1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Môn LUẬT sở hữu TRÍ TUỆ đề bài số 10 phân tich điểm khác nhau giữa quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp…

15 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 338,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật sở hữu trí tuệ ra đời điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành giữa các chủ thể trong việc tạo ra, sự dụng và chuyển giao các sản phẩm sáng tạo trí tuệ, gồm các quan hệ về quyề

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

………

BÀI TẬP HỌC KÌ Môn: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Đề bài số 10: Phân tich điểm khác nhau giữa quyền tác giả và

quyền sở hữu công nghiệp…

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

Đề số 10

1 Phân tích những điểm khác nhau giữa quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp

2 Nước mắm Phú Quốc đã được cấp Giấy chứng nhận đăng kí chỉ dẫn địa lý năm 2001 Ngày 10/9/2016, Hiệp hội sản xuất nước mắm Phú Quốc phát hiện doanh nghiệp X tại Đà Nẵng thu mua nước mắm đóng thùng lớn của một số cơ sở tại Phú Quốc và các địa phương khác, đem

về pha chế, đóng chai và dán nhãn “Nước mắm đậm đà hương vị Phú Quốc” để bán ra thị trường Theo anh chị, hành vi của các doanh nghiệp X có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không? Trên cơ sở đó tư vấn các biện pháp phù hợp để Hiệp hội nước mắm Phú Quốc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 4

Câu 1: Phân tích những điểm khác nhau giữa quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp 4

Câu 2: 8

1 Hành vi xâm phạm của các doanh nghiệp X 8

a) Căn cứ pháp lí 8

b) Phân tích hành vi xâm phạm 9

2 Biện pháp bảo vệ quyền lợi của Hiệp hội nước mắm Phú Quốc 12

KẾT LUẬN 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 4

MỞ ĐẦU

Sáng tạo là hoạt động gắn liền với sự phát triển của nhân loại, trở thành đặc tính của xã hội loài người Trong quá trình lao động con người đã không ngừng tìm cách cải tiến công cụ lao động và tạo ra công cụ lao động mới để giảm thiểu tối đa sức lao động và chi phí tạo ra sản phẩm Cũng từ lao động, con người tạo ra các sản phẩm tinh thần của mình Luật sở hữu trí tuệ ra đời điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành giữa các chủ thể trong việc tạo ra, sự dụng và chuyển giao các sản phẩm sáng tạo trí tuệ, gồm các quan hệ về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp là hai bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ có cơ chế và phạm vi bảo hộ độc lập Trong khi đối tượng của quyền tác giả là các tác phẩm văn học nghệ thuật – những sáng tạo thuộc đời sống văn hóa, tinh thần như sách, các tác phẩm nghệ thuật… , thì đối1

tượng của quyền SHCN là các sáng tạo trí tuệ liên quan tới khoa học, công nghệ

và thương mại nhằm mang lại những hiệu quả thiết thực trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vì vậy hai quyền có những đặc điểm khác nhau Trong bài tiểu luận dưới đây, em xin được phân biệt rõ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp (SHCN)

Do kinh nghiệm cũng như hiến thức còn hạn chế, bài làm còn nhiều thiếu xót,

em rất mong nhận được sự quan tâm, đánh giá, góp ý từ thầy (cô) để hoàn thành tốt bài tiểu luận này ạ!

Em xin chân thành cảm ơn!

1 Công ướ c Bern 1886

Trang 5

NỘI DUNG Câu 1: Phân tích những điểm khác nhau giữa quyền tác giả và quyền sở hữu

công nghiệp

Quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp là hai bộ phận cơ bản của Quyền sở hữu trí tuệ, cho phép tổ chức, cá nhân được bảo vệ tài sản trí tuệ do mình tạo ra, chúng được phân chia dựa trên sự khác biệt về đối tượng bảo hộ Từ

đó, đối tượng của hai loại quyền này cũng có những cơ chế bảo hộ khác nhau:

