia đình người Tày tuân thủ theo nghi lễchung của cộng đồng Nét đẹp văn hóa trong đám cưới thể hiện rõ nhất thôngqua các làn điệu Then đối đáp của quan làng hai họ Lời Then đối đáp hai họtinh tế, khiêm nhường, thể hiện lối ứng xử có văn hóa cao; lối sống nặngnghĩa nặng tình, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, có trước có sau Lời Then dặn dò
cô dâu thể hiện tinh thần trách nhiệm của gia đình, có tính giáo dục sâu sắc.Đám cưới là một ngày trọng đại nhất trong cuộc đời của đôi vợ chồng trẻ.Ngày vui chung của anh em, họ hàng, làng xóm Các nghi lễ được diễn ratrong đám cưới giúp cho thanh niên nam nữ dân tộc Tày thấm sâu vào tâmhồn mình ý thức về cội nguồn và nét đẹp văn hóa của cộng đồng dân tộcmình Đồng thời có ý thức coi trọng cuộc sống hôn nhân, gia đình Chính vìvậy, hôn nhân của người Tày là hôn nhân bền vững, các thành viên trong giađình luôn có ý thức phải sống tốt hơn, sống đẹp hơn để không phụ lại công ơncủa cha mẹ, sự giúp đỡ của anh em họ hàng, hàng xóm láng giềng
Về ngôn ngữ
Người Tày Bình Liêu dùng tiếng nói mẹ đẻ trong tất cả các môi trườnggiao tiếp Trong gia đình người Tày, văn hóa ứng xử giữa các thành viêntrong gia đình được thể hiện rõ nét qua hệ thống từ xưng hô độc đáo Từ xưng
hô Mâng (mày) - Câu (tao) mang sắc thái trung hòa không bao hàm sắc tháibiểu cảm khinh bỉ hay coi thường, được tất cả các thành viên trong gia đìnhkhông phân biệt vai vế, bề trên, bề dưới sử dụng để xưng hô với nhau trongkhông khí giao tiếp thân mật, cởi mở, không có nghi lễ Còn hệ thống từ xưng
hô dùng trong không khí giao tiếp trang trọng, nghi lễ gồm có:
Ông bà (thường gọi là Pò pú, Mè già) Bố mẹ cũng có nhiều cách gọikhác nhau Hầu hết trong các gia đình, con cái gọi bố mẹ là Báo - Mé Tuynhiên cũng có nhiều gia đình con cái gọi bố là Baạc (bác), gọi mẹ là Pả (bá);một số gia đình gọi bố là Ao (Ao - là từ được rút gọn ở từ Ao khưi nghĩa là
chú rể), gọi Mẹ là A (A - là từ rút gọn ở từ mè A nghĩa là cô ), cách xưng hô
Trang 38này được dùng trong trường hợp bố mẹ sinh con hoặc chăm sóc con cái khó
khăn vất vả nên phải mượn cách xưng hô trong họ tộc để dễ bề nuôi con Còn
các cháu thì xưng với ông bà là Lan (cháu), con cái xưng với bố mẹ là Lộc(con), anh xưng với em là Chài hoặc Pì (anh), chị xưng với em là Sao (chị) vàgọi em là Noọng (em), em bé gọi là “noọng ý”… Từ xưng hô trong gia đìnhngười Tày có sự thay đổi theo tuổi tác Khi con cái đến tuổi trưởng thành xâydựng gia đình và có con lớn thì bố mẹ gọi con trai, con dâu hoặc gọi con gái,
con rể là Mè nổng, Pò nổng - đại từ nhân xưng chỉ con cái ở lứa tuổi trung
niên Em gái, em trai, em dâu, em rể gọi chị gái bằng một cái tên rất đỗi gần gũi
và yêu thương - Sao Eng (chị gái) Nếu là dâu, rể thì từ xưng hô chỉ danh phậndâu rể luôn gắn với đại từ nhân xưng để phân định rõ danh phận (lộc khưi - con
rể, mè lù - con dâu; pì lù - chị dâu; pì khưi - anh rể; noọng lù - em dâu; noọngkhưi - em rể; lan khưi - cháu rể; lan lù - cháu dâu)… Người Tày không câu nệdùng từ xưng hô thế nào mà quan tâm để ý đến giọng điệu, thái độ trong cáchgọi, cách xưng (nói nhẹ nhàng tình cảm hay nói nặng lời, cáu gắt…)
Tiếng Tày ở Bình Liêu là thứ tiếng dễ phát âm, dễ đọc, dễ hiểu nên đãtrở thành ngôn ngữ dùng để giao tiếp chung cho tất cả các dân tộc ở huyệnBình Liêu Từ người Kinh, người Dao, người Sán Chỉ, người Hoa…đều biếtnói tiếng Tày Đến Bình Liêu nói được tiếng Tày là có thể giao tiếp được vớitất cả các dân tộc khác trong huyện Ngôn ngữ của người Tày có vai trò quantrọng trong đời sống văn hóa các dân tộc ở huyện Bình Liêu Vì thế, các giađình truyền thống người Tày đều có ý thức giữ gìn tiếng nói mẹ đẻ của dântộc mình Những người có trí tuệ, có hiểu biết thì biết dùng tiếng Tày để sángtác thơ, Then, hát đối, đối đáp trong các môi trường có tính chất nghi lễ
Các gia đình truyền thống có hiểu biết sâu sắc về vốn văn hóa dân gian của dân tộc Đó là những câu truyện cổ nói về sự hình thành của vũ trụ,
nguồn gốc của người Tày, những câu truyện thơ, truyền thuyết, những câuthành ngữ, tục ngữ, dân ca, diễn xướng… đúc kết những kinh nghiệm của chaông trong lao động sản xuất và chiến đấu, trong ứng xử giữa các thành viêntrong gia đình và giữa gia đình với họ tộc, hàng xóm, láng giềng…những tri
Trang 39thức dân gian trong cuộc sống (bí quyết chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe bằng
