Lễ hội biểu đạtnhững sáng tạo văn hóa được tích lũy và trao truyền qua nhiều thế hệ, in dấutrong các nghi lễ, nghi thức tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán, văn chươngnghệ thuật, lễ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền văn hóa Việt Nam tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã trở thànhnét đẹp văn hóa truyền thống lâu đời của ông cha ta Ngoài ý nghĩa góp phầntạo nên sự cố kết cộng đồng, hướng về cội nguồn giúp cân bằng đời sống tâmlinh đồng thời hàm chứa trong đó nhiều giá trị văn hóa truyền thống mà nổi bật
là giá trị giáo dục đạo đức, giáo dục truyền thống yêu nước cho nhân dân ta
Khắp các địa phương trong cả nước ta thấy ở mỗi gia đình đều có bànthờ tổ tiên, dòng họ có nhà thờ họ, cộng đồng làng thì thờ thành hoàng Thànhhoàng chính là vị thần cai quản che chở cho cả làng thường là người có côngkhai phá lập nghiệp cho dân làng, hoặc các Anh hùng dân tộc đã sinh hay mất
ở làng Với quan niệm “sinh vi tướng, tử vi thần” dân ta luôn trân trọng, biết
ơn những người đã xả thân vì dân vì nước Những phong tục thờ cúng đó trởthành lễ hội và lễ hội đó đã trở thành một trong những biểu tượng văn hóa củacộng đồng
Hàng năm, trên đất nước ta có hàng ngàn lễ hội được tổ chức với nhiềuhình thức và quy mô khác nhau Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trịriêng nhưng bao giờ cũng là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần đặc biệtmang tính tập thể, cố kết cộng đồng dân tộc, giáo dục đạo đức con ngườihướng về cội nguồn, hướng về cái cao cả thiêng liêng của dân tộc
Lễ hội không chỉ là một không gian, một thời điểm, một hoạt động đểcác thành viên được thỏa mãn nhu cầu cộng sinh mà còn là một thành tố cấuthành nên bản sắc văn hóa của một cộng đồng Trong lễ hội nhiều hoạt độngmang đậm nét truyền thống với phần lễ nhiều ý nghĩa và phần hội với cáchoạt động đa dạng, phong phú đã tạo nên tính đặc thù của văn hóa cộng đồng
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần bắt nguồn và pháttriển từ thực tiễn hoạt động của đời sống xã hội, sự giao lưu, tiếp biến của vănhóa cộng đồng Lễ hội là môi trường thuận lợi mà ở đó các yếu tố văn hoátruyền thống được bảo tồn và phát triển Những yếu tố văn hoá truyền thống
Trang 2đó không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, vận hành cùng tiến trình phát triểnlịch sử của mỗi địa phương trong lịch sử chung của đất nước Nó chính là hệquả của cả quá trình lịch sử không chỉ một cộng đồng người Đây chính làtinh hoa được đúc rút, kiểm chứng và hoàn thiện trong chiều dài lịch sử củabất cứ một cộng đồng cư dân nào Lễ hội có sức lôi cuốn, hấp dẫn và trởthành nhu cầu, khát vọng của người dân cần được đáp ứng và thỏa nguyệnqua mọi thời đại Bản chất của lễ hội là sự tổng hợp và khái quát cao đời sốngvật chất, tinh thần trong xã hội ở từng giai đoạn của lịch sử Lễ hội biểu đạtnhững sáng tạo văn hóa được tích lũy và trao truyền qua nhiều thế hệ, in dấutrong các nghi lễ, nghi thức tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán, văn chươngnghệ thuật, lễ phục, ẩm thực, cúng tế, trò chơi, trò diển dân gian…
Lễ hội đáp ứng nhu cầu một cách hiện thực, hiệu quả đời sống văn hóatinh thần của nhân dân trong tổ chức các nghi lễ và hưởng thụ các hoạt động hội,bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các vùng miền, dân tộc; đồng thời làcầu nối giữa quá khứ với hiện tại, là hình thức giáo dục, tri ân công đức các Anhhùng dân tộc, danh nhân văn hóa, các bậc tiền nhân đã có công dựng nước vàgiữ nước đấu tranh giải phóng dân tộc Nó là tài sản vô giá trong kho tàng di sảnvăn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần của nhân dân được hình thành và pháttriển trong quá trình lịch sử Chính vì thế lễ hội góp phần bảo tồn các giá trị vănhóa truyền thống, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Đối với tỉnh Kiên Giang, ngoài các giá trị nêu trên lễ hội còn trở thànhmột nguồn lực quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, làphương tiện hữu hiệu để quảng bá, giới thiệu văn hóa, vùng đất con ngườiKiên Giang, tạo nên thương hiệu du lịch đến đông đảo nhân dân cả nước vàbạn bè quốc tế
Kiên Giang là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở phíaTây Nam của Việt Nam Với diện tích tự nhiên 6.346 km2 Dân số 1.683.149người Là tỉnh có địa hình đồng bằng, rừng núi, biển và hải đảo Kiên Giangđược nhiều người biết đến là vùng đất với nhiều danh lam thắng cảnh và địa
Trang 3danh lịch sử như: Hà Tiên, Phú Quốc, vườn Quốc Gia U Minh Thượng, ditích nhà tù Phú Quốc…Toàn tỉnh hiện có 360 cơ sở thờ tự, 43 danh thắng - ditích lịch sử văn hóa được xếp hạng Theo thống kê, hiện nay trên địa bàn tỉnhKiên Giang có 389 lễ hội trong đó có 235 lễ hội tôn giáo, 31 lễ hội dân gian,
62 lễ hội lịch sử cách mạng và một số lễ hội khác Đặc biệt hàng năm, cứ vàongày 26, 27 và 28 tháng 8 âm lịch, lễ hội truyền thống kỷ niệm ngày hy sinhcủa Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực được tổ chức trang trọng nhằm tri
ân và tôn vinh đức tài, chiến công của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực,giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước và tinh thần quật cường chốngngoại xâm, bảo vệ đất nước, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng dân gian của nhândân; đồng thời là dịp để bà con nhân dân trong và ngoài tỉnh tham gia cáchoạt động giao lưu văn hóa, tăng cường tình đoàn kết gắn bó của các dân tộcsinh sống trong cộng đồng, giới thiệu, quảng bá tiềm năng phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương Lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực đã có sứclan tỏa ngày càng rộng, mỗi năm số lượt người dự lễ hội ngày càng tăng;nếu năm 2005 có 400 ngàn người tham gia lễ hội đến năm 2012 có hơn 800ngàn lượt người tham gia lễ hội [106] Nét độc đáo mỗi khi nói đến lễ hộiNguyễn Trung Trực hàng năm là trước ngày chính thức diễn ra lễ hội,người dân khắp nơi về đây để làm công quả, chung tay sửa sang đình thờ,dựng trại, đắp lò nấu cơm đãi ăn miễn phí cho tất cả du khách đến tham gia
lễ hội bằng tấm lòng tôn kính, thành tâm chăm lo ngày giỗ của Cụ Nguyễn.Chỉ nhìn vào nguồn thực phẩm đem dâng cúng, kinh phí đóng góp của các
tổ chức, cá nhân mới thấy sức đóng góp của người dân rất lớn Điều đángnói trong lễ hội Anh hùng Nguyễn Trung Trực là tinh thần của nhữngngười tham dự lễ hội Dân cư khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long về
dự lễ hội như là trở về gia đình mình, làm giỗ ông bà mình Vì thế, tínhcộng cảm, cộng mệnh, cộng sinh được thể hiện rất rõ nét trong lễ hội này.Đây là lễ hội mang tính cộng đồng rất cao và là nét đẹp văn hóa vô cùngđộc đáo ở tỉnh Kiên Giang hiện nay
Trang 4Tuy hàng năm lễ hội thu hút lượng khách rất lớn nhưng chỉ diễn ra trongthời gian ngắn và quy mô tổ chức chưa tương xứng, độc đáo, hấp dẫn du kháchđến với Kiên Giang Phần nội dung tuy được cải tiến đổi mới, nhưng phần hộivẫn còn mang tính hình thức, rập khuôn gây nhàm chán cho người dự lễ Các tròchơi dân gian còn hạn chế làm cho nét đẹp văn hóa truyền thống vốn có của cácdân tộc đang dần bị mai một Việc tuyên truyền, vận động người dân tham gia lễhội, thực hiện quy định của lễ hội còn hạn chế Từ đó chưa thấy được mình cầnphải làm gì để hưởng lợi bền vững khi biết cách giữ gìn bản sắc văn hóa, môitrường sinh thái và có trách nhiệm, hành vi văn minh Tình trạng mua bán lấnchiếm vỉa hè, lòng lề đường, giữ gìn an ninh trật tự, mua bán lưu hành ấn phẩmvăn hóa không được phép xuất bản…vẫn còn xảy ra tại lễ hội.
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI viết:
Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về
sở hữu trí tuệ, về bảo tồn phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể
và phi vật thể của dân tộc Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển vănhóa, văn nghệ, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa vớiphát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền básâu rộng các giá trị văn hóa trong công chúng đặc biệt là thế hệ trẻ
và người nước ngoài Xây dựng và thực hiện các chính sách bảotồn, phát huy giá trị văn hóa [28, tr.225]
Trong bối cảnh ấy, nghiên cứu việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa lễhội Anh hùng Nguyễn Trung Trực nhằm giới thiệu, quảng bá rộng rãi hơn vềcuộc đời, thân thế và sự nghiệp cũng như giá trị của lễ hội Anh hùng dân tộcNguyễn Trung Trực là một việc làm có tính cấp thiết về lý luận và thực tiễn
Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang hiện nay”
làm luận văn tốt nghiệp bậc cao học ngành Văn hóa học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội đã được rấtnhiều học giả từ xưa đến nay nghiên cứu và giới thiệu dưới nhiều phương
Trang 5pháp, mục đích và góc độ khác nhau Trong những năm gần đây và đặc biệt
kể từ khi Nghị quyết TW 5 khóa VIII ra đời Đảng và Nhà nước đã quan tâmsâu sắc đến việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thốngthì ngày càng có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lễ hội, ý nghĩa vàgiá trị trong lễ hội được công bố
Có thể đếm được một khối lượng khổng lồ hàng ngàn đầu sách, bàibáo, chuyên đề khoa học, nhiều góc độ tiếp cận khác nhau về vấn đề này như:
Việt Nam văn hóa sử cương của tác giả Đào Duy Anh, Lễ hội truyền thống và hiện đại của tác giả Thu Linh - Đặng Văn Lung, Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại, của các tác giả GS Đinh Gia Khánh - GS.PTS Lê
Hữu Tầng…, Đình miếu và lễ hội dân gian của tác giả Sơn Nam, 60 lễ hội
truyền thống Việt Nam của tác giả Thạch Phương - Lê Trung Vũ, Một số giải pháp quản lý lễ hội dân gian của tác giả Hoàng Nam, Văn hóa ẩm thực trong
lễ hội truyền thống Việt Nam của TS Nguyễn Quang Lê… Trong quá trình
miêu tả các lễ hội, đi sâu giải mã về tín ngưỡng, tâm linh, các tác giả đãnghiên cứu về các hoạt động văn hóa trong lễ hội tạo nên một nét đẹp đa dạngphong phú giàu tính nhân văn sâu sắc
Đối với đề tài nghiên cứu lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực
ở Tỉnh Kiên Giang hiện nay chưa có nhiều Chỉ có thể tìm thấy hình ảnh củacuộc khởi nghĩa và thủ lĩnh Nguyễn Trung Trực qua một số thư tịch và cáccông trình nghiên cứu chủ yếu sau:
Lịch sử 80 năm chống Pháp của Trần Huy Liệu (2003), Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội Tác giả nghiên cứu lịch sử đấu tranh chống Pháp của nhândân Việt Nam từ năm 1858 đến khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập.Dựa vào tài liệu này tác giả có thể tìm hiểu bối cảnh lịch sử đất nước ở thế kỉXIX, đặc điểm của các cuộc khởi nghĩa chống xâm lược trong đó có khởinghĩa của Nguyễn Trung Trực
Đại cương lịch sử Việt Nam - tập II, Đinh Xuân Lâm (Chủ biên)
(2006), Nxb Giáo dục Ở chương I - Phần Một các tác giả đã nghiên cứu lịch
Trang 6sử Việt Nam từ 1858 - 1896 Ở tài liệu này quá trình đấu tranh chống xâm lượccủa nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp được miêu tả một cách khá chi tiết.Nhưng cuộc kháng chiến của Nguyễn Trung Trực không được đề cập nhiều.
