1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh quảng ninh hiện nay

104 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Hiện Pháp Luật Hòa Giải Ở Cơ Sở Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Ninh Hiện Nay
Thành phố Quảng Ninh
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 502 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù vậy các hình thức hòa giải cũng có một số đểm chung giốngnhau, trên cơ sở đó, có thể rút ra một định nghĩa tổng quát về hòa giải như sau:Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày ở từng gia đình, làng, xóm, khuphố đôi khi không tránh khỏi những va chạm, mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ.Những mâu thuẫn ấy nếu không được giải quyết hợp tình, hợp lý, tận gốc vàtriệt để ngay từ đầu có thể trở thành những vụ việc phức tạp, dẫn đến khiếukiện, tranh chấp về dân sự, thậm chí phát sinh thành những vụ án hình sự Vìvậy đây cũng được coi là một trong những yếu tố gây mất ổn trật tự, an toàn và

ổn định xã hội ở cơ sở, làm xói mòn tình cảm xóm làng và ảnh hưởng đến mốiquan hệ đoàn kết gắn bó trong cộng đồng dân cư vốn là truyền thống tốt đẹpbao đời nay của dân tộc ta

Những mâu thuẫn, tranh chấp đó có thể giải quyết bằng nhiều cách khácnhau: tự thỏa thuận giữa các bên; đơn phương chấm dứt xung đột; nhờ sự canthiệp của chính quyền địa phương thông qua hòa giải ở cơ sở; khiếu kiện raTòa án nhân dân Trong thực tế rất ít trường hợp sau khi phát sinh mâu thuẫn,tranh chấp mà các bên tự dàn xếp thỏa thuận được, vì thế thường thì phải nhờđến sự can thiệp của một bên thứ 3 mới có thể giải quyết được mâu thuẫn.Trường hợp vụ việc bị đưa ra tòa án thì sẽ càng phức tạp hơn vì phải tuân theomột trình tự thủ tục tố tụng chặt chẽ, cả người đi kiện và người bị kiện chắcchắn sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức để theo đuổi vụ kiện đến cùng Vìthế trong các hình thức trên, hòa giải ở cơ sở là một phương pháp hữu hiệuđược sử dụng vì nó vừa hợp đạo lý, tâm lý của người Việt Nam

Hòa giải ở cơ sở là một truyền thống, một đạo lý tốt đẹp của dân tộc ViệtNam Hoạt động hòa giải mang đậm tính nhân văn, hoạt động vì mọi người vàtrên cơ sở tình người, nhằm mục đích: giữ gìn tình làng, nghĩa xóm, tình đoànkết tương thân, tương ái trong cộng đồng, tập thể, hàn gắn, vun đắp sự hòathuận hạnh phúc cho từng gia đình, góp phần giữ gìn trật tự an toàn xã hội,nâng cao ý thức pháp luật của người dân

Trang 2

Để đảm bảo phát huy truyền thống tốt đẹp nêu trên; Điều 127 Hiến phápnăm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy định: "Ở cơ sở thành lập các tổchức thích hợp của nhân dân để giải quyết những vi phạm pháp luật và tranh chấpnhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật " Trên cơ sở quy định này củaHiến pháp, ngày 25-12-1998 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh

Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, ngày 18-10-1999 Chính phủ đã ban hànhNghị định số 160/1999/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổchức và hoạt động hòa giải cơ sở Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của

Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tớicũng chỉ rõ: "Xây dựng cơ chế để nâng cao hiệu quả của các hình thức giải quyếttranh chấp khác như hòa giải, trọng tài, nhằm góp phần xử lý đúng và nhanhchóng những mâu thuẫn, khiếu kiện trong nội bộ nhân dân và giảm nhẹ công việccho Tòa án và cơ quan nhà nước khác" Và mới đây nhất, Quốc Hội đã ban hànhLuật hòa giải ở cơ sở, số 35/2013/QH13 ngày 20/6/2013 có hiệu lực thi hành kể từngày 01/01/2014 Đây là những văn bản pháp lý thể hiện sự quan tâm đặc biệt củaĐảng, Nhà nước đối với công tác hòa giải ở cơ sở; khẳng định vị trí, vai trò khôngthể thiếu được của công tác này trong đời sống xã hội

Hiện nay đất nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướngXHCN và ngày càng hòa nhập sâu rộng hơn với kinh tế thế giới, đời sống kinh

tế - xã hội không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi mặt trái của cơ chế kinh tế thịtrường Sự phân hóa giàu nghèo, lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, sự xóimòn truyền thống đạo đức của dân tộc, tình hình vi phạm pháp luật, mâu thuẫn,tranh chấp trong nhân dân… ngày càng gia tăng Vì vậy chúng ta phải xâydựng một cơ chế để bảo đảm việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở có hiệuquả Thực tế cho thấy, ở những địa phương làm tốt công tác hòa giải ở cơ sở thìtình hình an ninh, trật tự được giữ vững, tạo đà cho phát triển kinh tế - xã hội,nâng cao đời sống người dân Ngược lại, ở những nơi còn coi nhẹ công tác hòagiải, tình hình mâu thuẫn, tranh chấp có chiều hướng tăng

Trang 3

Quảng Ninh là tỉnh có đường biên giới kéo dài tiếp giáp với TrungQuốc, có địa bàn rộng, phức tạp Dân số hơn một triệu người, phân bố khôngđồng đều, có sự di cư biến động thường xuyên, tính chất xã hội đa dạng, phứctạp với nhiều tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, tập quán sinh hoạt khác nhau.Nhiều nơi vẫn còn tồn tại phong tục, tập quán lạc hậu, đặc biệt là vùng sâu,vùng xa, miền núi, hải đảo Với đặc điểm địa lý và xã hội như vậy, bên cạnhnhững kết quả về tinh tế - xã hội, Quảng Ninh còn có những vấn đề xã hộiphức tạp nảy sinh, trong đó có tình trạng vi phạm pháp luật, tranh chấp dân sự,

ly hôn, khiếu kiện còn nảy sinh và diễn biến phức tạp; sự hiểu biết và ý thứcchấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ và nhân dân còn hạn chế, nhất là ởvùng sâu, vùng xa Hơn nữa mặt trái của nền kinh tế thị trường và hội nhậpquốc tế đã có những tác động xấu đến sự gắn kết cộng đồng, mối quan hệ giữacác thành viên trong gia đình, đến tư tưởng, nhận thức, hành vi ứng xử củangười dân, phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh chấp trong cộng đồng dân cư Đòihỏi phải tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và côngtác hóa giải ở cơ sở nhằm nâng cao ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp vàpháp luật trong cán bộ và nhân dân, đồng thời giữ gìn tình làng xóm, đoàn kếtcộng đồng, cùng nhau xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, phát triển

khinh tế - văn hóa, xã hội Vì lẽ đó, Tôi chọn đề tài: " Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện nay" làm luận văn tốt nghiệp

thạc sỹ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong chuyên ngành lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, vấn đềthực hiện pháp luật luôn là nội dung quan trọng vì thực hiện pháp luật chính làhiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trởthành hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật

Trong những năm gần đây ở nước ta vấn đề thực hiện pháp luật đangđược đặt ra và là nhiệm vụ cấp bách của các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức

Trang 4

xã hội và mọi công dân Thực hiện pháp luật đã được các học viện, các trườngđại học nghiên cứu trong các giáo trình như:

Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Đại học Luật Hà Nội, năm

2005 Tài liệu học tập và nghiên cứu môn học lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2004 Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Đại học Tổng hợp Hà Nội, năm 1993 Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2001

Nghiên cứu về thực hiện pháp luật trên một số lĩnh vực cụ thể có các

đề tài: “ Thực hiện pháp luật về giáo dục của các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh Nam Định ” (Luận văn thạc sỹ luật học, Học viện chính trị - hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2010 của tác giả Vũ Thị Thu Huyền); "Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo ở Việt Nam”(Luận văn thạc sỹ

luật học, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2010)

của tác giả Vũ Thị Hoàng Hà“ Thực hiên pháp luật về hòa giải trong giải quyết ly hôn ở thành phố Hà Nội ” (Luận văn thạc sỹ luật học Học viện chính

trị - hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2012 của tác giả Vũ Viết Văn); …

Riêng đối với lĩnh vực hòa giải ở cơ sở trong những năm gần đây cũngđược quan tâm nhiều hơn với một số công trình nghiên cứu khoa học ở nhiềukhía cạnh khác nhau như: Hướng dẫn quản lý công tác hòa giải có cuốn sách

“Công tác hòa giải ở cơ sở” tập 1 và tập 2 của Dự án VIE/02/015 do UNDP,

sida, Na Uy và Ai len tài trợ Cẩm nang bồi dưỡng cho hòa giả viên có cuốn

sách “Công tác hòa giải ở cơ sở” tập 1, tập 2, tập 3 của Dự án VIE/02/015 do

UNDP, sida, Na Uy và Ai len tài trợ Đánh giá năng lực cán bộ tư pháp cấptỉnh về quản lý, hướng dẫn công tác hòa giải ở cơ sở 3 của Dự án VIE/02/015

do UNDP, sida, Na Uy và Ai len tài trợ Trình bày về vị trí, vai trò, ý nghĩa và

những nội dung cơ bản của công tác hòa giải ở cơ sở có cuốn sách "Công tác hòa giải ở cơ sở" của luật gia Nguyễn Đình Hảo (chủ biên), Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Giới thiệu các văn bản pháp luật về hòa giải

ở cơ sở, cung cấp một số kỹ năng hòa giải ở cơ sở có cuốn sách: "Cẩm nang

Trang 5

công tác hòa giải ở cơ sở" của luật gia Dương Bạch Long, Nhà xuất bản Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 2009

Ngoài ra còn có cuốn "Hòa giải ở cơ sở" của Nguyễn Phương Thảo, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2007 và cuốn "Hỏi đáp về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở" của Minh Anh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2010 có nội dung gần giống nhau trong việc cung cấp những quy định cơ bản

về pháp luật hòa giải ở cơ sở

Để góp phần nâng cao năng lực cho cán bộ tư pháp thực hiện quản lý côngtác hòa giải ở cơ sở và đội ngũ hòa giải viên trên toàn quốc, Bộ Tư pháp đã tiếnhành xây dựng Bộ tài liệu tập huấn thống nhất về Công tác hòa giải ở cơ sở dànhcho cán bộ tư pháp và các hòa giải viên, ấn hành năm 2007, gồm hai tập sau:

