1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chất lượng các công trình giao thông trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng (tại ban quản lý dự án thăng long bộ gtvt)

120 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, vẫn còn những công trình chưa đảm bảo chất lượng, đang còn rất nhiều vấn đề chưa đáp ứng được yêu cầu sử dụng và đáng báo động ở nhiều khâu như khảo sát, thiết kế, vấn đề lựa

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI -

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH

XÂY DỰNG CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

( TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN THĂNG LONG - BỘ GTVT )

NGUYỄN DUY ANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: NGÔ TRẦN ÁNH

HÀ NỘI - 2007

Trang 2

M ở đầu

1 - Sự cần thiết của đề tài:

Ngày nay, trong xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa trên thế giới nói chung, Việt Nam đã chủ động tạo ra xu thế mở cửa và hội nhập như tham gia vào Hiệp hội các quốc qia Đông nam á (ASEAN), Tổ chức các quốc gia Châu

á Thái bình dương APEC, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Ngay trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX có một đề mục “Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước” Trong đề mục này ghi rõ: “Thúc đẩy sự hình thành, phát triển

và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”

Trong tác phẩm “Kinh tế học - phân tích kinh tế vĩ mô” tác giả Rodrigue Tremblay, giáo sư Kinh tế - Tài chính quốc tế trường Đại học Montreal-Canada viết: “ Quy luật cơ bản và phổ biến của kinh tế (thị trường) chỉ rõ là các cá nhân và các tổ chức xã hội bỏ tiền của ra để mong đạt một lợi ích hoặc mục tiêu định trước với chi phí ít nhất Điều này có nghĩa là khi phải chọn một vật, một của cải, một kỹ thuật sản xuất hay là trong các nhân vật có cùng mục đích sử dụng, người ta sẽ chọn lựa thứ nào rẻ nhất” Nói theo cách của toán học thì mọi người hoạt động trong kinh tế thị trường đều là những người giải bải toán Min/Max Bài toàn này phát biểu như sau: Mọi người đều muốn bỏ ra chi phí ít nhất (Min) để thu về lợi ích cho mình nhiều nhất (Max) Người mua muốn bỏ tiền ra ít nhất để đem về hàng hoá cho mình có nhiều lợi ích nhất, sử dụng thuận lợi nhất, chất lượng cao nhất Người bán lại muốn sản phẩm hàng hoá của mình được bán với chi phí chế tạo, chi phí lưu thông ít nhất nhứng lại thu về lợi nhuận cao nhất

Trang 3

Sự “thuận mua vừa bán” được thực hiện hay nói cách khác, lời giải của bài toán Min/Max chính là việc cân nhắc trên cơ sở dung hoà lợi ích của hai bên mua và bán Các cầu nối vững chắc giữa người mua và người bán chính

là chất lượng của hàng hoá Trong các hợp đồng thương mại thì tiêu chuẩn hàng hoá, dịch vụ được coi là điều kiện hết sức quan trọng của hợp đồng

Trong xây dựng cũng vậy, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm là cơ sở cho những hợp đồng tư vấn và thiết kế, thi công xây dựng và mua sắm, lắp đặt thiết bị Đối với những hợp đồng này, chúng ta phải coi việc đảm bảo chất lượng là cốt lõi trong toàn bộ các khâu thực hiện dự án

Cùng với sự phát triển của xã hội, ngành xây dựng cơ bản đã có những bước tiến đáng kể Cơ sở hạ tầng là tiền đề cho sự phát triển mọi thành phần kinh tế khác Do đó, trong những năm qua và hiện nay, việc quản lý và đảm bảo chất lượng công trình đang rất được quan tâm đặc biệt Vì vậy, Nhà nước

và các Bộ, ngành có liên quan đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng như Luật xây dựng, luật đấu thầu, Nghị định về quản lý đầu tư xây dựng

cơ bản, Nghị định về quản lý chất lượng công trình xây dựng, các quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng… Trong đó, dành sự quan tâm rất lớn đến chất lượng xây dựng công trình

Nhìn chung, chất lượng các công trình đều đảm bảo góp phần thúc đẩy

sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, vẫn còn những công trình chưa đảm bảo chất lượng, đang còn rất nhiều vấn đề chưa đáp ứng được yêu cầu sử dụng và đáng báo động ở nhiều khâu như khảo sát, thiết kế, vấn đề lựa chọn Nhà thầu, thi công xây dựng, giám sát chất lượng công trình … Để thấy

rõ vấn đề trên chúng ta sẽ tham khảo các số liệu sau:

- Theo báo cáo của Quốc hội được Bộ Công an trích công bố, trong số 1.505 dự án xây dựng được kiểm tra thời gian qua, có 198 dự án, công trình (chiếm tỷ lệ 13,1%) vi phạm quy chế đấu thầu; 802 dự án, công trình (chiếm 52,3%) nhiều chỗ thi công sai thiết kế, sai chủng loại vật tư, thiết bị, vi phạm

Trang 4

các quy định về trình tự thủ tục trong quản lý đầu tư xây dựng, về quản lý chất lượng, nghiệm thu, thanh toán công trình; 415 dự án, công trình (chiếm 27,6%) vi phạm những quy định về thiết kế, khảo sát

- Theo báo cáo của Tổng hội Xây dựng Việt Nam về 59 công trình xây dựng có 27% các công trình chất lượng kém, phải bổ sung kinh phí mới sử dụng được; 36% công trình không sử dụng được do chọn địa điểm xây dựng không hợp lý, chất lượng kém

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới các Dự án có kết quả không đạt được mục tiêu đề ra: Từ khâu duyệt dự án, có những dự án chưa có qui hoạch, có

dự án chưa có trong kế hoạch vốn đã được duyệt dẫn đến khi dự án thực hiện chưa có mặt bằng xây dựng, chưa có vốn; khâu thiết kế, thẩm định dự án, do trình độ của cán bộ kém dẫn đến thiết kế không đáp ứng thực tế, thẩm định sai; có dự án đã khởi công nhưng chưa có bản vẽ thiết kế kỹ thuật Nhưng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chất lượng công trình không đảm bảo là do chất lượng quản lý thực hiện dự án trong quá trình thi công xây dựng Chính vì thế cho nên, việc đề ra các giải pháp đảm bảo chất lượng công trình xây dựng trong tất cả các giai đoạn, các khâu là một vấn đề thời sự và rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay Do có nhiều hạn chế nên luận văn chỉ có thể nghiên cứu ở giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng công trình Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài:

“ Xây dựng các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chất lượng các công trình giao thông trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng” tại Ban

Quản lý dự án Thăng Long - Bộ GTVT

2- Mục đích của đề tài và phương pháp thực hiện:

2.1 Mục đích của đề tài ( Các kết quả cần đạt được)

- Tìm hiểu và hệ thống hoá tình hình quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng công trình giao thông trong giai đoạn thực hiện đầu tư, công tác lựa chọn Nhà thầu, khảo sát, thiết kế và thi công xây dựng công trình

Trang 5

- Đề xuất các giải pháp đảm bảo chất lượng xây dựng công trình giao thông trong giai đoạn thực hiện đầu tư đối với việc lựa chọn Nhà thầu, khảo sát, thiết kế và thi công xây dựng công trình

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

Để đạt được mục đích trên cần thực hiện theo các phương pháp sau:

- Phương pháp khảo sát thực tế có lựa chọn nhằm làm rõ thực trạng công tác đảm bảo chất lượng xây dựng công trình giao thông trong giai đoạn hiện nay

- Từ phân tích, đánh giá những nguyên nhân dẫn đến việc không đảm bảo chất lượng công trình giao thông đi đến đề xuất các giải pháp để đảm bảo chất lượng xây dựng công trình giao thông

- Thống kê, nghiên cứu các hoạt động xây dựng đã qua để kế thừa những ưu điểm đã có và loại bỏ những điểm lỗi thời nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng cho từng khâu công việc, của các bên tham gia xây dựng công trình giao thông và góp phần hoàn thiện về một vài quy định pháp

luật nhằm đảm bảo chất lượng xây dựng công trình ngày một tốt hơn

3- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Đề tài xây dựng các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chất lượng đối với việc xây dựng các loại công trình giao thông

