iii DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ THUẬT NGỮ Bộ chuyển đổi tín hiệu tương tự - số Bộ lọc băng thông Khóa dịch pha nhị phân Mã trải phổ C/A CDMA Code Division Multiple Access Đa truy cập
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Nghiên cứu kỹ thuật mô phỏng tín hiệu
định vị vệ tinh hiệu năng cao
PHẠM QUANG HIẾU Ngành: Kỹ thuật máy tính
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Đình Thuận
HÀ NỘI, 4/2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Nghiên cứu kỹ thuật mô phỏng tín hiệu
định vị vệ tinh hiệu năng cao
PHẠM QUANG HIẾU Ngành: Kỹ thuật máy tính
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguy ễn Đình Thuận
Trường: Công ngh ệ Thông tin và Truyền thông
HÀ N ỘI, 4/2022
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn TS Nguyễn Đình Thuận, Khoa Kỹ thuật máy tính Cảm ơn thầy đã tận tình chỉ bảo, trang bị những kiến thức chuyên môn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô của Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông cũng như các thầy cô của Đại học Bách Khoa Hà Nội đã định hướng và hỗ trợ cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu suốt 2 năm qua Và tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ ở trung tâm NAVIS, những người đã giúp đỡ và tao điều kiện tốt nhất cho tôi trong các nghiên cứu và thực nghiệm chuyên môn để hoàn thành luận văn này
Tôi xin cam đoan nội dung luận văn này là do tôi tìm hiểu, nghiên cứu và
thực hiện dưới sự định hướng của giảng viên hướng dẫn; các tài liệu tham khảo, trích dẫn có ghi rõ nguồn gốc
Ngày tháng năm 2022
Ph ạm Quang Hiếu
Trang 4i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ THUẬT NGỮ iii
DANH MỤC HÌNH VẼ v
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHIỆM VỤ 2
1.1 Đặt vấn đề 2
1.2 Phương hướng nghiên cứu và mục tiêu của luận văn 3
1.3 Phương pháp nghiên cứu 7
1.4 Tổng quan các bước tiến hành 7
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
2.1 Giới thiệu hệ thống định vị sử dụng vệ tinh GNSS 9
2.2 Tổng quan về hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System - GPS) 11
2.2.1 Giới thiệu chung 11
2.2.2 Cấu trúc của tín hiệu GPS và định dạng bản tin 12
2.2.3 Tính toán xác định vị trí vệ tinh 14
2.3 Các hệ quy chiếu 18
2.3.1 Hệ quy chiếu quán tính (i-frame) 18
2.3.2 Hệ quy chiếu Trái Đất (e-frame) 19
2.3.3 Hệ trắc địa địa phương (n-frame) 19
2.3.4 Hệ vật thể 20
2.4 Quá trình xử lý tín hiệu ở bộ thu 20
2.4.1 Frontend 21
2.4.2 Khối đồng bộ tín hiệu 22
2.4.3 Khối giải mã bản tin định vị 27
2.4.4 Khối tính toán vị trí 29
PHÁT TRIỂN BỘ MÔ PHỎNG GNSS 37
3.1 Mô hình mô phỏng tín hiệu GNSS 37
Trang 5ii
3.2 Thiết kế và xây dựng trình mô phỏng 38
3.3 Dữ liệu đầu vào trình mô phỏng 41
3.3.1 Các vệ tinh có thể nhìn thấy 41
3.3.2 Mô hình biên độ 43
3.3.3 Mô hình mã C/A 43
3.3.4 Bản tin định vị 44
3.3.5 Thời gian lan truyền tín hiệu và hiệu ứng Doppler 49
3.3.6 Mô hình nhiễu đồng hồ vệ tinh 51
3.3.7 Mô hình nhiễu tầng điện ly 52
3.3.8 Mô hình nhiễu tầng đối lưu 54
3.3.9 Các loại nhiễu không mô hình được 54
3.3.10 Bộ lọc 55
3.3.11 Lượng tử hóa 56
KỊCH BẢN THỬ NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 61
4.1 Mô hình thử nghiệm 61
4.2 Kết quả khai phá tín hiệu 62
4.3 Kết quả bám tín hiệu 63
4.4 Kết quả bước tính tọa độ 75
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA LUẬN VĂN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6iii
DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ THUẬT NGỮ
Bộ chuyển đổi tín hiệu tương tự - số
Bộ lọc băng thông
Khóa dịch pha nhị phân
Mã trải phổ C/A
CDMA Code Division Multiple Access
Đa truy cập theo mã
Biến đổi Fourier rời rạc
GLONASS Global Orbiting Navigation Satellite System
Hệ thống vệ tinh dẫn đường quỹ đạo toàn cầu của Nga
GNSS Global Navigation Satellite System
Hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu
Hệ thống định vị toàn cầu của Mỹ
Tần số trung gian
Mã giả ngẫu nhiên – Mã trải phổ cho mỗi vệ tinh
Vị trí – Vận tốc – Thời gian
QZSS Quasi-Zenith Satellite System
Hệ thống vệ tinh dẫn đường của Nhật Bản
Tần số sóng vô tuyến
Trang 7iv
Công nghệ vô tuyến xác định bằng phần mềm
Hàm lượng điện tử tổng cộng
Thời gian trong tuần (theo giây)
Trang 8v
DANH M ỤC HÌNH VẼ
Hình 1 Ki ểm thử thiết bị/bộ thu GPS ngoài hiện trường (live-sky) 3
Hình 2 Hướng tiếp cận dựa trên phần cứng: Trình mô phỏng tín hiệu 5
Hình 3 T ổng quan các bước thực hiện bài toán 8
Hình 4 Ki ến trúc hệ thống định vị sử dụng vệ tinh 9
Hình 5 Xác định vị trí bộ thu từ 4 vệ tinh 10
Hình 6 Tín hi ệu GPS và mã hóa 14
Hình 7 Các m ặt cầu xác định vị trí bộ thu 16
Hình 8 H ệ quy chiếu quán tính i-frame 19
Hình 9 H ệ e-frame và n-frame 20
Hình 10 H ệ gắn với vật thể b-frame 20
Hình 11 Ki ến trúc tổng quan của bộ thu định vị vệ tinh 21
Hình 12 Sơ đồ khối các thành phần của front-end 21
Hình 13 S ự không rõ ràng đối với việc dịch pha 180 0 24
Hình 14 Sơ đồ khối vòng lặp Costas 25
Hình 15 M ối quan hệ giữa các giá trị tương quan của 3 bản sao mã trải phổ 26
Hình 16 Sơ đồ khối code tracking 26
Hình 17 Định dạng từ mã TLM 27
Hình 18 Các tham s ố Keppler và quỹ đạo vệ tinh 29
Hình 19 V ị trí vệ tinh trên mặt phẳng quỹ đạo 30
Hình 20 Sai l ệch giữa thời gian hệ thống và thời gian của vệ tinh và bộ thu 32
Hình 21 Th ời gian truyền tín hiệu của các vệ tinh 33
Hình 22 Quá trình truy ền và xử lý tín hiệu ở front-end 37
Hình 23 T ổng quan mô hình mô phỏng tín hiệu GPS IF số hóa 38
Hình 24 Lưu đồ trình mô phỏng tín hiệu GPS IF bằng phần mềm 38
Hình 25 Lưu đồ khối mã hóa bản tin định vị 39
Hình 26 Lưu đồ khối tính toán nhiễu loạn môi trường và độ trễ lan truyền 41