Tập 1: Hướng dẫn quản lý công tác hòa giải, giới thiệu nghiệp vụ quản

lý công tác hòa giải, hướng dẫn cán bộ tư pháp địa phương về phương pháptập huấn, bồi dưỡng để tập huấn cho các hòa giải viên

Tập 2: Cẩm nang bồi dưỡng cho hòa giải viên, cung cấp cho các hòa

giải viên, cán bộ tư pháp các kiến thức pháp luật cần thiết trong hòa giải,hướng dẫn nghiệp vụ hòa giải, phổ biến kinh nghiệm hòa giải

Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Trung Quân với đề tài: "Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bình Thuận hiện nay - Thực trạng và giải pháp", (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2004) là

công trình nghiên cứu về vấn đề thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở củađặc thủ tỉnh Bình Thuận

Trong các công trình khoa học trên chưa có công trình nào nghiên cứu

về vấn đề thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.Trong tình hình mới, công tác hòa giải ở cơ sở cũng cần cập nhật những vấn đềthực tiễn mới Mặt khác, các công trình nghiên cứu đã được liệt kê ở trên lànguồn tài liệu vô cùng quý giá để tác giả tham khảo thực hiện đề tài của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

Trang 6

Luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần bảo đảmthực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơsở: khái niệm, đặc điểm, vai trò, hình thức thực hiện và yếu tố bảo đảm thựchiện pháp luật hoà giải ở cơ sở

- Đánh giá thực trạng công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh QuảngNinh, bao gồm ưu điểm, hạn chế và xác định nguyên nhân của những thànhtựu và hạn chế đó

- Trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn công tác hòa giải ở cơ sở trênđịa bàn tỉnh Quảng Ninh, xây dựng các quan điểm và đề xuất nhóm giải pháp

cơ bản nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnhQuảng Ninh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đề tài nghiên cứu việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở thông quakhảo sát trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, thời gian từ năm 1998 đến năm 2012

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; bám sát đường lối, chủtrương của Đảng về thực hiện pháp luật, tăng cường pháp chế, về cải cách tưpháp gắn với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhândân, do nhân dân và vì nhân dân

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩaduy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin,các phương pháp như phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phươngpháp lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích tổng hợp… Ngoài ra, còn sử dụng

Trang 7

một số phương pháp của các bộ môn khoa học khác như phương pháp sosánh, thống kê kết hợp với khảo sát thực tế, phân tích tài liệu thứ cấp.

6 Những đóng góp về khoa học của luận văn

Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu việc thực hiệnpháp luật hòa giải ở cơ sở trên phạm vi cấp tỉnh ở Quảng Ninh Vì vậy, luậnvăn có một số điểm mới, cụ thể:

Phân tích và góp phần làm rõ thêm các vấn đề có liên quan đến đề tàinhư: khái niệm hòa giải ở cơ sở, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của công tác hòagiải ở cơ sở

Khái quát được những đặc thù của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sởtrên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Đề xuất những giải pháp phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Thông qua đánh giá thực trạng, luận văn góp phần tổng kết thực tiễn 14năm thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, từ đólàm giàu thêm vốn lý luận bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới, đồng thờivận dụng những lý luận đó vào thực tiễn công tác để càng nâng cao hơn nữahiệu quả của hoạt động

Trên cơ sở những giải pháp đề tài nêu ra, có thể không chỉ áp dụng chotỉnh Quảng Ninh mà còn có thể áp dụng chung cho cả nước Nhất là khi Quốchội đã ban hành Luật Hòa giải ở cơ sở ngày 20/6/2013, có hiệu lực thi hành

kể từ ngày 01/01/2014 Đây là loại văn bản pháp lý cao nhất về hòa giải ở cơ

sở mà chưa có quốc gia nào trên thế giới ban hành

Ngoài ra luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp ủy, chínhquyền tỉnh Quảng Ninh trong việc xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức vàhoạt động hòa giải ở cơ sở; hoặc dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu,giảng dạy, học tập trong các chương trình trung cấp lý luận chính trị - hànhchính ở trường Chính trị tỉnh Quảng Ninh

8 Kết cấu của luận văn

Trang 8

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương, 8 tiết.

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

1.1.1 Khái niệm hoà giải ở cơ sở và thực hiện pháp luật hòa giải ở

cơ sở

1.1.1.1 Khái niệm hòa giải ở cơ sở

Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (chủ biên) thì hòa giảilà: "làm cho ổn thỏa tình trạng mâu thuẫn xích mích giữa hai bên" [78,tr.815] Quan niệm này chỉ đưa ra một cách hiểu chung nhất về hòa giải màchưa nêu được cách thức và đặc trưng pháp lý của nó

Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học thì hòa giải là:

"thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổnthỏa" [76, tr.430] Quan niệm này nêu lên phương thức và mục đích hòa giảinhưng lại chưa khái quát được bản chất, nội dung và các yếu tố cấu thành cácloại hình hòa giải

Về mặt pháp lý, theo từ điển Luật học thì hòa giải là:

Tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp giữa các bên bằng sựthương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác.Hòa giải thành thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa các bên, tránh đượcviệc kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường hợp chỉ vì mâuthuẫn nhỏ mà biến thành việc hình sự [65, tr.208]

Quan niệm này không phân biệt được phương thức thương lượng tựgiải quyết với phương thức hòa giải, vô hình đồng nhất người trung gian vớingười hòa giải

Trang 9

Còn theo Từ điển pháp luật Anh-Việt do TS Vũ Trọng Hùng, PGS.TSNguyễn Đăng Dung, PGS.TS Vũ Trọng Khả, TS Phạm Thăng (đồng chủbiên) thì có sự phân biệt giữa người trung gian và người hòa giải, theo đó:

Mediate là làm trung gian, Mediation là việc làm trung gian, còn Mediator

là người làm trung gian Conciliate là hòa giải, Conciliationlà sự hòa giải, Conciliator là người hòa giải (hay hòa giải viên) [66, tr.310] Người trung

gian chỉ giúp các bên tranh chấp liên hệ được với nhau; còn người hòa giảitham gia trực tiếp vào quá trình đàm phán, có thể đưa ra các giải pháp để giúp

giải quyết ổn thỏa mâu thuẫn của các bên Mỗi Conciliator (hòa giải viên) có vai trò lớn hơn so với Mediator (người trung gian) vì conciliator có quyền áp

đặt quy trình hòa giải, đề xuất cách giải quyết đối với các bên và các thủ tục

và hoạt động khác theo quy định của pháp luật

Theo hiệp hội hòa giải Hoa Kỳ thì "Hòa giải là một quá trình, trong đóbên thứ ba giúp hai bên tranh chấp ngồi lại với nhau để cùng giải quyết vấn đềcủa họ" Theo quan niệm này, người hòa giải không tham gia vào quá trìnhhoặc vào việc thỏa thuận các giải pháp, vai trò chủ yếu của người hòa giải làngười trung gian giúp cho hai bên tranh chấp tự nguyện ngồi lại với nhau, tạođiều kiện cho họ duy trì đối thoại giải quyết mâu thuẫn, bất đồng

Một số luật gia lại cho rằng hòa giải là chế định pháp luật về hòa giải,coi hòa giải như là một quy định, một trình tự, thủ tục để giải quyết các tranhchấp về dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai… Cách tiếp cận này thiên nhiều về

tố tụng trong khi hòa giải có thể được tiến hành cả trong tố tụng và ngoài tốtụng Các nhà hoạt động thực tiễn thì coi hòa giải là hành vi thuyết phục cácbên tranh chấp xóa bỏ những mâu thuẫn, bất đồng

Trên thực tế, có nhiều loại hình hòa giải trong đời sống xã hội, mỗi loạihình có phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh riêng, cũng như có nộidung, thủ tục tiến hành, chủ thể tham gia và các đặc trưng pháp lý riêng Vìthế khó có thể đưa ra một khái niệm hòa giải chung cho tất cả các loại hình

Trang 10

hòa giải Mặc dù vậy các hình thức hòa giải cũng có một số đểm chung giốngnhau, trên cơ sở đó, có thể rút ra một định nghĩa tổng quát về hòa giải như sau:

Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp mà trong đó có sự tham gia của bên thứ ba giữ vai trò trung gian do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định để hỗ trợ các bên tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột và chấm dứt các tranh chấp, bất hòa.

Hòa giải nói chung mang tính tự nguyện, tùy thuộc vào sự lựa chọn củacác bên nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật và không trái vớitruyền thống đạo đức xã hội Có thể thấ hòa giải là phương thức giải quyếttranh chấp được UBND, Tòa án, Trọng tài và các tổ chức, cá nhân… sử dụngthường xuyên trong giải quyết tranh chấp

Ở nước ta hiện nay có những hình thức hòa giải như: hòa giải tại tòa ántheo thủ tục tố tụng dân sự, hòa giải về tranh chấp lao động của hội đồng hòagiải lao động, hòa giải về tranh chấp đất đai của UBND, hòa giải về tranh chấpthương mại, hòa giải theo thủ tục tố tụng trọng tài, hòa giải trong cộng đồng dân

cư ở cơ sở… Về cơ bản, có thể chia các hình thức hòa giải trên thành 2 loại, đó

là hòa giải trong tố tụng và hòa giải ngoài tố tụng Hình thức hòa giải tại tòa án

và trọng tài là hòa giải trong tố tụng, các hình thức khác là hòa giải ngoài tốtụng

Hòa giải ở cơ sở là một loại hình của hòa giải ngoài tố tụng, đó là việchướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, tựnguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm và tranh chấp nhỏ nhằm giữgìn đoàn kết trong cộng đồng dân cư

Hình thức hòa giải trong cộng đồng dân cư đã có từ lâu ở Việt Namtrước khi Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở (ngày25/12/1998) được ban hành và hiện nay là Luật hòa giải ở cơ sở đã được banhành từ ngày 20/6/2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014, và cũngđược gọi là "hòa giải ở cơ sở"

Tại khoản 1, Điều 2 Luật Hòa giải năm 2013 ở cơ sở quy định:

Trang 11

Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạtđược thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, viphạm pháp luật theo quy đinh của Luật này.

Các bên được đề cập ở đây có thể là các thành viên trong một hộ giađình, các hộ gia đình với nhau hoặc các cá nhân với nhau Thuật ngữ "cơ sở"theo quy định của Luật hòa giải ở cơ sở là thôn, làng, ấp, bảng, buôn, phum,sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác Ở đây nhấnmạnh đến "cơ sở" là cấp thấp nhất trong đơn vị hành chính, là nơi trực tiếpxảy ra tranh chấp

Như vậy, hòa giải ở cơ sở là hoạt động của một bên trung gian để hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân; củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư; phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác như các chợ cố định,

tụ điểm du lịch, vui chơi giải trí theo quy định của pháp luật.