Ở lĩnh vực nghiên cứu về thân thế cũng như sự nghiệp về Anh hùngNguyễn Trung Trực có thể kể đến những tác phẩm của Nhà giáo Lê QuangKhai (bút danh Vĩnh Xuyên) ở Kiên Giang Đó là:
Nguyễn Trung Trực (thân thế và sự nghiệp), Nxb Mũi Cà Mau, 2000 và Nguyễn Trung Trực - Cuộc đời và sự nghiệp, Nxb Văn nghệ, TP HCM, 2008.
Cả hai tài liệu này cơ bản về nội dung nghiên cứu là giống nhau Tác giả đãgiới thiệu về tiểu sử, gia phả, sự nghiệp cũng như một số truyền thuyết đượcngười dân địa phương truyền miệng về Nguyễn Trung Trực một cách khá chitiết Đây là nguồn tài liệu rất có giá trị cho những người muốn nghiên cứu vềAnh hùng Nguyễn Trung Trực
Nguyễn Trung Trực (diễn ca), Nxb Mũi Cà Mau, 2000 Trong đó tác
giả miêu tả lại tất cả cuộc đời, sự nghiệp, những địa danh, nhân vật cũng nhưnhững sự kiện lịch sử có liên quan đến Nguyễn Trung Trực Đây là quyểnsách mà tác giả Vĩnh Xuyên thể hiện lịch sử thông qua thơ ca, bằng cách nàylịch sử được tái hiện một cách dễ đọc, dễ hiểu dễ nhớ nhưng vẫn đảm bảođược sự thật lịch sử
Tuy nhiên, ở các tác phẩm này, tác giả chưa đi sâu vào nghiên cứu chitiết cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực ở các nơi khác mà chủ yếu làmiêu tả lại hai chiến thắng tiêu biểu của Nguyễn Trung Trực là đốt tàu giặctrên sông Nhật Tảo và đánh chiếm đồn Rạch Giá
Nguyễn Trung Trực - Anh hùng kháng chiến chống Pháp của Giang
Minh Đoán (1991) viết trong quá trình sưu tập tài 1iệu, đi khảo cứu một sốđình, đền, các di tích thờ phụng cụ Nguyễn trên đất Rạch Giá - Hà Tiên cũ,cùng những chuyện ghi chép được từ các kỳ lão - Nxb TP.HCM Tác giả cũngtrình bày về tiểu sử, chiến công của cụ Nguyễn
Công trình Tìm hiểu Kiên Giang của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh
Kiên Giang do Dương Tấn Phát chủ biên (1986) Đây là nguồn tài liệu rất quí
Trang 7cho những người muốn nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử hình thành và pháttriển của tỉnh Kiên Giang trên tất cả các lĩnh vực Trong đó, tài liệu cũng cómột phần trình bày về cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực tại KiênGiang cũng như sự thờ cúng Ông ở địa phương.
Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nguyễn Trung Trực do Bảo tàng Kiên Giang
tổ chức (1989) Tham dự hội thảo có các nhà nghiên cứu, các nhà sử học, khoahọc và những người quan tâm đến cuộc đời và sự nghiệp của Anh hùng NguyễnTrung Trực Tuy nhiên, trong tham luận của những người tham dự hội thảo, cónhững ý kiến khác nhau về một vấn đề chẳng hạn về tiểu sử, quê hương, hoạtđộng đây là nguồn tư liệu rất có giá trị trong việc nghiên cứu sâu hơn vềNguyễn Trung Trực và cuộc kháng chiến của Ông ở miền Tây Nam bộ
Bản thảo kỷ yếu hội thảo về Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực (2009) với nhiều ý kiến đề xuấtphát huy vai trò của lễ hội đối với đời sống người dân Kiên Giang nhằm xâydựng lễ hội trở thành lễ hội tiêu biểu của cả nước
Tất cả các công trình kể trên chỉ có thể tham khảo để tìm hiểu về thânthế và cuộc đời sự nghiệp của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực Chưa cócông trình nào nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội Anhhùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Phân tích thực trạng vấn đề khai thác, bảo tồn giá trị văn hóa trong lễhội này
Trang 8- Đề xuất một số giải pháp mang tính tổng thể, đồng bộ, thiết thực, gópphần bảo tồn phát huy vốn văn hóa trong lễ hội Anh hùng dân tộc NguyễnTrung Trực.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn TrungTrực ở tỉnh Kiên Giang hiện nay
Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước về văn hóa - xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn vận dụng phương pháp duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử để xem xét đánh giá giá trị văn hóa của lễ hội Anhhùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang
Phương pháp cụ thể: Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứuliên ngành, đa ngành như: văn hóa học, dân tộc học, xã hội học, quản lý văn hóa;phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp nghiên cứu tư liệu,
Để thực hiện luận văn này, tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp:Phương pháp tổng hợp nhiều nguồn tài liệu, thư tịch của Pháp, các tácgiả Việt Nam là những nhà sử học theo phương pháp luận Mácxit, hay các
Trang 9nhà sử học Miền Nam dưới nhiều góc độ khác Phương pháp đối chiếu, sosánh giữa các nguồn tư liệu, từ đó tiếp tục phân tích rút ra nhận thức Phươngpháp điền dã, nghiên cứu trên thực địa, thu thập tư liệu, phương pháp phỏngvấn chuyên sâu.
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên giới thiệu một cách có hệ thống đầy đủgiá trị văn hóa của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực; những đềxuất trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội Anh hùngdân tộc Nguyễn Trung Trực
Thông qua luận văn nhằm bổ sung thêm những luận cứ khoa học gópphần minh chứng được tính phong phú, đặc sắc của văn hóa lễ hội dân giancủa từng vùng miền ở nước ta;
Kết quả đề tài nghiên cứu là kênh tham khảo giúp cho nhân dân địaphương hiểu đúng nội dung, ý nghĩa, giá trị văn hóa, lịch sử qua các hoạtđộng và tính cộng đồng trong lễ hội ở địa phương mình, qua đó nâng cao tínhđoàn kết, cố kết cộng đồng, tình yêu quê hương, góp phần vào việc giáo dụctruyền thống yêu nước, tính năng động sáng tạo, giữ gìn nếp sống văn hóatrong lễ hội hôm nay Dự báo xu hướng vận động và phát triển của lễ hộinhằm đưa ra những kiến nghị góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóacủa lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực
Làm tài liệu tham khảo cho những tác giả quan tâm đến lĩnh vực vănhóa lễ hội ở tỉnh Kiên Giang, cũng như giá trị, vai trò của tinh thần gắn kếtcộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn làm rõ các giá trị văn hóa của lễ hội Anh hùng dân tộc NguyễnTrung Trực nhằm góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội
Thông qua nội dung của luận văn, người đọc sẽ tìm hiểu được một sốgiá trị văn hóa tiêu biểu của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực Những xu hướng, dự báo, đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá
Trang 10trị văn hóa của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực góp phần giữ gìngiá trị di sản văn hóa của tỉnh Từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ởtỉnh Kiên Giang một cách bền vững.
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận văn gồm 3 chương, 11 tiết
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN
VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỄ HỘI
Ở TỈNH KIÊN GIANG
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA
1.1.1 Văn hóa và di sản văn hóa
Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do loài người sángtạo ra nhằm phục vụ nhu cầu tồn tại và phát triển Do cách tiếp cận, góc độnghiên cứu trên từng lĩnh vực khác nhau nên có nhiều cách hiểu khác nhau vềVăn hóa Hiện nay trên thế giới có hàng trăm định nghĩa về văn hóa Năm
1982, Tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hóa của liên hiệp quốc(UNESCO) đã tổ chức Hội nghị về văn hóa ở Mexico và đã đưa ra một địnhnghĩa chung nhất về văn hóa:
Văn hóa theo nghĩa chung nhất là tổng thể những nét riêng biệt vềtinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách củamột xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồmnghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của conngười, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng [97].Trong mục đọc sách ở phần cuối tập Nhật ký trong tù (1942-1943), HồChí Minh đã viết:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sángtạo và phát minh ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạthàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộnhững sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổnghợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, màloài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống vàđòi hỏi của sự sinh tồn [60, tr.431]
Trang 12Như vậy, nói đến văn hóa bao gồm cả vật chất và tinh thần Văn hóavật chất là toàn bộ sản phẩm vật chất mà con người sáng tạo ra như các côngtrình điêu khắc, kiến trúc; công cụ lao động sản xuất và sinh hoạt; thức ăn,trang sức, các phương tiện vận chuyển…các sản phẩm văn hóa ở dạng vậtchất ấy gọi là văn hóa vật thể.
Văn hóa tinh thần là toàn bộ các sản phẩm do con người sáng tạo ranhư: văn học và nghệ thuật, các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo…đây chính là dạng văn hóa phi vật chất còn gọi là văn hóa phi vật thể
Luật di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 xácđịnh: di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vậtthể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đượclưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam [71, tr.32]
Đề cập đến vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, nghịquyết trung ương 5 khóa 8 cho rằng: di sản vǎn hóa là tài sản vô giá, gắn kếtcộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giátrị mới và giao lưu vǎn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huynhững giá trị vǎn hóa truyền thống (bác học và dân gian), vǎn hóa cách mạng,bao gồm cả vǎn hóa vật thể và phi vật thể Nghiên cứu và giáo dục sâu rộngnhững đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại
Trong những năm gần đây, vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di sản vănhóa được đặc biệt quan tâm Đảng và Nhà nước đã xác định di sản văn hóaViệt Nam chính là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và làmột bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệpdựng nước và giữ nước của nhân dân ta
Khi đề cập đến một nền văn hóa, người ta thường quan tâm đến nhữnggiá trị đặc sắc của nền văn hóa đó Hay nói cách khác là bản sắc và giá trị của
nó tạo nên sự khác biệt giữa nền văn hóa này với nền văn hóa khác, giữa dântộc này với dân tộc khác
Trang 13Trong những giá trị đó thì di sản văn hóa có sự lan tỏa và thu hút đặcbiệt sự quan tâm của cộng đồng Bởi vì nó chính là toàn bộ quá trình laođộng, sáng tạo của các thế hệ đi trước để lại Trong di sản văn hóa được chia
ra là di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể:
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồnghoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trịlịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; khôngngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệkhác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diển và hình thức khác
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, vănhóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắngcảnh, di vật, bảo vật quốc gia [70, tr.33]
Mặc dù được phân chia thành hai loại: văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thểnhưng 2 loại này luôn luôn có mối quan hệ chặt chẽ và gắn bó mật thiết lẫn nhau
Vì vậy, trong công tác bảo tồn các di sản văn hóa cần phải tiến hànhmột cách song song thì mới mang lại giá trị thiết thực
PGS.TS Đặng Văn Bài trong vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị vănhóa của lễ hội truyền thống cho rằng: Nhận diện di sản văn hóa là tiền đềkhoa học cho hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội Từ góc độ disản văn hóa có thể khẳng định, lễ hội - một yếu tố văn hóa phi vật thể đã vàđang có những đóng góp quan trọng vào việc tạo lập, duy trì và phát huy “sứcmạnh tinh thần Đại Việt”, với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và với lòng tựtôn dân tộc, ý thức liên kết cộng đồng…
1.1.2 Quan niệm về bảo tồn
Theo từ điển tiếng Việt: “bảo tồn” là “giữ lại không để cho mất đi” [94,tr.261] Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theodạng thức vốn có của nó, bảo tồn là không để mai một không để thay đổi,biến hóa hay biến thái
Quan niệm của GS.TS Trần Ngọc Thêm thì: Bảo tồn chính là hoạtđộng giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại,
Trang 14hay nói cách khác bảo tồn có nghĩa là bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiệntrạng và hãm xuống cấp của kết cấu đó [79, tr.289].