Hình 27 Lưu đồ khối sinh tín hiệu số 41
Hình 28 D ữ liệu ephemeris 42
Hình 29 Mô hình sinh mã C/A 44
Hình 30 Định dạng dữ liệu định vị GPS 45
Trang 9vi
Hình 31 C ấu trúc của một khung phụ 45
Hình 32 Định dạng từ mã TLM và HOW 46
Hình 33 Giá tr ị Z-count trong từ mã HOW 48
Hình 34 Ảnh hưởng của vòng quay Trái Đất đến việc truyền tín hiệu 49
Hình 35 V ị trí vệ tinh và bộ thu trong hệ ECEF 50
Hình 36 Mô hình SPHA mô ph ỏng tầng điện ly 53
Hình 37 Độ lớn của bộ lọc băng thông và đáp ứng pha 55
Hình 38 Tín hi ệu GPS IF trước và sau khi lọc 56
Hình 39 Tín hi ệu GPS IF lượng tử hóa 1 bit trong miền thời gian và tần số 57
Hình 40 Chi ến lược lượng tử hóa 2 bit 58
Hình 41 Độ lợi chuyển đổi A/D trong nhiễu Gaussian 59
Hình 42 Tín hi ệu GPS IF lượng tử hóa 2 bit trong các miền thời gian và tần số60 Hình 43 Các v ệ tinh bộ thu mềm phát hiện được từ dữ liệu mô phỏng 62
Hình 44 V ị trí của các vệ tinh đối với bộ thu mềm 63
Hình 45 K ết quả bám tín hiệu vệ tinh PRN 3 64
Hình 46 Tương quan giữa các thành phần mã “đúng”, mã “sớm” 64
Hình 47 K ết quả bám tín hiệu vệ tinh PRN 5 65
Hình 48 K ết quả bám tín hiệu vệ tinh PRN 6 66
Hình 49 K ết quả bám tín hiệu vệ tinh PRN 10 66
Hình 50 K ết quả bám tín hiệu vệ tinh PRN 20 67
Hình 51 K ết quả bám tín hiệu vệ tinh PRN 24 67
Hình 52 𝐶𝐶𝐶𝐶0 mô phỏng và 𝐶𝐶𝐶𝐶0 bộ thu tính được của vệ tinh PRN 3 68
Hình 53 𝐶𝐶𝐶𝐶0 mô phỏng và 𝐶𝐶𝐶𝐶0 bộ thu tính được của vệ tinh PRN 5 68
Hình 54 𝐶𝐶𝐶𝐶0 mô phỏng và 𝐶𝐶𝐶𝐶0 bộ thu tính được của vệ tinh PRN 6 69
Hình 55 𝐶𝐶𝐶𝐶0 mô phỏng và 𝐶𝐶𝐶𝐶0 bộ thu tính được của vệ tinh PRN 10 69
Hình 56 𝐶𝐶𝐶𝐶0 mô phỏng và 𝐶𝐶𝐶𝐶0 bộ thu tính được của vệ tinh PRN 20 69
Hình 57 𝐶𝐶𝐶𝐶0 mô phỏng và 𝐶𝐶𝐶𝐶0 bộ thu tính được của vệ tinh PRN 24 70
Hình 58 S ự khác biệt giữa giả khoảng cách bộ thu tính được và giả khoảng cách trong bước sinh tín hiệu (chuẩn hóa theo vệ tinh PRN 20) 71
Hình 59 K ết quả giải điều chế của vệ tinh PRN 3 72
Hình 60 K ết quả giải điều chế của vệ tinh PRN 5 72
Trang 10vii
Hình 61 K ết quả giải điều chế của vệ tinh PRN 6 73
Hình 62 K ết quả giải điều chế của vệ tinh PRN 10 73
Hình 63 K ết quả giải điều chế của vệ tinh PRN 20 74
Hình 64 K ết quả giải điều chế của vệ tinh PRN 24 74
Hình 65 V ị trí bộ thu tính được với tín hiệu mô phỏng 75
Hình 66 Kho ảng cách giữa vị trí trong dữ liệu mô phỏng so với vị trí bộ thu tính được 76
Trang 11viii
DANH M ỤC CÁC BẢNG
B ảng 1 So sánh cách tiếp cận hướng phần cứng và cách tiếp cận hướng phần
m ềm trong việc xây dựng trình mô phỏng tín hiệu định vị GPS/GNSS 6
B ảng 2 Các phân khung của tín hiệu vệ tinh GPS 13
B ảng 3 Các tham số Keppler 30
B ảng 4 Phương trình mã hóa chẵn lẻ 47
B ảng 5 Các trường dữ liệu ephemeris 48
B ảng 6.Các tham số đầu vào trình mô phỏng 61
Trang 121
L ỜI MỞ ĐẦU
Các công nghệ định vị sử dụng hệ thống vệ tinh dẫn đường GNSS bắt đầu
đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực ứng dụng khác nhau như: điều
hướng, hàng không, hậu cần, vận tải, cho cả mục đích dân sự và quân sự Điều đó
tạo ra nhu cầu kiểm thử tính chính xác cũng như hiệu năng của các bộ thu định vị
sử dụng vệ tinh trong các điều kiện nhất định
Các thử nghiệm thông thường sử dụng tín hiệu thu trực tiếp gặp nhiều khó
khăn trong quá trình thực hiện Các thử nghiệm này chỉ có thể cung cấp các
thông tin hạn chế vì tín hiệu thu trực tiếp rất dễ bị thay đổi và không thể tái hiện
môi trường thu tín hiệu thống nhất giữa các thử nghiệm Những hạn chế này có
thể giải quyết với một trình mô phỏng tín hiệu dựa trên công nghệ vô tuyến điều
khiển bằng phần mềm (Software-Defined Radio – SDR) Trình mô phỏng tín
hiệu GPS tạo ra các tín hiệu tương tự như các tín hiệu được truyền bởi các vệ tinh
GPS, vì vậy bộ thu xử lý chúng theo cùng một cách như tín hiệu thật Ưu điểm
của cách tiếp cận này là tập hợp tín hiệu cụ thể có thể được cung cấp cho bộ thu
không giới hạn số lần Bên cạnh đó, việc thiết lập, cấu hình lại các tham số môi
trường có thể thực hiện một cách dễ dàng mà không cần can thiệp quá nhiều tới
phần cứng, dẫn tới giảm thiểu chi phí cũng như thời gian triển khai
Kết quả của luận văn đã đạt được những yêu cầu đề ra Cụ thể: tạo được
các thành phần tín hiệu, điều chế tín hiệu từ các thành phần trên, tính toán và so
sánh các kết quả trung gian của các bước mô phỏng với quá trình xử lý dữ liệu ở
bộ thu Tuy nhiên, sai số của kết quả mô phỏng vẫn còn lớn, mặc dù vẫn nằm
trong phạm vi chấp nhận được; tốc độ tính toán vẫn còn chậm
Trang 13vực được hưởng lợi nhiều nhất từ các hệ thống định vị của các nước trên thế giới Bên cạnh các nhân khách quan, Chính phủ và các cơ quan Bộ/Ban/Ngành, trung tâm nghiên cứu ở Việt Nam cũng quan tâm và đầu tư để biến công nghệ định vị
sử dụng vệ tinh thành công nghệ hữu ích phục vụ trực tiếp cho đời sống xã hội
Về mặt thực tiễn, công nghệ định vị sử dụng vệ tinh đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực trong đó điển hình là lĩnh vực xây dựng, trắc địa, đo đạc và đặc biệt là lĩnh vực quản lý giao thông Trong những năm gần đây, khi Mạng lưới các trạm cải chính GNSS hoạt động liên tục (CORS network) – do Cục Đo đạc
và Bản đồ Việt Nam đưa vào hoạt động, thì nhu cầu về việc kiểm định các bộ thu GNSS đủ chất lượng, phục vụ cho tính pháp lý của công tác đo đạc, xây dựng
bản đồ sử dụng GNSS còn cấp thiết hơn nữa Vì vậy, việc nắm bắt, làm chủ công nghệ và chế tạo các bộ sinh tín hiệu GNSS mô phỏng có ý nghĩa đặc biệt trong
việc kiểm định, và chứng nhận chất lượng của các thiết bị thu GNSS
Với trình mô phỏng, các tín hiệu giả lập được sinh ra với các tham số khác nhau và có thể tùy chỉnh Qua đó, dễ dàng tạo ra các tín hiệu giả lập với vị trí, tốc