- Đề tài chỉ giới hạn ở giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng (Đề tài chỉ nghiên cứu đến các vấn đề lựa chọn Nhà thầu, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng công trình, giải pháp phối hợp giữa Chủ đầu tư và Nhà thầu)

- Đề tài không đề cập đến vấn đề thủ tục đền bù, GPMB, tái định cư…

- Đề tài không nghiên cứu phần mua sắm và lắp đặt thiết bị… cho công trình vì khuôn khổ thời gian có hạn

- Đề tài không nghiên cứu giải pháp đảm bảo chất lượng xây dựng công trình đối với dự án xây dựng theo hình thức chìa khoá trao tay và theo hình

Trang 6

thức giao nhận thầu theo hợp đồng EPC (Engineering Providing Construction)

4- Cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài:

4.1 Cơ sở pháp lý và cở sở khoa học của đề tài:

Đề tài nghiên cứu trên cơ sở:

- Luật xây dựng số 16/2003/QH11 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá 11, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003

- Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 đã Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá 11, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005

- Nghị định 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản

lý chất lượng công trình xây dựng

- Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

- Quy chuẩn xây dựng và tiêu chuẩn xây dựng của Việt Nam

- Quản lý chất lượng theo hệ thống tiêu chuẩn ISO 9000

- Các phương pháp quản lý chất lượng có hiệu quả khác như phương pháp quản trị chất lượng toàn bộ (Total Quality Management - viết tắt TQM), phương pháp quản trị mảnh (Lean Management),…

4.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài:

- Từ một số dự án xây dựng công trình giao thông đã được thực hiện tại Ban Quản lý dự án Thăng Long - Bộ Giao thông vận tải rút ra các tồn tại và nguyên nhân chủ yếu trong việc đảm bảo chất lượng xây dựng công trình đối với công tác lựa chọn Nhà thầu, khảo sát, thiết kế và thi công xây dựng công trình

- Tiếp cận các vấn đề trên để đề xuất giải pháp đảm bảo chất lượng xây dựng công trình đối với việc lựa chọn Nhà thầu, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng công trình và sự phối hợp của các bên thực hiện hợp đồng xây dựng

Trang 8

5- Kết cấu nội dung của luận văn:

* Mở đầu

* Chương I: Cơ sở lý thuyết về quản lý chất lượng

* Chương II: Thực trạng về quản lý chất lượng các công trình giao thông tại Ban QLDA Thăng Long

* Chương III: Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chất lượng công trình giao thông trong giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng

* Kết luận - Kiến nghị

Trang 9

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG

1.1 các khái niệm chung:

1.1.1 Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát thi công xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình

1.1.2a Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, năng lượng và các công trình khác

1.1.2b Sản phẩm là kết quả của các hoạt động hay quá trình, sản phẩm

có thể ở dạng vật thể hoặc phi vật thể

1.1.3 Thi công xây dựng công trình bao gồm xây dựng và lắp đặt thiết

bị đối với các công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi: Phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình

1.1.4 Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở

1.1.5 Quy chuẩn xây dựng là các quy định bắt buộc áp dụng trong hoạt động xây dựng do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về xây dựng ban hành

Trang 10

1.1.6 Tiêu chuẩn xây dựng là các quy định về chuẩn mực kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật, trình tự thực hiện các công việc kỹ thuật, các chỉ tiêu, các chỉ số kỹ thuật và các chỉ số tự nhiên được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành hoặc công nhận để áp dụng trong hoạt động xây dựng Tiêu chuẩn xây dựng gồm tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng và tiêu chuẩn khuyến khích

áp dụng

1.1.7 Chủ đầu tư xây dựng công trình là người sở hữu vốn hoặc là người được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình bao gồm:

- Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước thì Chủ đầu tư xây dựng công trình do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự

án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với quy định của Luật Ngân sách Nhà nước

- Các dự án sử dụng vốn tín dụng thì người vay vốn là Chủ đầu tư

- Các dự án sử dụng vốn khác thì Chủ đầu tư là chủ sở hữu vốn hoặc là người đại diện theo qui định của pháp luật

- Đối với các dự án sử dụng vốn hỗn hợp thì Chủ đầu tư do các thành viên góp vốn thoả thuận cử ra hoặc là người có tỷ lệ góp vốn cao nhất

1.1.8 Nhà thầu trong hoạt động xây dựng là tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động xây dựng

1.1.9 Tổng thầu trong xây dựng là ký kết hợp đồng trực tiếp với Chủ đầu tư xây dựng công trình để nhận thầu toàn bộ một loại công việc hoặc toàn

bộ công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình Tổng thầu xây dựng bao gồm các hình thức chủ yếu sau: Tổng thầu thiết kế; tổng thầu thi công xây dựng công trình; tổng thầu thiết kế và thi công xây dựng công trình; tổng thầu

thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình (Tổng thầu theo hợp đồng EPC: Engineering Providing Construction); tổng thầu lập

Trang 11

dự án đầu tư xây dựng công trình, thiết kế cung cấp thiết bị công nghệ và thi

công xây dựng công trình (Theo hợp đồng: “chìa khoá trao tay”)

1.1.10 Nhà thầu chính trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng nhận thầu trực tiếp với chủ đầu tư xây dựng công trình để thực hiện phần việc chính của một loại công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình

1.1.11 Nhà thầu phụ trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng với nhà thầu chính hoặc tổng thầu xây dựng để thực hiện một phần công việc của nhà thầu chính hoặc tổng thầu xây dựng

1.1.12 Giám sát tác giả là hoạt động giám sát của người thiết kế trong quá trình thi công xây dựng công trình nhằm đảm bảo việc thi công xây dựng theo đúng thiết kế

1.1.13 Sự cố công trình xây dựng là những hư hỏng vượt quá giới hạn

an toàn cho phép, làm cho công trình xây dựng có nguy cơ sập đổ; đã sập đổ một phần hoặc toàn bộ công trình hoặc công trình không sử dụng được theo thiết kế

1.1.14 Đầu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án quy định trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế

1.115 Bên mời thầu là chủ đầu tư hoặc tổ chức chuyên môn có đủ năng lực và kinh nghiệm được chủ đầu tư sử dụng để tổ chức đầu thầu theo các quy định của pháp luật về đấu thầu

1.1.16 Hồ sơ mời sơ tuyển là toàn bộ tài liệu bao gồm các yêu cầu về năng lực và kinh nghiệm đối với nhà thầu làm căn cứ pháp lý để bên mời thầu lựa chọn danh sách nhà thầu mời tham gia đấu thầu

1.1.17 Hồ sơ dự tuyển là toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ sơ mời sơ tuyển

1.1.18 Hồ sơ mời thầu là toàn bộ tài liệu sử dụng cho đầu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế bao gồm các yêu cầu cho một gói thầu làm căn cứ pháp

Trang 12

lý để nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu và để bên mời thầu đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm lựa chọn nhà thầu trúng thầu, là căn cứ cho việc thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng

1.1.19 Hồ sơ dự thầu là toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu và được nộp cho bên mời thầu theo quy định nêu trong hồ

sơ mời thầu

1.1.20 Giá gói thầu là giá trị gói thầu được xác định trong kế hoạch đấu thầu trên cơ sở tổng mức đầu tư hoặc tổng dự toán, dự toán được duyệt và các quy định hiện hành

1.1.21 Giá dự thầu là giá do nhà thầu nêu trong đơn dự thầu thuộc hồ sơ

dự thầu Trường hợp nhà thầu có thư giảm giá thì giá dự thầu là giá sau giảm giá

1.1.22 Giá đề nghị trúng thầu là giá do bên mời thầu đề nghị trên cơ sở giá dự thầu của nhà thầu được lựa chọn trúng thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh các sai lệch theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu

1.1.23 Giá trúng thầu là giá được phê duyệt trong kết quả lựa chọn nhà thầu làm cơ sở để thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng

1.1.24 Bảo đảm dự thầu là việc nhà thầu thực hiện một trong các biện pháp đặt cọc, ký quỹ hoặc nộp thu bảo lãnh để đảm bảo trách nhiệm dự thầu của nhà thầu trong thời gian xác định theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu

Nguồn: - Luật xây dựng số 16/2003/QH11

- Luật đấu thầu số 61/2005/QH11

1.2 Các khái niệm về chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng.

1.2.1 Khái niệm về chất lượng:

Hiện nay, người ta đã đưa ra các khái niệm về chất lượng sản phẩm với các câu chữ khác nhau tuỳ theo mức độ xem xét và góc độ quản lý

Trang 13

- Theo bản chất của chất lượng: Chất lượng là sự chứa đựng đặc trưng, đặc tính vốn có của sản phẩm

- Theo TCVN 5814-1994: Chất lượng là tổng hợp các đặc tính của một vật thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó có khả năng thoả mãn nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn

1.2.2 Những khái niệm có liên quan đến sản phẩm xây dựng:

- Sản phẩm đầu tư xây dựng là các công trình xây dựng hoàn chỉnh (bao gồm cả việc lắp đặt thiết bị công nghệ bên trong) Sản phẩm đầu tư xây dựng là kết tinh của các thành quả khoa học - công nghệ và tổ chức sản xuất của toàn xã hội ở một thời kỳ nhất định Nó là một sản phẩm có tính chất liên ngành, trong đó những lực lượng tham gia chế tạo sản phẩm chủ yếu: Chủ đầu

tư, các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp; các doanh nghiệp tư vấn đầu tư xây dựng; các doanh nghiệp sản xuất các yếu tố đầu vào cho dự án như thiết bị công nghệ, vật tư thiết bị xây dựng, các doanh nghiệp cung ứng, các tổ chức dịch vụ ngân hàng và tài chính, các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan

- Sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng chỉ bao gồm phần kiến tạo các kết cấu xây dựng làm chức năng bao che, nâng đỡ và phần lắp đặt các thiết bị máy móc cần thiết của công trình để đưa chúng vào hoạt động

- Công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ xây lắp, được tạo thành bởi vật liệu xây dựng, thiết bị công nghệ và gắn liền với mặt đất hay mặt nước

1.2.3 Các khái niệm về chất lượng sản phẩm xây dựng:

a- Chất lượng sản phẩm xây dựng là tổng thể các thuộc tính của công trình thoả mãn các yêu cầu sử dụng

b- Chất lượng sản phẩm xây dựng là tổng thể các đặc trưng của công trình có khả năng thoả mãn các yêu cầu đã công bố và tiềm ẩn

c- Chất lượng sản phẩm xây dựng là tổng thể các đặc trưng của công trình xây dựng, bao gồm các khía cạnh: Sự an toàn và tính bền vững; hoà hợp

Trang 14

với môi trường cảnh quan; tính thẩm mỹ và các giá trị văn hoá; các dịch vụ cho người sử dụng; giảm thời gian và chi phí xây dựng

d- Chất lượng sản phẩm xây dựng là tập hợp các đặc tính, đặc trưng cho giá trị sử dụng công trình do các giai đoạn hình thành công trình quy định

và các tổ chức có liên quan đến hình thành công trình phải tôn trọng và đảm bảo

e- Chất lượng sản phẩm xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật, mỹ thuật của công trình phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và theo đúng các điều khoản trong hợp đồng giao thầu xây dựng

g- Có quan điểm cho rằng: Chất lượng là một khái niệm tương đối Sản phẩm xây dựng phù hợp với quy chuẩn xây dựng và đáp ứng được các yêu cầu của chủ đầu tư và chi phí hợp lý là chất lượng

1.2.4 Những vấn đề chung về Quản lý chất lượng và hệ thống quản

lý chất lượng công trình:

Khái niệm quản lý chất lượng và hệ thống quản lý chất lượng:

- Chất lượng không tự sinh ra, chất lượng cũng không phải là một kết quả ngẫu nhiên Nó là kết quả tác động của hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng mong muốn, cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này Hoạt động quản lý định hướng vào chất lượng được gọi là quản lý chất lượng

Theo ISO 9000:2000: Quản lý chất lượng là các hoạt động phối hợp với

nhau để điều hành và kiểm soát một tổ chức về mặt chất lượng

Quản lý chất lượng là một khái niệm được phát triển và hoàn thiện liên tục, thể hiện ngày càng đầy đủ hơn bản chất tổng hợp, phức tạp của vấn đề chất lượng và phản ánh sự thích ứng với điều kiện và môi trường mới

Phương châm chất lượng là cái thể hiện tôn chỉ, mục tiêu chung về chất lượng do người đứng đầu một tổ chức, một doanh nghiệp khởi xướng

Trang 15

Quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng là quản lý những chức năng; giám sát các hoạt động cần thiết do yêu cầu về chất lượng đặt ra và cần đạt đến Nó là một phần hệ thực thi phương châm chất lượng Có 4 chức năng chính sau:

Hình 1.1: Sơ đồ chức năng quản lý chất lượng

- Hệ thống quản lý chất lượng: Để cạnh tranh trong điều kiện hiện nay, các tổ chức phải đạt và duy trì được chất lượng với hiệu quả kinh tế cao, đem lại lòng tin trong nội bộ cũng như cho khách hàng và các bên liên quan về hệ thống hoạt động của mình

Theo ISO 9000:2000: Hệ thống quản lý chất lượng là một hệ thống

quản lý để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng

Các phương thức quản lý chất lượng:

- Kiểm tra chất lượng - I (Inspection): Là hoạt động như đo, xem xét, thử nghiệm hoặc định cỡ một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu qui định nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc tính Như vậy, kiểm tra chỉ là phân loại sản phẩm đã được chế tạo, một cách xử lý chuyện đã rồi

Trang 16

- Kiểm soát chất lượng - QC (Quality Control): Là những hoạt động và

kỹ thuật có tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng

Kiểm soát chất lượng là kiểm soát mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng Việc kiểm soát chất lượng nhằm chủ yếu vào quá trình sản xuất để khắc phục những sai sót ngay trong quá trình thực hiện Để quá trình kiểm soát chất lượng đạt hiệu quả, tổ chức cần xây dựng một cơ cấu

tổ chức hợp lý, phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận Hoạt động kiểm soát chất lượng được tiến hành theo chu trình PDCA của Tiến sĩ Deming:

Đảm bảo chất lượng nhằm 2 mục đích là: đảm bảo chất lượng nội bộ (trong một tổ chức) nhằm tạo lòng tin cho lãnh đạo cùng các thành viên trong

tổ chức và đảm bảo chất lượng với bên ngoài nhằm tạo lòng tin cho khách hàng cùng những người có liên quan khác yêu cầu chất lượng được thỏa mãn

- Kiểm soát chất lượng toàn diện - TQC (Total Quality Control): Là một hệ thống có hiệu quả để nhất thể hóa các nỗ lực phát triển chất lượng, duy trì chất lượng và cải tiến chất lượng của các nhóm khác nhau trong một tổ chức sao cho các hoạt động Maketing, kỹ thuật, sản xuất và dịch vụ có thể tiến hành một cách kinh tế nhất, cho phép thỏa mãn hoàn toàn khách hàng

Trang 17

- Quản lý chất lượng toàn diện - TQM (Total Quality Management): là cách quản lý một tổ chức, quản lý toàn bộ công cuộc sản xuất kinh doanh nhằm thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của khách hàng ở mọi công đoạn, bên trong cũng như bên ngoài

1.3 những đặc điểm của sản phẩm xây dựng có liên quan đến chất lượng xây dựng:

1.3.1 Sản phẩm xây dựng được đặt tại một vị trí cố định, nơi sản xuất gắn liền với nới tiêu thụ sản phẩm, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện, địa chất, thuỷ văn, khí hậu của nơi đặt công trình

Đặc điểm này cho thấy:

- Nơi tiêu thụ sản phẩm cố định

- Nơi sản xuất thay đổi nên lực lượng sản xuất thi công ( lao động, thiết

bị thi công, phục vụ thi công, vật tư kỹ thuật…) luôn luôn phải di dời

Chất lượng sản phẩm xây dựng chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện

tự nhiên tại nơi xây dựng công trình Do vậy, công tác điều tra khảo sát, thăm

dò các điều kiện tự nhiên không chính xác sẽ làm cho việc thiết kế công trình không đảm bảo đúng yêu cầu các quy phạm kỹ thuật, kết cấu không phù hợp với điều kiện và đặc điểm tự nhiên, chất lượng công trình kém