Đề cập đến vấn đề này, GS.TS Ngô Đức Thịnh quan niệm bảo tồn lànhững nổ lực nhằm gìn giữ các giá trị, bản sắc văn hóa tốt đẹp vốn có (truyềnthống) của mỗi dân tộc, quốc gia [84, tr.252]
Khi con người hiểu được những tác động trong cuộc sống sẽ làm ảnhhưởng đến quá trình tồn tại của các giá trị văn hóa thì họ đã nghĩ đến việc bảotồn Do đó, trong tiến trình lịch sử, hoạt động bảo tồn di sản văn hóa xuất hiệnngay từ khi con người ý thức được giá trị của di sản văn hóa trong đời sống,đồng thời hiểu được mối nguy hại do tác động của thiên nhiên và chính conngười gây ra, họ đã không ngừng tìm kiếm các biện pháp bảo tồn
Công tác bảo tồn di sản văn hóa có nhiều cấp độ khác nhau, bao gồmcác hoạt động như: bảo tồn nguyên trạng, trùng tu, gia cố, tái định vị, phụchồi, quy hoạch bảo tồn Tuy nhiên, cần phải hiểu bảo tồn di sản văn hóa làviệc bảo vệ, giữ gìn những giá trị liên quan từ quá khứ đến hiện tại làm cho disản văn hóa giàu có hơn và tất yếu, cái được bảo tồn phải phù hợp với thời đại
để nó có thể tiếp tục song hành cùng xu hướng đi lên của cuộc sống Bảo tồnchính là những nổ lực nhằm đảm bảo sự an toàn, phát triển qua việc giớithiệu, trưng bày, khôi phục, tôn tạo, quảng bá và phát triển nhằm phục vụ cáchoạt động tiến bộ của con người trong xã hội
1.1.3 Quan niệm về phát huy
Phát huy được hiểu là những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốtđược lan tỏa và tiếp tục nảy nở, lan rộng, nhân lên từ ít đến nhiều, từ hẹp đếnrộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
Từ điển Tiếng Việt giải thích: “Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏasáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [94, tr.664]
Như vậy có thể hiểu rằng phát huy chính là việc làm cho cái hay, cáiđẹp tiếp tục phát triển một cách có hiệu quả Vấn đề phát huy xuất phát từ nhucầu thực tế, con người mong muốn sản phẩm của họ tạo ra phải được nhiềungười cùng biết đến hoặc đem về những lợi ích kinh tế thiết thực Phát huy
Trang 15cũng hiểu là phát triển những giá trị tốt đẹp, những thế mạnh của sự vật, hiệntượng Phát huy giá trị di sản văn hóa là một hoạt động có tính đồng bộ Đòihỏi có sự tham gia của liên ngành, có tiêu chí chung, mục đích là nhằm phục
vụ cho sự tiến bộ của xã hội, cho việc phát triển du lịch bền vững và góp phầnquan trọng trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc vănhóa dân tộc đồng thời là nhịp cầu nối với các quốc gia dân tộc trên thế giới.Cách thức phát huy của mỗi di sản, mỗi thời điểm có khác nhau, điều đó tùythuộc vào văn hóa của mỗi vùng, vào nhận thức của từng người Nhưng tất cảcác hoạt động này điều phải dựa vào giá trị sẵn có của di sản, làm tôn vinh vẽđẹp và phát triển các giá trị văn hóa đó Hình thức chủ đạo của phát huy là đềcao các giá trị văn hóa vốn có của nó Đồng thời tăng cường quảng bá hìnhảnh của di sản trên mọi phương diện nhằm khai thác, thu hút khách đến thamquan, đầu tư Từ đó giúp cho việc phục hồi tối đa các giá trị văn hóa truyềnthống, tạo cơ hội giao lưu giữa các nền văn hóa khác nhau góp phần hiểu biếtlẫn nhau và tăng cường mối quan hệ quốc tế vì hòa bình, vì sự phát triển của
xã hội Mặt khác, nếu biết phát huy lợi thế của di sản văn hóa thì đây đượcxem là một tiềm lực kinh tế
1.1.4 Quan niệm về giá trị văn hóa của lễ hội
1.1.4.1 Khái niệm giá trị
Trước hết, giá trị xã hội là một khái niệm thuộc về văn hóa Xã hội họcvăn hóa là chuyên ngành tiếp cận và nghiên cứu nhiều về vấn đề này Theoquan điểm của nhà nghiên cứu Đoàn Văn Chúc thì giá trị xã hội được xem xéttrong hệ thống các khái niệm khác như : Tiêu chuẩn (criterion) - Chuẩn mực(norm) - Giá trị (value) Trong đó, giá trị là cái ao ước, là biểu hiện nhu cầucủa cá nhân hay nhóm xã hội, trở thành mục đích hành động của cá nhân vànhóm xã hội đó Giá trị có vai trò định hướng chung cho hành động Chuẩnmực là một bước cụ thể hoá cái giá trị Nó là quy tắc cư xử, quy định cáchthức hành động của cá nhân và nhóm Nó biểu hiện dưới dạng các thể chế(institution) thành văn (như luật của nhà nước) hay không thành văn (nhưphong tục, tập quán…) Còn các tiêu chuẩn chính là những khuôn mẫu ứng
Trang 16xử trong các tình huống cụ thể cho các cá nhân và nhóm xã hội Nó là cái gắnvới thực tế vô cùng đa dạng và phong phú của đời sống Nó bảo cá nhân haynhóm xã hội phải làm gì, như thế nào
Ngoài ra, giá trị còn có hàng trăm định nghĩa khác Ví dụ: nhà Nhânhọc C.Kluckhohn (1905-1960) theo đó giá trị là “quan niệm thầm kín hay bộc
lộ về cái ao ước, riêng của một cá nhân hay một nhóm, chi phối đến sự lựachọn các phương thức, các phương tiện và các mục đích khả thể của hànhđộng” Giá trị có thể được phân loại theo nhiều cách Đó là: giá trị vật chất vàgiá trị tinh thần Chúng ta có thể dựa vào hai lĩnh vực cơ bản của đời sống conngười mà phân ra các giá trị vật chất và giá trị tinh thần Các giá trị về vậtchất như giàu có, khoẻ mạnh, sống lâu…Các giá trị về tinh thần như giá trị vềthờ cúng tổ tiên, giá trị thờ thần (ví dụ khi hành lễ phải tôn nghiêm, ăn mặcquần áo truyền thống, làm theo những nghi thức được quy định)…Phân loạigiá trị dựa vào việc đáp ứng nhu cầu xã hội Chúng ta có các hệ giá trị:
Giá trị thuộc lĩnh vực tự nhiên như sức khoẻ, môi trường, tuổi thọ; giá trị kinh tế (giàu có, sang trọng, biết làm ăn ); giá trị tri thức (hiểu biết, học vấn ); giá trị tâm linh (tôn giáo, tín ngưỡng ); Giá trị chính trị (hệ tư tưởng, cách tổ chức ) [34, tr.25-26]
Ở nước ta hiện nay thường dùng thuật ngữ giá trị là để chỉ phẩm chất,phẩm giá, đức tính (giá trị đạo đức) Giá trị gắn liền với cái tốt, cái hay, cái đúng,cái đẹp, nhưng không nên và cũng không thể “đạo đức hóa” toàn bộ các giá trị.Bởi lẽ, chỉ riêng cái tốt đã là thuộc tính của rất nhiều các giá trị khác nhau chứkhông đơn thuần là thuộc tính riêng của đạo đức Bất kỳ sự vật nào cũng có thểđược coi là “có giá trị”, dù đó là vật thể hay tư tưởng, là thực vật hay vật ảo nếu
nó được các thành viên xã hội thừa nhận và xem xét như một biểu tượng quantrọng trong đời sống tinh thần của họ và cần đến nó như một nhu cầu thực thụ
Giá trị có thể là lý tưởng xã hội cần vươn tới, là mục tiêu chính trị cầnđạt được, là sự đam mê nghề nghiệp, là danh dự, tình yêu, sức khỏe, tiền bạc,
du lịch, vui chơi, giải trí Giá trị là nhân tố nền tảng góp phần quyết định nhận
Trang 17thức và hành động các nhân cách; đóng vai trò điều chỉnh các nguyện vọng vàhành động của con người và cộng đồng; là chỗ dựa để đánh giá hành độngcủa người khác và để định đoạt lợi ích xã hội của các thành viên trong cộngđồng Do đó, giá trị xác định tiêu chuẩn của thang bậc xã hội Hệ giá trị (haybảng giá trị) là một tập hợp các phạm trù giá trị khác nhau, được cấu trúc theonhững thứ bậc khác nhau, và có mối liên hệ có tính lịch sử cụ thể với nhau đểthực hiện một hay một số chức năng nhất định Nó có tính chất phát triển nộitại và có khả năng chuyển hóa sang một hệ thống khác, nhằm thích ứng vớiđiều kiện và môi trường lịch sử - xã hội.
Hạt nhân của mỗi nền văn hóa là hệ thống giá trị Có thể coi hệ thống giátrị là chỉ số đánh giá trình độ và tính chất đã đạt được của một nền văn hóa
1.1.4.2 Khái niệm lễ hội
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa của nhân dân, mang đậmphong tục tập quán và bản sắc văn hóa của từng vùng, miền khác nhau Nó đã
ăn sâu vào tiềm thức của tất cả mổi người trên mỗi quốc gia, dân tộc
Từ lâu các nhà nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa, quan niệm khácnhau về lễ hội Trên thế giới khi nghiên cứu những đặc tính và ý nghĩa của lễ
hội ví dụ như ở nước Nga, M.Bachie (trong Lễ hội một nét đẹp trong sinh
hoạt văn hóa cộng đồng) cho rằng: Thực chất lễ hội là cuộc sống được tái
hiện dưới hình thức tế lễ và trò diễn, đó là cuộc sống lao động và chiến đấucủa cộng đồng cư dân Tuy nhiên bản thân cuộc sống không thể thành lễ hộiđược nếu như chính nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thếgiới của tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượt lên trên thế giới củanhững phương tiện và điều kiện tất yếu Đó là thế giới, là cuộc sống thứ haithoát ly tạm thời thực tại hữu hiệu, đạt tới hiện thực lý tưởng mà ở đó mọi thứđều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả
Nói đến lễ hội trong quyển “Việt Nam văn hóa sử cương” học giả Đào
Duy Anh thì gọi là đại hội (vào đám hay vào hội) Còn Toan Ánh trong cuốn
“Hội hè đình đám” thì quan niệm hội hè đình đám là những cuộc tổ chức hội
Trang 18họp tại các thôn xã nhân dịp vào đám và trong dịp vào đám này có nhiều tròmua vui cho dân thôn giải trí.