1.1.1.2 Khái niệm pháp luật hòa giải ở cơ sở

Pháp luật hòa giải ở cơ sở là những quy định của pháp luật dùng đểđiều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình tiến hành các biện pháp hòagiải ở cơ sở

Pháp luật hòa giải ở cơ sở được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thểcác văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền banhành có chứa đựng các quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở, từ văn bảncao nhất là Hiến pháp cho đến các văn bản dưới luật khác

Hòa giải ở cơ sở có vị trí, vai trò quan trọng trong quản lý xã hội Hòagiải ở cơ sở góp phần củng cố tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái; gópphần giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân

Trang 12

dân; phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.Nhận thức vị trí, vai trò và ý nghĩa của hòa giải ở cơ sở, Đảng và Nhà nước tarất quan tâm đến công tác hòa giải ở cơ sở, đã ban hành nhiều văn bản quyphạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho hoạt động này.

Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Ở cơ sở thành lập các tổchức thích hợp của nhân dân để giải quyết những vi phạm pháp luật và tranhchấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật" [53, tr.72] Để cụ thểhóa quy định của Hiến pháp, ngày 20/6/2013 Quốc hội đã ban hành Luật số:35/2013/QH13 về hòa giải ở cơ sở Đây là văn bản quan trọng do Quốc Hộiban hành hiện đang có hiệu lực pháp lý, quy định đầy đủ và đồng bộ các vấn

đề về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở Hiện nay Quốc Hội đang giaocho Chính phủ xây dựng Nghị định thi hành một số điều của Luật (khoản 2Điều 1; khoản 2 Điều 6; khoản 5, 7 Điều 9)

Cùng với Hiến pháp 1992, Luật hòa giải ở cơ sở, đã tạo nên một hệthống đồng bộ các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở

Như vậy, có thể định nghĩa pháp luật hòa giải ở cơ sở như sau:

Pháp luật hòa giải ở cơ sở là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hòa giải ở cơ sở do các hoà giải viên tiến hành đảm bảo quyền

và lợi ích của các bên tranh chấp.

* Nội dung pháp luật hòa giải ở cơ sở thể hiện

Hệ thống các văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở tạo ra các quy địnhchung quy định về nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở,hòa giải viên, tổ hòa giải; hoạt động hòa giải ở cơ sở; trách nhiệm của cơquan, tổ chức trong hoạt động hòa giải ở cơ sở Cụ thể:

Những quy định chung về hòa giải ở cơ sở bao gồm: phạm vi điềuchỉnh của Luật; khái niệm hòa giải ở cơ sở; phạm vi hòa gải ở cơ sở; nguyêntác tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở; chính sách của Nhà nước về hòa giải

ở cơ sở; hỗ trợ kinh phí cho công tác gòa giải ở cơ sở

Trang 13

Những quy định về về hòa giải viên, tổ hòa giải bao gồm: tiêu chuẩnhòa giải viên; bầu, công nhận hòa giải viên; quyền của hòa giải viên; nghĩa vụcủa hòa giải viên; thôi làm hòa giải viên;; tổ hòa giải; trách nhiệm của tổ hòagiải; tổ trưởng tổ hòa giải; quyền và nghĩa vụ của tổ trưởng tổ hòa giải.

Những quy định về hoạt động hòa giải ở cơ sở bao gồm: căn cứ tiếnhành hòa giải; quyền và nghĩa vụ của các bên trong hòa giải; phân công hòagiải viên; người được mời tham gia hòa giải; địa điểm, thời hạn hòa giải; tiếnhành hòa giải; hòa giải giữa các bên ở thôn, tổ dân phố khác nhau; kết thúchòa giải; hòa giải thành; thực hiện thỏa thuận hòa giải thành; theo dõi, đônđốc việc thực hiện hòa giải thành, hòa giải không thành

Những quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt độnghòa giải ở cơ sở bao gồm: trách nhiệm quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở;trách nhiệm của ủy ban nhân dân các cấp; trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận

Luật hòa giải ở cơ sở có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014; thaythế Pháp lệnh hòa giải ở cơ sở Hiện nay Chính phủ đang giao cho Bộ Tưpháp chủ trì soạn thảo Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luậthòa giải ở cơ sở

1.1.1.3 Khái niệm thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở

Pháp luật là một công cụ quản lý xã hội sắc bén, song pháp luật chỉ cóthể phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc duy trì trật tự

và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện trongcuộc sống Vì vậy, thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu, là biệnpháp để pháp luật hoà giải ở cơ sở trở thành công cụ điều chỉnh có thực đốivới các quan hệ xã hội về hoà giải ở cơ sở

Nhà nước xây dựng những quy phạm pháp luật nhằm mục đích điềuchỉnh các quan hệ xã hội đáp ứng lợi ích của nhân dân và tiên bộ xã hội Mụcđích đó chỉ có thể đạt được khi pháp luật được các chủ thể nghiêm chỉnh thựchiện trong đời sống xã hội Pháp luật với tầm quan trọng của nó không chỉ

Trang 14

dừng lại bằng các quy phạm pháp luật, vì đó chỉ là pháp luật ở trạng thái

"tĩnh", vấn đề quan trọng là pháp luật phải trở thành chế độ pháp chế, đượcthực hiện thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội vàcông dân; trở thành phương thức quản lý xã hội, cho tổ chức đời sống xã hội

Hiện nay có nhiều quan niệm về thực hiện pháp luật

Quan niệm thứ nhất, thực hiện pháp luật được hiểu là "quá trình hoạtđộng có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thựctrong cuộc sống, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể phápluật" [37, tr.270]

Quan niệm thứ hai, thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình có mụcđích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế củacác chủ thể pháp luật

Quan niệm thứ ba, "Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động cómục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thànhnhững hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật" [62, tr.463]

Qaun niệm thứ tư: "Thực hiện pháp luật là hoạt động, là quá trình làmcho những quy tắc của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thểpháp luật" [62, tr.344]

Các quan niệm nêu trên có điểm thống nhất về nội dung cơ bản củathực hiện pháp luật về hoà giải ở cơ sở, đó là: thực hiện pháp luật là hoạt động

có mục đích nhằm thực hiện những yêu cầu của pháp luật, thực hiện pháp luật

là hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật làm cho những quyđịnh của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống Tuy nhiên, cũng có sựkhác nhau trong các quan niệm nêu trên Có quan niệm nêu thực hiện phápluật là một quá trình hoạt động, có quan niệm khác lại chỉ nêu thực hiện phápluật là hiện tượng, quá trình

Xét trong quy trình điều chỉnh pháp luật, thực hiện pháp luật là sự nốitiếp xây dựng pháp luật, gồm toàn bộ các hoạt động nhằm đưa các quy phạm

Trang 15

pháp luật vào đời sống xã hội và sinh hoạt của công dân Về bản chất, thựchiện pháp luật là quá trình hiện thực hóa pháp luật, làm bộc lộ và phát huynhững giá trị tiềm năng của pháp luật trong thực tế Trong thực hiện phápluật, những hoạt động có tính chủ động như sử dụng pháp luật, áp dụng phápluật đòi hỏi phải có một cơ chế tổ chức và nguồn lực lớn về con người lẫn vậtchất mới có thể bảo đảm thực hiện tốt.

Vì thế, hiện tượng, quá trình hay quá trình hoạt động đều là nhữngphạm trù có nội hàm riêng của nó nhưng có cùng mục đích là thực hiện nhữngquy định của pháp luật, làm cho những quy định ấy trở thành những hành vithực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật, đáp ứng yêu cầu đặt ra của phápluật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Hoạt động thực hiện pháp luậtkhông chỉ là những hành vi đơn lẻ, độc lập, cắt khúc mà nó luôn luôn là mộtquá trình

Tóm lại, thực hiện pháp luật cần được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật trở thành những hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật và được thực hiện trong thực tế cuộc sống.

Tuy nhiên, dù chúng ta có pháp luật về hòa giải ở cơ sở hoàn chỉnh

cũng không có nghĩa là chúng ta có thể đạt được mục đích điều chỉnh cácquan hệ xã hội trong lĩnh vực hòa giải ở cơ sở, phát huy được truyền thốngđoàn kết, tương thân, tương ái, góp phần giải quyết các vi phạm pháp luật vàtranh chấp nhỏ trong nhân dân, hạn chế, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, đảmbảo trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư

Do đó, pháp luật hòa giải ở cơ sở, với những đặc điểm riêng của nó,muốn đi vào thực tiễn đời sống xã hội cần phải được tổ chức thực hiện tốttrong thực tế phù hợp với đặc thù riêng của nó Có làm được như vậy, chúng

ta mới đưa được pháp luật hòa giải ở cơ sở vào cuộc sống, biến những quyđịnh, những yêu cầu trong quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở thànhnhững hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật

Trang 16

Từ đó, có thể nêu khái niệm thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở như sau:

Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở là quá trình hoạt động có mục đích của các chủ thể pháp luật tương ứng với từng hình thức thực hiện pháp luật, làm cho những quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật nhằm góp phần giải quyết vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân; củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư; phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; giảm bớt một phần gánh nặng cho tòa án và góp phần tạo sự ổn định để phát triển kinh tế - xã hội.