1.3.2 Sản phẩm xây dựng thường có quy mô lớn, kết cấu phức tạp

Với đặc điểm quy mô lớn và phức tạp của sản phẩm xây dựng dẫn đến chu kỳ sản xuất dài Do đó, phải có kế hoạch, tiến độ thi công, có biện pháp

kỹ thuật thi công hợp lý để đảm bảo chất lượng công trình

1.3.3 Sản phẩm xây dựng có thời gian sử dụng lâu dài, chất lượng của sản phẩm xây dựng có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động của các ngành khác

Sản phẩm xây dựng với tư cách là công trình xây dựng đã hoàn thành mang tính chất là tài sản cố định nên nó có thời gian sử dụng lâu dài và tham

Trang 18

gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, sử dụng nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu cho tới khi thanh lý Từ đặc điểm này đòi hỏi chất lượng công trình phải tốt, muốn vậy phải chú trọng nâng cao chất lượng xây dựng ở trong tất cả các khâu công tác: Điều tra, khảo sát, lập dự án đầu tư, thiết kế, thực hiện tốt quy chế đấu thầu (Sau này là Luật đấu thầu), thi công, giám sát chất lượng công trình, nghiệm thu và các chế độ bảo hành, bảo trì công trình… Như vậy, bất kỳ một khâu nào trong các việc kể trên phạm sai sót cũng đều có thể gây ra những hậu quả trong quá trình khai thác các công trình xây dựng

1.3.4 Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp các yếu tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm, cả về phương diện sử dụng sản phẩm của xây dựng làm ra

Như vậy, các ngành, các đơn vị cung cấp vật tư, máy móc, thiết bị; khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng và khai thác sử dụng sản phẩm xây dựng

có ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng sản phẩm xây dựng

1.3.5 Sản phẩm xây dựng mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế,

xã hội, văn hóa nghệ thuật và quốc phòng

Đặc điểm này có thể dẫn đến phát sinh các mâu thuẫn, mất cân đối trong quan hệ phối hợp đồng bộ giữa các khâu công tác từ quá trình chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị xây dựng cũng như quá trình thi công Đặc điểm này đòi hỏi phải có trình độ tổ chức, phối hợp các khâu từ công tác thẩm định dự án, thẩm định đấu thầu xây dựng, đáu thầu mua sắm thiết bị, kiểm tra chất lượng từng loại công tác theo kết cấu công trình trong quá trình thi công… đến khi nghiệm thu từng phần, tổng nghiệm thu và quyết toán dự án hoàn chỉnh đưa vào khai thác, sử dụng

1.3.6 Sản phẩm xây dựng có tính đơn chiếc, riêng lẻ

Mỗi sản phẩm đều có thiết kế riêng theo yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế Mỗi công trình có yêu cầu riêng về công nghệ, về quy phạm, về tiện nghi, về

Trang 19

mỹ quan, về an toàn Do đó, khối lượng, chất lượng và chi phí xây dựng của mỗi công trình đều khác nhau do các yêu cầu về công năng sử dụng và tiền vốn của Chủ đầu tư, mặc dù về hình thức có thể giống nhau khi xây dựng trên những địa điểm khác nhau

1.4 Những đặc điểm chủ yếu của sản xuất xây dựng có liên quan đến chất lượng sản phẩm xây dựng:

1.4.1 Sản xuất xây dựng là loại hình sản xuất không ổn định:

Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng là đơn chiếc, quy mô lớn, thời gian sử dụng dài dẫn đến đặc điểm sản xuất của ngành xây dựng khác với các ngành sản xuất khác là mỗi công trình được tiến hành ở một địa điểm khác nhau Vì thế, các phương án về xây dựng, về kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng luôn phải thay đổi theo từng địa điểm, cho nên người lao động trong lĩnh vực này được hưởng phụ cấp sản xuất không ổn định đến 10% lương cơ bản

Đặc điểm này đòi hỏi trong công tác quản lý phải lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, sử dụng tối đa lực lượng xây dựng tại nơi công trình xây dựng đặc biệt là lực lượng lao động phổ thông nhưng lực lượng lao động tại nơi có công trình xây dựng có thể không đáp ứng được trình độ tay nghề

mà những thợ có tay nghề cao lại không muốn đến

Theo đặc điểm này, có những địa điểm lại rất khó khăn cho việc cung ứng vật liệu khai thác tại chỗ lại không đảm bảo chất lượng Vì vậy, chất lượng công trình xây dựng cũng bị ảnh hưởng

1.4.2 Chu kỳ sản xuất (Thời gian xây dựng công trình) thường dài

Sản phẩm của xây dựng là các công trình xây dựng hoàn chỉnh mang tính chất là tài sản cố định nên thời gian sản xuất ra chúng thường dài, thời gian này phải tính theo đơn vị tháng, năm không thể tính theo giờ, theo phút như trong sản xuất công nghiệp Thời gian xây dựng dài do bị chi phối bởi quy mô và mức độ phức tạp về kỹ thuật xây dựng công trình, dự án Đặc điểm

Trang 20

này đòi hỏi việc quản lý chất lượng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục có hệ thống từ khi khởi công công trình đến khi đưa dự án vào khai thác

sử dụng Nếu làm không chặt chẽ thì sẽ có chỗ, có nơi chất lượng không đảm bảo, do đó chất lượng của toàn công trình sẽ không đồng đều

1.4.3 Sản xuất xây dựng mang tính chất đơn chiếc theo đơn đăt hàng

Mỗi sản phẩm xây dựng đều phải có một thiết kế riêng, mỗi công trình riêng biệt đều có khối lượng và chất lượng công trình theo đồ án thiết kế riêng

để vừa bảo đảm thời gian hoàn thành, mỗi công trình đều có yêu cầu riêng về công nghệ, về mỹ quan, an toàn và tiền vốn ngay cả việc xây dựng theo thiết kế định hình (Như cầu, hầm, cống, trường học ) thì mỗi công trình đều phải bổ sung, thay đổi cho phù hợp với điều kiện địa chất, khí hậu, điều kiện cung cấp nguyên vật liệu tại địa điểm xây dựng dự án, công trình cụ thể Do vậy,có thể nói sản phẩm xây dựng không có sự giống nhau hoàn toàn, không thể tiến hành sản xuất hàng loạt mà sản xuất từng chiếc theo đơn đặt hàng thông qua hình thức ký kết hợp đồng sau khi thắng thầu (hoặc giao thầu, chỉ định thầu) Đặc điểm này dẫn đến yêu cầu phải nâng cao công tác quản lý chất lượng, quản lý giá và các tiêu chuẩn, quy phạm kỹ thuật gốc của sản phẩm

Xuất phát từ đặc điểm này nên việc "mua, bán" sản phẩm được xác định trước khi thi công Vì vậy, người mua và người bán được xác định trước khi có sản phẩm: đối tượng sản phẩm, giá cả, chất lượng, hình thức và kết cấu của sản phẩm Do đó, trong công tác quản lý phải tìm mọi giải pháp để chuẩn xác các tiêu thức đánh giá về chất lượng và giá cả công trình Muốn vậy phải có giải pháp để tăng cường công tác quản lý ngay từ khi lập dự án như tổng mức đầu tư, quy mô đầu tư, các tiêu chuẩn quy phạm kỹ thuật về chất lượng công trình cho đến khi dự án hoàn thành được nghiệm thu đưa vào khai thác sử dụng

Trang 21

Ngoài ra, việc nghiên cứu đặc điểm này trong sản xuất xây dựng còn là

cơ sở để nghiên cứu tìm các giải pháp tổ chức thi công hợp lý nhằm giảm các chi phí phát sinh trong quá trình thi công xây dựng để rút ngắn thời gian thi công, đảm bảo chất lượng sẽ tác động tích cực để giảm lãng phí, thất thoát vốn tài sản trong hoạt động đầu tư và xây dựng

1.4.4 Hoạt động xây dựng chủ yếu ngoài trời, chịu ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố tự nhiên, điều kiện làm việc nặng nhọc

Điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu, mưa gió, bão lũ đều ảnh hưởng đến quá trình xây dựng ảnh hưởng này thường làm gián đoạn quá trình thi công, năng lực của các doanh nghiệp không được điều hoà Từ đó ảnh hưởng đến sản phẩm dở dang, đến vật tư, đến thiết bị thi công, đến sức khoẻ của người lao động và sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình Do đó, đơn vị thi công phải tổ chức tốt hệ thống kho, bãi để bảo quản vật tư, sản phẩm dở dang nhằm tránh hư hỏng, mất mát tài sản, vật tư, thiết bị do thiên nhiên gây

ra trong quá trình thi công xây dựng

1.4.5 Công tác tổ chức quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp

Trong quá trình xây dựng thường có nhiều đơn vị, nhiều thành phần kinh tế tham gia thực hiện phần việc của mình theo một trình tự nhất định về thời gian và không gian trên một mặt bằng thi công chật hẹp Đặc điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phải có trình độ phối hợp cao để đảm bảo thi công và chất lượng công trình

Nhìn chung, đặc điểm của sản xuất xây dựng có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và giá cả trong công trình xây dựng Ngoài ra, chúng ta cần tìm hiểu thêm một số đặc điểm có liên quan đến sự phát triển của ngành cũng như

có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm xây dựng như:

- Hoạt động xây dựng nước ta tiến hành trong điều kiện nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến tiến lên nền sản xuất lớn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá Từ đặc điểm này cho thấy trình độ

Trang 22

xây dựng về các mặt kỹ thuật, tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế còn thấp kém so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới

- Hoạt động xây dựng ở nước ta tiến hành trong điều kiện chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới có pha ít nhiều tính chất ôn đới Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu đặc điểm khí hậu, thoáng về mùa hè, ấm về mùa đông Trong thi công xây dựng cần phải phát triển công nghệ xây dựng phù hợp với khí hậu như công nghệ bảo dưỡng bê tông cốt thép khi đổ toàn khối tại chỗ, công nghệ xây dựng trong mùa mưa bão, công nghệ chống dột, chống hao mòn

- Sản xuất xây dựng ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh khu vực hoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế diễn ra ngày càng sâu rộng, do vậy các hoạt động xây dựng của nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội điều kiện và thách thức

để phát triển Quán triệt những đặc điểm có tính chất đặc thù trên của Việt Nam sẽ giúp cho việc nghiên cứu, tìm giải pháp phù hợp với hoàn cảnh nước

ta

1.5 Phân loại các yếu tố tác động đến chất lượng xây dựng công trình

1.5.1 Phân loại các yếu tố bên ngoài tác động đến chất lượng:

a- Do nhu cầu và sức ép của nền kinh tế gồm:

- Nhu cầu thị trường (Nhu cầu và thị hiếu của khách hàng)

- Trình độ phát triển của nền kinh tế, mức sống của người dân được nâng cao (Như ăn, ở, đi lại, chữa bệnh )

Một quốc gia càng phát triển thì nhu cầu thị trường càng cao gắn liền với trình độ phát triển của nền kinh tế của quốc gia đó Do vậy, các đòi hỏi về

kỹ thuật, mỹ thuật và nhất là chất lượng xây dựng công trình ngày càng cao

b- Do chính sách kinh tế chung tác động đến chất lượng :

- Những sản phẩm được khuyến khích đầu tư sản xuất, khuyến khích nâng cao chất lượng

- Đối tượng cung cấp sản phẩm hay khách hàng là loại nào? Nếu xuất khẩu thì ở đâu? Khu vực nào? Cung cấp cho đối tượng nào?

Trang 23

c- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật ảnh hưởng đến chất lượng:

- Xuất hiện các loại vật liệu mới, vật liệu thay thế

- Do cải tiến hay đổi mới công nghệ

- Thay đổi sản phẩm hay sáng chế sản phẩm mới

d- Những tác động và hiệu lực của cơ chế quản lý phụ thuộc vào chính sách kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của từng nước, sự phát triển và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, các vùng miền trong cả nước

Các chính sách phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của mỗi nước đòi hỏi quốc gia đó cơ chế quản lý phù hợp với sự phát triển hiện tại và trong tương lai Các chính sách này sẽ có tác động tích cực và có hiệu quả đến từng ngành, từng mặt hoạt động của xã hội Như vậy, với sự phát triển nhanh chóng của ngành xây dựng thì các đòi hỏi về chất lượng công trình là cần thiết

1.5.2 Phân loại các yếu tố bên trong quá trình sản xuất tác động đến chất lượng:

Có 4 nhân tố rất quan trọng trong nội bộ một đơn vị ảnh hưởng chính đến chất lượng sản phẩm và dịch vụ xây dựng:

a- Nhân tố con người: Con người lao động sáng tạo được biểu hiện ở năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất, ý thức và tinh thần hợp tác

b- Nhân tố phương pháp: Là phương pháp công nghệ, phương pháp tổ chức quản lý, điều kiện áp dụng các phương pháp quản lý, kiểm soát chất lượng trong sản xuất kinh doanh thường được đánh giá qua hiệu quả, tính linh hoạt, tính thích nghi

c- Nhân tố máy móc thiết bị dùng cho sản xuất, dùng cho quản lý: thể hiện ở tính năng, trình độ hiện đại, tương thích với yêu cầu chất lượng ngày càng cao

d- Nhân tố nguyên vật liệu và phương pháp cung ứng: Chất lượng vật liệu, phương pháp cung cấp đúng yêu cầu, đồng bộ và kịp thời gian

Trang 24

Bốn yếu tố trên trong quản lý hiện đại gọi là "Quy tắc 4M" Ngoài 4 yếu tố trên còn có thể có nhân tố thông tin, nhân tố tài liệu văn bản

Quy tắc 4M là cách viết tắt của 4 yếu tố:

Make - Con người Methods - Phương pháp Machine - Thiết bị, máy móc Malerial - Nguyên vật liệu Trong quản lý xây lắp nên xét thêm các yếu tố về môi trường làm việc

đó là điều kiện về không gian, mặt bằng, những yêu cầu về tiến độ thực hiện, các điều kiện liên quan đến điều kiện xây dựng

1.5.3 Ngoài ra có thể phân loại các yếu tố theo phương diện đảm bảo chất lượng:

a- Theo nội dung công việc , phân ra:

- Đảm bảo các yếu tố đầu vào (Vật tư, thiết bị, trình độ nghề của công nhân xây dựng )

- Đảm bảo phương pháp (Phương pháp công nghệ và phương pháp tổ chức xây dựng)

- Đảm bảo kết quả xây dựng cuối cùng

b- Theo vai trò đảm bảo chất lượng, phân ra:

- Tự đảm bảo chất lượng xây dựng công trình

- Đảm bảo chất lượng xây dựng công trình của người khác

c- Theo khối lượng phân ra:

- Đảm bảo chất lượng bộ phận công trình

- Đảm bảo chất lượng toàn bộ công trình

d- Theo thời gian, phân ra: Đảm bảo chất lượng trung gian (nhất là đối với các bộ phận kết cấu bị che khuất); đảm bảo chất lượng cuối cùng: đảm bảo chất lượng trước, trong và sau khi thực hiện xây dựng

Trang 25

1.6 Đổi mới công nghệ quản lý chất lượng và vai trò của người lãnh đạo trong quản lý chất lượng:

1.6.1 Đổi mới công nghệ quản lý chất lượng:

Định hướng đổi mới công nghệ quản lý chất lượng hướng vào:

- Phân công lao động và sản xuất tinh vi hơn

- Tận dụng yếu tố công nghệ hiện đại nhiều hơn

- Nâng cao hàm lượng khoa học, công nghệ hiện đại trong sản xuất

- Làm cho giá thành sản phẩm thấp hơn bằng cách:

+ Giữ nguyên mức độ thông số kỹ thuật và hạ giá thành

+ Nâng cao mức độ, thông số kỹ thuật và giữ nguyên giá

Từ những vấn đề trên dẫn đến những thay đổi về phương pháp quản lý:

- Từ hàng dọclà chủ yếu sang hàng ngang là chủ yếu

- Từ quản lý trực tuyến chuyển sang quản lý chéo theo chức năng

- Rất coi trọng tính phối hợp, hợp tác trong sản xuất

1.6.2 Đánh giá vai trò của người lãnh đạo trong quản lý chất lượng:

Có những nhận định khác nhau về mức độ chịu trách nhiệm đối với chất lượng của sản phẩm và dịch vụ, nhưng đánh giá chung là người đứng đầu

tổ chức phải chịu trách nhiệm chính

- Các chuyên gia cho rằng: 50% chất lượng sản phẩm thuộc về người lãnh đạo, 25% thuộc về giáo dục, còn lại là người lao động