Cách quan niệm trên đã nhấn mạnh ý nghĩa tích cực của hoạt động vuichơi sinh hoạt tập thể có ý nghĩa giải trí, các yếu tố thuộc về nghi thức mangtính tâm linh tín ngưỡng thì chưa được đề cập sâu
Các nhà nghiên cứu như Đinh Gia Khánh, Lê Hồng Lý, Nguyễn Khắc
Dương, thì coi đó là hội lễ, coi danh từ hội lễ như một thuật ngữ văn hóa Ý
nghĩa của thuật ngữ này được xác định trên cơ sở ý nghĩa của hai thành tố hội
và lễ Hội là sự tập hợp đông người trong một sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Lễ là tín ngưỡng (các niềm tin thiêng liêng) và các nghi thức đặc thù gắn vớicác tín ngưỡng ấy trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Như vậy, lễ hội có thể có nhiều cách gọi khác nhau nhưng cơ bản thốngnhất và tập trung ở từ “lễ hội” Xét về mặt nghĩa của từ, nó bao gồm hai thành
tố “lễ” và “hội”
Trong “Từ điển tiếng Việt” do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên: Lễ là
những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu một kỷ niệm, một sự việc sự kiệnnào đó Hội là cuộc vui, tổ chức chung cho đông đảo người dự theo phong tụchoặc nhân dịp đặc biệt [68, tr.222]
Việc phân tích các quan niệm về lễ hội trên dựa vào cấu trúc lễ hội,theo đó lễ hội bao gồm phần lễ và phần hội tuy nhiên cách phân chia này chỉmang tính tương đối Lễ hội là một hiện tượng văn hóa xã hội tổng thể, dovậy nếu phân chia lễ và hội một cách máy móc cơ học thì sẽ dẫn đến khôngthể hiểu được bản chất của lễ hội thậm chí hiểu sai lệch về lễ hội
Như vậy lễ trong lễ hội cần phải hiểu là nghi thức, cách thức tiến hànhnhững quy tắc, luật lệ nhất định mang tính biểu trưng để đánh dấu kỷ niệmmột sự kiện, nhân vật nào đó với mục đích cảm tạ, tôn vinh, ước nguyện vớimong muốn nhận được sự may mắn tốt lành, nhận được sự giúp đỡ từ nhữngđối tượng siêu hình mà người ta thờ cúng Đó là những sinh hoạt tinh thần củacác cá nhân hay tập thể, là sinh hoạt cả cộng đồng người trong đời sống tínngưỡng, tâm linh, đồng thời cũng là cách ứng xử của các tầng lớp nhân dân
Trang 19dành cho thần, hướng về thần trong mối quan hệ “Người - Thần” vốn luôn tồntại trong tâm thức và hành động của con người Từ những phân tích trên nhằmhiểu đúng bản chất của “lễ”, tránh cách hiểu chưa đúng, hoặc những quanniệm thông tục coi lễ chỉ là lễ bái, lễ vật, lễ lạt…
Xét về mặt cấu trúc và cội nguồn thì lễ và hội luôn gắn chặt với nhau,không có lễ thì không có hội và hội ở đây cũng mang tính nghi lễ chứ khôngphải hội chỉ là “đám vui chơi đông người” Nhìn một cách tổng thể, thì lễ hộithuộc phạm trù cái thiêng của thế giới thiêng liêng Ngôn ngữ lễ hội là ngônngữ biểu tượng, vượt lên trên đời sống hiện hữu thường nhật Vì vậy, phầnhội luôn gắn với phần lễ, là bộ phận phái sinh của phần lễ, nó gắn với cáithiêng liêng với vị thần, nhân vật mà con người thờ phụng Các sinh hoạt vuichơi, giải trí, trò diễn trong các lễ hội như đua thuyền, các trò diễn mang tínhphồn thực…thì nó vẫn mang tính nghi lễ phong tục chứ không phải trò, chơitrò diễn thuần túy trần tục, mà trò diễn ở đây đã được thiêng hóa Theo GS,TSNgô Đức Thịnh cho rằng:
Lễ hội là một hiện tượng tổng thể, không phải thực thể chia đôi(phần lễ, phần hội) một cách tách biệt như một số học giả quanniệm mà nó hình thành trên cơ sở cốt lõi nghi lễ, tín ngưỡng nào đó(thường là tôn thờ một vị thần linh lịch sử, hay một thần linh nghềnghiệp, thần linh huyền thoại…) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp cáchiện tượng sinh hoạt văn hóa phái sinh để tạo nên một tổng thể xãhội Cho nên trong lễ hội phần lễ là phần gốc rễ, chủ đạo, phần hội
là phần phái sinh tích hợp [84, tr.336]
Đối với người dân Việt Nam, lễ hội là một trong những loại hình sinhhoạt văn hóa tín ngưỡng lâu đời nhất Bản chất của lễ hội là sự tổng hợp vàkhái quát cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân trong xã hội ở từnggiai đoạn lịch sử
Lễ hội là một tổng thể thống nhất không thể chia tách Lễ là phần tínngưỡng, là phần thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con người Còn hội làphần tập hợp vui chơi giải trí, là đời sống văn hóa thường nhật, phần đời của
Trang 20mỗi con người, của cộng đồng Hội gắn liền với lễ và chịu sự quy định nhấtđịnh của lễ, có lễ mới có hội.
1.2 GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA LỄ HỘI TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG
Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá tinh thần đặc biệt mang tínhtập thể phản ánh nhiều mặt của đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội của cộngđồng Nó là sản phẩm tinh thần, là di sản văn hoá phi vật thể có giá trị to lớntrong đời sống tinh thần của nhân dân Lễ hội trong đời sống xã hội hiện nay
có thể khái quát thành năm giá trị cơ bản: Giá trị cố kết cộng đồng dân tộc,giá trị giáo dục, giá trị tâm linh, giá trị bảo tồn nền văn hoá dân tộc, giá trịkinh tế Từ các giá trị đó cho thấy, vai trò của lễ hội có giá trị rất lớn trong đờisống văn hóa hiện nay Qua lễ hội hoạt động tinh thần gắn kết mọi người đếnvới nhau để cùng chung một niềm tin cùng hướng về tổ tông dòng tộc, cùngchung một thần linh, thành hoàng
Các phong tục, tập quán, tín ngưỡng gắn với ngôi đình, mái chùa cùngvới lễ hội là cái nôi giữ gìn bảo tồn văn hoá Việt Nam Lễ hội là một hìnhthức tái hiện cuộc sống quá khứ thông qua các hoạt động tế lễ, các trò diễn.Bản chất lễ hội nói lên việc ứng xử của con người trong đời sống văn hóacộng đồng Quá trình con người ứng xử với thần linh thể hiện ý thức về cộinguồn đó là phần lễ Phần hội, mọi người gặp gỡ, vui chơi với nhau tạo thànhnét văn hóa đặc sắc Lễ hội với sự tham gia của nhiều cá nhân, nhiều tổ chức
xã hội, một mặt đã tạo nên tinh thần đoàn kết, sự cố kết cộng đồng nhưngđằng sau nó cũng đã ngầm ẩn những mâu thuẫn, xung đột, va chạm giữa các
cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với các tổ chức…Trên thực tế, các xung
đột trên xét cho cùng chính là sự mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ, giữa cáithiêng và cái trần tục, giữa việc bảo lưu và việc cải tiến…Vấn đề đặt ra là làmsao chúng ta có thể dung hòa được các mối quan hệ xã hội phức tạp đó để lễhội thực sự là môi trường cho con người cùng nhau hưởng thụ, thỏa mãn nhucầu tâm linh của mình
Các hoạt động ấy trong lễ hội không những tái hiện cuộc sống mà nógóp phần giữ gìn và bảo tồn nền văn hoá dân tộc, được lưu giữ từ đời này
Trang 21sang đời khác Nói một cách khác lễ hội là kết quả của quá trình lịch sử hoáquá khứ và hiện tại, kết hợp quá trình huyền thoại hoá những nhân vật là sựkiện lịch sử được nhân dân thờ phụng Đồng thời còn là kết quả của quá trìnhsân khấu hoá đời sống xã hội và quá trình xã hội hoá trong tiến trình lịch sử.Quá trình mô phỏng tái hiện cuộc sống quá khứ và những nhân vật sự kiệnlịch sử trong lễ hội đã đạt đến tính xã hội hoá cao Hình thức và nội dung của
lễ hội phản ánh khá đầy đủ và sinh động đời sống vật chất là tinh thần xã hộitrong một giai đoạn lịch sử cụ thể Đồng thời qua quá trình hình thành và tồntại, lễ hội đã tác động mạnh mẽ và có ảnh hưởng sâu sắc tới toàn thể cộngđồng trong một khu vực làng xã, một vùng, một dân tộc, một quốc gia, tuỳtheo tính chất và mức độ của lễ hội ấy Và như vậy lễ hội góp phần bảo tồnvăn hoá dân tộc ngay trong chính tâm thức của cộng đồng
Tính cố kết cộng đồng ấy thể hiện qua sự cộng mệnh và cộng cảm.
Cộng mệnh là sự gắn bó giữa con người trong cộng đồng thông qua vận mệnh
của cộng đồng, thể hiện ở việc cả làng cùng suy tôn, cùng tôn thờ một sứcmạnh siêu nhiên bảo vệ cho sự tồn vong của cả cộng đồng Đó là Đức quốc
Tổ Hùng Vương trong lễ hội Đền Hùng; Thành hoàng làng trong các lễ hội
Đình; Đức Phật, Thánh Mẫu trong các lễ hội, tôn giáo Cộng cảm là sự thể
hiện có chung thái độ tình cảm của các cá nhân và cả tập thể trong ứng xử vănhoá với tự nhiên, thần thánh và con người
Trong lễ hội các hoạt động của lễ và hội đều thể hiện tính cộng mệnh
và cộng cảm, tính quần thể Các lễ hội còn thấm đượm tinh thần đoàn kết, dân
chủ và nhân bản sâu sắc Khi tham dự lễ hội đứng trước thần linh hay nhânvật thiêng liêng thì dù là người tổ chức hay người dân tham gia lễ hội hay bất
kỳ cương vị nào cũng đều bình đẳng trước thánh thần và bình đẳng với nhautrong tư cách người tham gia Bất kể một lễ hội nào cho dù là lễ hội nôngnghiệp, lễ hội lịch sử, lễ hội tôn giáo suy tôn các vị thần linh hay Anh hùngdân tộc thì các lễ hội ấy bao giờ cũng là lễ hội của một cộng đồng; biểudương các giá trị văn hoá và sức mạnh của cộng đồng trên mọi bình diện
“Mọi hoạt động diễn ra trong các lễ hội ấy đều thể hiện tính cố kết cộng đồng,
Trang 22mang tính biểu trưng nhằm kêu gọi, tập hợp quần chúng nhân dân trong mộtvòng tay lớn" [73, tr.74] Bởi vậy, tính cộng đồng và cố kết cộng đồng là nétđặc trưng và là giá trị văn hoá tiêu biểu nhất của lễ hội truyền thống Lễ hộitruyền thống là biểu hiện của hai quá trình: lịch sử hóa và huyền thoại hoánhững nhân vật được nhân dân thờ phụng
Lễ hội là hoạt động văn hoá tinh thần thể hiện tình cảm con người với
tổ tiên, thần thánh để cầu mong mọi lực lượng siêu nhiên che chở phù hộ chocon người Cũng từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên giúp con người không bao giờquên cội nguồn, con người đến với lễ hội là đến với lòng thành kính tổ tiên vàcác bậc tiền nhân, nhắc nhở mọi người nhớ đến bổn phận và trách nhiệm củamình với ông bà, tổ tiên, dòng tộc Do vậy lễ hội có giá trị lớn trong việc giáodục đạo đức giáo dục truyền thống lịch sử của làng bản quê hương đất nướcđối với mọi thành viên tham gia lễ hội
Chính vì vậy mà điều 25 luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi,
bổ sung năm 2009 đã nêu lên những định hướng lớn nhằm bảo tồn và pháthuy giá trị văn hóa của lễ hội như sau:
Nhà nước tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị văn hóa của lễ hộitruyền thống thông qua các biện pháp sau đây:
1 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội;
2 Khuyến khích việc tổ chức hoạt động văn hóa, văn nghệ dângian truyền thống gắn với lễ hội;
3 Phục dựng có chọn lọc nghi thức lễ hội truyền thống;
4 Khuyến khích việc hướng dẫn, phổ biến rộng rãi ở trong nước vànước ngoài về nguồn gốc, nội dung, giá trị truyền thống tiêu biểu,độc đáo của lễ hội [71, tr.44]
Bảo tồn lễ hội chính là giữ gìn, lưu lại những giá trị văn hóa của lễ hội.Phát triển là vận động theo quy luật khách quan, đem lại những biến đổi cácgiá trị văn hóa của lễ hội nhằm vươn tới cái đẹp hơn cho cuộc sống của conngười Bảo tồn và phát triển lễ hội nhằm làm cho các giá trị văn hóa được lưugiữ và phát triển đúng hướng Thông qua phát triển, con người nhận thức và
Trang 23thực hiện hoạt động bảo tồn các giá trị văn hóa của lễ hội nhằm thể hiện bảnsắc riêng của mình
Thông qua lễ hội, các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc đượckhơi dậy, nâng cao mức hưởng thụ của mọi người trong xã hội Trong bốicảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc mở rộng giao lưu văn hóa và phát triển dulịch là nhu cầu thiết yếu của mỗi quốc gia, dân tộc Lễ hội cũng là nhân tốchịu sự tác động mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa, các yếu tố của cơchế kinh tế thị trường dẫn đến những biến đổi về nội dung, hình thức và quy mô
tổ chức của nó Vì vậy bảo tồn và phát huy lễ hội có ý nghĩa rất quan trọng trongđời sống của nhân dân ta Bảo tồn và phát huy lễ hội là hoạt động quan trọnggóp phần bảo vệ giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Bảo tồn và phát huyluôn gắn liền với nhau trong việc xây dựng và phát triển văn hóa
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay, vấn đề bảo tồn
và phát huy giá trị văn hóa lễ hội phải được thực hiện một cách khoa học, đòihỏi những kiến thức chuyên sâu, sự phối hợp liên ngành và sự tham gia củađông đảo quần chúng nhân dân, trong đó vai trò quản lý nhà nước cũng hếtsức cần thiết Bảo tồn dựa vào mô hình: bảo tồn y nguyên, bảo tồn trên cơ sở
kế thừa và bảo tồn - phát triển
1.3 TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA TỈNH KIÊN GIANG
1.3.1 Đặc điểm về địa lý kinh tế
Tỉnh Kiên Giang ở toạ độ địa lý 10032' vĩ độ Bắc, 9023' kinh độ Ðông,cách thủ đô Hà Nội 1.976 km Kiên Giang là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sôngCửu Long - phía Tây Nam của Tổ quốc; phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia;phía Nam giáp tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu; phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh AnGiang, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang; phía Tây giáp Vịnh Thái Lan Vịtrí địa lý của Kiên Giang có tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế - văn hóa - xãhội, là cửa ngõ hướng ra biển Tây của tỉnh cũng như của vùng đồng bằng sôngCửu Long, có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển, đảo và giao lưu vớicác nước trong khu vực và quốc tế với các ngành mũi nhọn như du lịch, thươngmại, dịch vụ công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản…[106]
Trang 24Kiên Giang có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, thị, thành phố: Thànhphố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên, huyện Kiên Lương; huyện Hòn Đất, huyện TânHiệp, huyện Châu Thành, huyện Giồng Riềng, huyện Gò Quao, huyện AnBiên, huyện An Minh, huyện Vĩnh Thuận, huyện Phú Quốc, huyện Kiên Hải,huyện U Minh Thượng và huyện Giang Thành.