Quyền tác giả bảo hộ cho các sáng tạo văn hóa, nghệ thuật, Công ước Bern 1886 ghi nhân đối tượng của quyền tác giả là các tác phẩm văn học và nghệ thuật -“bao gồm tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào, chẳng hạn như sách, tập in nhỏ và các bản viết khác, các bài giảng, bài phát biểu, bài thuyết giáo và các tác phẩm cùng loại; các tác phẩm kịch, hay nhạc kịch, các tác phẩm hoạt cảnh và kịch câm, các bản nhạc có lời hay không lời, các tác phẩm điện ảnh trong đó có các tác phẩm tương đồng được thể hiện bằng một quy trình tương tự quy trình điện ảnh, các tác phẩm đồ họa, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, bản khắc, thạch bản; các tác phẩm nhiếp ảnh trong đó có các tác phẩm tương đồng được thể hiện bằng một quy trình tương tự quy trình nhiếp ảnh; các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng, minh họa, địa đồ, đồ án, bản phác họa và các tác phẩm thể hiện không gian ba chiều liên quan đến địa lý, địa hình, kiến trúc hay khoa học”2 Quyền tác giả bảo hộ bảo hộ hình thức thể thể hiện ý tưởng mà không bảo

hộ chính các ý tưởng đó Những ý tưởng, khám phá, thông tin, quy trình, giải pháp… là những sáng tạo có “tính mới” nhưng quyền tác giả không bảo hộ cái ý tưởng sáng tạo đó mà bảo hộ hình thức thể hiện ý tưởng đó là một bài viết hoăc một bản ghi âm, ghi hình,… Pháp luật quyền tác giả không yêu cầu ý tưởng thể

2 Khoản 1 Điều 2 Công ước Bern 1886

Trang 6

hiện trong tác phẩm phải mới, chỉ cần đáp ứng hình thức thể hiện phải là sự sáng tạo nguyên gốc.3

Trong khi đó tại Điều 1 Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp, đối tượng bảo hộ sở hữu công nghiệp được khẳng định bao gồm: “sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ và chống cạnh tranh không lành mạnh.” Các đối tượng sở hữu công nghiệp là các sáng tạo trí tuệ liên quan tới khoa học công nghệ và thương mại nhằm mang lại những hiệu quả thiết thực trong hoạt động sản xuất Như vậy, đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp phải mang đặc tính phi vật chất, vì bản thân ý tưởng sáng tạo mang tính mới, riêng biệt chứa bên trong, mang lại giá trị kinh tế to lớn

Về cơ chế bảo hộ của quyền tác giả, ngay khi tác phẩm được sáng tạo ra, tác giả của tác phẩm đó được bảo hộ về mặt pháp lý và có các quyền của người sáng tạo mà không cần đăng ký, nó được xác lập một cách mặc nhiên ngay từ khi tác phẩm được sáng tạo ra Còn đối với, quyền sở hữu công nghiệp, thủ tục đăng

kí là thủ tục bắt buộc, trừ trường hợp một số đối tượng đặc thù như bí mất kinh doanh, nhãn hiệu nổi tiếng,… được xác lập trên cơ sở hoạt động đầu tư và sử dụng hợp pháp trong thực tiễn Những đối tượng sở hữu công nghiệp mang đặc tính kĩ thuật thường có thời hạn bảo hộ ngắn (đối vơi sáng chế là 20 năm, kiều dáng công nghiệp tối đa là 15 năm) so với thời hạn bảo hộ quyền tác giả

Dưới đây là bảng so sánh chi tiết quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp

Quyền tác giả Quyền sở hữu công nghiệp

Khái niệm Quyền tác giả là quyền của tổ

chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra

Quyền sở hữu công nghiệp là

quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công

3 Chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp / Vũ Thị Hải Yến, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/2016

Trang 7

hoặc sở hữu.

(khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi bổ sung 2009)

nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh (Khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi

bổ sung 2009)

Cơ sở

pháp lý

Phần thứ 2 Luật sở hữu trí tuệ

2005, được sửa đổi bổ sung

2009

Phần thứ 3 Luật sở hữu trí tuệ

2005, được sửa dổi bổ sung

2009

Đối tượng

bảo hộ

Quyền tác, quyền liên quan

quyền tác giả

Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, mạch tích hợp bán dẫn, bí mật khinh doanh

Đối tượng

không

được bảo

hộ

Điều 15 Luật sở hữu trí tuệ

2005, sửa đổi bổ sung 2009

Điều 59, điều 64, điều 69, Điều

77, điều 80

Điều kiện

bảo hộ

Phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ,

đã công bố hay chưa công bố,

 Sáng chế: có tính mới, tính sáng tạo, khả năng áp dụng công nghiệp

 Kiểu dáng công nghiệp:

có tính mới, tính sáng tạo, khả năng áp dụng công nghiệp

 Nhãn hiệu: Dấu hiệu nhìn thấy được, có tính phân biệt (Điều 72)