độ và thời gian do người sử dụng đưa vào Các tín hiệu này được các bộ thu GNSS tiếp nhận và xử lý không khác gì với tín hiệu thiết bị thu trực tiếp từ hiện trường Trong nhiều trường hợp, các điều kiện thử nghiệm rất khó tạo lại trong điều kiện môi trường thực Giả sử chúng ta muốn kiểm thử các hiệu năng của các
bộ thu GPS đặt trên máy bay ở tốc độ cao Sẽ không hiệu quả về mặt chi phí nếu cách duy nhất mà chúng ta có thể thực hiện thử nghiệm là sử dụng trên máy bay
thật Thay vào đó, chúng ta có thể có được các điều kiện kiểm tra tương tự đối
với tín hiệu GPS bằng cách sử dụng trình mô phỏng với các thông số chuyển động của máy bay Vì vậy, các bài toán kiểm định hoàn toàn có thể được thực
hiện tại chỗ, đảm bảo nâng cao hiệu suất công việc, vừa nâng cao chất lượng của
việc kiểm định, và đặc biệt, phương pháp này phù hợp với việc triển khai hàng
Trang 143
loạt và định kỳ (tại đơn vị kiểm định, và tại chính đơn vị sản xuất/phân phối thiết
bị GNSS)
1.2 P hương hướng nghiên cứu và mục tiêu của luận văn
Do tầm quan trọng của các hệ thống GNSS nên kiến trúc tín hiệu của các
hệ thống này liên tục được cập nhật và cải tiến để tăng cường an toàn và an ninh định vị Điều này đòi hỏi kiến trúc của các bộ thu phát cũng phải được cập nhật
và bổ sung nhanh chóng Vì vây, việc xây dựng bộ mô phỏng tín hiệu định vị vệ tinh dựa trên công nghệ vô tuyến điều khiển bằng phần mềm (SDR) sẽ khắc phục được những hạn chế của kiến trúc phần cứng
Ưu điểm của trình mô phỏng trong nghiên cứu tín hiệu định vị vệ tinh và ki ểm thử thiết bị GNSS
Để thực hiện kiểm định các thiết bị sử dụng công nghệ định vị GNSS, trên
thế giới sử dụng 3 phương pháp sau:
kết nối vào ăng-ten để thu tín hiệu và quan sát kết quả như Hình 1
Hình 1 Ki ểm thử thiết bị/bộ thu GPS ngoài hiện trường (live-sky)
Trang 154
Tuy nhiên, trong kiểm thử này, có rất ít tham số mà người dùng có thể
kiểm soát được Mặc dù có thể chọn vị trí vật lý của ăng-ten thử nghiệm, chúng
ta không thể hiệu chỉnh được thời gian, các can nhiễu đến bộ thu hay điều chỉnh tín hiệu vệ tinh, lỗi, dữ liệu định vị, quỹ đạo bộ thu,… Do đó, việc thiết kế các
kịch bản thử nghiệm là rất khó khăn, vì không thể lặp lại hay thiết lập các thông
số môi trường theo ý muốn
Phương pháp thứ hai là kiểm thử bằng thu và phát lại tín hiệu vệ tinh Ưu điểm của phương pháp này là chúng ta có thể lặp lại điều kiện thử nghiệm Tuy nhiên, các nhược điểm tương tự phương pháp kiểm thử hiện trường vẫn còn do
vẫn phụ thuộc vào môi trường thu tín hiệu Hơn nữa, một số bộ thu có sự đồng
bộ về thời gian sẽ không thể thực hiện kiểm thử bằng phương pháp này
Phương pháp sử dụng trình mô phỏng sẽ khắc phục được những nhược điểm của hai phương pháp trên Với khả năng mô phỏng chùm vệ tinh quan sát được, mỗi kịch bản thử nghiệm có thể được chạy với các tín hiệu giống hệt nhau
Kịch bản sẽ bắt đầu với cùng một thời điểm, vị trí vệ tinh giống hệt nhau – thậm chí cùng độ lệch pha tương đối giữa các tín hiệu vệ tinh khác nhau Bằng cách này, chúng ta có thể đảm bảo rằng bộ thu đang thu tín hiệu chính xác như nhau trong mỗi lần chạy thử Ngoài ra, sử dụng bộ mô phỏng cho phép kiểm thử một
số lượng lớn các thiết bị cùng lúc, cũng như giả lập lại được vị trí và môi trường truyền sóng
Tình hình nghiên c ứu và ứng dụng các trình mô phỏng tín hiệu định vị vệ tinh GPS/GNSS
Công nghệ chế tạo trình mô phỏng tín hiệu định vị nằm trong cùng xu hướng phát triển của công nghệ chế tạo các bộ thu phát Hiện nay, công nghệ chế
tạo các hệ thống này có hai hướng tiếp cận: phần cứng và phần mềm Trong đó, hướng tiếp cận phần cứng là hướng tiếp cận truyền thống, các thành phần xử lý tín hiệu sẽ được thực hiện hoàn toàn bằng phần cứng Một số trung tâm nghiên
cứu và công ty lớn trên thế giới đã thương mại hóa các trình mô phỏng tín hiệu
dựa trên hướng tiếp cận phần cứng như Spirent, iFen, Skydel,…
Trang 165
i Fen NCS TITAN ≈$50k Spirent GSS9000 $42k Xidus-648 $40k Hình 2 Hướng tiếp cận dựa trên phần cứng: Trình mô phỏng tín hiệu
định vị vệ tinh GPS/GNSS thương mại
Hình 2 là một số trình mô phỏng dựa trên hướng tiếp cận phần cứng được thương mại hóa Các thiết bị phần cứng thương mại trên có ưu điểm là hiệu năng cao, được thiết kế chuyên dụng xử lý đa kênh, đa tần số Tuy nhiên, giá thành của các thiết bị này tương đối cao từ vài chục cho đến vài trăm nghìn đô (khoảng 1-2
tỉ đồng), phụ thuộc vào cấu hình của nhà sản xuất khi muốn mở rộng thử nghiệm, thiết kế các kịch bản nghiên cứu mới
Trong khi đó, với hướng tiếp cận bằng phần mềm (software defined radio – SDR) đã trở thành mục tiêu phát triển của các ngành công nghiệp sử dụng sóng
vô tuyến trong những năm gần đây Nguồn gốc cho sự phát triển của SDR là kết
quả của một thời gian dài cải tiến các công nghệ lạc hậu ban đầu để phù hợp cho
việc ứng dụng sức mạnh của các chip xử lý ngày nay Công nghệ SDR là một
phần kiến trúc phần cứng kết hợp phần mềm để thực hiện xử lý các tín hiệu vô tuyến thu được trong không gian chính sự kết hợp này đã cho phép người dùng tùy biến phần cứng thu/phát sóng vô tuyến thành những thiết bị đa dạng
Trang 176
B ảng 1 So sánh cách tiếp cận hướng phần cứng và cách tiếp cận hướng phần
m ềm trong việc xây dựng trình mô phỏng tín hiệu định vị GPS/GNSS
Hướng phần cứng Hướng phần mềm
Cách tiếp cận truyền thống dựa trên
phần cứng trong phát triển trình mô
phỏng
Cách tiếp cận mới, sử dụng công nghệ SDR
Hệ thống đầy đủ, tinh vi, với các kịch
bản mô phỏng phức tạp
Hiệu năng phụ thuộc vào năng lực tính toán của vi xử lý (có thể dùng GPU để tăng tốc xử lý)