- Có ý kiến cho rằng: 85 chất lượng sản phẩm thuộc về người lãnh đạo, 15% thuộc về người lao động

Vì vậy, chất lượng sản phẩm ra sao thì người chịu trách nhiệm chính là người quản lý

Trang 26

1.7 Các phương pháp quản lý chất lượng:

1.7.1 Quản lý chất lượng theo hệ thống tiêu chuẩn ISO 9000:

Đây là một hệ thống đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn Quốc tế ISO

là tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá Quốc tế ra đời tại Anh năm 1946 có trụ

sở ở Geneve, ngôn ngữ sử dụng là Tiếng Anh, Tiếng Pháp, Tiếng Tây Ban Nha

- Lĩnh vực hoạt động rất rộng lớn bao gồm các lĩnh vực văn hoá, khoa học kỹ thuật, kinh tế, môi trường, quản lý hành chính

- Năm 1971 mới đưa ra được định nghĩa chất lượng về sản phẩm hàng hoá và dịch vụ: Chất lượng là tổng hoà các đặc trưng, đặc tính của sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn quy chuẩn, đáp ứng yêu cầu của thiết kế được duyệt (Tức là ý nguyện của khách hàng)

+ Đặc trưng là biểu hiện bề ngoài

+ Đặc tính là biểu hiện tính chất vốn có của sản phẩm

- ISO 9000 là tiêu chuẩn thứ 9000 của tổ chức ISO có tên gọi là : "Tiêu chuẩn và hệ thống quản lý chất lượng" Bộ tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng đầu tiên ra đời năm 1987 sau đó được bổ sung sửa đổi tương đối liên tục và mỗi lần sửa đổi bổ sung thì được gọi là một phiên bản Các phiên bản được ra đời ở các năm 1987; năm 1994; năm 2000 Hệ thống tiêu chuẩn ISO 9000-2000 có 4 hệ thống con cơ bản, đó là:

+ Trách nhiệm lãnh đạo

+ Quản lý nguồn lực

+ Quá trình sản xuất

+ Đo lường, phân tích và cải tiến

Bốn hệ thống con này có tác động qua lại với nhau, thể hiện ở sơ đồ sau:

Trang 27

Đầu ra

Hình 1.3: Sơ đồ về quản lý chất lượng theo hệ thống ISO 9000:2000

1.7.1.1 Các ưu việt của hệ thống ISO 9000 - 2000:

- Về thuật ngữ: Rõ ràng dễ hiểu hơn

- Về các yêu cầu mới:

+ Định hướng vào khách hàng mạnh mẽ hơn, rõ hơn

+ Mục tiêu chất lượng đo lường được

+ Tập trung nhiều hơn vào phân tích, vào đo lường và cải tiến liên tục + Đánh giá được tính hiệu quả của giáo dục và đào tạo

1.7.1.2 ý tưởng, các nguyên tắc của hệ thống ISO 9000:

a- ý tưởng, quan điểm:

Hệ thống này không đưa ra một tiêu chuẩn riêng cho một quá trình, một sản phẩm cụ thể mà chỉ tạo ra khuôn khổ, chuẩn mực chung cho công tác quản lý chất lượng, coi phòng ngừa là quan trọng, thông qua phát hiện sai sót, duy trì chất lượng trong suốt quá trình thiết kế, sản xuất, sử dụng

Hướng vào quản lý chất lượng toàn bộ TQM thông qua chương trình hoá, quá trình hoá, văn bản hoá mọi hoạt động của doanh nghiệp

Quan h ệ giữa các hệ

thQuan hống con ệ hệ gia tăng giá tr ị

Dòng thông tin

Trang 28

- Đi thẳng vào tác nhân chi phối chất lượng (Quy tắc 4M), đó là:

+ Nhân tố con người: Con người được biểu hiện ở năng lực, phẩm chất,

ý thức và tinh thần hợp tác

+ Nhân tố phương pháp: Là phương pháp công nghệ, phương pháp tổ chức quản lý, điều kiện áp dụng các phương pháp quản lý trong sản xuất kinh doanh thường được đánh giá qua hiệu quả, tính linh hoạt, tính thích nghi

+ Nhân tố máy móc thiết bị dùng cho sản xuất, dùng cho quản lý: Thể hiện tính năng, trình độ hiện đại, tương thích với yêu cầu chất lượng ngày càng cao

+ Nhân tố nguyên vật liệu và phương pháp cung ứng: Chất lượng vật liệu phương pháp cung cấp có đúng yêu cầu và kịp thời gian

- Tạo dựng đủ các điều kiện để mọi thành viên tự kiểm soát hoạt động của bản thân hướng vào chất lượng và hiệu quả sản xuất: Tạo dựng điều kiện bằng cách đào tạo tay nghề, ý thức trách nhiệm, môi trường hoạt động

- Làm cho mọi người nhập thân vào hành trình chế tạo sản phẩm, tự kiểm tra và chịu trách nhiệm về quá trình sản xuất, về từng chi tiết sản phẩm

- Có điều kiện cải tiến chất lượng liên tục

c- Các nguyên tắc quản lý chất lượng của tiêu chuẩn ISO 9000:

- Hướng mạnh vào khách hàng

- Trách nhiệm chính ở người lãnh đạo

- Sự tham gia cộng tác tích cực của mọi người

- Tiếp cận theo quá trình

- Tiếp cận theo hệ thống quản lý

- Cải tiến liên tục

- Ra quyết định dựa trên dữ liệu đầy đủ, tin cậy

- Quan hệ cùng có lợi với nhà cung ứng

1.7.1.3 Cơ cấu của hệ thống và sự áp dụng tiêu chuẩn ISO 9000:

a- Cơ cấu của hệ thống:

Hệ thống thường bao gồm những thành phần chính sau:

Trang 29

b- Sự áp dụng hệ thống tiêu chuẩn ISO 9000:

Nếu có ý định áp dụng hệ thống thì cần xem xét kỹ các điều kiện sau:

- Trình độ đạt được của quy tắc 4M, đó là:

+ Nhân tố con người: Con người được biểu hiện ở năng lực, phẩm chất,

ý thức và tinh thần hợp tác

+ Nhân tố phương pháp: Là phương pháp công nghệ, phương pháp tổ chức quản lý, điều kiện áp dụng các phương pháp quản lý trong sản xuất kinh doanh thường được đánh giá qua hiệu quả, tính linh hoạt, tính thích nghi

+ Nhân tố máy móc thiết bị dùng cho sản xuất, quản lý: Thể hiện ở tính năng, trình độ hiện đại, tương thích với yêu cầu chất lượng ngày càng cao

+ Nhân tố nguyên vật liệu và phương pháp cung ứng: Chất lượng vật liệu, phương pháp cung cấp có đúng yêu cầu và kịp thời gian

- Năng lực quản lý, môi trường hoạt động sản xuất

- Chính sách kinh tế, môi trường kinh doanh, hiệu quả trước mắt và lâu dài

Từ sự xem xét trên có thể lựa chọn mức độ áp dụng dần dần

c- Phạm vi ứng dụng ISO 9000:

ISO 9000 là bộ tiêu chuẩn chung cho mục tiêu quản lý chất lượng và bảo đảm chất lượng được áp dụng chung cho tất cả các ngành sản xuất, và dịch vụ

ISO 9001: Cho các quá trình thiết kế, cung ứng, lắp đặt, dịch vụ

ISO 9002: Cho các quá trình sản xuất, cung ứng, lắp đặt, dịch vụ

ISO 9003: Cho các quá trình kiểm tra, thử nghiệm

Trang 30

ISO 9004: Hướng dẫn vận hành hệ thống chất lượng nhằm quản lý nội

bộ, không dùng đối ngoại

1.7.2 Quản lý chất lượng bằng phương pháp quản lý chất lượng toàn bộ (Total Quality Management - Viết tắt TQM):

1.7.2.1 Khái niệm:

Theo quan niệm của quản trị kinh doanh hiện đại, vấn đề chất lượng sản phẩm được nêu lên hàng đầu Vấn đề này đã được phát triển thành cái gọi

là lý thuyết quản trị chất lượng toàn bộ hay tổng thể

Chất lượng của sản phẩm là tập hợp những tính chất của sản phẩm đã quy định trước và chúng thể hiện mức độ thoả mãn những nhu cầu của người

sử dụng sản phẩm đó

Những ý tưởng cốt lõi của lý thuyết quản trị chất lượng toàn bộ (TQM):