Trang 8

đã đăng ký hay chưa đăng ký (khoản 1 Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009)

 Tên thương mại: Có khả năng phân biệt giữa các chủ thể kinh doanh (Điều 76)

 Chỉ dẫn địa lý: Điều 79

 Mạch tích hợp bán dẫn:

có tính nguyên gốc,tính thương mại (Điều 68)

 Bí mật kinh doanh: Điều 84

Căn cứ

xác lập

quyền

Kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và định hình dưới một hình thức vật chất nhất định

 Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý: Xác lập trên cơ sở được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ hoặc công nhận đăng

ký quốc tế

 Tên thương mại: Sử dụng hợp pháp

 Bí mật kinh doanh: Có được một cách hợp pháp và thực hiện bảo mật

 Nhãn hiệu nổi tiếng: Trên

cơ sở sử dụng

Văn bằng

bảo hộ

Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan (Được cấp bởi Cục bản quyền tác giả thuộc Bộ văn hóa thể thao và du lịch)

 Bằng độc quyền sáng chế

 Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp

 Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn

(Được cấp bởi Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ khoa học và công nghệ)

Thời hạn Điều 27 Điều 93 Luật sở hữu trí tuệ, sửa

Trang 9

bảo hộ

 Quyền nhân thân quy định tại khoản 1, 2, 4 Điều

19 được bảo hộ vô thời hạn

 Quyền nhân thân tại khoản 3, quyền tài sản bảo

hộ có thời hạn

đổi bổ sung 2009

Nội dung

bảo hộ

Quyền nhân thân, quyền tài sản

Quyền tài sản, trường hợp sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được bảo hộ cả quyền của tác giả

Giới hạn

Hành vi

xâm phạm

quyền

được bảo

hộ

Câu 2:

Theo em, hành vi của các doanh nghiệp X đã xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ,

cụ thể ở đây là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lí

1 Hành vi xâm phạm của các doanh nghiệp X

a) Căn cứ pháp lí

 Điều 129, Luật sở hữu trí tuệ 2005

Khoản 3:

 Điểm a: …

 Điểm c: …

 Điều 213 Luật sở hữu trí tuệ 2005

Trang 10

b) Phân tích hành vi xâm phạm

Theo quy định tại khoản 4 Điều 94 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật sửa đổi, bổ sung luật Sở hữu tuệ năm 2009) thì nhà nước là chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam Nhà nước trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho tổ chức, cá nhân tiến hành việc sản xuất sản phẩm đó ra thị trường Do vào năm 2001, Hiệp hội nước mắm Phú Quốc đã được cấp giấy chứng nhận đăng kí chỉ dẫn địa lý cho

sản phẩm nước mắm Phú Quốc nên có thể hiểu Hiệp hội nước mắm Phú Quốc

là chủ thể đã được Nhà nước trao quyền quản lí chỉ dẫn địa lý Nước mắm Phú Quốc.

Thứ nhất, đối tượng xem xét ở đây là Chỉ dẫn địa lí đối với nước mắm Phú Quốc, thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Hiệp hội Nước mắm Phú Quốc được cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý vào năm 2001 Vì vậy, khi Hiệp hội Nước mắm Phú Quốc phát hiện hành vi sản xuất nước mắm mang nhãn “Nước mắm đậm đà hương vị Phú Quốc” của doanh nghiệp X vào ngày 10/9/2016 thì chỉ dẫn địa lý Nước mắm Phú Quốc được cấp cho Hiệp hội Nước mắm Phú Quốc vẫn đang được bảo hộ

Thứ hai, có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét

Dấu hiệu trùng, Theo quy định tại Điều 12 Nghị định 105/2006/NĐ-CP thì “yếu

tố xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý được thể hiện dưới dạng dấu hiệu gắn trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, biển hiệu, phương tiện quảng cáo và các phương tiện kinh doanh khác, trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với chỉ dẫn được bảo hộ” Trong trường hợp này,

Hiệp hội nước mắm Phú Quốc đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa

lý là “Nước mắm Phú Quốc”, và doanh nghiệp X này đã dán nhãn “Nước mắm đậm đà hương vị Phú Quốc”lên sản phẩm của mình Xét thấy cụm từ “đậm đà

