Thông qua nghiên cứu này, luận văn hướng đến cung cấp những bằngchứng thực tiễn cho các cấp ủy Đảng, các cơ quan, tổ chức thông qua phântích thực trạng và nhận diện các yếu tố tác động đ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực rất lớn trongviệc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vựctham chính Thực tiễn đời sống xã hội đã chứng minh, sự tham gia của phụ nữvào các vị trí ra quyết định có tác động rất lớn đến sự phát triển bền vững.Nghiên cứu ở Singapore của tác giả Tuminez (2012) cho rằng, cơ quan lậppháp nào có tỷ lệ phụ nữ đông hơn thì các chính sách và luật pháp về bảo vệcon người và môi trường sẽ được thông qua nhiều hơn so với những cơ quanlập pháp có ít đại diện là phụ nữ Điều này là một trong những bằng chứng đểchứng minh luận điểm phụ nữ tham gia vào các vị trí ra quyết định có vai tròquan trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
Sự nỗ lực của Chính phủ về lĩnh vực bình đẳng giới trong thập niên vừaqua đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận Phụ nữ ngày càng khẳngđịnh được vị thế của mình trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Tuynhiên, trong thực tế vẫn còn tồn tại khoảng cách khá lớn về sự bất bình đẳnggiữa nam và nữ, đặc biệt là trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý của đất nước.Theo báo cáo của UNDP (2012), tỷ lệ phụ nữ tham gia cấp ủy Đảng ở cấptỉnh giảm xuống một cách đáng kể qua các nhiệm kỳ Nếu nhiệm kỳ 2001-
2005 có 1,6% cán bộ nữ giữ vị trí Bí thư thì nhiệm kỳ 2011-2016 chỉ còn0,25% Tương tự, có 6,6% cán bộ nữ giữ chức vụ Phó Bí thư ở nhiệm kỳ2001-2005 so với 0,0% của nhiệm kỳ 2011-2016 [68, tr.4] Chính vì thế, theobáo cáo của Liên minh Nghị viện thế giới, tại thời điểm cuối 2011, tỷ lệ phụ
nữ tham chính tại Việt Nam đứng thứ 43 trên thế giới, giảm so với thứ 36 vàonăm 2010 và 2009, thứ 33 năm 2008, thứ 31 năm 2007, thứ 25 so với năm
2006 và thứ 23 năm 2005 [68]
Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút về số lượng phụ nữ thamgia lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay Một trong những nguyên
Trang 2nhân được Ban Bí thư (2013) xác định là do nhiều cấp uỷ, chính quyền, đoànthể, cơ quan tham mưu, giúp việc chưa quyết liệt triển khai thực hiện Nghịquyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị; một số nơi chưa thực sự quan tâm đếncông tác phụ nữ, còn biểu hiện coi công tác phụ nữ là trách nhiệm của HộiLiên hiệp Phụ nữ và Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Hệ thống văn bản phápluật về bình đẳng giới, chính sách để tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển cònthiếu đồng bộ, chưa theo đúng tinh thần của Nghị quyết về quy hoạch, đàotạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ nữ Có thể nói, cấp ủy cũng như các
tổ chức đoàn thể và hệ thống pháp luật về bình đẳng giới có vai trò quan trọngđối với việc đảm bảo sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý các cấphiện nay
Cùng với xu hướng thay đổi về vị trí và vai trò của đội ngũ cán bộ nữtrong hệ thống chính trị, cán bộ nữ tỉnh Đồng Tháp tham gia vào hệ thốngchính trị cũng có xu hướng tăng Bằng chứng là, nhiệm kỳ 2011-2016, tỷ lệ
nữ tham gia cấp ủy tăng lên 9,3% so với nhiệm kỳ trước [61] Tuy nhiên, sovới mặt bằng chung toàn tỉnh, phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệthống chính trị cấp tỉnh còn khá thấp Tình trạng phụ nữ làm cấp phó vẫnchiếm chủ đạo trong hệ thống chính trị cấp tỉnh Theo báo cáo của Sở Laođộng, Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Tháp (2014), toàn tỉnh không có phụ
nữ giữ vị trí Giám đốc và tương đương Tỷ lệ phụ nữ làm cấp phó trưởngphòng cũng chỉ có hơn 1/3 nữa so với nam giới Bằng chứng này cho thấyrằng, thực trạng phụ nữ tham gia vào các vị trí ra quyết định dường như cònkhá khiếm tốn [55] Vì thế, nó đã tác động không ít đến việc ra các quyết sách
có liên quan đến sự phát triển kinh tế- xã hội Bởi lẽ, các nghiên cứu đã đưa racác bằng chứng thuyết phục rằng, sự tăng cường tiếng nói của phụ nữ trong
hệ thống chính trị sẽ góp phần làm tăng tính ảnh hưởng của chương trình,chính sách, giảm tình trạng tham nhũng và tăng năng lực quản lý nhà nước
Vì vậy, để góp phần đưa tỉnh Đồng Tháp phát triển theo hướng bền vững, sớm
Trang 3theo kịp xu thế phát triển chung của cả nước thì việc xây dựng thành côngmột đội ngũ cán bộ nói chung và nữ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng trong
hệ thống chính trị cấp tỉnh thực sự có tâm huyết và năng lực đối với sự pháttriển của địa phương càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết
Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh thường là đội ngũ cán bộ cótrình độ và năng lực chuyên môn rất tốt, có thể đưa ra những quyết sách vềcác chương trình, hành động có tính quyết định sự phát triển của địa phương.Như đã đề cập, phụ nữ tham gia vào các vị trí ra quyết sách càng nhiều thìgóp phần phát triển kinh tế - xã hội càng bền vững hơn Vì thế, tăng cường sựtham gia của phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong thống hệ thống chính trị cấp tỉnh
có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của địa phương