- Chất lượng là một nhân tố quan trọng của kết quả kinh doanh và là mục tiêu của kinh doanh

- Khái niệm chất lượng chỉ là tương đối so với những mong muốn và cạnh tranh ( Tức là mức độ thoả mãn các yêu cầu của khách hàng và mức chi trả - TG)

- Khách hàng là người quyết định các tiêu chuẩn và là thước đo của chất lượng

- Quản lý chất lượng toàn bộ có ý nghĩa là tránh được các khuyết tật, đề

phòng khuyết tật hơn là sửa chữa khuyết tật, loại trừ khuyết tật tận gốc ( Không chấp nhận sản phẩm kém chất lượng, lôi cuốn mọi người vào cuộc, còn phương pháp kiểm tra chất lượng chỉ có nhân viên chuyên trách làm - TG)

- Chất lượng xấu sẽ gây nên các chi phí sửa chữa khuyết tật của sản phẩm và do đó giảm lợi nhuận của doanh nghiệp

- Bảo đảm chất lượng của sản phẩm là trách nhiệm cá nhân của từng người, là việc làm liên tục hàng ngày của mọi người, mọi nơi và mọi lúc

Đây là phương pháp hiện đại mà các nước phát triển đang sử dụng

Trang 31

Thực chất của phương pháp TQM là cách tiếp cận đổi mới về quản trị chất lượng, đó là quản trị toàn bộ một công cuộc kinh doanh hoặc một tổ chức nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ, thoả mãn đầy đủ nhu cầu của khách hàng (Bao gồm khách hàng ở bên trong và khách hàng ở bên ngoài), ở mọi công đoạn và mọi khâu của hệ thống

Khách hàng ở bên trong được hiểu là khi chuyển giao bán thành phẩm của các bước công việc, bước công nghệ thì sau bước công nghệ sau coi như

"mua" sản phẩm của bước công nghệ trước Nếu làm hỏng thì phải chịu trách nhiệm với các chi phí "giá mua" khi nhận bàn giao Như vậy, nó đã lôi cuốn được người lao động tham gia vào quản lý chất lượng sản phẩm

1.7.2.2 Đặc điểm của TQM:

- Bao quát mọi mục tiêu và lợi ích của sản xuất thường thể hiện ở các yếu tố: Chất lượng, chi phí, an toàn

- Cải tiến chất lượng liên tục bằng nhiều biện pháp

- Huy động, khai thác tối đa tiềm năng của mọi thành viên

- Làm rõ các nhận thức: "Chất lượng là vấn đề của tất cả mọi người, phía sau từng cương vị công tác là khách hàng"; "Chất lượng là sự sống còn của doanh nghiệp"

- Tạo môi trường kích thích và cải tiến chất lượng

- Đầu tư thích đáng cho công tác đào tạo nguồn nhân lực

- Bám sát các phương pháp khoa học quản lý, những thành tựu khoa học công nghệ mới

- Quyết tâm cao của người lãnh đạo

1 7.2.3 Nội dung của quản trị chất lượng đối với các lĩnh vực hoạt động kinh doanh:

a- ở lĩnh vực lập kế hoạch và mục tiêu chất lượng:

- Dự kiến đưa ra các đòi hỏi của khách hàng vào sản phẩm;

- Phân tích cạnh tranh chất lượng và các biện pháp đối phó;

Trang 32

- Phân tích các khả năng và ảnh hưởng của khuyết tật

- Đánh giá các bạn hàng cung ứng vật tư cho doanh nghiệp, chất lượng nguyên vật liệu hiện dùng

- Xây dựng các phương án và hệ thống kiểm định chất lượng

b- ở lĩnh vực thiết kế, thi công xây dựng và các kỹ thuật đảm bảo chất lượng:

- Tối ưu hoá các thông số kinh tế kỹ thuật của sản phẩm, thiết kế thử nghiệm, thể hiện các đòi hỏi của khách hàng vào sản phẩm cụ thể

- Sử dụng các công nghệ thi công bảo đảm chất lượng cao

- Điều khiển quá trình dựa trên cơ sở thống kê

- Xây dựng các quy trình và quy tắc tránh trước các khuyết tật

- Xây dựng các phương pháp và kỹ thuật tìm nguyên nhân của khuyết tật

c- ở lĩnh vực kiểm tra:

- Tổ chức công việc thanh tra chất lượng xây dựng công trình

- Tổ chức kiểm định sản phẩm và kiểm định nguyên vật liệu

- Tổ chức hệ thống kiểm định chất lượng

d- ở lĩnh vực phân tích chất lượng:

- Điều tra khánh hàng

- Phân tích khuyết tật (Nhất là phương pháp phân tích cây khuyết tật)

- Phân tích độ bền chắc và độ tin cậy của sản phẩm

- Phân tích các khả năng và ảnh hưởng của khuyết tật theo các nhân tố

ở bước thiết kế và ở bước quá trình thi công xây dựng

1.7.3 Sử dụng sơ đồ nhân quả trong quản lý chất lượng

Mô hình sơ đồ nhân quả (hay còn gọi là sơ đồ xương cá) thể hiện hiệu quả của một công việc (hay một dự án) cũng như không hiệu quả của một công việc (hay một dự án) như sau:

Trang 33

Nguyên nhân

- Khi xem xét hiệu quả của một công việc là sự tổng hợp hiệu quả của nhiều công việc con khác Hiệu quả của mỗi công việc con khác là do các nguyên nhân 1, nguyên nhân 2, , nguyên nhân thứ n

- Khi xem xét chất lượng bê tông kém là do các nguyên nhân như con người; phương pháp thi công; vật liệu; máy móc, thiết bị và các nguyên nhân khác…

1.8 Chất lượng Xây Dựng Công Trình có liên quan "nhân quả" đến vấn

Công vi ệc

2

Hi ệu quả công vi ệc

Ch ất lượng

BT kém Con ng ười

Các nguyên

nhân khác…

Máy móc,

Trang 34

- Đấu thầu xây dựng là hình thức lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của gói thầu thông qua đấu thầu - đây là hình thức lựa chọn nhà thầu tiến

bộ trong cơ chế thị trường

Trong đấu thầu xây dựng công trình gồm có:

+ Đấu thầu rộng rãi

+ Đấu thầu hạn chế

1.8.2 Nguyên tắc lựa chọn Nhà thầu trong hoạt động xây dựng:

1/ Việc lựa chọn nhà thầu trong xây dựng nhằm chọn được nhà thầu có

đủ điều kiện năng lực để cung cấp sản phẩm, dịch vụ xây dựng phù hợp, có giá dự thầu hợp lý, đáp ứng được yêu cầu của Chủ đầu tư và các mục tiêu của

dự án

2/ Việc lựa chọn Nhà thầu trong hoạt động xây dựng được thực hiện theo hai giai đoạn như sau:

a- Giai đoạn sơ tuyển chọn nhà thầu

Việc sơ tuyển nhằm lựa chọn các nhà thầu có đủ điều kiện năng lực phù hợp với yêu cầu của gói thầu để tham dự đấu thầu ở giai đoạn sau

Tuỳ theo quy mô, tính chất gói thầu, Chủ đầu tư thông báo mời sơ tuyển trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc gửi thư mời sơ tuyển Chủ đầu tư có trách nhiệm cung cấp cho các nhà thầu tham dự hồ sơ mời sơ tuyển bao gồm các thông tin sơ bộ về gói thầu, bảng các cầu hỏi và các nội dung chính của hồ sơ mời thầu Chủ đầu tư xem xét, đánh giá năng lực của các nhà thầu dự sơ tuyển để loại bỏ những nhà thầu không đủ điều kiện năng lực theo yêu cầu trong hồ sơ mời thầu

b- Giai đoạn đấu thầu:

Chủ đầu tư cung cấp hồ sơ mời thầu cho các nhà thầu được lựa chọn vào giai đoạn đấu thầu Hồ sơ mời thầu được bán cho nhà thầu Nhà thầu tham dự đấu thầu phải nộp hồ sơ dự thầu kèm theo bảo lãnh dự thầu nhằm đảm bảo nhà thầu đàm phán ký kết hợp đồng sau khi được tuyên bố trúng