Số kênh tín hiệu mô phỏng lớn (ví dụ:
160 kênh của Spirent)
Số kênh tín hiệu nhỏ hơn
Phát tín hiệu theo thời gian thực hoặc
thu phát lại
Phát tín hiệu thời gian thực là thách
thức (GPU là giải pháp) Thách thức trong cập nhật các tín hiệu,
các kịch bản mô phỏng mới
Dễ dàng trong cập nhật các tín hiệu, các kịch bản mô phỏng mới
Các hãng tiêu biểu: Spirent, iFen,
ELTA…
Các hãng tiêu biểu: Skydel, iFen,…
Từ Bảng 1 có thể thấy, những nhược điểm của công nghệ SDR đã được
khắc phục bằng việc tận dụng năng lực xử lý của CPU và GPU thế hệ mới Bên
cạnh đó, tính linh hoạt trong việc cập nhật kiến trúc xử lý tín hiệu mà không cần thay thế thiết bị đã giúp giảm đáng kể chi phí cũng như đảm bảo tính linh hoạt trong phát triển hệ thống Do đó, việc lựa chọn phát triển trình mô phỏng dựa trên công nghệ SDR đang là xu hướng chung của các hãng sản xuất trình mô
phỏng trên thế giới
Căn cứ trên tình hình thực tiễn về nhu cầu và khả năng làm chủ công nghệ, tôi đề xuất phát triển bộ mô phỏng tín hiệu định vị vệ tinh sử dụng công nghệ vô tuyến điều khiển bằng phần mềm phục vụ việc kiểm định và đánh giá các thiết bị định vị vệ tinh với mục tiêu sau:
Trang 187
• Làm chủ công nghệ vô tuyến điều khiển bằng phần mềm Defined Radio – SDR) trong phát triển các trình mô phỏng tín hiệu GPS/GNSS
(Software-• Nghiên cứu, xây dựng và thử nghiệm trình mô phỏng tín hiệu định vị vệ tinh GPS/GNSS
Để mô phỏng được tín hiệu định vị sử dụng vệ tinh GNSS nói chung, đặc
biệt là tín hiệu GPS nói riêng, ta cần hiểu được quá trình thu và xử lý tín hiệu ở
bộ thu định vị Việc này là cơ sở để nghiên cứu và thiết kế các bước của quá trình
mô phỏng, đảm bảo bộ thu thu và xử lý tín hiệu mô phỏng tương tự như đối với tín hiệu thật
1.3 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết về công nghệ vô tuyến điều khiển bằng phần mềm (SDR)
- Nghiên cứu lý thuyết xử lý tín hiệu định vị vệ tinh ở bộ thu GPS/GNSS
- Đề xuất và xây dựng mô hình mô phỏng tín hiệu định vị vệ tinh GPS
- Thử nghiệm và so sánh các kết quả mô phỏng với các kết quả tính được từ
bộ thu GPS để đánh giá chất lượng trình mô phỏng
1.4 T ổng quan các bước tiến hành
Quá trình thực hiện gồm 2 giai đoạn chính (Hình 3):
Giai đoạn 1: Nghiên cứu và xây dựng trình sinh tín hiệu mô phỏng GPS IF
từ các tham số đầu vào:
- Cấu hình: các thông số của tín hiệu vô tuyến và frontend của bộ thu GPS
- Vị trí người dùng: tọa độ của người dùng (bộ thu GPS)
- Tệp tin Ephemeris/Almanac: các thông tin về quỹ đạo và đồng hồ vệ tinh GPS
Giai đoạn 2: Kiểm tra, đánh giá tín hiệu mô phỏng được bằng bộ thu mềm GNSS-SDR
Trang 198
Hình 3 T ổng quan các bước thực hiện bài toán
Trình mô phỏng tín hiệu được xây dựng bằng ngôn ngữ lập trình
MATLAB và một số thư viện toán học có sẵn Từ Hình 3, đầu ra của trình mô
phỏng là tín hiệu mô phỏng GPS IF dạng số hóa sẽ được lưu xuống đĩa cứng và được sử dụng làm đầu vào của bộ thu mềm GNSS-SDR Bộ thu mềm GNSS-
SDR sử dụng trong luận văn là mã nguồn mở đính kèm sách: Kai Borre, Dennis
M Akos, Nicolaj Bertelsen, Perter Rinder, “A Software-defined GPS and Galileo Receiver A Single-Frequency Approach”, ISBN: 978-0-8176-4390-4, 2006 Các
dữ liệu trích xuất được từ bộ thu mềm so sánh với các tham số đầu vào của trình
mô phỏng để đánh giá chất lượng tín hiệu, hiệu năng và độ chính xác của trình
mô phỏng
Trang 209
C Ơ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Gi ới thiệu hệ thống định vị sử dụng vệ tinh GNSS
Từ xa xưa, con người đã biết được tầm quan trọng của định vị dẫn đường
Vì thế nhiều phương pháp định vị đã ra đời, từ nhưng phương pháp đơn giản như định vị dựa vào những cột mốc có sẵn cho đến những phương pháp khoa học và chính xác hơn như quan sát biến động của các dòng hải lưu, thiên văn, sử dụng la bàn và các công cụ đo lường khác Tuy nhiên các phương pháp này có nhiều hạn
chế như độ phức tạp tính toán cao, thiếu chính xác và độ tin cậy thấp Cùng với
sự phát triển của khoa học và công nghệ, phương pháp định vị vệ tinh ra đời, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực kinh tế và xã hội Về dân
sự, định vị vệ tinh được sử dụng cho việc xác định vị trí, dẫn đường, tìm đường hay phục vụ cho các ứng dụng bản đồ số trên điện thoại thông minh Đối với quân sự, định vị vệ tinh làm nhiệm vụ dẫn đường cho các thiết bị không người lái hay cho quân đội tác chiến ở nhưng nơi không thể sử dụng trạm mặt đất như đường biển Từ thực tế đó, các hệ thống định vị vệ tinh đang hoạt động như GPS
và GLONASS đang dần được nâng cấp và cải tiến để phục vụ nhu cầu hiện nay Bên cạnh đó, các nước châu Âu và Trung Quốc cũng xây dựng những hệ thống
của riêng mình như Galileo và Beidou
Hình 4 Ki ến trúc hệ thống định vị sử dụng vệ tinh
Trang 2110
Một hệ thống định vị sử dụng vệ tinh toàn cầu (GNSS) thông thường gồm
có các thành phần (Hình 4):
• Thành phần không gian (Space segment): là hệ thống các vệ tinh trên
quỹ đạo làm nhiệm vụ quảng bá tín hiệu định vị cho người dùng toàn cầu
• Thành phần điều khiển (Control segment): là hệ thống các trạm mặt đất
có chức năng giám sát, điều khiển các vệ tinh và đảm bảo các vệ tinh hoạt động
ổn định, chính xác
• Thành phần người dùng (User segment): là các bộ thu của người dùng đầu cuối
Hệ thống GNSS hoạt động như sau: các bộ thu định vị nhận dữ liệu phát
từ vệ tinh, sau đó tiến hành giải điều chế, giải mã ra các bản tin định vị Từ dữ
liệu giải mã được, bộ thu tính toán ra vị trí của vệ tinh và khoảng cách từ vệ tinh