1.1.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở

1.1.2.1 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở là hình thức hoà giải ngoài tố tụng, mang tính xã hội

Hoạt động hòa giải ở cơ sở là hình thức hòa giải ngoài tố tụng, do đóđặc điểm cơ bản nhất của nó là tính phi tố tụng và tính xã hội

Theo pháp luật nước ta hiện nay có những hình thức hòa giải như: hòagiải tại tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, hòa giải về tranh chấp lao động củahội đồng hòa giải lao động, hòa giải về tranh chấp đất đai của UBND, hòagiải về tranh chấp thương mại, hòa giải theo thủ tục tố tụng trọng tài, hòa giảitrong cộng đồng dân cư ở cơ sở… Về cơ bản, có thể chia các hình thức hòagiải trên thành 2 loại, đó là hòa giải trong tố tụng và hòa giải ngoài tố tụng.Hình thức hòa giải tại tòa án và trọng tài là hòa giải trong tố tụng, các hìnhthức khác là hòa giải ngoài tố tụng Các phân tích sau sẽ thấy được những nétđặc trưng của các loại hình hòa giải

Đối với hòa giải được tiến hành tại Tòa án nhân dân theo thủ tục tố tụng dân sự:

Hòa giải là một thủ tục bắt buộc trước khi tiến hành xét xử vụ án đượcquy định tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004: "Tòa án có trách

Trang 17

nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đươưng sự thỏathuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự" Theo đó Tòa án trong quátrình tiến hành tố tụng phải thực hiện nguyên tắc hòa giải Bộ luật cũng quyđịnh cụ thể việc hòa giải được thực hiện chặt chẽ về trình tự thủ tục ở tất cảcác giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi chuẩn bị xét xử đến khi bắt đầu xét

xử tại phiên tòa, trừ những vụ án không được hòa giải như yêu cầu đòi bồithường thiệt hại đến tài sản nhà nước hoặc những vụ án dân sự phát sinh từgiao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội

Đối với hòa giải được tiến hành tại các cơ quan quản lý lao động theo quy định của Bộ luật Lao động:

Đây là một nguyên tắc trong việc giải quyết tranh chấp lao động theoquy định tại Điều 158 của Bộ luật Lao động năm 2002 Theo đó, các tranhchấp về lao động do hệ thống các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranhchấp về lao động, bao gồm: Hòa giải viên lao động, Hội đồng hòa giải cơ sở,Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh hoặc khởi kiện ra Tòa án lao động

Đối với hòa giải tại UBND:

Đây là việc hòa giải tại UBND cấp xã đối với các tranh chấp về đất đaitheo quy định của điều 135 Luật Đất đai năm 2003 và điều 159 Nghị định181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.Theo đó Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặcgiải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở Nếu các bên tranhchấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND xã, phường, thị trấn nơi cóđất tranh chấp, UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặttrận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xãhội khác để hòa giải tranh chấp đất đai Thời hạn hòa giải là ba mươi ngàylàm việc, kể từ ngày UBND xã, phường, thị trấn nhận được đơn Kết quả hòagiải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bêntranh chấp và xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất

Trang 18

Đối với hòa giải trong tranh chấp thương mại:

Trong Luật Thương mại hòa giải được coi là một trong những hìnhthức giải quyết tranh chấp bên cạnh hình thức thương lượng hoặc khởi kiện raTòa án Hòa giải được quy định tại điều 317 Luật Thương mại năm 2005: "…Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏathuận chọn làm trung gian hòa giải…" Phương thức hòa giải này chủ yếu do cácbên tự tiến hành mà chưa có cơ chế điều chỉnh cụ thể của pháp luật

Đối với hòa giải theo thủ tục tố tụng trọng tài:

Trong Luật Trọng tài thương mại, hòa giải được khuyến khích sử dụngtrong quá trình tố tụng trọng tài, Hội đồng trọng tài có thể đứng ra hòa giảikhi các bên có yêu cầu, quy định này nêu tại Điều 9: "Trong quá trình tố tụngtrọng tài, các bên có quyền tự do thương lượng, thỏa thuận với nhau về việcgiải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu Hội đồng trọng tài hòa giải để các bên thỏathuận với nhau về việc

Về trình tự, thủ tục hòa giải:

Hình thức hòa giải ở cơ sở không bị ràng buộc phải tiến hành theo mộtkhuôn mẫu thống nhất nào Nguyên tắc của hòa giải ở cơ sở là không bắtbuộc, không áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hòa giải Việc hòa giảiđược tiến hành vào thời gian và địa điểm mà các đương sự yêu cầu hoặc theosáng kiến của tổ viên Tổ hòa giải sao cho phù hợp với nguyện vọng của cácbên Việc hòa giải có thể tiến hành tại gia đình hoặc địa điểm khác do các bêntranh chấp yêu cầu, nhưng phải bảo đảm không khí thân mật, cởi mở, khôngnên hình thức, phức tạp hóa trong khâu tổ chức thực hiện

Từ đặc điểm trên của hòa giải ở cơ sở, việc thực hiện pháp luật hòa giải

ở cơ sở cũng không mang tính tố tụng Điều này có ý nghĩa trong quá trìnhlinh động, sáng tạo của việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở đảm bảo phùhợp với bản chất của hòa giải ở cơ sở và phát huy được truyền thống đoàn kết,tương thân tương ái trong cộng đồng dân cư, phù hợp với yêu cầu đặt ra củapháp luật Tuy nhiên, cũng từ đặc điểm phi tố tụng trên mà hoạt động hòa giải

Trang 19

ở cơ sở không thống nhất, thiếu chặt chẽ Do đó nếu nhận thức không đúng vềhòa giải ở cơ sở sẽ dễ sinh tư tưởng xem nhẹ hoạt động này ở cả người tiếnhành hòa giải lẫn các bên tranh chấp Từ đó đưa đến hiệu quả thực hiện phápluật hòa giải ở cơ sở sẽ không cao.

1.1.2.2 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở có tính tự nguyện

Hòa giải trước hết là sự thỏa thuận, thể hiện ý chí, nguyện vọng vàquyền định đoạt của các bên tranh chấp Tự nguyện là một trong nhữngnguyên tắc cơ bản của mọi hình thức hòa giải, trong đó có hòa giải ở cơ sở

Nếu như hình thức hòa giải của cơ quan nhà nước là thủ tục bắt buộcthì hình thức hòa giải ở cơ sở là sự tự nguyện cả về việc tiến hành và trongviệc thực hiện các cam kết đã thỏa thuận Nguyên tắc của hòa giải ở cơ sở là

"Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên tranhchấp phải tiến hành hòa giải" (Điều 4 Luật hòa giải ở cơ sở)

Hòa giải ở cơ sở chủ yếu là hướng dẫn, giải thích, thuyết phục, giúp đỡ,dàn xếp để người dân có thể giải quyết được tranh chấp chứ không phải bằngphán xét, bằng quyết định, bằng quyền lực của các cơ quan nhà nước

Về giá trị pháp lý sau hòa giải, việc hòa giải ngoài tố tụng không bắtbuộc phải lập thành biên bản Đối với hòa giải ở cơ sở trong trường hợp cácbên có yêu cầu hoặc được các bên đồng ý, việc hòa giải được tổ hòa giải lậpbiên bản Tuy nhiên biên bản hòa giải không phải là một chứng cứ pháp lý,không phải là cơ sở pháp lý và cũng không làm phát sinh hậu quả pháp lýnào Biên bản hòa giải chỉ là sự ghi nhận sự thỏa thuận của các bên, mang ýnghĩa đạo lý, danh dự và tạo nên một sự ràng buộc về mặt đạo đức, tâm lýgiữa các bên Tổ hòa giải có thể dựa vào biên bản hòa giải thành để thuyếtphục các bên thực hiện những thỏa thuận đã ghi trong biên bản hòa giải.Trong khi đó, giá trị pháp lý của hòa giải thành trong tố tụng là quyết địnhcông nhận sự thỏa thuận của các đương sự và được đảm bảo thực hiện bởi cơquan Nhà nước có thẩm quyền

Trang 20

Điểm đặc biệt của hòa giải ở cơ sở là sự tự nguyện thực hiện các camkết đã thỏa thuận khi kết thúc việc hòa giải Nếu sau đó các bên không thựchiện cam kết thì hòa giải viên cũng chỉ có thể động viên, thuyết phục họ thựchiện chứ không có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành Vì thỏathuận trong hòa giải ở cơ sở không có giá trị bắt buộc thi hành nên dễ làm chocác bên đương sự coi thường kết quả hòa giải, muốn thực hiện hay khôngcũng được vì không có ràng buộc pháp lý nào Đôi khi chính bản thân hòagiải viên, người làm công tác hòa giải cũng thiếu trách nhiệm, thiếu nhiệt tình,tiến hành hòa giải theo hình thức rồi chuyển vụ việc cho tòa án hoặc cấp caohơn giải quyết Do đó, vai trò của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở khôngđược nhận thức đúng đắn, bản chất tốt đẹp của hòa giải ở cơ sở bị xem nhẹ,không phát huy được ý nghĩa xã hội của nó trên thực tế.

1.1.2.3 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở chỉ giới hạn trong phạm vi và đối tượng nhất định

Khác với các hình thức hòa giải khác, hòa giải ở cơ sở là hình thức giảiquyết vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân mà không bắt buộctheo trình tự, thủ tục quy định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền haycác tổ chức nghề nghiệp Tuy nhiên, không phải mọi vi phạm pháp luật vàtranh chấp đều được tiến hành hòa giải, việc hòa giải chỉ được tiến hành đốivới những vụ việc thuộc phạm vi cho phép

Phạm vi hòa giải được quy định tại khoản 1, Điều 3 Luật hòa giải ở cơ

sở Theo đó, hòa giải được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, viphạm pháp luật Quốc Hội giao cho Chính phủ quy định cụ thể phạm vi mâuthuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật được phép hòa giải trong thực tế Hiệnnay Chính phủ đang giao cho Bộ Tư pháp soạn thảo nghị định hướng dẫn cụthể vấn đề này

Trang 21

Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định các vụ việc không được hòa giảitại điểm a, b, c, d, khoản 1 Điều 3 Luật hòa giải ở cơ sở Theo đó, không hòagiải các vụ việc sau đây:

Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng

Vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, giao dịch dân sự mà theoquy định của pháp luật tố tụng không được hòa giải

Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải truy cứu trách nhiệm hình sựhoặc bị xử lý vi phạm hành chính

Mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy địnhcủa pháp luật

1.1.2.4 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở có nội dung và phương pháp là sự kết hợp giữa pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân

Sự kết hợp giữa những quy định của pháp luật với đạo đức xã hội vàphong tục, tập quán của nhân dân là nét đặc trưng nhất của hòa giải ở cơ sở.Khi giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân dân nếu nhưngười hòa giải chỉ căn cứ vào các chuẩn mực đạo đức truyền thống của dântộc, phong tục tập quán của địa phương, dòng họ để dàn xếp mâu thuẫn, tranhchấp thì chưa đủ và không hiệu quả Các vụ việc nếu chỉ dừng lại ở quy phạmđạo đức để hòa giải thì chưa hẳn đã mang lại kết quả tích cực và thỏa đáng.Một vụ việc chỉ được giải quyết dứt điểm và hiệu quả khi hòa giải viên bêncạnh việc căn cứ vào các chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán còn cầnphải nắm vững và vận dụng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật củanhà nước, nhất là những quy định pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụcủa công dân

Để làm được điều này, hòa giải viên trước hết phải nắm vững quy địnhcủa pháp luật có liên quan trực tiếp đến công tác hòa giải ở cơ sở trong cáclĩnh vực như pháp luật dân sự (quan hệ tài sản, quan hệ thừa kế, hợp đồng dân