Kiên Giang có tổng diện tích tự nhiên 6.346,27 km2 Theo kết quả điềutra ngày 01/04/2009, dân số tỉnh Kiên Giang là 1.683.149 người, mật độ
267 người/km², khu vực nông thôn 73,1%, thành thị 26,9%; dân tộc chủ yếu
là người Kinh, Khmer, Hoa Dân số của tỉnh phân bố không đều, thường tậptrung ở ven trục lộ giao thông, kênh rạch, sông ngòi và một số đảo, quy môdân số đến năm 2010 dự kiến dưới 1,8 triệu người [106]
Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của Kiên Giang là
634.627,21 ha, trong đó: Nhóm đất nông nghiệp 575.697,49 ha chiếm 90,71%đất tự nhiên (riêng đất lúa 354.011,93 ha chiếm 61,49% đất nông nghiệp);nhóm đất phi nông nghiệp 53.238,38 ha, chiếm 8,39% diện tích tự nhiên;nhóm đất chưa sử dụng 5.691,34 ha, chiếm 0,90% diện tích tự nhiên; đất cómặt nước ven biển 13.781,11 ha (là chỉ tiêu quan sát không tính vào diện tíchđất tự nhiên) [106]
Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt khá dồi dào, nhưng đến mùa mưa (từ
tháng 5 đến tháng 10) phần lớn nước mặt của tỉnh đều bị nhiễm phèn mặn, do
vị trí ở cuối nguồn nước ngọt của nhánh sông Hậu, nhưng lại ở đầu nguồnnước mặn của vịnh Rạch Giá Toàn tỉnh có 3 con sông chảy qua: Sông CáiLớn (60 km), sông Cái Bé (70 km) và sông Giang Thành (27,5 km) và hệthống kênh rạch chủ yếu để tiêu nước về mùa lũ và giao thông đi lại, đồngthời có tác dụng tưới nước vào mùa khô [106]
Tài nguyên biển: Kiên Giang có 200 km bờ biển với ngư trường khai
thác thủy sản rộng 63.290 km2 Biển Kiên Giang có 143 hòn đảo, với 105 hòn đảonổi lớn, nhỏ, trong đó có 43 hòn đảo có dân cư sinh sống; nhiều cửa sông, kênhrạch đổ ra biển, tạo nguồn thức ăn tự nhiên phong phú cung cấp cho các loài hảisản cư trú và sinh sản, là ngư trường khai thác trọng điểm của cả nước [106]
Trang 25Tài nguyên khoáng sản: Có thể nói Kiên Giang là tỉnh có nguồn khoáng
sản dồi dào bậc nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Qua thăm dò điều trađịa chất tuy chưa đầy đủ nhưng đã xác định được 152 điểm quặng và mỏ của
23 loại khoáng sản thuộc các nhóm như: Nhóm nhiên liệu (than bùn), nhómkhông kim loại (đá vôi, đá xây dựng, đất sét…), nhóm kim loại (sắt, Lateritsắt…), nhóm đá bán quý (huyền thạch anh - opal…), trong đó chiếm chủ yếu
là khoáng sản không kim loại dùng sản xuất vật liệu xây dựng, xi măng [106]
Tiềm năng du lịch: Kiên Giang có nhiều thắng cảnh và di tích lịch sử nổi
tiếng như: Hòn Chông, Hòn Trẹm, Hòn Phụ Tử, núi Mo So, bãi biển MũiNai,Thạch Động, Lăng Mạc Cửu, Đông Hồ, Hòn Đất, rừng U Minh, đảo PhúQuốc… Để khai thác có hiệu quả tiềm năng phát triển du lịch, Kiên Giang đãxây dựng 4 vùng du lịch trọng điểm như:
* Phú Quốc: có địa hình độc đáo gồm dãy núi nối liền chạy từ Bắc
xuống Nam đảo, có rừng nguyên sinh với hệ động thực vật phong phú, cónhiều bãi tắm đẹp như Bãi Trường (dài 20 km), Bãi Cửa Lấp - Bà Kèo, BãiSao, Bãi Đại, Bãi Hòn Thơm và xung quanh còn có 26 đảo lớn nhỏ khácnhau Phú Quốc có truyền thống văn hóa lâu đời và nhiều đặc sản nổi tiếng,như: nước mắm phú Quốc, hồ tiêu, ngọc trai, rượu sim, cá trích, nấm tràm Chính từ sự phong phú, đa dạng của Phú Quốc, hàng năm khách du lịch đếnPhú Quốc tăng nhanh, năm 2008 đã thu hút trên 200.000 lượt khách du lịch,trong đó khách quốc tế trên 55.000 lượt [106]
* Vùng Hà Tiên - Kiên Lương: Nhiều thắng cảnh biển, núi non của Hà
Tiên - Kiên Lương như: Mũi Nai, Thạch Động, núi Tô Châu, núi Đá Dựng,đầm Đông Hồ, di tích lịch sử văn hoá núi Bình San, chùa Hang, hòn Phụ Tử,bãi Dương, núi MoSo, hòn Trẹm, quần đảo Hải Tặc và đảo Bà Lụa rất thíchhợp cho phát triển du lịch tham quan thắng cảnh, nghỉ dưỡng Hà Tiên cótruyền thống lịch sử văn hóa, văn học - nghệ thuật, với những lễ hội cổ truyềnnhư Tết Nguyên tiêu, kỷ niệm ngày thành lập Tao đàn Chiêu Anh Các, lễ giỗMạc Cửu, chùa Phù Dung, đình Thành Hoàng… Hiện nay, Kiên Giang đã cótour du lịch đến nước bạn Campuchia qua đường cửa khẩu Quốc tế Hà Tiên
Trang 26Đây là cánh cửa mở ra để vùng Kiên Lương - Hà Tiên nối liền với các nướcĐông Nam Á; đồng thời mở tuyến du lịch xuyên ba nước, từ Phú Quốc đếnShianouk Ville (Campuchia) và tỉnh Chanthaburi (Thái Lan) bằng đường biển
và đường bộ [106]
* Thành phố Rạch Giá và vùng phụ cận: Thành phố Rạch Giá là trung
tâm hành chính của tỉnh Kiên Giang, có bờ biển dài 7 km, giao thông thủy, bộ
và hàng không rất thuận tiện Rạch Giá có cơ sở hạ tầng tốt, nhiều di tích lịch
sử văn hóa, là điểm dừng chân để đi tiếp đến Hà Tiên, Phú Quốc và các vùngkhác trong tỉnh Do đó, có lợi thế trong phát triển các dịch vụ như: lưu trú, ănuống, các dịch vụ vui chơi giải trí về đêm; có 3 hệ thống siêu thị quy mô lớnđảm bảo nhu cầu mua sắm của người dân thành phố và du khách (siêu thịCitimart, Metro và siêu thị Co.op Mart Rạch Sỏi) Thành phố Rạch Giá là nơiđầu tiên ở Việt Nam tiến hành việc lấn biển để xây dựng đô thị mới Khu lấnbiển mở rộng thành phố thành một trong những khu đô thị mới lớn nhất vùngTây Nam bộ Một số khu vực phụ cận của Rạch Giá như huyện đảo Kiên Hải,Hòn Đất, U Minh Thượng cũng có nhiều tiềm năng phát triển du lịch KiênHải đang khai thác các tour khám phá biển đảo đi - về trong ngày Đây làvùng thắng cảnh biển - đảo với đặc thù nghề truyền thống đi biển, làm nướcmắm, chế biến hải sản, tạo thành nét sinh hoạt văn hóa riêng biệt Khu du lịchHòn Đất đang hoàn chỉnh và hoàn thiện những công trình văn hóa tại khu mộAnh hùng liệt sĩ Phan Thị Ràng (chị Sứ), xây dựng khu trưng bày một số hiệnvật chứng tích chiến tranh tại khu phát sóng truyền hình của tỉnh trên đỉnhHòn Me… [106]
* Vùng U Minh Thượng: Với đặc thù sinh thái rừng tràm ngập nước trên
đất than bùn, Vườn Quốc gia U Minh Thượng - khu căn cứ địa cách mạng,khu dự trữ sinh quyển thế giới, đã mở cửa phục vụ khách tham quan du lịchsinh thái Khu du lịch Vườn Quốc gia U Minh Thượng phục vụ khách thamquan du lịch sinh thái kết hợp với tìm hiểu văn hóa nhân văn sông nước vùng UMinh Thượng và du lịch nghiên cứu di chỉ khảo cổ Ốc Eo - Phù Nam (CạnhĐền, Nền Vua, Kè Một) Quần thể di tích căn cứ địa cách mạng U Minh Thượng
Trang 27với di tích Ngã Ba Cây Bàng, Ngã Ba Tàu, Thứ Mười Một, Rừng tràm Ban BiệnPhú, khu tập kết 200 ngày kinh xáng Chắc Băng, Khu di tích Ranh Hạt (VĩnhThuận) - đây là nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Kiên Giang
là điểm thu hút du khách tìm hiểu lịch sử cách mạng…
Ngoài 4 vùng du lịch trọng điểm, Kiên Giang hiện có khu Dự trữ sinh quyểnvới diện tích hơn 1,1 triệu hec ta Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang chứa đựng sựphong phú, đa dạng và đặc sắc về cảnh quan và hệ sinh thái, có giá trị lớn về mặtnghiên cứu, cũng như du lịch Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang trùm lên địaphận các huyện Phú Quốc, An Minh, U Minh Thượng, Vĩnh Thuận, Kiên Lương
và Kiên Hải, gồm 3 vùng lõi thuộc Vườn Quốc gia U Minh Thượng, Vườn Quốcgia Phú Quốc và rừng phòng hộ ven biển Kiên Lương, Kiên Hải [106]
1.3.2 Đặc điểm văn hóa truyền thống
Kiên Giang cũng là một trong số các tỉnh có nhiều di tích, hiện đã côngnhận được 43 di tích và được phân loại như sau:
Di tích lịch sử - văn hóa: Các di tích tiêu biểu thuộc loại này Kiên Giang
có chùa Tam Bảo, đình Vĩnh Hòa, đình Thạnh Hòa, đình Nam Thái…
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của Anhhùng dân tộc, danh nhân của đất nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại nàynhư đền thờ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, Nhà lưu niệm Thi sĩĐông Hồ, Mộ Nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt, Mộ Anh hùng lực lượng vũ trangPhan Thị Ràng, Mai Hồng Hạnh…