Mặc dù vậy, các nghiên cứu về đội ngũ cán bộ nữ cũng như sự tham giacủa phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt cấp tỉnh ở tỉnh ĐồngTháp vẫn còn chưa được quan tâm một cách thỏa đáng Do đó, nghiên cứu về
“Sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Đồng Tháp hiện nay” được triển khai là hướng đi cần thiết cả về mặt lý luận cũng như thực
tiễn Thông qua nghiên cứu này, luận văn hướng đến cung cấp những bằngchứng thực tiễn cho các cấp ủy Đảng, các cơ quan, tổ chức thông qua phântích thực trạng và nhận diện các yếu tố tác động đến sự tham gia của phụ nữtrong lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Đồng Tháp để từ đó, gợi mở ra các giảipháp thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí ra quyết định trong hệ thốngchính trị cấp tỉnh, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết 11/NQ-TW của BộChính trị cũng như chiến lược quốc gia về bình đẳng giới của tỉnh Đồng Tháp Trên
cơ sở đó, Đảng bộ và Ủy ban nhân tỉnh có chiến lược, chương trình hành động vềbình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị phù hợp với thực tiễn của địa phương
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý là một trong những chỉ tiêu quantrọng để đánh giá và đo lường về sự tiến bộ xã hội và bình đẳng giới Việt
Trang 4Nam đã có những nỗ lực to lớn trong việc thúc đẩy bình đẳng giới nói chung
và sự tham gia của cán bộ nữ vào công tác lãnh đạo, quản lý ở các cấp nóiriêng Chiến lược quốc gia và Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữđến năm 2010 và Mục tiêu thiên niên kỷ của Việt Nam đã đề ra những mụctiêu phấn đấu cụ thể đối với việc phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý LuậtBình đẳng giới năm 2006 đã quy định các biện pháp cụ thể để thúc đẩy bìnhđẳng giới trong lĩnh vực chính trị (Điều 5) Trên phạm vi quốc tế, những nămgần đây, việc phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý đã đạt nhiều thành tựu mới.Theo Báo cáo của Liên minh nghị viện Thế giới, tại châu Á, năm 2011, nữnghị sĩ chiếm 18,4%, tăng 14,1% so với 10 năm trước đây [72]
Từ góc độ lãnh đạo của Đảng, chỉ tính từ thời kỳ Đổi mới đến nay, đã
có nhiều chỉ thị, nghị quyết về công tác cán bộ nữ được ban hành như Chỉ thị
số 44-CT/TW (năm 1984) [7]; Chỉ thị số 37-CT/TW (năm 1994) về một sốvấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới [8]; Nghị quyết số 11-NQ/TWcủa Bộ Chính trị ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Nghị quyết này đã xác định các chỉ tiêu cụthể: Đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trởlên; nữ Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40%;các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạochủ chốt là nữ) [16] Gần đây, Chính phủ đã ban hành Chương trình hànhđộng giai đoạn đến 2020 nhằm thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-TW của BộChính trị (Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 1/12/2009) [20]; Kết luận của Ban
Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của BộChính trị khóa X “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước” [16] (Kết luận số 55-KL/TW ngày 18 tháng 01 năm2013) [9]
Phụ nữ trong lãnh đạo chính trị đang trở thành mối quan tâm của rấtnhiều quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế Đây cũng là một trong những
Trang 5tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ bình đẳng giới ở mỗi quốc gia Trongthời gian qua đã có những nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều góc độ tiếpcận khác nhau.
Nghiên cứu của Học viện Hành chính quốc gia năm 2005 [32] về tácđộng của giới đối với con đường chức nghiệp của công chức viên chức chothấy có bốn nhóm yếu tố tác động tiêu cực đến việc phát triển sự nghiệp của
nữ công chức, viên chức (gọi chung là nữ viên chức), gồm: Một là, các quy
định hiện hành, cụ thể về việc không trao tặng danh hiệu thi đua (lao độngtiên tiến) đối với phụ nữ trong thời gian nghỉ sinh và nuôi con nhỏ và chênh
lệch tuổi về hưu 5 năm giữa nam và nữ; Hai là, nữ viên chức ít tham gia các
mạng lưới hỗ trợ nghề nghiệp và ít nhận được sự hỗ trợ từ đồng nghiệp và
người phụ trách hơn so với nam; Ba là, thời gian làm việc gia đình của nữ dài hơn so với nam; Bốn là, khuôn mẫu về giới, gắn phụ nữ chủ yếu với việc
chăm sóc và nam với việc kiếm tiền nuôi gia đình
Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng cho biết có hai yếu tố quan trọng đốivới việc phát triển sự nghiệp là luân chuyển công việc như một hình thức đào tạoqua làm việc và tham gia đào tạo bồi dưỡng theo các khóa, lớp Ở cả hai hoạtđộng này, tỷ lệ nữ tham gia đều thấp hơn nam Tỷ lệ nữ luân chuyển công việc ởhai cấp địa phương và trung ương tương ứng là 0,8 và 0,9 lần trong 5 năm, sovới nam là 1,3 và 1,2 lần Tỷ lệ tham gia 1-2 khóa đào tạo ở nữ là 38,5% và nam
là 42,3%, tham gia 3 khóa tương ứng là 2,9 và 8,7% Trong khi đó, tỷ lệ khôngtham gia khóa đào tạo nào ở nữ là 58,6% và ở nam là 49% [32]
Cũng thảo luận về những yếu tố dẫn đến tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý cònthấp, nghiên cứu của Ngân hàng thế giới cho rằng sự thay đổi chậm chạp củacác chuẩn mực văn hóa, thiếu cơ chế tuyển dụng mở rộng, minh bạch vàthông lệ đề bạt là những lý do chính Bên cạnh đó, ở cấp huyện và xã, trình độhọc vấn và chuyên môn thấp khiến phụ nữ khó có thể tham gia vào các vị trílãnh đạo Cụ thể hơn, Kabeer và cộng sự nhấn mạnh đến 4 yếu tố, bao gồm:
Trang 6Một là, các quy định hiện hành về tuổi đề bạt và tuổi nghỉ hưu; Hai là, thái độ
của lãnh đạo không tin là cán bộ nữ có năng lực và thời gian để gánh vác
nhiệm vụ ở vị trí cao hơn; Ba là, phụ nữ thiếu động cơ và thiếu tự tin; Thứ tư,
thái độ của người chồng thiếu ủng hộ, phụ nữ không muốn được đề bạt đểtránh va chạm với chồng và những trục trặc trong đời sống gia đình [36] Liênquan đến vấn đề này, nghiên cứu của Võ Thị Mai cho rằng quan niệm củangười đàn ông ít chấp nhận phụ nữ tham gia lãnh đạo và tính “sĩ diện” của họđang tạo ra những phản ứng mạnh mẽ đối với việc phụ nữ làm quản lý, lãnhđạo Nghiên cứu về nữ lãnh đạo trong hệ thống chính trị cho thấy còn thiếu sựcam kết của các cấp ủy đối với công tác cán bộ nữ
Đề cập đến vai trò của người đứng đầu đối với sự thăng tiến của cán bộ
nữ, Nghiên cứu về Sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, quản lý củaViệt Nam cũng đã chỉ ra tầm quan trọng của người đứng đầu cơ quan đối vớicông tác cán bộ nói chung và công tác cán bộ nữ nói riêng Báo cáo kết quảNghiên cứu định tính về nữ lãnh đạo khu vực nhà nước ở Việt Nam đã chỉ ra
5 đặc điểm ở các nhóm người có trách nhiệm, mà ở mức độ khác nhau có thể
là trở ngại hoặc là sự thúc đẩy đối với đội ngũ nữ lãnh đạo Đó là: Một là, định kiến trong lời nói và hành động; Hai là, ủng hộ trên lời nói, định kiến trong hành động; Ba là, đơn giản, thiếu các biện pháp cụ thể; Bốn là, chỉ có biện pháp đáp ứng tỷ lệ về hình thức; Năm là, bao gồm những người có cách
đánh giá khách quan và công bằng, thực hiện các biện pháp thúc đẩy về thựcchất, hướng đến nâng cao tỷ lệ và chất lượng của nữ lãnh đạo
Như vậy, ở nhóm thứ nhất và nhóm thứ hai, những người có tráchnhiệm không những không thúc đẩy mà trên thực tế còn kìm hãm sự pháttriển của nữ lãnh đạo Nhóm thứ ba không còn tồn tại định kiến Nhóm thứ tư
đã bắt đầu có sự chú ý về mặt số lượng Nhóm thứ 5 có tác động tích cực hơn
cả, dựa trên cơ sở của những đánh giá khách quan và các biện pháp cụ thể cóthể thúc đẩy sự phát triển cả về số lượng và chất lượng
Trang 7Nghiên cứu của Viện Khoa học xã hội Việt Nam [71] cho thấy mặc dùnhận định của cán bộ, công chức về khả năng, phẩm chất và năng lực lãnhđạo của nữ cán bộ là đa dạng và tích cực, song vẫn còn những ý kiến bày tỏ
sự không ủng hộ, nghi ngờ khả năng của phụ nữ Trong số này, tỷ lệ ý kiếncủa nam cao gấp 3 lần ý kiến của nữ Nghiên cứu của Hội Liên hiệp phụ nữViệt Nam [63] cũng chỉ ra rằng khuôn mẫu giới còn khá rõ trong nhận thứccủa cán bộ khi những người được hỏi chủ yếu chọn nam làm cấp trưởng vàđảm nhiệm quản lý chuyên môn, trong khi chọn nữ làm cấp phó và đảmnhiệm công tác hành chính hoặc công tác đoàn thể
Việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào quá trình ra quyết địnhđược cho là phụ thuộc chủ yếu vào sự thay đổi thái độ, chuẩn mực và hành vicũng như việc cải cách thể chế Từ góc độ lãnh đạo của Đảng đối với công táccán bộ, cũng có ý kiến cho rằng cần tăng cường vai trò của người đứng đầu vànâng cao nhận thức của cấp ủy đảng, nâng cao chất lượng việc ra nghị quyết,
tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết về công tác cán bộ nữ
Bài viết của Nguyễn Thị Thu Hà đăng trên tạp chí nghiên cứu Gia đình
và Giới [29] về “Định kiến giới đối với phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý” đã
đưa ra được phần luận điểm tương đối chi tiết về khái niệm định kiến giới.Tuy nhiên, những thông tin về tác động của định kiến giới đối với phụ nữtrong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam lại chưa đủ thuyết phục và chưa có luậngiải xác đáng về cơ sở lý thuyết của việc chọn mẫu và về các vấn đề liên quancủa nghiên cứu
Tác giả Trần Thị Vân Anh trong bài viết “Những trở ngại đối với sự phấn đấu của nữ lãnh đạo” đăng trên Tạp chí nghiên cứu Gia đình và Giới
[4] đã cung cấp những bằng chứng khá thú vị về những trở ngại chính đối với
sự phấn đấu của nữ cán bộ lãnh đạo, bao gồm ảnh hưởng của người có tráchnhiệm, việc tạo nguồn và kiểm tra, đánh giá công tác cán bộ nữ, trở ngại từcác quy định chính sách, ảnh hưởng của định kiến giới và những chuẩn mực
Trang 8cũ, bao gồm tại nơi làm việc, ở gia đình và cộng đồng Người có trách nhiệmthường mong muốn ở cán bộ lãnh đạo nam và nữ các phẩm chất khác nhau.Đây là những kỳ vọng về “tiêu chuẩn” một cách không chính thức, nằm sâutrong nhận thức và những suy nghĩ của từng cá nhân…Trong gia đình, chuẩnmực về phụ nữ trước hết là người phục vụ gia đình còn khá phổ biến Chuẩnmực “nam ngoại nữ nội” cũng chi phối đáng kể thái độ của người chồng Tuynhiên, tác giả cũng cho rằng các yếu tố này có thể thay đổi, chuyển biến từcản trở sang không hạn chế, tạo điều kiện và thúc đẩy nữ lãnh đạo Điều nàytùy thuộc vào nhận thức và cam kết chính trị của người lãnh đạo cũng nhưviệc thực hiện các chính sách một cách linh hoạt, sáng tạo; đồng thời có sựủng hộ của người chồng và hỗ trợ của gia đình, trên cơ sở sự nỗ lực của cán
bộ nữ
Trong nhiều nghiên cứu về phụ nữ trí thức, phụ nữ tham gia lãnh đạo,quản lý ở Việt Nam, khi nói về những cản trở trong sự nghiệp chuyên môncũng như chính trị, nguyên nhân đầu tiên mà nhiều phụ nữ đề cập đến là donam giới ít chia sẻ trách nhiệm công việc gia đình, chăm sóc con cái với phụ