với bộ thu dựa trên thời gian truyền tín hiệu Vị trí của bộ thu được xác định là giao điểm của các mặt cầu với tâm là các vệ tinh, bán kính là khoảng cách từ vệ tinh tới bộ thu như Hình 5 Để có thể xác định được vị trí của bộ thu trong không gian 3 chiều, cần phải thu được tín hiệu từ ít nhất 3 vệ tinh Tuy nhiên, thực tế
cần đến tối thiểu 4 vệ tinh do độ lệch giữa đồng hồ bộ thu và đồng hồ vệ tinh
Hình 5 Xác định vị trí bộ thu từ 4 vệ tinh
Bên cạnh việc xác định vị trí, ta có thể xác định được vận tốc cũng như hướng chuyển động của bộ thu Ngoài ra hệ thống vệ tinh còn có một ứng dụng quan trọng khác là cung cấp thời gian chuẩn cho toàn thế giới dựa trên các đồng
hồ nguyên tử với độ chính xác rất cao được đặt trên các vệ tinh
Trang 2211
Trong luận văn thực hiện nghiên cứu và mô phỏng tín hiệu của hệ thống vệ tinh GPS Tổng quan về hệ thống cũng như cấu trúc bản tin định vị của GPS được trình bày trong các phần dưới đây
2.2 T ổng quan về hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System - GPS)
2.2.1 Gi ới thiệu chung
GPS (Global Positioning System) là hệ thống định vị vị trí dựa trên hệ
thống các vệ tinh được phát triển bởi bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ Từ khi mới đưa vào thử nghiệm cho đến nay đã trải qua nhiều thế hệ vệ tinh Mỗi thế hệ vệ tinh
lại có những cải tiến nhất định để tăng khả năng hoạt động liên tục, ổn định của
hệ thống GPS sử dụng một nhóm từ 24 đến 32 vệ tinh bay ở quỹ đạo Medium Earth Orbit (MEO 2000 km đến 35 768 km) quay quanh Trái Đất và phát tín hiệu đến bộ thu nhằm xác định vị trí, vận tốc và thời gian của chúng Việc truy cập tới tín hiệu GPS là miễn phí đối với mọi người dùng, kể cả người dùng từ các quốc gia khác và được dùng cho cả mục đích dân sự và quân sự Các số liệu định vị và định thời gian được sử dụng cho vô số những ứng dụng khác nhau, bao gồm: hàng không, đất liền và hàng hải, theo dõi các phương tiện giao thông trên bộ, tàu
biển, điều tra khảo sát và vẽ bản đồ, quản lý tài sản và tài nguyên thiên nhiên
Như các hệ thống GNSS khác, hệ thống GPS gồm 3 thành phần chính:
Phần điều khiển (Control Segment), phần không gian (Space Segment) và phần người dùng (User Segment) Mục đích của phần điều khiển là kiểm soát hoạt động của các vệ tinh đảm bảo các vệ tinh đi đúng theo quỹ đạo và thông tin thời gian chính xác bởi các trạm kiểm soát Các trạm kiểm soát được đặt rải rác trên Trái Đất Phần điều khiển gồm 5 trạm kiểm soát: 4 trạm kiểm soát hoạt động một cách tự động (Monitor Station) và một trạm kiểm soát trung tâm (Master Control Station) Bốn trạm kiểm soát tự động giám sát các tín hiệu nhận được từ các vệ tinh và gửi thông tin này đến trạm kiểm soát trung tâm Tại trạm kiểm soát trung tâm, trạm tiến hành sửa những thông tin không chính xác và kết hợp với hai ăng-ten khác để gửi lại thông tin cho các vệ tinh Ngoài ra, hệ thống còn có một trạm
kiểm soát trung tâm dự phòng và 6 trạm quan sát chuyên biệt
Trang 2312
Phần không gian GPS bao gồm 24 vệ tinh (21 vệ tinh hoạt động và 3 vệ tinh dự phòng) nằm trên các quỹ đạo chung quanh Trái Đất mỗi 12h ở độ cao 12.000 dặm với vận tốc 7000 dặm/h phân phối đều trên 6 mặt phẳng quỹ đạo nghiêng với xích đạo một góc 55𝑜𝑜 Với độ cao này cho phép tín hiệu bao phủ
một diện tích lớn Các vệ tinh được bố trí theo một quỹ đạo nhất định để một bộ thu GPS bất kì trên mặt đất có thể nhận được tín hiệu từ ít nhất 4 vệ tinh tại bất kì
thời điểm nào
Mỗi vệ tinh phát hai tần số sóng mang với tần số L1=1575.42 MHz và L2=1227.60 MHz Sóng này được phát ra dựa trên cơ sở dãy số ngẫu nhiên bao
gồm các số 0 và 1 Mã này được gọi là mã P (Precise) Bên cạnh đó sóng mang
tần số L1 còn mang thêm sóng mã C/A (Coarse/Acquisition) Mã C/A được phát
đi ở hai tần số 10.23 MHz và 1.023 MHz Ngoài hai mã trên vệ tinh còn phát mã
phụ có tần số 50 Hz chứa thông tin về lịch hoạt động và sức khỏe của các vệ tinh
Phần người dùng bao gồm các bộ thu tín hiệu GPS từ vệ tinh trên đất liền, máy bay và tàu thủy Các bộ thu này phân làm 2 loại: bộ thu 1 tần số và bộ thu 2
tần số Bộ thu 1 tần số chỉ nhận được các mã phát đi với sóng mang L1 Bộ thu 2
tần số nhận được các mã phát đi với cả 2 sóng mang L1 và L2
Phần người dùng GPS bao gồm 3 thành phần chính:
• Phần cứng: bao gồm các bộ thu mạch điện tử, các bộ dao động tần số
vô tuyến các ăng-ten và các thiết bị ngoại vi cần thiết cho hoạt động của bộ thu
• Phần mềm: những chương trình máy tính dùng để xử lý dữ liệu cụ thể, chuyển đổi những thông báo GPS thành thông tin định vị hoặc dẫn đường
• Phần triển khai công nghệ: cải tiến thiết kế bộ thu, phân tích và mô hình hóa hiệu ứng của các ăng-ten khác nhau, hiệu ứng truyền sóng và sự phối hợp
của chúng trong phần mềm xử lý
2.2.2 C ấu trúc của tín hiệu GPS và định dạng bản tin
Tín hiệu GPS được truyền đi trên hai tần số vô tuyến trên băng tần UHF là L1 và L2 Băng tần UHF bao gồm các dải tần từ 500 MHz đến 3 GHz Các tần số L1 và L2 có nguồn gốc từ một tần số chung là 𝑓𝑓0 = 10.23 𝑀𝑀𝑀𝑀𝑀𝑀
𝑓𝑓𝐿𝐿1 = 154𝑓𝑓0 = 1575.42 𝑀𝑀𝑀𝑀𝑀𝑀
𝑓𝑓𝐿𝐿2 = 120𝑓𝑓0 = 1227.60 𝑀𝑀𝑀𝑀𝑀𝑀
Trang 2413
Các tín hiệu được tạo thành từ 3 thành phần sau:
• Sóng mang: sóng mang có tần số 𝑓𝑓𝐿𝐿1 hoặc 𝑓𝑓𝐿𝐿2
• Dữ liệu dẫn đường: dữ liệu dẫn đường chứa các thông tin về quỹ đạo
của vệ tinh Thông tin này được tải lên tất cả các vệ tinh từ trạm mặt đất Các dữ
liệu định vị có tốc độ bit là 50bps
• Mã truyền đi: mỗi vệ tinh có hai mã truyền tải (code) đặc trưng là mã P(Y) và mã C/A Mã C/A là một chuỗi 1023 chip (1 chip tương ứng với 1 bit Nó thường được gọi là chip để nhấn mạnh rằng nó không chứa bất kì thông tin nào)
Mã này được lặp đi lặp lại mỗi ms với tốc độ 1.023 MHz Mã P dài hơn (≈2.35 ∗ 1024 𝑐𝑐ℎ𝑖𝑖𝑖𝑖) với tốc độ chip là 10.23 MHz Nó tự lặp lại mỗi tuần theo