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu củacác thời kỳ cách mạng, kháng chiến Các di tích tiêu biểu thuộc loại này nhưkhu di tích cách mạng Hòn Đất, khu di tích căn cứ địa U Minh Thượng, ditích cách mạng Núi Mo So, Chùa Xà Xía, Chùa Phật Lớn, Tháp 4 Sư liệt sĩ,Nhà Tù Phú Quốc, Nhà tù Hà Tiên…
Di tích kiến trúc nghệ thuật
Các di tích tiêu biểu loại này ở Kiên Giang có chùa Bà Thiên Hậu, MiếuQuan Thánh Đế, chùa Phật Lớn, chùa Sóc Xoài, Nhà cổ Bảo tàng, Mộ HộiĐồng Suông v.v…
Trang 28Di tích khảo cổ
Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấucác giai đoạn phát triển của các nền văn hoá khảo cổ Di tích khảo cổ ở KiênGiang là những di chỉ lưu giữ những dấu tích về quá trình hình thành, pháttriển của người Việt cổ trên đất Kiên Giang mà đa phần thuộc về nền văn hóa
Óc Eo bao gồm hang động, gò đồi, giồng đất… Các hiện vật khai quật từ các
di chỉ khảo cổ trên được lưu giữ trong Bảo tàng tỉnh Di chỉ khảo cổ ở KiênGiang được chia làm 3 loại di chỉ cư trú và di chỉ mộ táng điển hình như dichỉ khảo cổ Giồng Xoài, Đá Nổi, Nền Chùa, Cạnh Đền…[107]
hệ động thực vật có khoảng 2.340 loài, trong đó 1.480 loài thực vật với 116loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ và 57 loài đặc hữu; khoảng 860 loàiđộng vật với 78 loài quý hiếm, 36 loài đặc hữu [107]
1.3.3 Văn hóa lễ hội ở tỉnh Kiên Giang
Kiên Giang là vùng đất đa dạng về địa hình và phong phú về di sản vănhóa Toàn tỉnh hiện có hơn 360 cơ sở thờ tự, 43 danh thắng - di tích lịch sửvăn hóa được xếp hạng Hiện nay, toàn tỉnh có 389 lễ hội, trong đó có 235 lễhội tôn giáo, 31 lễ hội dân gian, 62 lễ hội lịch sử cách mạng và một số lễ hộikhác Đặc biệt có 9 lễ hội tiêu biểu thu hút hàng ngàn du khách trong và ngoàitỉnh đến với Kiên Giang
Trang 29Lễ hội Tao Đàn Chiêu Anh Các - Hà Tiên
Đã nhiều năm qua, mỗi dịp Tết Nguyên tiêu, rằm tháng Giêng hàngnăm, tại Lăng Mạc Cửu, Hà Tiên lại tổ chức Lễ hội kỷ niệm Tao đàn ChiêuAnh Các Vào mùa xuân năm Bính Thìn 1736, tại trấn Hà Tiên xưa, Tổngbinh đại đô đốc Mạc Thiên Tích, hiệu Sĩ Lân đã cùng 32 danh sĩ tài hoađương thời lập nên Tao Đàn Chiêu Anh Các Không chỉ là nơi tập trung sángtác, đàm luận văn thơ mà còn là nơi đào tạo nhân tài, cổ vũ tinh thần yêunước, mở mang văn hóa của một trấn xa xôi Hình thành trong giai đoạn pháttriển rực rỡ nhất của Hà Tiên xưa, Tao đàn Chiêu Anh Các sản sinh ra mộtkhối lượng văn chương khá đồ sộ, trong đó có tuyệt tác “Hà Tiên Thập vịnh”với hơn 300 bài thơ bằng chữ Nôm Lễ hội có nhiều hoạt động phong phú, đadạng như: dâng hương tế Trời Đất, thi họa thơ Chiêu Anh Các, thi ứng tác câuđối, thi sáng tác thơ mới, viết thư pháp Lễ hội trùng với Ngày thơ Việt Namnên có rất đông những người yêu thơ, văn nghệ sĩ Nam Bộ và du khách vềđây dự lễ [107]
Lễ hội Oóc-om-bok - Gò Quao
Lễ hội Oóc-om-bok hay còn gọi là lễ cúng Trăng được tổ chức thốngnhất vào đêm 15/10 âm lịch Các vật cúng trong lễ hội là cốm dẹp, khoai, đậu,dừa… Đồng bào phật tử tập hợp lại xung quanh sân chánh điện, chờ đến khimặt trăng lên đến đỉnh là mọi người đều khấn vái để tưởng nhớ đến công ơncủa mặt trăng Người Khmer coi mặt trăng như là một vị thần điều tiết mùamàng, đã giúp cho họ có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đặc biệt sôi nổinhất trong những ngày này là hội đua ghe ngo Kể từ năm 2007, lễ hội Oóc -
om - bok được nâng lên thành Ngày hội văn hóa - thể thao dân tộc Khmer tỉnhKiên Giang đã khẳng định quy mô và chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
ta Ngày hội có nhiều loại hình hoạt động đa dạng, phong phú được chọn lọc;kết hợp tính dân tộc, tính hiện đại, tính cộng đồng và độc đáo tạo ra mộtkhông gian đầy ắp hương vị, sắc màu đậm đà và rực rỡ của đồng bào dân tộcKhmer Kiên Giang [107]
Trang 30Lễ hội giỗ 4 nhà sư liệt sĩ - Châu Thành
Cứ vào ngày 10/6 dương lịch hàng năm, tại Tháp 4 sư, nằm ở xã VĩnhHòa Hiệp, huyện Châu Thành các vị sư sãi ở các nơi trong tỉnh tập trung vềtiến hành làm lễ cầu siêu cho 4 vị sư người Khmer: Danh Hùng, DanhHom, Danh Tấp, Danh Hoi Bốn vị sư đã hy sinh anh dũng trong cuộc biểutình chống Mỹ và bọn tay sai vào năm 1974 tại Rạch Giá Cuộc biểu tình
đã gây nên tiếng vang lớn làm cho địch hoang mang và không dám bắt sưsãi đi lính nữa Tháp 4 sư liệt sĩ đã được công nhận là di tích lịch sử cấpQuốc gia Đây là lễ hội truyền thống cách mạng lớn nhất của đồng bào dântộc Khmer trong tỉnh [107]
Lễ hội giỗ Tổ Hùng Vương - Tân Hiệp
Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương ngày 10-3 âm lịch chính thức trở thànhngày Quốc lễ, ngày hội lớn quy tụ cả cộng đồng các dân tộc Việt Nam ỞKiên Giang, hàng năm cứ đến ngày 10/3, hàng chục ngàn người con đangsinh sống, học tập, làm việc ở mảnh đất Kiên Giang và các tỉnh, thành trongkhu vực đều hội tụ về Tân Hiệp dâng một nén nhang thành kính lên Quốc TổVua Hùng Đền Hùng quốc tổ huyện Tân Hiệp do người dân ấp Đông Bình tựnguyện đóng góp thành lập từ năm 1957 Đền ban đầu chỉ bằng vật liệu đơn
sơ, nhằm làm nơi thờ cúng các vị Vua Hùng và nhớ về đất tổ Lễ hội diễn ratrong hai ngày (mùng 9-10/3 âm lịch) Phần hội được tổ chức vào ngày 09/3
âm lịch với các hoạt động văn hóa, văn nghệ và nhiều trò chơi dân gian Hoạtđộng diễn ra tưng bừng, náo nhiệt trong khuôn viên đền Buổi sáng ngày 10/3
âm lịch nghi lễ tưởng niệm các Vua Hùng được tổ chức trang trọng theo nghithức hàng năm Qua các hoạt động trên, nhằm giáo dục truyền thống “Uốngnước nhớ nguồn” cho các thế hệ trẻ và ý chí đoàn kết tự lực vươn lên xâydựng quê hương Kiên Giang ngày càng giàu đẹp [107]
Lễ hội giỗ đức khai trấn Mạc Cửu - Hà Tiên
Đã trở thành truyền thống hàng năm, Hà Tiên đều tổ chức lễ hội giỗđức khai trấn Mạc Cửu, là người có công đầu trong việc khai phá nên vùngđất Hà Tiên cách đây đã hơn 300 năm Vào đầu thế kỷ thứ 18, Mạc Cửu trên
Trang 31đường tha hương lập nghiệp, ông đã đặt chân đến Hà Tiên, còn gọi là PhươngThành, một vùng đất có vị trí thông thương thuận lợi, phong cảnh hữu tình.Ông đã quyết định dừng chân nơi đây bắt đầu cho công cuộc mở đất Phần lễđược giữ theo thông lệ với các nghi lễ truyền thống như cúng tiền hiền, hậuhiền, chiêm bái Tại Đền thờ họ Mạc, mọi người tổ chức lễ thỉnh sắc và dânghương tại Tượng đài Mạc Cửu Ngoài ra phần hội được mở rộng với các hoạtđộng phong phú như: Hội chợ thương mại, biểu diễn võ thuật, biểu diễn lân
sư rồng, biểu diễn văn nghệ và các trò chơi dân gian…[107]
Phần lễ dâng hương diễn ra vào sáng ngày 09/01, với màn trống hộikhai lễ Sau đó là sự tham gia của các đoàn đại biểu mang theo mâm ngũ quả,đọc diễn văn chào mừng và ôn lại truyền thống lịch sử của Hòn Đất cùng nữAnh hùng liệt sỹ Phan Thị Ràng Kỷ niệm 50 năm ngày hy sinh của Anh hùnglực lượng vũ trang nhân dân Phan Thị Ràng (9/1/1962-9/1/2012) lần đầu tiênhuyện Hòn Đất tổ chức nâng cấp quy mô cấp lễ hội và thu hút đông đảo quầnchúng nhân dân trong khu vực về dự [107]
Lễ hội chị Mai Thị Nương (Giồng Riềng)
Nhằm tôn vinh công lao to lớn của các chiến sỹ cách mạng đã hy sinh
vì độc lập tự do của Tổ quốc, trong đó Anh hùng lực lượng vũ trang nhândân liệt sỹ Mai Thị Nương là một biểu tượng tiêu biểu của Giồng Riềng,qua đó giáo dục cho cán bộ và nhân dân trong huyện, nhất là thế hệ trẻnhận thức sâu sắc về truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân
Trang 32tộc, ý thức tự lực, tự cường, tấm gương anh dũng hy sinh của Anh hùng lựclượng vũ trang nhân dân liệt sỹ Mai Thị Nương, từ đó ra sức làm việc vàcống hiến, góp phần xây dựng quê hương Giồng Riềng ngày càng giàu đẹp.