nữ Theo đánh giá của nhiều nữ lãnh đạo, việc phải dành quá nhiều thời giancho các công việc gia đình (nội trợ, dọn dẹp, giặt giũ, chăm sóc con cái và cácthành viên khác trong gia đình ) là nguyên nhân chính hạn chế khả năng pháttriển chuyên môn và thăng tiến của họ
Với bài viết “Những rào cản đối với phụ nữ khi tham gia ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân” đăng trên Tạp chí Gia đình và Giới [31] tác giả
Phạm Thu Hiền lại cung cấp cho chúng ta thêm thông tin mới về những ràocản đối với phụ nữ trong quá trình tham gia ứng cử Hội đồng nhân dân cáccấp Đó là những rào cản về nhận thức, rào cản về năng lực, rào cản về cáchthức, thủ tục bầu cử và rào cản về văn hóa Đó là những rào cản vừa hữu hìnhvừa vô hình đối với phụ nữ trên con đường tiến lên và tham gia vào các hoạtđộng của Hội đồng nhân dân Tác giả đã đưa ra một dẫn chứng lấy từ kết quả
Trang 9thảo luận nhóm: “Nhìn chung, người dân (cả phụ nữ và nam giới) thường hay cósuy nghĩ nam tham gia công tác xã hội, Hội đồng nhân dân thì tốt hơn nữ, vì chorằng nam có tầm nhìn rộng rãi, còn phụ nữ thì vướng bận con cái Ứng xử xã hộicủa phụ nữ cũng chưa ngang tầm với nam giới Suốt một thời kỳ dài từ năm
1999 trở về trước chỉ duy nhất có một phụ nữ là đại biểu Hội đồng nhân dân”
Cũng đề cập đến các rào cản đối với cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý, luận
văn Thạc sĩ của Lê Bích Ngọc với đề tài “Những rào cản đối với sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh” (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Hà
Nam) cũng đã chỉ ra được 4 nhóm yếu tố làm cản trở sự tham gia của phụ nữtrong lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh Đó là rào cản về cơ chế, chính sách; rào cản
về kinh tế; rào cản liên quan đến văn hóa; những rào cản từ phía bản thânngười phụ nữ Trên cơ sở phân tích các rào cản, tác giả đưa ra một số kiếnnghị giải pháp nhằm làm hạn chế những rào cản đối với sự tham gia của phụ
nữ trong lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Hà Nam [50]
Bài viết đăng trên tạp chí tiếng Anh của Trương Thị Thuý Hằng (2008),tác giả đã cố gắng mô tả hiện trạng sự tham gia của phụ nữ Việt Nam trongtham chính từ các nguồn số liệu sẵn có Tuy nhiên, bài viết cũng chỉ mớidừng lại ở việc tóm tắt những thông tin đã đề cập trong các báo cáo của một
số tổ chức trong và ngoài nước, và đề cập đến những thách thức của phụ nữViệt Nam trong lãnh đạo, nhưng lại thiếu các bằng chứng minh họa và cơ sở
lý thuyết lý giải phù hợp
Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Vân Anh “Kết quả nghiên cứu định
tính về nữ lãnh đạo khu vực Nhà nước ở Việt Nam” (2009) Mẫu nghiên cứu
bao gồm lãnh đạo thuộc 2 cấp gồm tỉnh/thành phố và trung ương và theothành phần bao gồm: đại biểu dân cử, lãnh đạo chính quyền, cơ quan đảng vàcác đoàn thể chính trị và lãnh đạo doanh nghiệp Nghiên cứu này tập trungchủ yếu vào việc tìm hiểu các trở ngại đặt ra đối với phụ nữ trong quá trìnhphấn đấu giữ các vị trí lãnh đạo trong khu vực Nhà nước Các mục tiêu
Trang 10nghiên cứu cụ thể bao gồm: Phân tích các yếu tố cản trở việc phụ nữ phấn đấulên các vị trí lãnh đạo; Nêu các kiến nghị về chính sách và giải pháp thực tếnhằm thúc đẩy phụ nữ lãnh đạo và Đề xuất các nghiên cứu tiếp theo liên quanđến nữ lãnh đạo Tuy nhiên, một thực tế dễ nhận thấy do mẫu nghiên cứu nhỏnên việc khái quát kết quả nghiên cứu trên diện rộng là tương đối khó khăn vàcác khung lý thuyết vận dụng để lý giải vẫn còn mờ nhạt.
Nghiên cứu của Đặng Thị Ánh Tuyết - Phan Thuận (2011) “Sự thamgia của phụ nữ trong lãnh đạo quản lý cấp phường/xã tại Hà Tĩnh” đã tiếnhành khảo sát 377 với đối tượng là cán bộ lãnh đạo thuộc 3 khối (Đảng, chínhquyền, đoàn thể) nhằm mô tả và phân tích thực trạng chiều cạnh giới tronglãnh đạo, quản lý cấp xã/phường ở Hà Tĩnh hiện nay Phân tích các yếu tố ràocản ảnh hưởng đến sự tham gia chính trường của phụ nữ như: mô hình quyềnlực có sự tách biệt về giới; các quy định, chính sách và các chuẩn mực giớitruyền thống Đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao tỷ lệ, vai trò và chấtlượng của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở ở Hà Tĩnh Tuy nhiên, dodung lượng mẫu nhỏ và chỉ mang tính nghiên cứu trường hợp phụ nữa thamchính cấp xã phường của một tỉnh Vì vậy nghiên cứu này chưa dựa trên nềntảng lý thuyết để đi sâu phân tích các nguyên nhân mang tính phổ quát ảnhhưởng tới sự tham chính của phụ nữ ở Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Nga – Phan Thuận (2012) “Ảnhhưởng của yếu tố văn hóa đến sự tham gia lãnh đạo, quản lý cấp xã/phườngcủa phụ nữ ở tỉnh Hà Giang hiện nay” với dung lượng mẫu 204 cán bộ lãnhđạo thuộc hệ thống chính trị cấp cơ sở Đề tài nghiên cứu đi sâu phân tíchmột số chiều cạnh của yếu tố văn hóa (chuẩn mực, giá trị truyền thống, kỳvọng của xã hội và mô hình sự phân công lao động gia đình …) để mô tả vàphân tích thực trạng giới trong lãnh đạo ở tỉnh Hà Giang hiện nay Tuy nhiên,
đề tài này cũng chỉ mới dừng lại ở việc mô tả thực trạng và chỉ ra một số yếu
tố rào cản liên quan đến văn hóa đến sự thăng tiến quyền tham gia chính trị
Trang 11của phụ nữ cấp xã phường Vì vậy, các hàm ý về chính sách chưa được đề cậpđến và sự đại diện chưa thỏa đáng.