Trang 11

hương vị” chỉ chất lượng nên không có khả năng phận biệt Do đó, chỉ dẫn địa lý

và nhãn sản phẩm của công ty X là hoàn toàn trùng Trong khi đó, sản phẩm của doanh nghiệp X bán ra thị trường là nước mắm, do đó hoàn toàn giống về bản chất, chức năng, công dụng và kênh tiêu thụ với sản phẩm nước mắm Phan Thiết mang chỉ dẫn địa lý

Theo quy định tại điểm a, c khoản 3 Điều 129 Luật SHTT thì các hành vi xâm phạm quyền của doanh nghiệp X đối với chỉ dẫn địa lý nước mắm Phú Quốc được bảo hộ bao gồm các hành vi:

Thứ nhất, “sử dụng chỉ dẫn được bảo hộ cho sản phẩm mặc dù có nguồn

gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý, nhưng sản phẩm đó không đáp ứng các tiêu chuẩn về tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý.”- Điểm a khoản 3 Điều 129 Luật SHTT.

Tình huống trên ghi nhận: “doanh nghiệp X tại Đà nẵngthu mua nước

mắm đóng trong thùng lớn của một số cơ sở tại Phú Quốc.” như vậy nước mắm

mà doanh nghiệp X đem bán cũng có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý Do đó, hành vi của doanh nghiệp X bị coi là hành vi xâm phạm

quyền, khi sản phẩm mang dấu hiệu trùng không đáp ứng các tiêu chuẩn về tính

chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý mặc dù cũng có

nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn Để làm nên thương hiệu Nước mắm Phú Quốc, nước mắm ở đây phải vượt qua những bài kiểm tra khắt khe về chất lượng, như độ đạm, độ ngọt,… Rõ ràng việc doanh nghiệp X mua nước mắm tại Phú Quốc và các địa phương khác, đem về pha chế, đóng chai, sẽ khiến cho nước mắm không còn đảm bảo được tính chất và chất lượng đặc thù của nước mắm Phú Quốc nữa

Thứ hai, "sử dụng bất kì dấu hiệu nào trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn

địa lý được bảo hộ cho sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó làm cho người tiêu dùng hiểu sai rằng sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó.” (Điểm c khoản 3 Điều 129 Luật SHTT)

Trang 12

Như đã chứng minh ở trên, “Nước mắm đậm đà hương vị Phú Quốc” là dấu hiệu trùng đối với Chỉ dẫn địa lí “Nước mắm Phú Quốc” Doanh nghiệp X

đã dán nhãn “Nước mắm đậm đà hương vị Phú Quốc” đây là hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý của Hiệp hội Nước mắm Phú Quốc Việc doanh nghiệp X này dán nhãn như trên đối với sản phẩm của mình tức là đã sử dụng dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý của Hiệp hội Nước mắm Phú Quốc Việc sử dụng nhãn hiệu “Nước mắm đậm đà hương vị Phú Quốc” của doanh nghiệp X có thể làm cho người tiêu dùng hiểu rằng đây là sản phẩm nước mắm xuất xứ từ Phú Quốc

Hơn nữa, theo quy định tại Điều 213 Luật SHTT thì hàng hóa giả mạo về chỉ dẫn địa lý là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý Ở đây, có thể thấy, nước mắm của doanh nghiệp X là hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý Nước mắm Phú Quốc

Thứ ba, người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 125, Điều 133,

Điều 134, khoản 2 Điều 137, các Điều 145, 190 và 195 của Luật SHTT Chủ thể thực hiện hành vi bị xem xét trong tường hợp này là doanh nghiệp X Doanh nghiệp này được đặt tại thành phố Đà Nẵng không nằm trong khu vực địa lý của chỉ dẫn Nước mắm Phú Quốc đã được bảo hộ, không được sự cho phép sử dụng chỉ dẫn địa lý của Hiệp hội nước mắm Phan Thiết theo quy định tại khoản 2 Điều

123 Luật SHTT

Thứ tư, hành vi xem xét xảy ra tại Việt Nam Hành vi pha chế, dán nhãn và

đem bán ra thị trường sản phẩm nước mắm có nhãn “Nước mắm đậm đà hương

Ngày đăng: 20/07/2022, 08:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w