Trang 22

sự, nghĩa vụ dân sự…), pháp luật hôn nhân gia đình (quyền và nghĩa vụ của

vợ chồng, quan hệ cha-mẹ-con, vấn đề con nuôi, vấn đề ly hôn, vấn đề cấpdưỡng…), pháp luật về đất đai (quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất…),pháp luật hành chính… Bên cạnh đó, hòa giải viên phải biết kết hợp với cácquy phạm đạo đức, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân như: truyềnthống văn hóa của địa phương, tâm lý của cộng đồng, luật tục của đồng bàodân tộc thiểu số, hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, xóm, gia quy củadòng họ…

Những quy định của pháp luật được thể hiện ở hệ thống văn bản quyphạm pháp luật có thể dễ dàng tra cứu nhưng các chuẩn mực đạo đức, phongtục, tập quán đôi khi không được thể hiện bằng văn bản, đó có thể là nhữngthói quen hay lời nói được truyền lại từ đời này qua đời khác Do đó, việc vậndụng đạo đức và phong tục, tập quán như thế nào trong mỗi vụ việc hòa giải

là kỹ năng của mỗi hòa giải viên Một lưu ý quan trọng là phong tục, tập quánđược áp dụng trong hòa giải ở cơ sở là phong tục, tập quán tốt đẹp của nhândân, không trái với pháp luật và quy tắc xây dựng nếp sống mới Nếu phongtục, tập quán đã được quy định trong các hương ước, quy ước làng thì phảiđược Chủ tịch UBND cấp huyện phê duyệt thực hiện Đối với những hủ tục,tập quán lỗi thời thì không được vận dụng để hòa giải mà phải cương quyếtxóa bỏ và vận động nhân dân bài trừ nó

1.2 VAI TRÒ VÀ HÌNH THỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI Ở

CƠ SỞ

1.2.1 Vai trò thực hiện pháp luật hoà giải ở cơ sở

1.2.1.1 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở góp phần phát huy, tăng cường truyền thống đoàn kết, đạo đức dân tộc, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa ở cơ sở

Từ thời các vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh ngày nay, suốt mấynghìn năm dựng nước và giữ nước, lịch sử dân tộc ta đã trải qua biết bao cuộc

Trang 23

chiến tranh khốc liệt, nhân dân ta đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết,tương thân tương ái trong cộng đồng dân cư - đó là một tài sản quý báu luônđược giữ gìn và phát huy "Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong mộtnước phải thương nhau cùng", "Bán anh em xa, mua láng giềng gần", "Chồnggiận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa chẳng đời nào khê", "Em thuận, anh hòa

là nhà có phúc", "Dĩ hòa vi quý"… những đạo lý đó đã khắc sâu và trở thànhtiềm thức trong lòng nhiều người dân Việt Nam Bởi thế, dân tộc ta luôn biếtsống đoàn kết gắn bó với nhau, xây dựng tình làng nghĩa xóm, xây dựng nềntảng xã hội vững chắc Đó chính là sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng mọi

kẻ thù hùng mạnh nhất Bác Hồ đã từng nói:

Chế độ ta là chế độ dân chủ, Đảng và Chính phủ ta chỉ lo phục vụ lợiích của nhân dân Đồng bào tất cả các dân tộc không phân biệt lớnnhỏ, phải yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh

em một nhà, để cùng xây dựng Tổ quốc chung, xây dựng chủ nghĩa xãhội, làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc ấm no [48, tr.282].Lời của Bác chính là để nhắc nhở chúng ta thực hiện tình đoàn kết, tươngthân tương ái, tránh gây chia rẽ, mâu thuẫn, mất đoàn kết trong nhân dân

Tuy nhiên, trong cuộc sống cộng đồng dân cư, trong từng gia đình, lúcnày hay lúc khác không tránh khỏi nảy sinh những va chạm, xích mích Đó cóthể là những tranh chấp, mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình hoặcgiữa những người hàng xóm láng giềng trong quan hệ về dân sự, hôn nhân giađình, đất đai hoặc những việc vi phạm nhỏ (như trộm cắp vặt, gây mất trật tựcông cộng, va quệt xe cộ, đánh nhau gây thương tích nhẹ…) Những mâuthuẫn ấy nếu không được giải quyết tận tốc và triệt để ngay từ đầu có thểtrở thành những vụ việc phức tạp, dẫn đến khiếu kiện, tranh chấp về dân

sự, thậm chí phát sinh thành những vụ án hình sự nghiêm trọng Đây là mộttrong những yếu tố gây mất ổn định và trật tự an toàn xã hội ở cơ sở, làmxói mòn tình cảm xóm làng và ảnh hưởng đến mối quan hệ đoàn kết gắn bó

Trang 24

trong cộng đồng dân cư Với truyền thống tốt đẹp từ bao đời nay, trongthực tế nhân dân ta đã tự giúp nhau dàn xếp, khuyên bảo nhau "bớt giậnlàm lành", "chín bỏ làm người" để hòa giải, trở lại hòa thuận, để còn "tốilửa tắt đèn có nhau"

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, "con người dù là xấu, tốt, văn minh hay

dã man đều có tình" [47, tr.60] và khẳng định truyền thống "nhân dân ta từ lâu

đã sống với nhau có tình có nghĩa" [49, tr.554] Vì thế, mọi vi phạm phápluật, mâu thuẫn, tranh chấp trong nhân dân không phải lúc nào cũng được giảiquyết ổn thỏa bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng một bản án hay mộtquyết định mà nhiều khi được giải quyết ổn thỏa bằng hòa giải Vì hòa giải sẽgiúp các bên đạt được thỏa thuận, tự giải quyết với nhau tận gốc rễ các mâuthuẫn, tranh chấp và có tác dụng khôi phục, giữ gìn tình đoàn kết, tương thântương ái, giữ gìn được tình cảm trong gia đình, hàng xóm láng giềng

Trong quản lý xã hội hiện nay, để đạt được hiệu quả tối ưu, bên cạnhviệc đề cao pháp luật cần kết hợp với giáo dục đạo đức như Văn kiện Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ: "Tăng cường pháp chế, xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quản lý xã hội bằng phápluật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức" [19, tr.45] Do đó, trongthực hiện pháp luật phải hướng con người đến chân, thiện, mỹ; phải chú ý đếnviệc giáo dục, cảm hóa đối với người lầm lỗi, sai phạm Thực hiện phápluật hòa giải ở cơ sở không những góp phần phát huy truyền thống đoànkết, tương thân tương ái trong cộng đồng dân cư mà còn có tác dụng giáodục, cảm hóa con người, giáo dục ý thức pháp luật, khơi dậy tình cảm, đạođức tốt đẹp

Như vậy, thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở có vai trò rất quan trọngtrong việc xây dựng tình làng, nghĩa xóm đầm ấm, đùm bọc, giúp đỡ nhau,xây dựng cộng đồng xã hội bình yên, giàu manh, tăng cường tình đoàn kếttrong nhân dân và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân Hòa giải làm cho con

Trang 25

người sống với nhau có nghĩa có tình, ứng xử với nhau trong quan hệ hàngngày phù hợp với pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội Mọi người có ýthức giữ gìn đoàn kết, tình làng, nghĩa xóm, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.Bản thân mỗi gia đình có ý thức giáo dục, nhắc nhở con cháu sống và làmviệc theo pháp luật, phù hợp với đạo đức xã hội, góp phần hình thành nếpsống văn minh, xây dựng gia đình văn hóa.

1.2.1.2 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở góp phần trực tiếp giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở

Trong cuộc sống thường ngày, do khác nhau về quan niệm sống, nhậnthức, tình cảm, lợi ích kinh tế… nên việc nảy sinh mâu thuẫn tranh chấp giữacác thành viên trong gia đình, giữa các hộ gia đình, giữa các cá nhân với nhautrong cộng đồng dân cư là điều khó tránh khỏi Những mâu thuẫn, tranh chấp

đó có thể giải quyết bằng nhiều hình thức khác nhau: một là tự thỏa thuậngiữa các bên; hai là đơn phương chấm dứt xung đột "một câu nhịn, chín câulành"; ba là nhờ sự can thiệp của chính quyền địa phương thông qua hòa giải

ở cơ sở; bốn là khiếu kiện ra Tòa án nhân dân hoặc các cơ quan Nhà nướckhác Rất ít trường hợp sau khi xảy ra tranh chấp mà các bên tự dan xếp thỏathuận được, hoặc một bên chịu từ bỏ lợi ích của mình để đơn phương chấmdứt xung đột, vì thế thường thì phải nhờ đến sự can thiệp của một bên thứ bamới có thể giải quyết được mâu thuẫn Nếu vụ việc bị đưa ra tòa án thì sẽcàng phức tạp hơn vì phải tuân theo một trình tự thủ tục tố tụng chặt chẽ, cảngười đi kiện và người bị kiện chắc chắn sẽ mất rất nhiều thời gian và côngsức để theo đuổi vụ kiện đến cùng Hơn nữa, đối với những vi phạm pháp luậtnhỏ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hay xử lý hành chính thìnhững vi phạm đó nên được giải quyết bằng hòa giải Vì thế trong các hìnhthức trên, hòa giải ở cơ sở là một phương pháp hữu hiệu được sử dụng vì nó

Trang 26

vừa hợp đạo lý, tâm lý của người Việt vừa phát huy được những điểm tíchcực của mình.