Báo cáo Sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo và quản lý ởViệt Nam (2012) của tác giả Jean Muro đã nhận diện các xu hướng tham giacủa phụ nữ trong các cơ quan chính phủ của Việt Nam, mô tả tổng quankhung pháp lý liên quan đến vai trò lãnh đạo của phụ nữ, đồng thời tác giảcũng đã phân tích những thách thức và rào cản đối với phụ nữ trong khu vựcNhà nước và nguồn số liệu trong công trình này khá cập nhật và đa dạng trêncác lĩnh vực lãnh đạo, quản lý Điểm nhấn của công trình này lần nữa khẳngđịnh mặc dù Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong lĩnh vực phụ nữ thamchính nhưng vẫn còn khoảng cách giữa mục tiêu và kỳ vọng được đề cậptrong các văn bản của Đảng và Nhà nước Giới hạn của nghiên cứu này chưa
sử dụng khung lý thuyết giải thích một cách hệ thống các yếu tố rào cản vàthách thức đối với phụ nữ tham chính
Tác giả Đỗ Minh Cương với cuốn sách “Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý” [25] đã cho người đọc một cái nhìn khá toàn diện về thực trạng công
tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay Tác giả đã chỉ ranguyên nhân của những yếu kém, khuyết điểm cần khắc phục, đồng thời đưa
ra những đề xuất nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quyhoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Trong đó, tác giả phân tích thực trạng tỷ lệ cán bộ nữ trong quy hoạch cán bộlãnh đạo, quản lý và trong cán bộ đương chức còn chưa cao; thậm chí đang cóchiều hướng giảm hoặc tăng không bền vững Nguyên nhân chính của tìnhtrạng này không phải là do cơ cấu trong dân số hoặc trình độ học vấn của cán
bộ nữ, mà chính là mức độ quyết tâm và cách thức tiến hành công tác quyhoạch, công tác cán bộ của các cấp ủy Đó là một trong những rào cản có tácđộng mạnh đến công tác quy hoạch cán bộ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạochủ chốt ở các cơ quan, đơn vị
Trang 12Như vậy, có thể thấy rằng chủ đề phụ nữ tham chính hay phụ nữ tronglãnh đạo, quản lý đang là mối quan tâm của nhiều quốc gia, nhiều tổ chứcquốc tế và của các nhà nghiên cứu Các nghiên cứu đã đề cập và phân tích vềthực trạng bất bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị nói chung, trong lãnhđạo và quản lý nói riêng, giúp hình dung tương đối bao quát về những yếu tốtác động, cả tích cực và tiêu cực, đối với việc tham gia lãnh đạo chính trị củaphụ nữ; đặc biệt là về những rào cản đối với phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý.Những phát hiện của các nghiên cứu đã có trong lĩnh vực này có vai trò dẫndắt quan trọng, cả về cơ sở thực tiễn và lý thuyết, đối với việc tiến hànhnghiên cứu về về sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo và quản lý ở tỉnhĐồng Tháp hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ hướng tiếp cận lý luận nghiên cứu về sự tham gia của phụ nữvào lãnh đạo, quản lý như khái niệm, quan điểm của Đảng và Nhà nước, các
lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu
- Thu thập và phân tích các tài liệu sẵn có về tình hình phụ nữ thamchính ở tỉnh Đồng Tháp nói riêng và ở Việt Nam nói chung
- Khảo sát, phân tích thực trạng phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý cấptỉnh ở Đồng Tháp
Trang 13- Khảo sát để nhận diện các yếu tố tác động đến sự tham gia lãnh đạo,quản lý cấp tỉnh ở Đồng Tháp
- Gợi mở giải pháp thúc đẩy sự tham gia lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh củaphụ nữ ở Đồng Tháp
3.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Đồng Tháp hiện naynhư thế nào?
(2) Các yếu tố nào tác động đến sự tham gia lãnh đạo, quản lý cấp tỉnhcủa phụ nữ ở Đồng Tháp hiện nay?
(3) Cần có những hàm ý về mặt chính sách nào hướng tới tăng tỷ lệ sựtham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Đồng Tháp hiện nay
4.Giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích
4.1 Giả thuyết nghiên cứu
(1) Vị trí của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Đồng Tháp vẫncòn thấp so với nam giới Mặc dù vậy, Vai trò của phụ nữ trong lãnh đạo,quản lý cấp tỉnh ở Đồng Tháp đã được nam giới thừa nhận và đánh giá cao,trong khi đó, bản thân của phụ nữ đánh giá chưa tích cực; Có sự khác biệt vềnăng lực của phụ nữ và nam giới trong lãnh đạo, quản lý
(2) Cán bộ lãnh đạo càng có thái độ, nhận thức tích cực về bình đẳnggiới và quyết tâm hành động về bình đẳng giới thì càng thúc đẩy sự tham gialãnh đạo, quản lý cấp tỉnh của phụ nữ hơn
(4) Khung pháp lý có ảnh hưởng quan trọng đến vị trí và số lượng sựtham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý ;
(5) Càng có sự ủng hộ của gia đình, cộng đồng và nỗ lực của bản thânthì phụ nữ có điều kiện/cơ hội tham gia lãnh đạo, quản lý càng thuận lợi hơn.Ngoài ra, Cán bộ nữ cấp tỉnh ở tỉnh Đồng Tháp chưa tự tin khi tham gia vào
vị trí lãnh đạo, quản lý
Trang 14(6) Định kiến xã hội đối với phụ nữ trong lãnh đạo quản lý càng khắtkhe thì phụ nữ càng ít tham gia vào lĩnh vực này
4.2 Khung phân tích
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay, sự tham gia lãnh đạo, quản lýcủa cán bộ nữ tỉnh Đồng Tháp chịu những tác động cơ bản của các yếu tố cánhân, yếu tố gia đình, yếu tố văn hoá - xã hội và các yếu tố chính sách Trên
cơ sở đó, nghiên cứu đã xác định và thao tác các biến số như sau:
• Hạn chế trong việc thực thi chính sách liên quan đến BĐG
• Rập khuôn mẫu về giới trong LĐ, QL
• Định kiến giới trong LĐ, QL
• Tâm lý tự ti, an phận
• Thiếu sự nỗ lực của bản thân
* Biến phụ thuộc: Sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý (Vị
trí, vai trò, năng lực trong lãnh đạo, quản lý)
Trang 155 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan Đảng, chínhquyền, đoàn thể cấp tỉnh Đồng Tháp
5.2 Khách thể nghiên cứu: Cán bộ nam và nữ đang công tác tại các cơ
quan Đảng, Chính quyền và Đoàn thể cấp tỉnh ở Đồng Tháp
5.3 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài được thực hiện tại các cơ quan Đảng, chínhquyền, đoàn thể cấp tỉnh
- Về thời gian: nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2014
Thời gian khảo sát làm luận văn từ tháng 01/2014 đến tháng 5/2014
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng HồChí Minh về công tác cán bộ Các chủ trương, chính sách, quan điểm, đường
Trang 16lối của Đảng, Nhà nước; các chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ, chính quyềntỉnh Đồng Tháp.
Vận dụng một số lý thuyết Xã hội học như lý thuyết xã hội hóa giới, lýthuyết chức năng và lý thuyết nữ quyền để lý giải thực trạng phụ nữ tham gialãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Đồng Tháp
6.2 Các phương pháp thu thập thông tin
6.2.1 Phân tích tài liệu có sẵn
Phân tích các tài liệu, sách báo trong và ngoài nước đã nghiên cứu vềvấn đề mà luận văn đề cập Phương pháp này giúp có những thông tin tổngquát về vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở ghi nhận những đóng góp của cácnghiên cứu đã có, đồng thời phát hiện ra những khoảng trống cần được bổsung nhằm làm phong phú thêm hiểu biết về chủ đề nghiên cứu
6.2.2 Khảo sát bằng bảng hỏi
• Số lượng mẫu: Đề tài luận văn dự kiến khảo sát 250 phiếu điều tra.