tuần của GPS bắt đầu vào thứ bảy/nửa đêm chủ nhật Mã C/A được điều biến trên sóng mang L1 trong khi mã P được điều biến trên cả hai sóng mang L1 và L2
a Định dạng gói tin
Gói tin được gửi đi từ các vệ tinh đến điểm nhận tin (bộ thu GPS) bao
gồm các thông tin: tọa độ, trạng thái của đồng hồ, tình trạng sức khỏe của mạng lưới Gói tin được mã hóa và truyền trên 2 định dạng: dân dụng (C/A – thô) và quân dụng (P(Y) – chính xác)
Kích thước: 1 gói tin gồm 25 khung, mỗi khung chia làm 5 khung phụ,
mỗi khung phụ có 10 từ mã dài 30 bit: 1500 bit/khung Dẫn đến ta có 37500 bit/tin Với tốc độ truyền là 50 bit/s nên cần 750s để truyền tải toàn bộ gói tin
B ảng 2 Các phân khung của tín hiệu vệ tinh GPS
1 Đồng hồ vệ tinh Cho biết tình trạng của vệ tinh
2,3 Lịch thiên văn Quỹ đạo chính xác của vệ tinh
Trang 2514
giả ngẫu nhiên (PRN) dài 1023 bit, tốc độ truyền: 1.023 Mbit/s, lặp lại sau 1ms
Mã này còn gọi là mã Gold Mỗi vệ tinh có một mã Gold riêng, phân biệt với các
vệ tinh khác Vì vậy, nó dùng để ghép kênh theo mã (CDMA)
Tín hiệu GPS được điều chế theo phase nhị phân BPSK Trải phổ trực tiếp (DSSS – Direct Sequence Spread Spectrum)
Hình 6 Tín hi ệu GPS và mã hóa
Sóng mang có 2 loại L1 (10.23 MHz × 154) dùng trong dân sự, và L2 (10.23 MHz × 120) kết hợp với L1 dùng trong quân sự Ở đây ta chỉ xét loại L1 dùng mã C/A dân dụng Tín hiệu dữ liệu và mã Gold là xung có 2 mức +1 và -1 Ghép kênh trải phổ trực tiếp (DSSS – Direct Sequence Spread Spectrum) nhân
mã hóa tín hiệu mang dữ liệu cần truyền với mã Gold tạo thành tín hiệu trước khi điều chế Thời gian của một xung trong mã PRN được gọi là 1 chip (𝑇𝑇𝑐𝑐) Điều
chế phase nhị phân (BPSK – Binary Phase Shift Keying) thực hiện nhân sóng mang với tín hiệu trước điều chế, tức là dịch phase sóng mang nửa chu kỳ khi
Giả thiết tín hiệu truyền với vận tốc ánh sáng c, thời gian gửi tin đo trên vệ tinh i
là 𝑡𝑡𝑖𝑖, thời gian nhận tin đo tại điểm nhận tin là 𝑡𝑡𝑟𝑟 (giả sử các giá trị này là chính
Trang 2615
xác) thì ta tính được khoảng cách từ vệ tinh đến điểm nhận tin, gọi là khoảng cách giả (pseudorange):
𝜌𝜌𝑖𝑖 = (𝑡𝑡𝑟𝑟 − 𝑡𝑡𝑖𝑖)𝑐𝑐
Thực tế, thời gian gửi tin với thời gian nhận tin đo được có sai số:
𝑇𝑇𝑖𝑖 = 𝑡𝑡𝑖𝑖 + 𝑏𝑏𝑖𝑖: thời điểm gửi tin thực tế
𝑇𝑇𝑟𝑟 = 𝑡𝑡𝑟𝑟 + 𝑏𝑏𝑟𝑟: thời điểm nhận tin thực tế
𝑏𝑏𝑖𝑖, 𝑏𝑏𝑖𝑖: độ sai lệch của điểm nhận tin và của vệ tinh so với thời gian của hệ
thống nên khoảng cách thực phải là:
𝑅𝑅𝑖𝑖 = (𝑇𝑇𝑟𝑟 − 𝑇𝑇𝑖𝑖)𝑐𝑐 Trên thực tế, các phép đo luôn tồn tại sai số do sự không đồng bộ giữa đồng hồ bên thu và bên phát, nhiễu trên đường truyền GPS là truyền thông vệ tinh qua các tầng khí quyển nên tồn tại độ trễ do tầng đối lưu và tầng điện ly gây
ra Nên giả khoảng cách tính theo công thức sau:
𝜌𝜌 = 𝑃𝑃 + 𝑑𝑑𝑃𝑃 + 𝑐𝑐(𝑑𝑑𝑡𝑡 − 𝑑𝑑𝑇𝑇) + 𝑑𝑑𝑖𝑖𝑜𝑜𝑖𝑖 + 𝑑𝑑𝑡𝑡𝑟𝑟𝑜𝑜𝑡𝑡+ 𝜀𝜀𝜌𝜌
Trong đó:
𝜌𝜌: là giả khoảng cách; P: là khoảng cách thật
dP: là sai số quỹ đạo của vệ tinh;
và bộ thu (m/s); 𝑑𝑑𝑃𝑃̇ – trôi dạt quỹ đạo vệ tinh; 𝑑𝑑𝑡𝑡̇ – trôi dạt đồng hồ vệ tinh; 𝑑𝑑𝑇𝑇̇ – trôi dạt đồng hồ bộ thu; 𝑑𝑑𝚤𝚤𝑜𝑜𝑖𝑖̇ – độ trễ do tầng điện ly; 𝑑𝑑𝑡𝑡𝑟𝑟𝑜𝑜𝑡𝑡̇ – độ trễ do tầng đối lưu; 𝜀𝜀𝜌𝜌̇ – nhiễu đo lường và tốc độ thay đổi của nhiễu đa đường
Trang 2716
b Tính toán xác định vị trí bộ thu
Để xác định được vị trí của một điểm trong không gian 3 chiều, ta dựng 4
mặt cầu giao nhau Vì vậy, ta cần 4 vệ tinh để xác định được vị trí của bộ thu:
Hình 7 Các m ặt cầu xác định vị trí bộ thu
Mặt cầu thứ 4 sẽ xác định được vị trí bộ thu cần tìm trong 2 điểm giao của
3 mặt cầu kia Nhưng trên thực tế do sai số, khoảng cách giả được tính toán khác
với khoảng cách thực nên mặt cầu thứ 4 có khả năng không đi qua điểm nào trong 2 điểm giao đã xác định ở trên Sai số 1 dẫn đến sai số không gian là 300m
Dựa vào bản tin mà vệ tinh i gửi, bộ thu sẽ biết được các tham số tọa độ
của vệ tinh i (𝑥𝑥𝑖𝑖, 𝑦𝑦𝑡𝑡, 𝑀𝑀𝑖𝑖) và thời điểm bộ thu nhận được bản tin là 𝑡𝑡𝑟𝑟 Gọi chung cho độ lệch đồng hồ giữa bên nhận và bên phát (𝑑𝑑𝑡𝑡 − 𝑑𝑑𝑇𝑇) là 𝑑𝑑𝑡𝑡, và 𝑑𝑑𝑖𝑖𝑜𝑜𝑖𝑖 +
𝑑𝑑𝑡𝑡𝑟𝑟𝑜𝑜𝑡𝑡+ 𝜀𝜀𝜌𝜌 là UERE Các ẩn số là tọa độ bộ thu và độ lệch thời gian giữa điểm
nhận tin và hệ thống 𝑑𝑑𝑡𝑡
Ta cần giải hệ 4 phương trình:
(𝑥𝑥𝑖𝑖− 𝑥𝑥)2+ (𝑦𝑦𝑖𝑖 − 𝑦𝑦)2+ (𝑀𝑀𝑖𝑖− 𝑀𝑀)2 = 𝑅𝑅𝑖𝑖2, 𝑖𝑖 = 1 … 4 Tương đương:
𝜌𝜌𝑖𝑖 = �(𝑥𝑥𝑖𝑖− 𝑥𝑥)2+ (𝑦𝑦𝑖𝑖 − 𝑦𝑦)2+ (𝑀𝑀𝑖𝑖− 𝑀𝑀)2− 𝑐𝑐𝑑𝑑𝑡𝑡 + 𝑈𝑈𝑈𝑈𝑅𝑅𝑈𝑈𝑖𝑖
(2.1) Tuyến tính hóa phương trình (1.6), ước lượng vị trí bộ thu và sai số đồng
hồ bộ thu 𝑑𝑑𝑡𝑡, ta tính được giả khoảng cách gần đúng:
Trang 28Áp dụng khai triển Taylor cho (2.1), ta được:
𝜌𝜌𝑖𝑖 = 𝜌𝜌�𝑖𝑖+𝛿𝛿𝜌𝜌�𝛿𝛿𝑥𝑥�𝑖𝑖∆𝑥𝑥 +𝛿𝛿𝜌𝜌�𝛿𝛿𝑦𝑦�𝑖𝑖∆𝑦𝑦 +𝛿𝛿𝜌𝜌�𝛿𝛿𝑀𝑀̂𝑖𝑖∆𝑀𝑀 + 𝛿𝛿𝜌𝜌�𝑖𝑖
𝛿𝛿(𝑑𝑑𝑡𝑡̂)∆𝑡𝑡+ ⋯ (2.4)
Với:
𝛿𝛿𝜌𝜌�𝑖𝑖𝛿𝛿𝑥𝑥� ∆𝑥𝑥
�(𝑥𝑥𝑖𝑖− 𝑥𝑥�)2+ (𝑦𝑦𝑖𝑖− 𝑦𝑦�)2+ (𝑀𝑀𝑖𝑖 − 𝑀𝑀̂)2 (2.5) 𝛿𝛿𝜌𝜌�𝑖𝑖
𝛿𝛿𝑦𝑦� ∆𝑦𝑦
�(𝑥𝑥𝑖𝑖− 𝑥𝑥�)2+ (𝑦𝑦𝑖𝑖− 𝑦𝑦�)2+ (𝑀𝑀𝑖𝑖 − 𝑀𝑀̂)2 (2.6) 𝛿𝛿𝜌𝜌�𝑖𝑖
𝛿𝛿𝑀𝑀̂ ∆𝑀𝑀
�(𝑥𝑥𝑖𝑖− 𝑥𝑥�)2+ (𝑦𝑦𝑖𝑖 − 𝑦𝑦�)2+ (𝑀𝑀𝑖𝑖− 𝑀𝑀̂)2 (2.7) 𝛿𝛿𝜌𝜌�𝑖𝑖
𝛿𝛿(𝑑𝑑𝑡𝑡̂)= −𝑐𝑐 (2.9) Thay thế từ (2.5) đến (2.9) vào (2.3) và xem xét với số n, ta có:
∆𝜌𝜌 = 𝑀𝑀∆𝑥𝑥 (2.10)
Dạng ma trận:
Trang 29𝛿𝛿𝜌𝜌�𝑖𝑖𝛿𝛿𝑥𝑥�
𝛿𝛿𝜌𝜌�𝑖𝑖𝛿𝛿𝑥𝑥�
𝛿𝛿𝜌𝜌�𝑖𝑖𝛿𝛿𝑥𝑥� −1𝛿𝛿𝜌𝜌�𝑖𝑖𝛿𝛿𝑥𝑥� −1
Từ đó sẽ tính được tọa độ x, y, z và độ sai lệch thời gian của bộ thu, nghĩ
là xác định được vị trí vật thể mang bộ thu GPS (x, y, z, dt)
2.3 Các h ệ quy chiếu
Các hệ thống định vị có thể sử dụng các hệ quy chiếu khác nhau Các hệ quy chiếu sau thường được sử dụng:
2.3.1 H ệ quy chiếu quán tính (i-frame)
i-frame: Hệ địa tâm nhật hướng (ECI – Earth-centered Inertial) là hệ quy chiếu
gắn với tâm Trái Đất, không quay theo quỹ đạo tự quay của Trái Đất
• Tâm gắn với tâm Trái Đất
• Trục z cố định theo hướng cực Bắc, trục x cố định hướng tới điểm xuân phân Trục y xác định trực giao
Trang 3019
Hình 8 H ệ quy chiếu quán tính i-frame
2.3.2 H ệ quy chiếu Trái Đất (e-frame)