lá cây rừng, bí quyết chế biến các món ăn…)
Vốn văn hóa dân gian của dân tộc được ông bà, cha mẹ truyền lại đãnuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ con cháu người Tày về truyền thống đánh giặcngoại xâm, yêu quê hương, làng bản, hình thành những trí thức quý báu để laođộng sản xuất và để xây dựng cuộc sống tốt đẹp
Trong lĩnh vực văn hóa tinh thần, các gia đình người Tày truyền thốngyêu thích nhất thể loại dân ca, trong đó thể loại xướng Then là phổ biến vàhấp dẫn với tất cả mọi người thuộc các giới, các lứa tuổi khác nhau Hầu nhưgia đình nào cũng thích nghe Then và có người biết hát Then Trong hát Thenđặc sắc nhất là có diễn xướng Then cổ (tức Then nghi lễ) Đây là nghi lễ diễnxướng nghệ thuật tổng hợp gồm có hát, nhạc, nhảy múa, trang phục nhằmhướng tới mục đích chữa bệnh, giải hạn, trừ hiểm họa, cầu tự, ban phúc lộc…Bên cạnh việc cầu mong cuộc sống bình an, tốt đẹp của con người, nó cònđáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa, văn nghệ và tâm linh tín ngưỡng trongcuộc sống hàng ngày của người Tày Diễn xướng Then nghi lễ cổ có ba hìnhthức chính: lảu Then (cấp sắc Then), hỉ phúc (cầu phúc, cầu an, giải hạn), vànphúc (hoàn trả lễ, tiễn bà mụ về trời); so bióoc (cầu hoa, cầu có con) Thườngvào dịp đầu năm mới, gia đình nào cũng mời Bà Then về để giải hạn (cầuphúc, cầu an, giải hạn trong năm) đồng thời để nghe Then
Trong Then nghi lễ cổ đặc sắc nhất là hình thức “lảu Then” Lễ “lảuThen” thể hiện nhiều nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của các giađình người Tày Đó là tinh thần cộng đồng, sự đoàn kết tương trợ giữa cácthành viên trong gia đình, dòng họ, thôn, bản Vì để làm được một lễ cấp sắc
“lảu Then” phải nhờ đến sự giúp đỡ về công sức của rất nhiều người trong giađình, họ hàng, làng bản Sự giúp đỡ vô tư, sự cổ vũ nhiệt tình và thái độ trântrọng của cộng đồng trong ngày lễ “lẩu Then” đã chứng tỏ Then có vị trí quantrọng trong đời sống tinh thần của người Tày nói chung và trong từng gia đìnhngười Tày nói riêng Then trở thành nguồn cổ vũ, động viên, thành sức mạnhtinh thần to lớn trong văn hóa gia đình truyền thống của người Tày
Trang 40Về tín ngưỡng tâm linh
Trong đời sống văn hóa tinh thần của các gia đình người Tày truyềnthống, các giá trị tâm linh luôn được quan tâm với thái độ trân trọng đề caohơn cả Các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Tày được thể hiện
rõ nhất khi người thân qua đời
Khi trong nhà có người thân qua đời, các gia đình đều tiến hành đầy đủ,chu đáo các nghi lễ theo đúng phong tục tập quán của dân tộc Để tang 6 đến
7 ngày, ra đồng vào ban đêm Để bày tỏ tình cảm buồn đau, thương tiếc đốivới người đã khuất, các thành viên trong gia đình bắt buộc phải tuân thủ cácquy định: mặc trang phục truyền thống của dân tộc, tóc xõa dài không đượcchải, không được rửa mặt, phải ăn chay chỉ được ăn cháo với dưa chua, măngchua, mòng chua, lạc rang, rau luộc…tuyệt đối không được ăn mỡ động vật;không được nằm lên giường, vợ chồng không được gần gũi Ban ngày tất cảngười thân ruột thịt đều phải ngồi bên quan tài, đêm thì nằm xuống chiếungay bên cạnh để người đã khuất bớt lạnh lẽo Đặc biệt tiếng khóc trong đámtang là âm thanh đặc biệt bộc lộ nhiều nét đẹp nhất trong văn hóa gia đìnhngười Tày Tiếng khóc chủ yếu là của chị em phụ nữ trong gia đình và họ tộc.Tiếng khóc có rất nhiều cung bậc khác nhau phù hợp với từng đối tượng(khóc đón Thầy Tào, khóc thương người đã khuất, khóc cảm ơn anh em, họhàng, hàng xóm, láng giềng đã đến đến thăm viếng, chia buồn cùng gia đình,khóc cảm ơn Thầy Tào, người làm bếp đã vất vả đêm hôm giúp gia đình tronglúc tang gia bối rối…) Nội dung tiếng khóc phản ánh lối sống tình nghĩa cótrước, có sau của người Tày truyền thống: đó là tình yêu thương người thânruột thịt; ứng xử có văn hóa cao, luôn biết ơn người đã giúp đỡ mình và giađình mình; là lối sống nhân hậu mọi người vì mình, mình vì mọi người
Người Tày tin rằng cuộc sống ở trên trần gian chỉ là tạm bợ, cuộc sống
ở thế giới bên kia mới là thiên đường vĩnh cửu Cuộc sống ở thế giới bên kiacũng giống như cuộc sống hàng ngày của con người “trần sao, âm vậy” Vớiquan niệm đó, Thầy Tào và anh em, họ hàng, con cháu chuẩn bị cho người đãkhuất đầy đủ tất cả đồ dùng, vật dụng mang theo Thầy Tào thì có trách nhiệm