Tuy nhiên, sau khi làm sạch và loại bỏ những phiếu không hợp lệ, còn lại 210phiếu hợp lệ được sử dụng để phân tích trong luận văn Phiếu trưng cầu ý kiếngồm các nội dung sau đây:
o Thông tin cá nhân về người trả lời
o Đánh giá về thực trạng phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ởĐồng Tháp
o Các yếu tố tác động đến phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ởĐồng Tháp
• Cách thức chọn mẫu: Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp
lấy mẫu cụm, trong đó có phân chia ra ba nhóm cán bộ thuộc khối Đảng, Cơquan nhà nước và Đoàn thể cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Về phân tích dữ liệu thu thập từ bảng hỏi: Thông tin định lượng được
xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 Kết quả chủ yếu phân tích
Trang 17bằng các bảng tần suất, bảng chéo tương quan
6.2.3 Phỏng vấn sâu
Nghiên cứu đã thực hiện 15 cuộc phỏng vấn sâu, nhằm thu thập nhữngthông tin cụ thể, chi tiết về lý giải các yếu tố tác động đến sự tham gia lãnhđạo, quản lý của phụ nữ ở Đồng Tháp trên quan điểm của nam giới và phụ nữtrên các lĩnh vực công tác khác nhau Các đối tượng phỏng vấn bao gồm:
• Khối Đảng: 5 cuộc (3 nam, 2 nữ)
• Khối cơ quan nhà nước: 5 cuộc (2 nam, 3 nữ)
• Khối Đoàn thể: 5 cuộc (2 nam, 3 nữ)
Về phân tích dữ liệu thu thập từ PVS: Dữ liệu phỏng vấn sâu được
tổng hợp và phân tích theo các tiêu chí phỏng vấn sâu cấu trúc hóa nhờ sự hỗtrợ lưu giữ thông tin bằng phần mềm Excel, giúp truy xuất thông tin củangười trả lời (như đặc điểm cá nhân, nội dung trả lời) một cách dễ dàng hơn
7 Đóng góp và ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ thực trạng sự tham gia của phụ nữ tronglãnh đạo, quản lý cấp Tỉnh ở tỉnh Đồng Tháp hiện nay, cung cấp bằng chứngthực tiễn giúp làm rõ hơn các vấn đề lý thuyết tiếp cận và lý giải những tháchthức và rào cản đối với việc nâng cao vị thế chính trị cho phụ nữ và thúc đẩybình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị
- Luận văn phân tích những rào cản, khó khăn tác động tới sự tham giacủa phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở tỉnh Đồng Tháp từ hướngtiếp cận xã hội học về giới từ đó đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằmtăng cường sự tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ tại tỉnh Đồng Tháp
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảotrong xây dựng chính sách cán bộ và công tác cán bộ ở tỉnh Đồng Tháp; đồngthời là tài liệu tham khảo cho học viên và sinh và những tác giả quan tâm đếnlĩnh vực giới trong chính trị
8 Kết cấu của luận văn
Trang 18Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ SỰ THAM GIA
CỦA PHỤ NỮ TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1 Bình đẳng giới
Bình đẳng giới là khái niệm nhằm phản ánh một sự chia sẻ bình đẳng
về quyền lợi giữa nam và nữ giới, trong sự tiếp cận bình đẳng của họ về giáodục, sức khoẻ, quản lý và lãnh đạo, bình đẳng về tiền lương, về số đại biểuquốc hội và về những cái khác [52]
Theo Luật Bình đẳng giới năm 2006, khái niệm bình đẳng giới được hiểunhư sau: “bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạođiều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng,của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” [52]
Bình đẳng giới không mang ý nghĩa đơn giản là sự cân bằng về sốlượng giữa phụ nữ và nam giới, hoặc trẻ em trai và trẻ em gái trong mọi hoạtđộng của xã hội Bình đẳng giới ở đây được hiểu là những đặc điểm giống vàkhác nhau giữa phụ nữ và nam giới cùng được thừa nhận và coi trọng nhưnhau Phụ nữ và nam giới cùng có cơ hội ngang nhau để thực hiện các quyềncũng như cơ hội đóng góp và thụ hưởng vào quá trình phát triển của đất nước.Điều này cũng không có nghĩa là phụ nữ và nam giới là hoàn toàn như nhauhay giống hệt nhau, song những điểm tương đồng và khác biệt của họ được xãhội thừa nhận và được coi trọng ngang nhau
Bình đẳng giới có nghĩa là mọi sự khác biệt về hành vi, suy nghĩ, tìnhcảm, nhu cầu, lợi ích của nữ giới và nam giới là đều phải được tính đến mộtcách ngang nhau, đều phải được đánh giá và đối xử một cách ngang bằng
Trang 19Thực tiễn đời sống đã chứng minh bất kỳ sự phân biệt đối xử nào dựatrên cơ sở giới tính đều dẫn đến sự bất bình đẳng nam nữ trong xã hội, hạnchế khả năng cũng như sự đóng góp của phụ nữ vào sự phát triển và tiến bộ
xã hội và là một trong những nguyên nhân cản trở sự phát triển bền vững củaquốc gia Đấu tranh để tiến tới sự BĐG là một trong những mục tiêu quantrọng của xã hội, đảm bảo sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế quốc dân.Việc tạo ra cơ hội phát triển như nhau cho cả nam giới và phụ nữ chính là chìakhóa để tiến tới từng nấc thang của mục tiêu BĐG trong gia đình cũng nhưngoài xã hội
1.1.2 Định kiến giới
Định kiến giới là nhận định của mọi người trong xã hội về những gì màphụ nữ và nam giới có khả năng và các loại hoạt động mà họ có thể làm với tưcách họ là nam hay là nữ Có nhiều biểu hiện khác nhau của định kiến giớisong phổ biến hơn cả là những quan niệm về đặc điểm, tính cách và khả năngcủa phụ nữ và nam giới [52]
Theo Trần Thị Vân Anh, định kiến giới là sự khái quát mang tính tuyệtđối về một giới, nam hoặc nữ Có nhiều biểu hiện khác nhau của định kiếngiới, song phổ biến hơn cả là những quan niệm về đặc điểm tính cách và khảnăng của phụ nữ và nam giới Sự tuyệt đối hóa trong quan niệm thường dẫnđến những cách nhìn nhận và đánh giá thiếu khách quan về phụ nữ và namgiới Luật Bình đẳng giới năm 2006 đưa ra định nghĩa ngắn gọn hơn: “Địnhkiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vịtrí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ” [52]
Kế thừa những quan điểm đó, trong luận văn này, định kiến giới đượchiểu là sự khái quát về các đặc điểm mang tính tuyệt đối và sai lệch về mộtgiới nam hoặc nữ của một nhóm người, cộng đồng, xã hội Các định kiến giớithường phản ánh không đúng, thiếu khách quan và bị khuôn vào giới hạnnhững gì mà xã hội cho phép hoặc mong đợi các cá nhân thực hiện Những