Lễ hội diển ra trong hai ngày 11,12 tháng 10 hàng năm nhằm kỷ niệm ngày
hy sinh của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Liệt sỹ Mai ThịNương (Mai Thị Hồng Hạnh) (12/10/1960) Phần lễ được diễn ra vào ngày12-10, gồm lễ cúng chánh bái - tế lễ, dâng phẩm tế lễ Phần hội diễn ra từngày 9 đến 11-10, với các hoạt động như: giải đua ghe ngo; triển lãm ảnhngoài trời; chương trình văn nghệ; giải bóng đá mini nữ, trò chơi dân giankéo co, nhảy bao, hội thi ẩm thực; giải bóng chuyền nông dân và biểu diễnmúa lân - sư - rồng… Riêng đại biểu mời dự lễ giỗ khoảng 800 người Lễdâng hương với màn trống hội khai lễ, hoạt cảnh sân khấu gồm 3 chươngrạng danh nữ Anh hùng Mai Thị Nương Sau đó ôn lại truyền thống lịch sửcủa Giồng Riềng và nữ Anh hùng liệt sỹ Mai Thị Nương, đọc lời tưởngniệm và sự tham gia của các đoàn đại biểu lãnh đạo tỉnh, địa phương vàđông đảo quần chúng nhân dân về thắp hương tưởng nhớ nữ Anh hùng đã
hi sinh vì độc lập tự do của tổ quốc [107]
Lễ hội Nghinh Ông - Kiên Hải
Lễ hội Nghinh Ông là một nét đẹp văn hóa của người dân đất đảo LạiSơn - Kiên Hải được tổ chức long trọng, trang nghiêm hàng năm vào ngày
15 - 16 tháng 10 (âm lịch) để bày tỏ sự tri ân, sự phù trợ của cá Ông và các
vị tiền nhân đã có công mở đất Tập tục thờ cá Ông là nét sinh hoạt văn hóađặc trưng của cư dân miền duyên hải Lễ cúng cá Ông ở Lại Sơn tồn tạihơn 100 năm Đây cũng là loại hình lễ hội cầu ngư, cầu cho mưa thuận gióhòa, làm ăn trên biển thuận lợi, là dịp để bà con tổng kết lại những chuyến
đi biển trong năm Phần lễ là lễ cúng thỉnh (cung nghinh) các vị thần LễNghinh Ông và Chánh tế được tiến hành với sự tham gia đông đảo của tất
cả ngư dân trên đảo Ngoài ra, phần hội còn có các trò chơi dân gian nhưbịt mắt đập niêu, đua xuồng chèo, kéo co, thi ẩm thực với các món ăn miềnbiển, và hoạt động đờn ca tài tử [107]
Trang 33Lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực – Kiên Giang
Nguyễn Trung Trực, vị Anh hùng dân tộc mà tên tuổi gắn liền vớinhững chiến công vang dội đã đi vào trang sử hào hùng, đó là: trận đốt cháytàu Espérance trên vàm Nhật Tảo năm 1861 và lần đầu tiên tiêu diệt đồn lũyđầu não của giặc Pháp ngay tại tỉnh lỵ Rạch Giá vào năm 1868 Nhà thơ yêunước Huỳnh Mẫn Đạt đã tự hào ca ngợi khí phách Anh hùng của NguyễnTrung Trực “Hoả hồng Nhật Tảo oanh thiên địa/ Kiếm bạt Kiên Giang khấpquỷ thần”, thể hiện ý chí độc lập tự do của người dân phương Nam nói riêng,dân tộc Việt Nam nói chung Ở tỉnh Kiên Giang có khoảng 15 đền thờ CụNguyễn tại thành phố Rạch Giá, xã Mỹ Lâm (huyện Hòn Đất), đình Tà Niên(huyện Châu Thành)…
Với truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, hàng năm, vào ngày 26, 27
và 28 tháng Tám (âm lịch), nhân dân Kiên Giang và đồng bào khắp nơi lại hội
tụ về đây tổ chức kỷ niệm ngày hy sinh của Cụ để bày tỏ lòng tri ân, thànhkính đối với người con bất khuất, kiên trung của đất nước Nhiều năm qua, Lễhội truyền thống Nguyễn Trung Trực đã có sức lan toả ngày càng rộng, từmột lễ giỗ bình thường đã được nâng lên thành lễ hội
Lễ hội gồm hai phần, phần nghi lễ trang trọng và thành kính theo nghithức cổ truyền như: lễ dâng hương, lễ thượng đài kỳ, lễ tế đàn cả, rước sắcthần; phần hội có nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ sôi động, hấp dẫn: tròchơi dân gian, đua xuồng, đập nồi, biểu diễn võ thuật, chơi cờ người, thi múaLân - Sư - Rồng, thả đèn hoa đăng, thi ẩm thực, triển lãm thư pháp, triển lãmảnh đường phố, giao lưu văn nghệ giữa 03 dân tộc Kinh, Hoa, Khmer Mỗinăm số lượng người dân về dự lễ hội ngày càng tăng Năm 2006 có hơn 500ngàn, năm 2007 có gần 600 ngàn, năm 2008 có hơn 600 ngàn và năm 2009 có
750 ngàn, năm 2011 có trên 1 triệu lượt người tham dự [106]
Lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực mang những nét văn hóađặc sắc và là lễ hội có quy mô lớn nhất của tỉnh Kiên Giang So với các lễ hộikhác thì đây là lễ hội có quy mô hoành tráng, thể hiện những nét đặc trưngcủa tính cộng mệnh, cộng cảm, cộng sinh với nhiều hoạt động đa dạng, phong
Trang 34phú, ý nghĩa Lễ hội mang nhiều yếu tố tích cực, những giá trị nhân văn sâusắc nhằm giáo dục con người hướng tới những giá trị chân – thiện – mỹ, đó làtinh thần cộng đồng, tinh thần tương thân, tương ái, tinh thần đoàn kết xâydựng quê hương đất nước, đồng thời giáo dục con người đạo lý “Uống nướcnhớ nguồn”, đó là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Nó góp phần giáo dụctruyền thống yêu nước của nhân dân ta, làm thỏa mản nhu cầu tín ngưỡngtrong đời sống tinh thần của họ Có thể thấy, hiếm có một lễ hội nào mà ngườidân lại tự giác cùng nhau chia sẻ các giá trị tinh thần và vật chất như lễ hộiAnh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hoá cộng đồng phổ biến và đậm đàbản sắc dân tộc, là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể, làsản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quátrình lịch sử; có giá trị đặc biệt trong sự cố kết cộng đồng ngày càng bền chặthơn; đồng thời, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, là hình thức giáo dục,chuyển giao cho các thế hệ sau hiểu được công lao của tổ tiên, tỏ lòng tri âncông đức của các vị Anh hùng dân tộc, các bậc tiền bối đã có công dựng nước,giữ nước và đấu tranh giải phóng dân tộc Việc tổ chức lễ hội còn góp phần tíchcực trong giao lưu với các nền văn hóa thế giới, tạo nền tảng vững chắc cho vănhoá Việt Nam có sức mạnh chống lại sự ảnh hưởng tiêu cực của văn hoá ngoạilai Lễ hội góp phần làm giàu các giá trị di sản văn hóa của dân tộc
Là một tỉnh có điều kiện tự nhiên, địa lý kinh tế quan trọng với nhiều lễhội phong phú đa dạng Văn hóa truyền thống ở Kiên Giang đã góp phầnkhông nhỏ trong việc làm giàu các giá trị văn hóa của dân tộc Vì vậy, các giátrị văn hóa đó cần phải được bảo tồn và phát huy nhằm tiếp tục xây dựng nềnvăn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA LỄ HỘI ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC
Ở TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY
2.1 SỰ RA ĐỜI CỦA LỄ HỘI ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC
2.1.1 Tiểu sử Nguyễn Trung Trực
Nguyễn Trung Trực tên thật là Nguyễn Văn Lịch, tục gọi “Quản Chơn”hay “Quản Lịch”, sinh năm Mậu Tuất (1838) tại Bình Nhật, huyện Cửu An,phủ Tân An, tỉnh Gia Định (nay là ấp 1, xã Bình Đức, huyện Bến Lức, tỉnhLong An) Cha của Nguyễn Trung Trực là ông Nguyễn Văn Phụng (có tài liệughi là Nguyễn Trung Thăng hoặc Nguyễn Cao Thăng), cháu nội ông NguyễnVăn Đạo, quê gốc xóm Lưới, thôn Vĩnh Hội, tổng Trung An, huyện Phù Cát,trấn Bình Định (nay là thôn Vĩnh Hội, xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh BìnhĐịnh) Mẹ của ông Nguyễn là bà Tô Kim Hồng Nguyễn Trung Trực là con cảtrong gia đình có 7 người con Ông được học hành cả văn lẫn võ Về võ, ôngđược đào tạo tại một lò võ ở Rạch Bảo Định, chung với Huỳnh Công Tấn vàNguyễn Văn Điền Dựa vào tính tình cương trực, chơn chất hay cưu manggiúp đỡ kẻ thế cô, thầy đặt cho ông tên chữ Hán là “Trực” (tính tình cươngtrực, thẳng thắng)
Tỉnh Rạch Giá thuộc trấn Hà Tiên được thành lập năm 1708, sau nàyđược chia thành một số tỉnh thuộc Lục Tỉnh Giữa thế kỷ XIX, thực dân Phápchiếm vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh trong đó có Rạch Giá Năm Kỷ Mùi (1859)thực dân Pháp đã chiếm tới thành Gia Định Năm Tân Dậu (1861), TrươngĐịnh lúc đó giữ chức Phó Quản Cơ Gia Định đã chiêu mộ nghĩa sỹ được gần
6000 người, lập ra sáu cơ tổ chức đánh giặc Pháp xâm lược Vua Tự Đứcphong cho Trương Định chức Quản Cơ, rồi thăng chức Phó Lãnh binh GiaĐịnh Ông phối hợp với nghĩa quân của Nguyễn Tri Phương đánh giặc ở ĐạiĐồng - phía tây Sài Gòn thu được khá nhiều vũ khí của giặc, chiếm được đồn
Trang 36và cầm cự được một thời gian Sau khi đại đồn bị thất thủ, quân của triều đìnhtheo lệnh rút về Biên Hòa Trương Định cho thu quân về đóng đồn ở xứ GòThượng, thuộc huyện Tân Hòa (Tiền Giang) để cũng cố lực lượng Tại đây,Nguyễn Trung Trực đã gia nhập nghĩa quân chống Pháp do Trương Định lãnhđạo Với lòng yêu nước và căm thù giặc sâu sắc Ông đã bộc lộ tài năng, đức
độ của một thủ lĩnh xuất sắc trong hàng ngũ nghĩa quân nên được TrươngĐịnh trọng dụng, cất nhắc giao cho làm Quyền Sung quản binh đạo
Ngày 10-12-1861 Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân lập nên chiếncông vang dội, đốt cháy tàu Espérance trên vàm Nhật Tảo làm thiệt mạng 17 tênđịch Sau chiến thắng này hàng loạt cuộc tấn công khác đánh vào tàu địch liêntiếp nổ ra ở Bến Lức, sông Trà làm cho lực lượng hải quân Pháp lúng túng, bịđộng Một viên tướng Pháp từng đánh giá chiến thắng Nhật Tảo là "Khúc nhạc
mở đầu cho cuộc tổng công kích hầu như toàn bộ các đồn lũy của người Pháp”
Ngày 16-6-1868, ông chỉ huy nghĩa quân kết hợp với nội ứng tấn côngđồn Rạch Giá Tất cả giặc Pháp và lính tay sai giữ đồn đều bị nghĩa quân giếtsạch Sau chiến công vang dội của Nguyễn Trung Trực, giặc Pháp điên cuồngtruy sát ông cùng nghĩa quân Chúng tàn sát 700 người dân Rạch Giá để trảthù trận tấn công đồn Rạch Giá Tên Việt gian Trần Bá Lộc được cử từ Cái Bèđến Rạch Giá đối phó với Nguyễn Trung Trực Hắn đặt giải thưởng 500 đồngcho ai bắt được hoặc dâng thủ cấp của ông Độc ác hơn nữa, hắn còn cho bắtsống mẹ của ông khi ông từ Hòn Chông ra Phú Quốc Ngày 19-9-1868 tênquan tư của Pháp cùng tên đội trưởng và 125 lính mã tà tấn công Hàm Ninh,nghĩa quân nghi binh để tiêu hao sinh lực địch rồi cuối cùng đẩy chúng rútchạy khỏi Hàm Ninh Bọn giặc gọi thêm viện binh và quay sang tấn côngDương Đông, Phú Đông, An Thái, Phước Lộc
Nguyễn Trung Trực quyết định tập trung nghĩa quân đánh trận từ cánhđồng tràm đến bãi ông Lang Qua trận chiến đấu ác liệt, ông bị thương và ngất
đi, không may ông bị sa vào tay giặc Chúng cấp tốc đưa ông về Dương Đông,
sau đó rút quân Giặc Pháp bắt được ông, chúng giở trò đối xử tử tế Chúng giải
ông từ Rạch Giá lên Sài Gòn bằng tàu Hải Âu, suốt chặng đường dài hơn một
Trang 37ngày đêm, tên Việt gian Huỳnh Công Tấn cố hết sức khuyên ông theo Pháp đểhưởng chức tước, lợi lộc Ông gác ngoài tai và khẳng khái nói: "Tôi chỉ muốnlàm một chức thôi, chức gì mà có quyền chặt đầu tất cả bọn Tây”
Đến Sài Gòn, Nguyễn Trung Trực bị giam tại khám lớn Sau cuộc hỏicung, thấy không dụ hàng được ông, Pháp Soái bực tức nói: "Ông Lịch, dùông sống hay chết, binh lực Pháp cũng sẽ tận diệt quân phiến loạn xứ này".Nguyễn Trung Trực ung dung mỉm cười đưa tay chỉ ra sân cỏ xanh ôn tồnđáp: "Thưa Pháp Soái, chúng tôi chắc rằng chừng nào ngài trừ cho hết cỏ trênmặt đất thì chừng đó mới mong trừ diệt được những người ái quốc mà ngàigiận dữ coi là quân phiến loạn”
Đô đốc Nam kỳ bấy giờ là Ohiê, thấy không thuyết phục được NguyễnTrung Trực theo Pháp nên đã tuyên án xử tử ông cùng một số nghĩa quânkhác, bản án được thi hành tại Rạch Giá Ngày 27-10-1868, thực dân Phápđưa Nguyễn Trung Trực ra pháp trường (nay là Bưu điện Thành Phố RạchGiá) Nhân dân Tà Niên dệt gấp chiếu bông trải kín con đường ông Nguyễn ra
pháp trường Bất chấp bọn giặc cấm ngặt, nhân dân vẫn đổ ra pháp trường, ai
nấy mắt đỏ hoe Tại pháp trường, đồng bào đã đặt sẵn một bàn thờ có lưhương và bày mâm cơm, một đĩa trái cây Trước bàn thờ, mọi người quìxuống lạy ba lạy làm lễ tạ ơn ông Nguyễn Trung Trực yêu cầu thực dân phápcởi trói và không bịt mắt để cụ nhìn đồng bào và quê hương trước giờ phút
“ra đi” Bô lão làng Tà Niên đến vĩnh biệt cụ, trải xuống đất một chiếc chiếuthật đẹp cho cụ bước đứng giữa Ông Nguyễn hiên ngang, dõng dạc trướcquân thù [ 74 ]
2.1.2 Chiến công tiêu biểu
Trong tám năm lãnh đạo phong trào khởi nghĩa (1861 - 1868), NguyễnTrung Trực đã nêu cao tinh thần yêu nước bất khuất, đấu tranh anh dũng vì sựsống còn của dân tộc và làm nên những chiến công oanh liệt chưa từng cótrong buổi đầu chống thực dân Pháp xâm lược Chiến thắng “Hỏa hồng NhậtTảo” (năm 1861) và trận “Kiếm bạt Kiên Giang” (năm 1868) mãi mãi là những
kỳ tích vang dội trong lòng người dân Việt cũng như câu nói bất hủ của ông:
Trang 38“Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh tây” Đãtrở thành chân lý đấu tranh chống kẻ thù xâm lược của dân tộc ta Đó là khíphách yêu nước của một con người tiêu biểu cho một dân tộc Anh hùng.