e-frame: Hệ địa tâm mặt đất (ECEF – Earth-centered Earth-fixed) là hệ quy chiếu gắn toàn bộ với mặt đất, giống i-frame nhưng quay quanh theo quỹ đạo
tự quay của Trái Đất:
• Tâm gắn với tâm Trái Đất
• Trục z cố định theo hướng cực Bắc, trục x cố định hướng tới kinh tuyến
gốc ở Greenwich
• Trục y xác định trực giao
2.3.3 H ệ trắc địa địa phương (n-frame)
n-frame: Hệ tiếp diện cục bộ (LTP – Local Tangent Plane) là hệ quy chiếu
gắn cục bộ với mặt đất:
• Tâm là một điểm quy ước trên mặt đất
• Trục x theo chiều tăng vĩ độ (hướng Bắc), trục y theo chiều tăng kinh
độ (hướng Đông)
• Trục z xác định trực giao
Trang 312.4 Quá trình x ử lý tín hiệu ở bộ thu
Quy trình xử lý tín hiệu trong các bộ thu định vị được mô tả tổng quát trên
Hình 11 Trong đó cụ thể các thành phần như sau
Trang 3221
Hình 11 Ki ến trúc tổng quan của bộ thu định vị vệ tinh
2.4.1 Frontend
Front-end là phần cứng chịu trách nhiệm thu, xử lý và chuyển đổi tín hiệu
GPS tần số L1 (1.57542 GHz) sang tần số trung gian IF (Intermediate Frequency) Các thành phần của front-end bao gồm: anten, các bộ lọc băng thông
(BPF), bộ khuếch đại nhiễu thấp (LNA), bộ trộn và bộ chuyển đổi tương tự sang
số (ADC)
Hình 12 Sơ đồ khối các thành phần của front-end
Ăng-ten GPS dùng để thu tín hiệu Bộ lọc băng thông có tần số trung tâm
bằng tần số L1 (1575,42 MHz) cho phép chọn các tần số cần thiết Bộ khuếch đại
nhiễu thấp giúp khuếch đại công suất tín hiệu
Tín hiệu GPS L1 C/A ở đầu ra của fron-end có dạng:
𝑟𝑟[𝑛𝑛] = √2𝐶𝐶𝑑𝑑[𝑛𝑛]𝑐𝑐[𝑛𝑛 + 𝜏𝜏] cos(2𝜋𝜋(𝑓𝑓𝐼𝐼𝐼𝐼+ 𝑓𝑓𝐷𝐷)𝑛𝑛𝑇𝑇𝑠𝑠+ 𝜑𝜑) + 𝑛𝑛𝑊𝑊[𝑛𝑛]
Trong đó, C là công suất sóng mang (W), d[n] là dữ liệu định vị, c[n] là
mã trải phổ PRN – đặc trưng cho mỗi vệ tinh, 𝑓𝑓𝐼𝐼𝐼𝐼 và 𝑓𝑓𝐷𝐷 lần lượt là tần số trung
gian và tần số Doppler gây ra do chuyển động tương đối của vệ tinh và bộ thu,
𝑇𝑇𝑠𝑠 = 1 𝐹𝐹⁄ là chu kỳ lấy mẫu (s), 𝜑𝜑 là pha ban đầu của sóng mang (rad), 𝜏𝜏 là độ 𝑠𝑠
lệch ban đầu của mã trải phổ, và 𝑛𝑛𝑊𝑊 là nhiễu trắng
Trang 33những vệ tinh di chuyển ra xa bộ thu sẽ có tần số thấp hơn Mỗi vệ tinh GPS có
một mã trải phổ PRN (hay còn gọi là mã C/A) xác định và phân biệt Mã PRN được dùng để ước tính thô tần số sóng mang và độ dịch mã trải phổ
Tín hiệu vệ tinh truyền đi được xác định bởi bộ 3 tham số: mã trải phổ (c) đặc trưng cho từng vệ tinh, tần số Doppler (𝑓𝑓𝐷𝐷) và độ trễ mã trải phổ (𝜏𝜏) Việc xác định tín hiệu được thực hiện trên không gian tìm kiếm ba chiều với kích thước bằng miền giá trị của 3 tham số nêu trên Một cách khái quát, việc ước lượng các giá trị 𝑓𝑓𝐷𝐷 và 𝜏𝜏 trong bước dò tín hiệu là tìm điểm giao trên không gian tìm kiếm gần với điểm biểu diễn tín hiệu thu được Nếu có thu được tín hiệu của
vệ tinh, giá trị tương quan tại điểm gần đúng sẽ cao hơn hẳn so với các điểm ở xung quanh
Trang 3423
• Bám sóng mang (Carrier tracking): mục đích là tạo ra thành phần sóng mang cục bộ có tần số và pha giống hệt như thành phần tín hiệu thu được Mạch vòng bám sóng mang xác định độ tương quan giữa thành phần sóng mang cục bộ
và thành phần sóng mang của tín hiệu để điều khiển bộ tạo dao động hình sin cục
bộ hiệu chỉnh tần số cho đúng
• Bám mã trải phổ (Code tracking): ước lượng giá trị của code phase (độ
trễ mã trải phổ) Quá trình này tạo ra một mã trải phổ cục bộ tương tự mã trải phổ
của tín hiệu vệ tinh đã biết ở bước dò tín hiệu Độ trễ mã trải phổ được xác định
bằng cách so tương quan của 3 mã trải phổ cục bộ lệch nhau 0.5 chip Sau đó, các giá trị tương quan được dùng cho bộ sinh mã trải phổ cục bộ thay đổi tốc độ tạo
mã cho phù hợp
a M ạch vòng bám sóng mang
Mục đích của quá trình bám sóng mang là bám theo tín hiệu thu được và
tạo ra bản sao sóng mang có tần số và pha giống với tín hiệu thu được Quá trình bám sóng mang được thực hiện bởi mạch vòng khóa pha (PLL) hoặc mạch vòng khóa tần số (FLL)
Việc tái tạo lại sóng mang yêu cầu sử dụng một vòng lặp khóa pha (PLL)
Một vòng lặp PLL hoạt động để giảm thiểu sự sai khác về pha giữa bản sao sóng mang với thành phần sóng mang của tín hiệu thu được Như hình a cho thấy sơ
đồ BPSK (Binary Phase Shift Keying) có vòng xoay ngược chiều kim đồng hồ Các vòng tròn màu xanh và đỏ biểu thị cho các giá trị bit tương ứng là 1 và -1
Và các kí hiệu ‘X’ màu xanh và đỏ cho biết góc pha tương ứng với các giá trị bit
thực tế Các mũi tên chỉ hướng thay đổi của pha Bộ phân tích sẽ tạo ra độ sai pha, 𝜑𝜑, tương ứng với độ sai bit nhận được như hình b Như vậy tương ứng với
một giá trị độ sai pha 𝜑𝜑, ta xác định được hai vị trí tương ứng giá trị độ sai bit
Trang 3524
Hình 13 S ự không rõ ràng đối với việc dịch pha 180 0
Giả sử giá trị bit thay đổi từ 1 sang -1, khi đó ‘X’ quay 1800, như thể hiện
trong hình c, bộ phân tích PLL tính độ sai pha hiện tại được phụ thêm 𝜋𝜋:
𝜑𝜑𝐴𝐴𝑐𝑐𝑡𝑡𝐴𝐴𝐴𝐴𝐴𝐴 = 𝜑𝜑𝐶𝐶𝑜𝑜𝐶𝐶𝑡𝑡𝐴𝐴𝑡𝑡𝐶𝐶𝐶𝐶 + 𝜋𝜋 Trong đó: 𝜑𝜑𝐴𝐴𝑐𝑐𝑡𝑡𝐴𝐴𝐴𝐴𝐴𝐴: độ sai pha thực tế, 𝜑𝜑𝐶𝐶𝑜𝑜𝐶𝐶𝑡𝑡𝐴𝐴𝑡𝑡𝐶𝐶𝐶𝐶: độ sai pha theo tính toán
Để hiệu chỉnh cho sự không rõ ràng về độ sai pha này, các thuật toán PLL truyền thống đòi hỏi một số bước bổ sung được gọi là khử dữ liệu (data wipe-off) Quá trình khử dữ liệu sử dụng các dữ liệu đã biết hoặc một số phép ước tính trung bình các bit dữ liệu, để loại bỏ dữ liệu khỏi tín hiệu chỉ để lại sóng mang
Bất kể bit dữ liệu, tín hiệu được truyền đến bộ phân tích PLL sẽ có một sơ đồ tương tự như hình d, trong đó thành phần trong pha của tất cả các bit là giống nhau Một thuật toán discriminator cho PLL truyền thống là hàm arctan 4 góc
phần tư với độ sai pha 𝜑𝜑𝐸𝐸được xác định bởi phương trình:
𝜑𝜑𝐸𝐸 = 𝐴𝐴𝑇𝑇𝐴𝐴𝐶𝐶2(𝑄𝑄𝑃𝑃, 𝐼𝐼𝑃𝑃) Trong đó: 𝐼𝐼𝑃𝑃 là thành phần tương quan đồng pha, 𝑄𝑄𝑃𝑃 là thành phần tương quan vuông pha Nếu không có bước khử dữ liệu, bộ phân tích sẽ nhạy cảm với