Trang 35

thầu Mức bảo lãnh dự thầu do Chủ đầu tư quyết định không vượt quá 3% giá gói thầu

3/ Tuỳ theo quy mô, tính chất và yêu cầu của gói thầu, bên mời thầu có thể thực hiện kết hợp hai giai đoạn nêu trên hoặc chỉ thực hiện giai đoạn đấu thầu khi lựa chọn nhà thầu

4/ Nguyên tắc đánh giá, lựa chọn nhà thầu:

a- Trong giai đoạn sơ tuyển, bên mời thầu kiểm tra sự đáp ứng của nhà thầu đối với các yêu cầu của gói thầu và sử dụng phương pháp chấm điểm để đánh giá năng lực về kinh nghiệm, kỹ thuật và khả năng tài chính của nhà thầu tham dự

b- Trong giai đoạn đấu thầu, bên mời thầu xem xét khả năng cung cấp các sản phẩm, dịch vụ của nhà thầu trên cơ sở đánh giá đồng thời các tiêu chí như tiến độ thực hiện, giá dự thầu và tiêu chuẩn của sản phẩm, dịch vụ, các điều kiện hợp đồng và các điều kiện khác do nhà thầu đề xuất nhằm đạt được mục tiêu đầu tư và hiệu quả của dự án Nhà thầu được lựa chọn là nhà thầu có giá sự thầu hợp lý mang lại hiệu quả cao nhất cho dự án

5/ Việc lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng đối với các đự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện theo các quy định của Chính phủ và của các văn bản pháp luật về đấu thầu có liên quan

1.8.3 Yêu cầu chung đối với hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ

sơ dự sơ tuyển và hồ sơ dự thầu nhằm đảm bảo chất lượng công trình:

1.8.3.1 Các nội dung chính của hồ sơ mời thầu sơ tuyển:

a- Thông tin về gói thầu: Phạm vi công việc; quy mô, tính chất của gói thầu; cấp công trình; nguồn vốn đầu tư; địa điểm xây dựng công trình

b- Các cầu hỏi về năng lực, kinh nghiệm đối với nhà thầu

c- Các chỉ dẫn cần thiết cho nhà thầu

Trang 36

d- Yêu cầu về bảo lãnh dự sơ tuyển

1.8.3.2 Các nội dung chủ yếu của hồ sơ mời thầu:

a- Các thông tin về thiết kế bao gồm các bản vẽ và thuyết minh nếu có, tiến độ và các điều kiện của Chủ đầu tư

b- Các điều kiện chung và điều kiện cụ thể của hợp đồng do bên mời thầu đưa ra áp dụng đối với gói thầu;

c- Yêu cầu hoặc chỉ dẫn của bên mời thầu đối với nhà thầu về hồ sơ dự thầu

d- Yêu cầu về bảo lãnh dự thầu

Trường hợp không thực hiện giai đoạn sơ tuyển thì nội dung hồ sơ mời thầu còn phải có các yêu cầu về năng lực nhà thầu

1.8.3.3 Các nội dung chủ yếu của hồ sơ dự tuyển:

a Đơn dự tuyển theo mẫu quy định

b Bảo lãnh dự sơ tuyển

c Tài liệu chứng minh năng lực Nhà thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời

dự sơ tuyển được thể hiện bằng các biểu mẫu

1.8.3.4 Các nội dung chủ yếu của hồ sơ dự thầu:

a- Các bản vẽ, giải pháp, biện pháp kỹ thuật và tiến độ thực hiện

b- Bảng tính tiên lượng và giá dự thầu

c- Các đề xuất kỹ thuật: Đề nghị sửa đổi, bổ sung đối với các điều kiện chung, điều kiện cụ thể của hợp đồng áp dụng cho gói thầu do bên mời thầu đưa ra

d- Bảo lãnh dự thầu

1.9 Mối quan hệ giữa chất lượng, chi phí và thời gian xây dựng công trình giao thông:

1.9.l Mối quan hệ giữa chất lượng và chi phí ở giai đoạn thiết kế:

Chất lượng xây dựng công trình có thể do giải pháp thiết kế về kiến trúc, kết cấu và vật liệu xây dựng quyết định, nhưng cũng có thể do phương

Trang 37

Qop - Chất lượng thiết kế tối ưu

Z - Giá thành của chất lượng thiết kế (Hay giá thành của sản phẩm làm

Hình 1.4 cho thấy khi chất lượng thiết kế tăng thì giá trị của chất lượng

và giá thành chất lượng (Ví dụ cho kết cấu và vật liệu xây dựng) cũng đều tăng, nhưng tốc độ tăng giá trị của chất lượng chậm dần (Đường cong lồi về phía trên), còn tốc độ tăng giá thành của chất lượng thì nhanh dần (Đường cong lõm về phía dưới) Mức tối ưu của chất lượng sẽ xuất hiện ở vị trí mà ở

đó chi phí cận biên của một đơn vị chất lượng tăng thêm bằng với giá trị cận biên của một đơn vị chất lượng tăng thêm, tức là ở hoành độ của chất lượng

Trang 38

Nhược điểm: Hình 1.4 chỉ nêu lên một khái niệm trừu tượng để giúp người làm công tác thiết kế có ý thức về mặt kinh tế khi nâng cao chất lượng công trình Trong thực tế việc tính toán định lượng các đại lượng chi phí, chất lượng và giá trị chất lượng còn phức tạp hơn nhiều

Ngoài ra, các nhân tố khác cũng ảnh hưởng tới hiệu quả thực tế, ví dụ khi số lượng sản phẩm tăng lên thì việc quy định chất lượng ở cấp cao hơn có thể trở thành kinh tế hơn, vì cùng một chi phí cố định (như chi phí quản lý) nhưng chi phí này được gánh bởi một số lượng sản phẩm nhiều hơn

1.9.2 Mối quan hệ giữa chất lượng, chi phí và thời gian xây dựng ở giai đoạn thi công và ở giai đoạn khai thác, sử dụng công trình:

Ba yếu tố này có quan hệ tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau Ký hiệu:

Hình 1.5: Quan hệ giữa thời gian xây dựng

chí phí đảm bảo chất lượng xây dựng.

Trang 39

b- Mối quan hệ giữa thời gian xây dựng công trình và chất lượng xây dựng công trình:

Hình 1.6: Quan hệ giữa thời gian và chất lượng xây dựng.

Đường  hình 1.6 thể hiện mối quan hệ giữa thời gian xây dựng và chất lượng xây dựng công trình Thời gian xây dựng tăng lên thì chất lượng xây dựng của kết cấu, của hạng mục hay của toàn công trình sẽ tăng lên Nhưng ta không thể tăng mãi thời gian xây dựng mà phải xác định thời gian xâydựng hợp lý để cân đối giữa chất lượng và chi phí

c- Mối quan hệ giữa chất lượng - Chi phí xây dựng công trình:

Hình 1.7: Quan hệ giữa chất lượng - chí phí

Q op – Chất lượng tối ưu; Cop – Chi phí tối ưu

Trang 40

Đường  là chi phí xây dựng công trình Đó là chi phí để tạo ra mức chất lượng khác nhau, chi phí càng cao thì chất lượng càng cao

Đường  là đường thể hiện mức độ chất lượng của sản phẩm, phản ánh chi phí phải khắc phục khuyết tật ở giai đoạn thi công như sửa lỗi, phá đi làm lại và chi phí duy tu, bảo dưỡng công trình trước hạn Nếu chất lượng tồi thì phải trả giá cho việc sửa chữa, khắc phục khuyết tật

Đường  là tổng hợp của hai đường trên thể hiện quan hệ giữa mức chất lượng và chi phí để tìm ra một đường hợp lý về chất lượng và chi phí

Trên đây là một số vấn đề lý luận chung về chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng Trong thực tế, việc quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng vẫn còn có rất nhiều vấn đề phức tạp, nóng bỏng mà các phương tiện thông tin đại chúng và thực tế mà chúng ta bắt gặp Để thấy được những vấn đề này, chúng ta xem xét tình hình quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng công trình giao thông trong giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng, những tồn tại và nguyên nhân

Ngày đăng: 20/07/2022, 08:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w