Đốt tàu Pháp ở vàm sông Nhật Tảo
Quân Pháp đem quân chiếm Gia Định (18/2/1859) Hai năm sau chúnglại đánh đại đồn Chí Hòa (25/2/1861) và thừa thắng đánh lấy Định Tường(Mỹ Tho) (12/4/1861) Quân triều đình phải rút lui về Vĩnh Long, lúc nàyNguyễn Trung Trực lui về Tân An
Lúc bấy giờ, quân Pháp có lợi thế nhiều về vũ khí như tàu chiến và đạibác hiện đại, lại thêm triều đình nhà Nguyễn nhu nhược, chúng càng quyếtchiếm nốt 3 tỉnh Miền Tây Nam Bộ Trên bộ, nơi nào chiếm được thì lậpngay xã tề và xây dựng đồn bót Dưới sông, chúng cho tàu thủy lớn, nhỏ tuầntra thuyền ghe qua lại Chúng lấy cớ là ngăn chặn nghĩa quân làm loạn.Nhưng đó là cái cớ để thu gom tiền bạc, lúa thóc của nhân dân
Tại ngã ba, đầu sông Nhật Tảo và sông Vàm Cỏ Đông, chúng đặt mộtchiếc tiểu hạm tên là Espérance (Hy Vọng) nằm án ngữ nơi đó để đón thuyềnghe qua lại tra xét Tiểu hạm Espérance là “một tàu gỗ có chỗ được bọc đồngchạy bằng hơi nước, có thể ra vào những luồng lạch cạn, được trang bị đại báccùng nhiều vũ khí đa năng" [49, tr.76] Đây là một trong những tàu thuộc hàngbậc nhất của hải quân Pháp lúc bấy giờ Chỉ huy trưởng tàu này là Trung úy Hảiquân tên Parfait, còn chỉ huy phó là một thiếu úy (không rõ tên) Dưới tàu cótrang bị một khẩu đại bác với 25 quân lính Pháp và đầy đủ súng ống, đạn dược.Trên bờ sông có đóng một cái đồn với 20 lính Mã tà canh gác bảo vệ tàu
Đây là một bước cản rất lớn cho sự hoạt động của nghĩa quân NguyễnTrung Trực biết rõ thế nên bằng mọi cách Ông quyết tiêu diệt con tàu này.Qua nhiều ngày nghiên cứu tình hình địch khá chính xác, ông liền chuẩn bị
kế hoạch thực hiện Vào trưa ngày 10/12 /1861, Nguyễn Trung Trực cùng phóquản binh Huỳnh Khắc Nhượng và Nguyễn Văn Quang tổ chức cuộc phụckích đốt cháy tàu Espérance Trận này nghĩa quân toàn thắng, dìm được hải
hạm Esperance chìm sâu dưới lòng sông Vàm Cỏ “mang theo 17 tên giặc
Trang 39xâm lăng, nghĩa quân hi sinh bốn người” [33, tr.17].
Đây là chiến công vang dội trong những năm đầu chống thực dânPháp Lần đầu tiên nhóm dân chài bằng vũ khí thô sơ và mưu trí đã tiêu diệtđược chiến hạm của Pháp được trang bị vũ khí hiện đại Chính vì vậy màthực dân Pháp cay cú đốt hàng loạt nhà, chặt phá cây cối của làng Nhựt Tảo
để trả thù và dựng bia kỷ niệm thất bại ngay tại vàm Nhựt Tảo.
Quả thật chiến công đốt tàu Espérance tác động mạnh tinh thần chiếnđấu của nghĩa quân vì từ nay nghĩa quân không còn xem tàu chiến của Pháp
là bất khả xâm phạm nữa và tin tưởng tầm vông, mã tấu cũng là vũ khí tinhnhuệ nếu biết kết hợp với mưu lược và nghiên cứu tường tận địa hình địa vật
Còn với Pháp, viên thanh tra bản xứ tại Nam Kỳ tên Paulin Vial gọiđây là: “một sự kiện đau đớn” làm người An Nam phấn chấn và gây xúcđộng, đau lòng sâu sắc trong lòng người Pháp” [49, tr.11]
Đánh chiếm đồn Kiên Giang.
Sau khi chiếm được Hà Tiên và Kiên Giang ngày 24/6/1867, thực dânPháp liền nâng chợ Rạch Giá, vốn là huyện lỵ Kiên Giang lên cấp hành chínhtỉnh lỵ Rạch Giá, quản hạt luôn cả vùng Cà Mau (huyện Long Xuyên cũ).Chúng tổ chức ra ban hội tề và đội lính mã tàvới ý đồ “lấy người bản xứ trị
người bản xứ” Chúng lập ra ty thương chánh để vơ vét các loại thuế thương
mại Trong sông, rạch chúng cho canô suốt ngày chạy khắp nơi đón ghethuyền xét tra thu thuế Gần vàm biển Rạch Giá, chúng xây một đồn lớnthành bằng đất, giữa là trại lính mã tà, trại lính Pháp Đứng đầu bộ máy đàn
áp là tên Chánh Phèn khét tiếng gian ác
Sau khi được vua Tự Đức phong chức Thành Thụ úy trấn nhậm HàTiên, Nguyễn Trung Trực đến Hà Tiên nhậm chức thì quân Pháp đã chiếm
Hà Tiên mất rồi Nguyễn Trung Trực liền lui về Hòn Chông lập căn cứ chống
Pháp với khẩu hiệu “dân chúng tự vệ”.
Hòn Chông là một mũi đất nằm trong đất liền, cách Hà Tiên 20 km vềphía Nam Đường vào Hòn Chông hiểm trở, xung quanh có núi rừng và biểnbao bọc Nguyễn Trung Trực thu thập 50 binh sĩ của triều đình đóng ở đồn HònTrẹm, chiêu mộ dân đinh nhập ngũ, tất cả đều hưởng ứng Hòn Chông là căn cứ
Trang 40chính của nghĩa quân Sau đó Nguyễn Trung Trực liên hệ với các lãnh tụ nghĩaquân địa phương thành lập lực lượng kháng chiến lâu dài Ở Rạch Giá có LâmQuang Ky, ở Minh Lương có Xã Lý, ở Phú Quốc có Quản Thứ, Tổng Điền, XãNgợi Ông còn vận động một số người Hoa, người Kh’mer như cô Ba Đỏ cùngtham gia phong trào kháng chiến chống Pháp Ngoài ra còn nhiều binh sĩ chịulàm nội ứng giúp nghĩa quân phối hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào.
Nguyễn Trung Trực làm chủ tướng, Lâm Quang Ky làm Phó tướng.Địa bàn hoạt động của nghĩa quân do Nguyễn Trung Trực lãnh đạo cũng rấtrộng lớn từ Cà Mau đến Hà Tiên, Phú Quốc và vùng núi Sập (An Giang).Ông có ba trường luyện võ cho nghĩa quân: Tà Niên (Rạch Giá), Hòn Chông(Hà Tiên) và Sân Chim (U Minh) Ông cũng thường đi khắp nơi như CáiNước, Chắc Băng, Thầy Ngươn, Tân Hội, Vĩnh Trạch để thuyết giải bối cảnhlịch sử cho đồng bào nghe, đồng thời vận động những người có cùng chíhướng tham gia đánh đuổi giặc xâm lăng, giành lại quê hương đất nước Đếnđâu ông cũng rất được nhân dân yêu mến và kính phục
Đến 12 giờ đêm ngày 16/6/1868, nghĩa quân thầm lội qua sông bò lên
bờ, tiến sát vào thành đồn không gây tiếng động, nằm im lặng chờ giờ xuấtkích Nghĩa quân phục kích ngoài vách đồn đến 4 giờ sáng Chờ giặc uể oảingủ yên, Nguyễn Trung Trực men đến cổng gác chính, thấy hai tên lính gácđang ngủ gà ngủ gật Ông dùng kiếm đâm chết rồi phát lệnh tấn công Nghĩaquân nghe tiếng lệnh, đồng bật dậy phi thân qua vách đồn vào trong tìm diệtđịch Một số lính mã tà trong đồn vì có vận động trước nên cũng tham giaứng chiến Tên Chủ tỉnh Chánh Phèn đêm khuya đang ngon giấc, nghe tiếngđộng giật mình thức dậy vừa chạy ra khỏi cửa cũng bị mũi kiếm của NguyễnTrung Trực đâm vào tim làm hắn ngã gục, giẫy giụa rồi chết Ngọn lửa củanghĩa quân đốt doanh trại giặc bừng sáng rực cả một góc trời
Tiếng reo hò chiến thắng làm vang động khu phố chợ Rạch Giá vềđêm Trận này nghĩa quân giết được 15 tên sĩ quan Pháp Trong đó có tênChủ tỉnh Chánh Phèn, Trung úy Sauterne, Thiếu úy Gamard và bắt sốngthêm 60 tên lính nữa, trong đó có tên Chonh - thông ngôn của Pháp Số tù