sự thay đổi pha 1800 (bit transition) bởi vì các giá trị đầu ra 𝜑𝜑𝐸𝐸 ∈ [−𝜋𝜋, 𝜋𝜋]
Trang 3625
Bộ phân tích PLL thông thường rất nhạy cảm với sự dịch pha 1800 Do
việc các bit định vị đổi dấu từ -1 sang 1 hoặc ngược lại Trong khi đó, mạch PLL trong bộ thu GPS phải không nhạy cảm với sự dịch pha 1800 Bất kì vòng lặp nào không nhạy cảm với sự dịch pha 1800 đều được gọi là vòng lặp Costas
Hình 14 Sơ đồ khối vòng lặp Costas
Mạch này nhân tín hiệu đầu vào với lần lượt tín hiệu cos và sin do bộ thu
tạo ra (tương ứng được hai kênh I và Q) Mục đích của vòng lặp Costas là tập trung năng lượng vào kênh I Với mã trải phổ đã xác định đúng, ta có thể tính được độ sai pha giữa tín hiệu thực và tín hiệu bản sao do bộ thu sinh ra:
𝜑𝜑𝐸𝐸 = tan−1�𝑄𝑄𝐼𝐼𝑃𝑃
𝑃𝑃� Trong đó:
Ba mã trải phổ lệch nhau 0.5 chip được gọi lần lượt là mã sớm, mã trễ, và mã
“đúng” Trong đó mã “đúng” là giá trị mà bộ thu xác định được trên cơ sở hiệu
chỉnh sao cho tương quan ứng với mã sớm và mã trễ bằng nhau
Trang 3726
Hình 15 M ối quan hệ giữa các giá trị tương quan của 3 bản sao mã trải phổ
Hình 15, ở phía bên trái là trường hợp mã trải phổ bị chậm so với mã trải
phổ của tín hiệu thu được (giá trị tương quan của mã trễ lớn hơn hai mã còn lại),
vì vậy cần tăng tốc độ mã trải phổ Còn ở phía bên phải thể hiện mã trải phổ đúng
tốc độ, do giá trị tương quan của 2 mã sớm và mã trễ bằng nhau
Hình 16 Sơ đồ khối code tracking
Trang 3827
Trong đó: 𝐼𝐼𝐸𝐸, 𝐼𝐼𝑃𝑃, 𝐼𝐼𝐿𝐿 là những mẫu của kênh 𝐼𝐼, và 𝑄𝑄𝐸𝐸, 𝑄𝑄𝑃𝑃, 𝑄𝑄𝐿𝐿 là những mẫu
của kênh 𝑄𝑄
2.4.3 Kh ối giải mã bản tin định vị
Kết quả của quá trình đồng bộ tín hiệu là dòng bit với tốc độ 50 bit/s Mục tiêu của khối giải mã bản tin định vị là từ dòng bit này giải mã ra các bản tin định
vị được gửi đi từ vệ tinh Bản tin định vị (với GPS L1) được chia thành các khung (frame), mỗi khung gồm các khung con (subframe) Do đó, để có thể giải
mã ra bản tin định vị đầu tiên cần phải xác định điểm bắt đầu của các subframe – còn gọi là đồng bộ frame Sau khi đã xác định được điểm bắt đầu của các subframe, dựa vào cấu trúc của các subframe, sẽ xác định được giá trị của các trường trong bản tin định vị được gửi đi Bên cạnh đó, sau khi xác định được vị trí của các subframe, bộ thu cũng cần kiểm tra mã chẵn lẻ (parity check) cho từng subframe để đảm bảo dữ liệu thu được là chính xác
Đồng bộ frame
Bước đầu tiên của quá trình giải mã bản tin định vị là đồng bộ frame hay xác định điểm bắt đầu của một subframe Các subframe của bản tin định vị (xét
với GPS L1) có độ dài 300 bit được chia ra thành 10 từ mã (word), mỗi từ mã có
độ dài 30 bit Tất cả các subframe đều bắt đầu bằng từ mã Telemetry (TLM) có
cấu trúc như Hình 17
Hình 17 Định dạng từ mã TLM
Như thấy trên Hình 17, từ mã TLM bắt đầu bằng 8 bit preamble có giá trị
cố định là “1 0 0 0 1 0 1 1” tuy nhiên do cơ chế mã hóa, dữ liệu 8 bit này có thể
bị đảo dấu trở thành “0 1 1 1 0 1 0 0” Như vậy, tất cả các subframe của bản tin định vị GPS sẽ đều bắt đầu bằng 8 bit “1 0 0 0 1 0 1 1” hoặc “0 1 1 1 0 1 0 0”
Dựa vào tính chất này, điểm bắt đầu của subframe sẽ được xác định bằng cách
Trang 3928
tìm ra các vị trí trong dòng bit đầu vào có giá trị 8 bit liên tiếp giống với giá trị
của 2 bộ 8 bit trên Tuy nhiên, do giá trị các bit là ngẫu nhiên nên 2 bộ giá trị 8 bit trên cũng hoàn toàn có thể xuất hiện trong phần dữ liệu của các subframe nên
nếu ta chỉ tìm các vị trí có giá trị các bit phù hợp thì rất có thể sẽ xác định sai vị trí bắt đầu subframe Mặt khác, các subframe có độ dài 6s (300 bit) Như vậy, sau 6s kể từ thời điểm bắt đầu một subframe, một subframe mới sẽ được truyền đi và
ta sẽ lại thu được một preamble mới cách vị trí cũ 300 bit
Việc tìm kiếm các vị trí có giá trị 8 bit liên tiếp giống với preamble sẽ được thực hiện qua việc tính tương quan giữa dòng bit đầu vào và 8 bit preamble Các bit 0 sẽ được thay thế bằng -1 Các vị trí có giá trị tương quan đạt đỉnh (bằng
8 hoặc -8), sẽ là các vị trí cần tìm Nếu có 2 vị trí cách nhau 300 bit, 2 vị trí này
sẽ là điểm bắt đầu subframe Như vậy, do việc cần phải sử dụng preamble của 2 subframe liên tiếp, để chắc chắn xác định được điểm bắt đầu của subframe, cần
phải có ít nhất 600 bit dữ liệu
Gi ải mã bản tin định vị
Bản tin định vị của GPS được chia thành các frame, các frame này lại được chia ra thành 5 subframe có nội dung như sau (trừ 2 từ mã TLM và Handover Word – HOW ở đầu mỗi subframe):
• Subframe 1: Tình trạng vệ tinh, độ chính xác, các tham số hiệu chỉnh đồng hồ
• Subframe 2, 3: Các tham số của lịch thiên văn (ephemeris) Subframe 1,
2 và 3 lặp lại qua mỗi frame
• Subframe 4: Các tham số của niên lịch (almanac), mô hình tầng điện ly
• Subframe 5: Các tham số của niên lịch Subframe 4 và 5 có 25 phiên
bản với cùng cấu trúc nhưng dữ liệu khác nhau
Từ đó, sau khi kiểm tra mã chẵn lẻ cho các từ mã của subframe, bộ thu sẽ
lấy ra các bit tương ứng với từng trường trong subframe Các bit này sau đó được đổi sang hệ thập phân để thu được giá trị của tham số tương ứng
Các tham số từ subframe 1 sẽ được sử dụng để tính sai số đồng hồ của vệ tinh, sai số này sau đó được sử dụng để hiệu chỉnh giả khoảng cách (pseudorange) cho các vệ tinh Các tham số từ subframe 2 và 3 sẽ được sử dụng
để tính vị trí vệ tinh Các tham số từ subframe 4 và 5 sẽ cho biết quỹ đạo vệ tinh
và được sử dụng để xác định các vệ tinh có thể thấy được trong các lần tính toán sau
Trang 40số Keppler như trên Hình 18
Hình 18 Các tham s ố Keppler và quỹ đạo vệ tinh
Trong đó,
• C: là tâm Trái Đất
• P: Cận điểm (điểm gần Trái Đất nhất trên quỹ đạo vệ tinh)
• S: vị trí hiện tại của vệ tinh