Thực tế những vi phạm pháp luật và mâu thuẫn nhỏ nếu không kịp thờigiải quyết thấu đáo có thể dẫn đến những hành vi tội phạm Phần lớn các hành

vi phạm tội, đặc biệt là tội giết người, tội cố ý gây thương tích… đều phátsinh từ những mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ, sự bất đồng chính kiến, thói ghenghét nhau của người dân do không được kịp thời hòa giải đã gây ra nhữnghành động đáng tiếc Trong giai đoạn hiện nay, một số tranh chấp đặc biệt làtranh chấp về đất đai, là một trong những tranh chấp dai dẳng, quyết liệt vàphức tạp Những tranh chấp này nếu không kịp thời giải quyết sẽ dẫn đếnnguy cơ khiếu kiện tập thể, tụ tập đông người gây rối ở các cơ quan hànhchính Nhà nước, trở thành điểm nóng chính trị ở nhiều địa phương trong thờigian gần đây Thông qua việc phát hiện và giải quyết tận gốc những mâuthuẫn, tranh chấp sẽ góp phần ổn định trật tự xã hội ở địa bàn dân cư, tạo điềukiện thuận lợi cho các cấp chính quyền tăng cường công tác quản lý xã hội ở

cơ sở

Vì vậy, thực hiện tốt pháp luật về hòa giải ở cơ sở không những gópphần giải quyết kịp thời các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộngđồng dân cư mà còn có tác dụng triệt tiêu mầm mống dẫn đến tội phạm vànhững bất ổn xã hội, góp phần phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảođảm trật tự an toàn xã hội ở cơ sở Từ đó có thể thấy, hòa giải ở cơ sở khôngnhững là một hình thức giải quyết tranh chấp mà nó còn là một nguyên tắcquản lý xã hội trong mọi thời đại

1.2.1.3 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở góp phần hạn chế đơn thư khiếu kiện trong nhân dân, giảm bớt tình trạng gửi đơn khiếu kiện lên Tòa án, cơ quan hành chính cấp trên, tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc của nhân dân và Nhà nước

Trang 27

Trong các hình thức giải quyết tranh chấp, hình thức giải quyết bằng cơquan nhà nước có thẩm quyền (Tòa án, cơ quan hành chính nhà nước) là hìnhthức đặc biệt quan trọng Bởi lẽ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhân danhNhà nước, được quyền phân xử để đưa ra các phán quyết có hiệu lực bắt buộcthi hành đối với các bên tranh chấp Các phán quyết này thể hiện quyền lựcNhà nước với tư cách là cơ quan bảo vệ pháp luật Nếu các phán quyết nàykhông được thi hành thì Nhà nước có một cơ chế để đảm bảo thực hiện bằng

sự cưỡng chế

Việc giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án hoặc cơ quan hành chínhnhà nước có thẩm quyền được quy định chặt chẽ, và chỉ được tiến hành theomột trình tự thủ tục luật định, để đảm bảo giải quyết vụ việc theo đúng quyđịnh của pháp luật Những mâu thuẫn, tranh chấp của nhân dân nếu được giảiquyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ dẫn đến việc tốn hao công sức,tiền bạc, thời gian… của nhân dân và cả cơ quan nhà nước Một thực tế hiệnnay, số vụ việc khiếu kiện mà Tòa án hay UBND các cấp phải thụ lý giảiquyết đã quá tải, trong khi đó cơ sở vật chất kỹ thuật, điều kiện về đội ngũ cán

bộ chuyên môn lại chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới Đối vớinhiều vụ việc, nguyên nhân dẫn đến tình trạng khiếu kiện ra Tòa án, khiếukiện vượt cấp là việc chưa thực hiện tốt hình thức hòa giải ở cơ sở

Như vậy, thực hiện tốt pháp luật hòa giải ở cơ sở không những gópphần giải quyết kịp thời các mâu thuẫn mà thông qua đó còn tuyên truyềnpháp luật, giải thích lợi hại của việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải so vớigiải quyết tranh chấp bằng tòa án Kinh nghiệm của một số nơi cho biết, hòagiải viên phải giải thích cho các bên tranh chấp thấy được lợi hại của việc giảiquyết bằng hòa giải so với việc giải quyết bằng tòa án về số tiền mà đương sựphải bỏ ra (chi phí dành cho tố tụng thấp nhất cũng gần 1 triệu đồng/vụ) Từ

đó làm giảm bớt các vụ việc phải giải quyết của tòa án và các cơ quan hànhchính nhà nước, tiết kiệm cho nhân dân về chi phí thưa kiện, thời gian, công sức

đi lại, hạn chế rủi ro tai nạn giao thông, tránh được "tâm lý thắng thua", tập trung

Trang 28

thời gian và công sức làm ăn, góp phần xóa đói giảm nghèo ở cơ sở Ngoài ra,công tác hòa giải ở cơ sở còn góp phần tiết kiệm thời gian, công sức, cơ sở vậtchất của các cơ quan tố tụng, giảm chi tiêu từ ngân sách nhà nước.

1.2.1.4 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở góp phần tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật, từng bước nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, xây dựng thói quen sống và làm việc theo pháp luật

Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là một khâu của tổchức thực hiện pháp luật, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đưa phápluật vào cuộc sống Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được thựchiện thông qua nhiều hình thức: thông qua phương tiện thông tin đại chúng,thông qua giảng dạy pháp luật ở các nhà trường, đặc biệt việc tuyên truyền,phổ biến, giáo dục pháp luật còn được thực hiện thông qua các hoạt động tưpháp như xét xử, hòa giải… Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở và tuyêntruyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau Đểviệc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở đạt hiệu quả phải có cơ chế tổ chứcthực hiện pháp luật hữu hiệu đưa pháp luật hòa giải vào cuộc sống, trong đóviệc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về hòagiải ở cơ sở riêng là khâu không thể thiếu Ngược lại, tổ chức thực hiện phápluật hòa giải ở cơ sở là một trong những hình thức, phương pháp tuyên truyền,phổ biến, giáo dục pháp luật hữu hiệu

Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và dânchủ hóa đời sống xã hội, việc giáo dục pháp luật không chỉ ngừng lại ở mứccung cấp các thông tin pháp luật cho mọi đối tượng, giáo dục pháp luật cònphải đáp ứng các nhu cầu hiểu biết đa dạng của từng người dân Ngày càngnhiều người dân có nhu cầu tìm hiểu pháp luật một cách cụ thể và thiết thực

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi có tranh chấp phát sinh trong diaodịch làm ăn, sinh hoạt dân sự Bằng sự định hướng giáo dục thông qua hoạtđộng thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở mà pháp luật đi sâu vào nhận thức,

Trang 29

tình cảm của từng cá nhân, từng gia đình, từng cộng đồng một cách sâu sắc,

có sức thuyết phục hơn theo phương châm "trăm nghe không bằng một thấy"

Ý nghĩa của việc hòa giải một vụ việc cụ thể với sự giải thích, vận động, phântích của hòa giải viên có tác dụng khơi dậy niềm tin, tình cảm của người dânđối với pháp luật Đồng thời thông qua hoạt động hòa giải, hòa giải viên tuyêntruyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các bên tranh chấp, giúp họ hiểubiết về chính sách pháp luật của Nhà nước Từ đó hình thành thói quen sống

và làm việc theo pháp luật của nhân dân

1.2.2 Các hình thức thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở

Các quy phạm pháp luật về hoà giải ở cơ sở rất phong phú, đồng thờichúng cũng xác định quyền, nghĩa vụ thực hiện đối với các chủ thể khác nhau,

vì thế hình thức thực hiện chúng cũng rất đa dạng Căn cứ vào tính chất củahoạt động thực hiện pháp luật hoà giải ở cơ sở có thể chia thành bốn hình thứcthực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở nhằm mục đích chuyển tải các quy phạmpháp luật vào cuộc sống thực tiễn, đó là:

Tuân theo pháp luật hòa giải ở cơ sở (xử sự thụ động) là một hình thức

thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hànhnhững hoạt động mà pháp luật ngăn cấm Ví dụ: người không có tư cách làhoà giải viên theo điều 7 của Luật Hoà giải thì dù có được mời làm người hoàgiải thì dù có kiềm chế không thực hiện những hành vi mà pháp luật ngăncấm, tức là công dân đó đã tuân thủ các quy định của pháp luật về hoà giải ở

cơ sở; đồng thời các cá nhân, hộ gia đình sống đoàn kết tương thân tương ái,không cố tình gây mâu thuẫn xích mích với nhau trong cộng đồng dân cư

Thi hành (chấp hành) pháp luật hoà giải ở cơ sở là một hình thức thực

hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý củamình bằng hành động tích cực Những quy phạm pháp luật bắt buộc (nhữngquy định nghĩa vụ phải thực hiện, những hành vi tích cực nhất định) đượcthực hiện ở hình thức này Ví dụ: khi phát hiện có mâu thuẫn tranh chấp trong

Trang 30

cộng đồng dân cư, tổ viên tổ hòa giải có trách nhiệm tiến hành hòa giải theonguyên tắc phù hợp giữa đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhànước với truyền thống đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân.Nếu hòa giải viên không chịu tiến hành hòa giải hay hòa giải trái quy định phápluật thì đó là hành vi không thi hành pháp luật về hòa giải ở cơ sở.

Sử dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các

chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi

mà pháp luật cho phép) Hình thức này khác với hình thức tuân thủ pháp luật

và thi hành pháp luật ở chỗ chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiệnquyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình, chứ không bị ép buộcphải thực hiện Ví dụ: các bên trong tranh chấp được khuyến khích giải quyếtmâu thuẫn bằng hòa giải Hòa giải dựa trên sự tự nguyện của các bên, khôngbắt buộc, áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hòa giải Do đó, khi có mâuthuẫn xảy ra các bên có thể nhờ tổ hòa giải ở cơ sở giải quyết hoặc khởi kiệnthẳng vụ việc lên tòa án mà không cần thông qua hòa giải ở cơ sở Việc lựachọn giải quyết như thế nào là quyền của các bên

Áp dụng pháp luật hoà giải ở cơ sở là một hình thức thực hiện pháp

luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách

có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định củapháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra cácquyết định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụthể Trong trường hợp này các chủ thể thực hiện pháp luật thực hiện các quyđịnh của pháp luật có sự can thiệp của Nhà nước Ví dụ: việc thành lập tổ hòagiải, quản lý công tác hòa giải ở cơ sở, phối hợp hòa giải tranh chấp mà cácđương sự ở các cụm dân cư khác nhau… đều là hình thức áp dụng pháp luật

về hòa giải ở cơ sở

Như vậy, thực hiện pháp luật được thực hiện thông qua bốn hình thức:tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp

Trang 31

luật hoà giải ở cơ sở Tuy nhiên, hình thức áp dụng pháp luật có sự khác biệtvới các hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật.

Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ, nếu như tuân thủ pháp luật, thi hành phápluật và sử dụng pháp luật Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ, nếu như tuân thủpháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọichủ thể thực hiện pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật là hìnhthức luôn luôn có sự tham gia của Nhà nước, thông qua các cơ quan nhà nướchoặc những người có thẩm quyền Có thể nói, giữa các hình thức thực hiệnpháp luật luôn có sự đan xen, bao chứa và gắn bó chặt chẽ với nhau, chúngkhông tách rời biệt lập với nhau mà các chủ thể thông thường phải đồng thờithực hiện các quy định pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau, bởi khôngthực hiện quy định pháp luật này sẽ không thể thực hiện được các quy địnhpháp luật khác Do vậy, việc xây dựng được một hệ thống pháp luật hoànthiện, có chất lượng đã khó, nhưng để thực hiện pháp luật chính xác, nghiêmminh và có hiệu quả cao còn khó hơn gấp nhiều lần

1.3 CÁC YẾU TỐ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI Ở

cơ sở phải đảm bảo các tiêu chí sau:

Một là, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất Nội dung các văn bản

pháp luật về hòa giải ở cơ sở không trái với Hiến pháp, không chồng chéo,không mâu thuẫn nhau và không mâu thuẫn với các văn bản pháp luật cóliên quan Nhưng vẫn phải có đặc điểm riêng biệt của công tác hòa giải.Riêng nhưng đều liên quan chặt chẽ với nhau, trong mỗi hoạt động đều có

Trang 32

ý nghĩa, tác dụng, ảnh hưởng của hoạt động khác Thông qua hòa giải,những quy định cơ bản của pháp luật về dân sự, đất đai, hôn nhân giađình… cũng được tuyên truyền đến nhân dân; hòa giải viên chính là ngườigiải thích, hướng dẫn cho các bên đương sự biết những quyền và nghĩa vụcủa họ có liên quan trong tranh chấp đó Hoạt động này cung cấp tri thức,hiểu biết về pháp luật (bên cạnh phân tích đạo lý truyền thống tốt đẹp), xâydựng tình cảm, thái độ đúng đắn đối với pháp luật, làm cho các đương sựnhận thức được quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của họ, hình dung được hành

vi xử sự nào là đúng đắn

Hai là, trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở là của

cả hệ thống chính trị Lâu nay khi đề cập đến vấn đề thực hiện pháp luậtchúng ta chỉ coi đó là trách nhiệm của các cơ quan hành pháp, tư pháp Thựctiễn tổ chức thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở cho thấy, ngoài các cơ quannhà nước, nếu toàn bộ các thành viên khác của hệ thống chính trị đều nêu caotrách nhiệm, có hình thức tổ chức tuyên truyền, giải thích, vận động phù hợpvới vai trò, chức năng của mình thì sẽ đem lại hiệu quả cao hơn trong thựchiện pháp luật Tổ chức Đảng, Mặt trận và các thành viên của Mặt trận cáccấp, nhất là ở cấp cơ sở, phải đưa hòa giải vào chỉ tiêu thi đua coi như hoạtđộng thường xuyên của đơn vị, như vậy sẽ góp phần nâng cao ý thức tráchnhiệm và sự đồng thuận của cả xã hội Những hoạt động tổ chức thực hiệnpháp luật hòa giải ở cơ sở với sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị dướinhững hình thức phong phú, sinh động sẽ tạo nên dư luận xã hội ủng hộ, đồngtình với những hành vi xử sự đúng đắn, lên án những hành vi xử sự trái phápluật, qua đó cũng góp phần định hướng hành vi của công dân xử sự theo yêucầu của pháp luật

Ba là, xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật về hòa giải ở

cơ sở Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, giải thích, hướng dẫn, tổchức vận động thực hiện pháp luật có tác dụng nâng cao ý thức pháp luật cho

Trang 33

các chủ thể Tuy nhiên, vai trò này tác động đến các chủ thể không phải lúcnào cũng có kết quả như nhau, trong xã hội vẫn có những người vi phạm phápluật Để bảo đảm cho pháp luật được thực hiện đòi hỏi phải xử lý nghiêmminh, kịp thời mọi hành vi vi phạm pháp luật Đó là nội dung yêu cầu kháchquan trong tổ chức thực hiện pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thực hiệntrong thực tế Các văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở ở cơ sở luôn có quyđịnh về khen thưởng và xử lý vi phạm trong lĩnh vực hòa giải ở cơ sở, tùytheo tính chất, mức độ của vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chínhhoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thườngtheo quy định của pháp luật.

1.3.2 Trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị và đạo đức của hòa giải viên

Trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị và đạo đức của hòa giải viên lànhững yếu tố quyết định bảo đảm thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở đạthiệu quả cao

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói "cán bộ là cái gốc của mọi côngviệc", "muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém"[46, tr.269, 240] Hòa giải viên tốt là người phải có đủ trình độ, năng lựchoàn thành tốt công việc được giao, đồng thời là người có phẩm chất chínhtrị, đạo đức tốt Thực tiễn đã chứng minh rằng hòa giải viên trình độ, nănglực yếu kém, lại thiếu trách nhiệm, thiếu nhiệt tình trong công việc thì tỷ lệhòa giải thành không cao Phẩm chất chính trị, đạo đức của hòa giải viên cóảnh hưởng trực tiếp đến công tác hòa giải ở cơ sở Hòa giải viên phải biếtkết hợp giữa đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vớiđạo đức xã hội, phong tục tập quán phù hợp trong nhân dân để giải quyếttranh chấp mâu thuẫn Bản thân hòa giải viên phải là người gương mẫutrong chấp hành pháp luật, là người có uy tín, có đạo đức trong cộng đồngthì mới có thể thuyết phục được người khác Như vậy, để bảo đảm thực

Trang 34

hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở đạt hiệu quả cao cần nâng cao kiến thứcpháp luật, trình độ chuyên môn, năng lực, kỹ năng nghiệp vụ, bên cạnh đócòn phải tăng cường giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lốisống cho đội ngũ hòa giải viên.

1.3.3 Ý thức pháp luật của các chủ thể trong thực hiện pháp luật

về hòa giải ở cơ sở

Ý thức pháp luật thể hiện sự nhận thức của các chủ thể và thái độ của

họ đối với các quy định của pháp luật Pháp luật hòa giải ở cơ sở được thựchiện tốt hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó ý thức pháp luật củacác chủ thể là yếu tố chủ quan có vị trí quan trọng Các chủ thể trong thựchiện pháp luật hòa giải ở cơ sở bao gồm: các cơ quan nhà nước, cán bộ côngchức có thẩm quyền, tổ chức, đoàn thể, hòa giải viên, các bên tranh chấp

Trong nhiều trường hợp vi phạm pháp luật, không tuân thủ pháp luật là

do trình độ văn hóa thấp, thiếu hiểu biết pháp luật của một bộ phận nhân dân;nhưng cũng có trường hợp công dân có trình độ văn hóa nhất định, có hiểubiết pháp luật nhưng đạo đức, nhân cách kém nên vẫn cố tình vi phạm phápluật hoặc một bộ phận cán bộ công chức có thẩm quyền, hòa giải viên lợidụng chức vụ quyền hạn, công việc được giao để trục lợi, thực hiện hành vitrái pháp luật Trong một xã hội ngày càng phát triển, trình độ văn hóa củanhân dân sẽ ngày càng được nâng cao, tạo cơ sở cho việc nâng cao ý thứcpháp luật, vì phải có trình độ văn hóa nhất định thì mới có thể tiếp thu, nhậnthức về pháp luật, xây dựng tình cảm, lòng tin vào pháp luật; qua đó chuyểnhóa thành hành vi tích cực thực hiện theo yêu cầu của pháp luật Sự bảo đảmthực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở không chỉ xuất phát từ ý thức pháp luậtcủa các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức có thẩm quyền, các tổ chức đoànthể và hòa giải viên mà kể cả các bên tranh chấp

Trang 35

Do vậy, nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể trong thực hiện phápluật hòa giải ở cơ sở là một giải pháp hữu hiệu để bảo đảm thực hiện tốt phápluật hòa giải ở cơ sở.

1.3.4 Các đảm bảo về cơ sở vật chất

Thực hiện pháp luật nói chung, hòa giải ở cơ sở nói riêng đòi hỏi phải

có những chi phí nhất định, đó là những đảm bảo về cơ sở vật chất cho quátrình triển khai thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở Chi phí thực hiện phápluật hòa giải ở cơ sở bao gồm: chi thù lao cho hòa giải viên, chi sơ kết, tổngkết các hoạt động hòa giải, chi thi đua, khen thưởng, chi tổ chức tập huấn, bồidưỡng, chi mua tài liệu, văn phòng phẩm phục vụ cho hòa giải viên, chi in ấncác biểu mẫu, sổ sách báo cáo…

Kinh phí và các điều kiện vật chất phục vụ cho hoạt động hòa giải ở cơ

sở do ngân sách nhà nước chi trả Căn cứ vào tình hình cụ thể và khả năngngân sách của địa phương, ban Tư pháp lập dự trù kinh phí đề nghị UBNDcấp xã, phường, thị trấn chi hỗ trợ cho công tác hòa giải Do ngân sách và khảnăng của mỗi địa phương là khác nhau cho nên kinh phí dành cho hoạt độnghòa giải cũng khác nhau Để đảm bảo thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sởtrong thực tiễn đời sống xã hội nhất thiết phải tính đến những chi phí, điềukiện vật chất cần thiết cho hoạt động này

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI

Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH

2.1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA TỈNH QUẢNG NINH CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI Ở

CƠ SỞ

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Quảng Ninh là tỉnh nằm ở vùng Đông Bắc của Việt Nam Toạ độ địa

lý khoảng 106o26' đến 108o31' kinh độ đông và từ 20o40' đến 21o40' vĩ độ bắc

Bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 195 km Bề dọc từ bắc xuốngnam khoảng 102 km Diện tích tự nhiên 5.938 km2, chia thành 14 đơn vị hànhchính bao gồm: 10 huyện và 04 thành phố, với 186 xã, phường, thị trấn; trong

đó có 109 xã miền núi, hải đảo Tỉnh có đường biên giới kéo dài tiếp giáp vớiTrung Quốc, có địa bàn rộng, phức tạp Dân số hơn một triệu người, phân bốkhông đồng đều, có sự di cư biến động thường xuyên, tính chất xã hội đa

Trang 37

dạng, phức tạp với nhiều tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, tập quán sinh hoạtkhác nhau

Một số ảnh hưởng của đặc điểm tự nhiên đối công tác hào giải ở cơ sở như sau:

Với diện tích đất tự nhiên lớn, trải dài hơn 5.000km2, có đường biêngiới dài giáp Trung Quốc và hơn 100 xã miền núi-hải đảo nên dân cư sốngphân tán phân bố không đồng đều, có sự di cư biến động thường xuyên, tínhchất xã hội đa dạng, phức tạp với nhiều tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, tậpquán sinh hoạt khác nhau Nhiều nơi vẫn còn tồn tại phong tục, tập quán lạchậu, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo Với đặc điểm địa lý và

xã hội như vậy, bên cạnh những kết quả về tinh tế - xã hội, Quảng Ninh còn

có những vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh, trong đó có tình trạng vi phạmpháp luật, tranh chấp dân sự, ly hôn, khiếu kiện còn nảy sinh và diễn biếnphức tạp; sự hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ

và nhân dân còn hạn chế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa Hơn nữa mặt trái củanền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã có những tác động xấu đến sựgắn kết cộng đồng, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đến tưtưởng, nhận thức, hành vi ứng xử của người dân, phát sinh nhiều mâu thuẫn,tranh chấp trong cộng đồng dân cư Đòi hỏi phải tăng cường công tác tuyêntruyền, phổ biến giáo dục pháp luật và công tác hóa giải ở cơ sở nhằm nângcao ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật trong cán bộ và nhândân, đồng thời giữ gìn tình làng xóm, đoàn kết cộng đồng, cùng nhau xâydựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, phát triển khinh tế - văn hóa, xã hội

Mặt khác tỉnh Quảng Ninh có đường biên giới dài với Trung Quốc vàviệc giao lưu qua lại cũng rất thuận tiện Cho nên dân cư ở các huyện vùngbiên giới thường xuyên qua lại buôn bán, thăm thân nhân, chữa bệnh, kếthôn… vì thế những quan hệ dân sự ở đây nhiều khi mang yếu tố nước ngoài

Trang 38

Có trường hợp hòa giải một vu mâu thuẫn về hôn nhân gia đình mà một tronghai vợ hoặc chồng là người mang quốc tịch Trung Quốc nhưng lại làm ăn sinhsống ở Việt Nam Do đó, việc thực hiện pháp luật hòa giải ở những vùng biêngiới mang những nét đặc thù nhất định, tuy chỉ là những mâu thuẫn tranhchấp nhỏ nhưng việc xử lý phải hết sức khéo léo Đối với các loại tranh chấptrên, nhất thiết phải có sự chỉ đạo của cấp ủy trong việc giải quyết mâu thuẫn

để lập lại tình hình an ninh trật tự tại địa phương

2.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh trật

tự, an toàn xã hội

Về kinh tế:

Tỉnh Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của vùng kinh

tế trọng điểm phía bắc; đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch lớncủa Việt Nam với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã hai lần đượcUNESCO công nhận về giá trị thẩm mĩ và địa chất, địa mạo Tỉnh QuảngNinh có nhiều Khu kinh tế, Trung tâm thương mại Móng Cái là đầu mối giaothương giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc và các nước trong khu vực.Năm 2010, Quảng Ninh là tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứngthứ 7 ở Việt Nam

Tỉnh Quảng Ninh hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh

tế - xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản, (về trữ lượng than trên toàn ViệtNam thì riêng Quảng Ninh đã chiếm tới 90%.) nguyên liệu sản xuất vật liệuxây dựng, cung cấp vật tư, nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước vàxuất khẩu, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, tăng trưởng GDPcủa tỉnh Quảng Ninh Quảng Ninh với di sản thiên nhiên thế giới Vịnh HạLong 2 lần được Tổ chức UNESCO tôn vinh Với di tích văn hóa Yên Tử, bãicọc Bạch Đằng, Đền Cửa Ông, Đình Quan Lạn, Đình Trà Cổ, núi Bài Thơ thuận lợi cho phát triển du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch thể thao, du lịch

Trang 39

văn hóa tâm linh Quảng Ninh được xác định là 1 điểm của vành đai kinh tếVịnh Bắc Bộ, là cửa ngõ quan trọng của hành lang kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh Có hệ thống cảng biển, cảng nước sâu có năng lực bốc xếp chotàu hàng vạn tấn, tạo ra nhiều thuận lợi cho ngành vận tải đường biển giữanước ta với các nước trên thế giới Quảng Ninh có hệ thống cửa khẩu phân bốtrên dọc tuyến biên giới, đặc biệt cửa khẩu quốc tế Móng Cái là nơi hội tụgiao lưu thương mại, du lịch, dịch vụ và thu hút các nhà đầu tư; Là cửa ngõgiao dịch xuất nhập khẩu với Trung Quốc và các nước trong khu vực.

Tỉnh Quảng Ninh xếp thứ 5 cả nước về thu ngân sách nhà nước (2013)sau thành phố Hồ Chí Minh, thủ đô Hà Nội, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và thànhphố Hải Phòng Tính đến hết năm 2013 GDP đầu người đạt 2370 USD/năm.Lương bình quân của lao động trong tỉnh ở các ngành chủ lực như than, điện,cảng và du lịch đều ở mức cao (2013: Điện 8,6 triệu đồng; Than 7.7 triệuđồng Du Lịch - Dịch vụ 9.2 triệu đồng)

Về văn hóa - xã hội

Tính đến năm 2013, dân số toàn tỉnh Quảng Ninh đạt gần 1.163.700người, mật độ dân số đạt 191 người/km Trong đó dân số sống tại thành thịđạt gần 606.700 người, dân số sống tại nông thôn đạt 557.000 người Dân sốnam đạt 597.100 người, trong khi đó nữ đạt 566.600 người Tỷ lệ tăng tựnhiên dân số phân theo địa phương tăng 9,2 %

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến năm 2013toàn tỉnh Quảng Ninh có 34 dân tộc và người nước ngoài cùng sinh sống.Trong đó, dân tộc Kinh đông nhất với 1.011.794 người, tiếp sau đó là ngườiDao đông thứ nhì với 59.156 người, người Tày 35.010 người, Sán Dìu có17.946 người, người Sán Chay có 13.786 người, người Hoa có 4.375 người.Ngoài ra còn có các dân tộc ít người như người Nùng, người Mường, ngườiThái

Trang 40

Tính đến hết năm 2013, toàn tỉnh Quảng Ninh có 6 Tôn giáo khácnhau chiếm 23.540 người, trong đó, nhiều nhất là Công giáo có 19.872người, Phật giáo có 3.302 người, Đạo Tin Lành có 271 người, Đạo Cao Đài

có 87 người, Hồi giáo có 7 người, ít nhất là Tịnh độ cư sĩ Phật hội ViệtNam có 1 người

Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Ninh có 421 trường học ở cấpphổ thông trong đó Trung học phổ thông có 46 trường, Trung học cơ sở có

146 trường, Tiểu học có 177 trường, có 45 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh

đó còn có 205 trường mẫu giáo Với hệ thống trường học như vậy, nền giáodụctrong địa bàn Tỉnh Quảng Ninh góp phần đạt phổ cập giáo dục các cấp bậchọc trong những năm tới

Tỉnh Quảng Ninh có hệ thống cơ sở vật chất của ngành y tế được đầu

tư đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân và các du khách trong

và ngoài nước Tính đến năm2010, toàn tỉnh Quảng Ninh có 15 bệnh viện,

09 phòng khám đa khoa khu vực, 10 trung tâm y tế tuyến tỉnh, 14 trung tâm y

tế tuyến huyện, 186 trạm y tế xã, phường Trong đó, Đội ngũ bác sỹ, y sỹ rấtchuyên nghiệp với 02 tiến sỹ y học, 53 thạc sỹ y học, 24 bác sỹ chuyên khoa

II, 218 bác sỹ chuyên khoa I, 437 bác sỹ, 478 y sỹ, 109 kỹ thuật viên, 960điều dưỡng viên, 225 nữ hộ sinh, 43 dược sỹ đại học, 99 dược sỹ trung học và

982 cán bộ chuyên môn khác đạt tỷ lệ 30 giường bệnh trên 10.000 dân, đạt tỷ

lệ 8 bác sỹ trên 10.000 dân

Công tác dân tộc, tôn giáo tiếp tục được quan tâm thông qua các hoạtđộng hỗ trợ, thăm hỏi thường xuyên, tôn trọng tự do tín ngưỡng của ngườidân Đời sống đồng bào dân tộc, tôn giáo từng bước có nhiều khởi sắc Mốiquan hệ giữa chính quyền và các tổ chức tôn giáo, dân tộc, các vị chức sắc…ngày càng gắn bó Các chương trình, đề án hỗ trợ hạ tầng, đất ở, nhà ở chovùng đồng bào dân tộc được tập trung triển khai góp phần ổn định và nângcao đời sống đồng bào dân tộc

Ngày đăng: 20/07/2022, 00:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Minh Anh (2010), Hỏi đáp về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Minh Anh (2010), "Hỏi đáp về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở
Tác giả: Minh Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
2. Ban Chấp hành Trung ương (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Chấp hành Trung ương (2002)
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2002
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị (2005), "Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiếnlược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
4. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị (2005), "Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiếnlược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
5. Bộ Tư pháp (2007), Công tác hòa giải ở cơ sở - Tập 1: Hướng dẫn quản lý công tác hòa giải ở cơ sở, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (2007), "Công tác hòa giải ở cơ sở - Tập 1: Hướng dẫn quảnlý công tác hòa giải ở cơ sở
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
6. Bộ Tư pháp (2007), Công tác hòa giải ở cơ sở - Tập 2: Cẩm nang bồi dưỡng cho hòa giải viên, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (2007), "Công tác hòa giải ở cơ sở - Tập 2: Cẩm nang bồidưỡng cho hòa giải viên
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
7. Bộ Tư pháp (2011), Chỉ thị 03/CT-BTP ngày 27/6/2011 về tăng cường công tác hòa giải ở cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (2011)
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2011
8. Bộ Tư pháp (2008), Quyết định số 06/2008/QĐ-BTP ngày 26/5/2008 về việc ban hành biểu mẫu thống kê về tổ chức và hoạt động của Tổ hòa giải ở cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (2008)
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2008
9. Bộ Tư pháp và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2009), Chương trình phối hợp số 1285/CTPH-BTP- BTTUBTƯMTTQVN ngày 24/4/2009 về tăng cường thực hiện công tác hòa giải cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốcViệt Nam (2009)
Tác giả: Bộ Tư pháp và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Năm: 2009
10. Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp: http://www.moj.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp
11. Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh: http://www.angiang.gov.vn 12. Phan Đại Doãn (2008), Làng xã Việt Nam - Một số vấn đề kinh tế vănhóa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh: "http://www.angiang.gov.vn12." Phan Đại Doãn (2008), "Làng xã Việt Nam - Một số vấn đề kinh tế văn"hóa xã hội
Tác giả: Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh: http://www.angiang.gov.vn 12. Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
13. Lưu Thùy Dung (2010), "Coi trọng công tác hòa giải ở cơ sở", Báo Nhân dân ngày 7/3/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Coi trọng công tác hòa giải ở cơ sở
Tác giả: Lưu Thùy Dung
Năm: 2010
14. Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2008), Báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ VIII nhiệm kỳ 2005-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2008)
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
Năm: 2008
15. Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ IX nhiệm kỳ 2010 - 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2010)
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
Năm: 2010
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), "Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), "Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), "Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w