Trang 20định kiến về giới nữ thường là phụ nữ yếu đuối, tự ti, thụ động, thứ yếu, phụ thuộc và là người không có vai trò, năng lực ra quyết định, phụ nữ không đủ phẩm chất để làm lãnh đạo Ngược lại, những định kiến về giới nam thường
là nam giới mạnh mẽ, độc đoán, là người ra quyết định, nam giới không có khả năng chăm sóc gia đình, Có thể thấy rằng, định kiến giới là nguyên
nhân quan trọng dẫn tới hệ quả là sự đối xử bất bình đẳng theo giới
1.1.3 Vai trò giới
Việc thực hiện các hoạt động của nam và nữ, bao gồm 3 loại hoạt độngsản xuất, tái sản xuất, và hoạt động cộng đồng, xã hội; tương ứng với 3 vai
trò: Một là, vai trò sản xuất: Phụ nữ và nam giới có những vai trò khác nhau
trong việc tạo thu nhập Phụ nữ thường đóng vai trò chủ yếu trong lĩnh vựcnông nghiệp, công nghiệp nhẹ, dịch vụ, buôn bán Nam giới chiếm tỉ lệ lớntrong lĩnh vực công nghiệp nặng và khoa học kỹ thuật Công việc của phụ nữ
thường có thu nhập thấp hơn nam giới; Hai là, vai trò tái sản xuất: Bao gồm
việc sinh con, và việc nhà như nuôi dạy con cái, chăm sóc người thân tronggia đình như người bệnh, người già; và việc nội trợ Mặc dù không thể thiếuđược, nhưng tất cả những việc nhà không được trả lương, và không được tính
toán thành chỉ tiêu kinh tế; Ba là, vai trò cộng đồng: Hoạt động cộng đồng
gồm hai loại: hoạt động chung, và hoạt động lãnh đạo quản lý đời sống sảnxuất, sinh hoạt của cộng đồng Phụ nữ thường tham gia vào hoạt động chungvới tư cách người thực hiện quyết định Trong hoạt động lãnh đạo, quản lýcộng đồng, phụ nữ tham gia với tỉ lệ rất ít trong cơ cấu lãnh đạo
1.1.4 Cán bộ
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cán
bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dânchúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo choĐảng, cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng” [43, tr.296]
Trang 21Cụ thể hơn, điều 4 Luật cán bộ, công chức (Luật số 22/2008/QH12,Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ IX, thông qua ngày 13/11/2008 và có hiệu lựcthi hành từ ngày 01/01/2010) quy định:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệmgiữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng Cộngsản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ởtỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấptỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế vàhưởng lương từ ngân sách nhà nước [53]
1.1.5 Lãnh đạo và quản lý
Là hai khái niệm không đồng nhất nhưng có ảnh hưởng tương tác qualại lẫn nhau Lãnh đạo là người đề ra chủ trương, đường lối, định hướngphương pháp hoạt động cho một tổ chức, một đơn vị Quản lý là điều khiển,
tổ chức thực hiện công việc Theo đó, lãnh đạo thường giải quyết những việc
có tính tổng thể hơn là cụ thể, còn quản lý thường giải quyết những việc cótính cụ thể hơn là tổng thể Warren Bennis (giáo sư, tiến sĩ, ông làm cố vấn vềkinh tế cho 4 đời Tổng thống Mỹ: Kennedy, Johnson, Carter và Reagan) nói
rằng có sự khác biệt giữa lãnh đạo và quản lý: lãnh đạo có nghĩa là chọn đúng việc cần làm, còn quản lý thì mang nghĩa là làm công việc cho tốt
Quản lý là một dạng tương tác đặc biệt của con người với môi trườngxung quanh nhằm đạt được mục tiêu trên cơ sở sử dụng các tài nguyên (conngười, tri thức, tiền, vật chất, không gian, thời gian ) từ góc độ thực hiện mộtchương trình của một tổ chức, đồng thời duy trì chế độ thực hiện một chươngtrình và một mục đích của hoạt động đã được ý thức hoá của một tập đoànngười, của một tổ chức xã hội hoặc của một cá nhân nào đó với tư cách là mộtchủ thể quản lý Quản lý chính là sự tác động liên tục có tổ chức, có ý thứchướng mục đích của chủ thể vào đối tượng nhằm đạt được hiệu quả tối ưu sovới yêu cầu đặt ra
Trang 22Phụ nữ chiếm 50% dân cư trong xã hội và chiếm trên dưới 50% lựclượng lao động Có người nói: phụ nữ là nửa bầu trời, là phân nửa của nhânloại Do vậy, họ cần có mặt trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội vừa
để đóng góp sức lực, tài năng cho sự phát triển; đồng thời vừa để nói lên tiếngnói, phản ánh nhu cầu, nguyện vọng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của giới
nữ Chắc chắn phụ nữ sẽ là những người hiểu về giới mình nhiều nhất, cónhững phương pháp tốt nhất để vận động, thuyết phục phụ nữ phát huy tàinăng cho quá trình phát triển Đưa phụ nữ tham gia vào lãnh đạo, quản lý
nghĩa là thực hiện sự công bằng, bình đẳng giới trong xã hội - một trong
những yêu cầu của phát triển bền vững hiện nay
Với tư cách là một nửa lực lượng lao động, phụ nữ không thể thiếu vắngtrong bất cứ lĩnh vực nào, nhất là lĩnh vực lãnh đạo, quản lý vì đây là lĩnh vựcliên quan đến quyền lực, đến chính sách, chế độ, quy định về quyền lợi,nghĩa vụ của mỗi con người, trong đó có phụ nữ Để thực hiện bình đẳng giớitrong xã hội, trong các chính sách, luật pháp, chế độ của quốc gia phải đượcxây dựng trên quan điểm giới, phản ánh được nhu cầu, nguyện vọng, lợi íchcủa cả hai giới Do vậy, sự có mặt của nữ giới trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý
sẽ góp phần đưa quan điểm giới nhiều hơn vào quá trình xây dựng chính sách,luật pháp của quốc gia
1.2 CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI VÀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM NHẰM ĐẢM BẢO PHỤ NỮ TRONG HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CÁN
BỘ NỮ
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã giải phóng người phụ nữ ViệtNam và đưa họ lên địa vị mới đó là làm chủ xã hội; có quyền bình đẳng vớinam giới, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Cho nên, ngay từ buổi đầu khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, HồChí Minh đã luôn coi trọng và đánh giá cao vị trí, vai trò và khả năng to lớncủa phụ nữ trong gia đình và xã hội; luôn đấu tranh cho quyền lợi phụ nữ nói
Trang 23riêng và nhân dân nói chung Trong những qua, Đảng và Nhà nước đã có đầy
đủ cơ sở pháp lý để đảm bảo và tăng cường phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản
lý
1.2.1 Chủ trương, đường lối và cam kết chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam
Lúc sinh thời, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến phát triển công tác cán bộ
nữ Bác luôn nghiêm khắc về thiếu sự quan tâm đến công tác này Tại buổi nóichuyện ở Lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo huyện, Bác đã nghiêm túc phê bìnhrằng, “cán bộ nữ ít như vậy là một thiếu sót Các đồng chí phụ trách lớp chưaquan tâm đến việc bồi dưỡng cán bộ nữ Đây cũng là thiếu sót của Đảng.Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ hay thành kiến,hẹp hòi Như vậy là sai” [48, tr.208] Không dừng lại ở đây, Bác còn chỉ ra sựbất cân bằng trong công tác đào tạo cán bộ nữ các ngành Trong buổi nóichuyện ở lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp II ngày 12/6/1956, Bácnói “trên 350 mà chỉ có 20 phụ nữ thì ít quá Giáo dục phải cố gắng để có phụ
nữ hơn nữa Trừ cải cách ruộng đất, cán bộ nữ được đào tạo nhiều, trong giáodục, y tế và các ngành khác số phụ nữ đều thấp Nam nữ như thế đã bình đẳngchưa? Các cô phải cố gắng” [45, tr.183] Để tạo sự bình đẳng đó, nữ giới phảithật sự cố gắng, một mặt chứng minh năng lực của mình; mặt khác, đòi hỏinam giới phải thừa nhận năng lực của mình trên các lĩnh vực Như vậy, Bác rấtcoi trọng công tác đào tạo đội ngũ nữ cán bộ bởi vì họ là người đóng góp côngsức to lớn trong sự nghiệp phát triển và đồng thời khẳng định đó là quyền củaphụ nữ Nếu không quan tâm hoặc bỏ quên công tác này, đồng nghĩa với chúng
ta đã vi phạm các quyền cơ bản về quyền con người của phụ nữ
Hồ Chí Minh luôn xác định rằng, để có cơ hội bình đẳng giữa nam và
nữ thì “các đồng chí hãy thật sự chữa bệnh thành kiến hẹp hòi đối với phụ nữ.Các cô phải biết đấu tranh mạnh Vì các cô mà không đấu tranh thì đồng chí
có thành kiến với phụ nữ sẽ không tích cực sửa chữa” Vì thế, trước lúc đi xa,
Trang 24trong bản Di chúc, Người đã biểu dương tinh thần chiến đấu, hy sinh và căndặn toàn Đảng, toàn dân ta phải quan tâm, chăm sóc phụ nữ rằng:
Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã gópphần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Đảng và Chínhphủ phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ
để ngày càng nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc lãnh đạo Bảnthân phụ nữ cố gắng vươn lên Đó là một cuộc cách mạng đưa đếnquyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ [48, tr.510]
Sau khi miền Bắc được giải phóng, Đảng ta đã xây dựng Nghị quyết
153 NQ-TW về “công tác cán bộ nữ” và Nghị quyết đã khẳng định:
Sự nghiệp giải phóng phụ nữ là trách nhiệm chung của toàn Đảng,của nhà nước, của xã hội, song lực lượng phụ nữ, trong đó đội ngũxung kích là lực lượng cán bộ nữ ở tất cả các lĩnh vực, phát huy vaitrò chủ động của mình; phong trào phụ nữ càng phát triển thì độingũ cán bộ nữ càng có điều kiện để phát triển mạnh mẽ, và ngượclại, sự phát triển của đội ngũ cán bộ nữ sẽ có tác động lớn đến sựnghiệp giải phóng phụ nữ và phải là đội ngũ đi đầu phong trào phụnữ Các cấp, các ngành cần nhận rõ vị trí và vai trò vô cùng trọngyếu của lực lượng phụ nữ, nhận rõ trách nhiệm lớn lao của phụ nữtrên lĩnh vực công tác cũng như nhận rõ vị trí, vai trò của đội ngũcán bộ nữ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng nói chung, trong sựnghiệp giải phóng phụ nữ nói riêng… [6]
Điều này cho thấy, các chủ trương, đường lối của Đảng ta rất chú trọngđến công tác phát triển cán bộ nữ, góp phần hướng đến xã hội bình đẳng nam nữ
Đồng thời, Đảng và Nhà nước ta đã tham gia ký kết công ước CEDAWrất sớm (1980) Việt Nam phê chuẩn và thực hiện điều khoản của Công ướcchống mọi hình thức phân biệt đối xử phụ nữ (CEDAW, LHQ 1979) như thựchiện, định kì đệ trình các báo cáo quốc gia về những kết quả thực hiện
Trang 25CEDAW, trong đó có qui định về sự tham gia chính trị và dân sự của phụ nữ(điều 1), tham gia các tổ chức, hiệp hội phi chính phủ, liên quan đến đời sốngcông cộng, chính trị của đất nước (điều 7), nhà nước đảm bảo các cơ hội phụ
nữ đại diện cho chính phủ trên các diễn đàn quốc tế, tham gia công việc ở các
tổ chức quốc tế (điều 8) Đặc biệt, Công ước này khuyến cáo nhà nước cầnthiết áp dụng các biện pháp đặc biệt, tạm thời, nhằm cải thiện vị thế, vai tròtham gia của phụ nữ trong xã hội, khắc phục sự phân biệt đối xử phụ nữ ở cáclĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình (điều 4) Việc tham gia
ký kết này nhằm đảm bảo quyền của người phụ nữ/trẻ em gái, đặc biệt lànhững điều khoản, mục tiêu về phụ nữ tham gia chính trị Điều này cho thấynước ta rất tôn trọng quyền của phụ nữ [24]
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có động thái khá tích cực trong hànhđộng thực hiện chủ trương bình đẳng giới, chống sự kỳ thị và phân biệt giới.Bằng chứng là, Đảng ta có chủ trương về bình đẳng giới trước công ướcCEDAW (1979)
Phát huy tinh thần đó, sau đổi mới, Đảng ta đã ban hành Chỉ thị 37CT/TW ngày 16/5/1994 về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hìnhmới và một số chủ trương, chính sách khác có liên quan đến công tác nữ cán
bộ nhằm đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới Chỉ thị 37 CT/TWcũng đã xác định tiếp tục quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữbằng biện pháp cần xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao động
nữ nói chung và cán bộ nữ nói riêng Trước mắt, các cấp, các ngành từ Trungương đến cơ sở phải có quy hoạch cán bộ nữ Sớm xác định những ngành,những lĩnh vực phù hợp, phát huy được thế mạnh của phụ nữ, những chức danhlãnh đạo và quản lý cần có cán bộ nữ, từ đó có kế hoạch tạo nguồn, đào tạo, bồidưỡng, đề bạt và sử dụng [8] Để thực hiện điều đó thì việc đào tạo, bồi dưỡngcán bộ nữ phải có quan điểm và biện pháp đúng đắn Đảng ta đã xác định, côngtác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ cũng không phải bó hẹp trong phạm vi các lớp
Trang 26học, các trường đào tạo cán bộ, mà phải đặc biệt coi trọng việc đào tạo, bồidưỡng trong công tác thực tế và trong phong trào quần chúng bằng các hình thứckèm cặp trong công tác, hoặc hình thức bồi dưỡng ngắn hạn rồi trở về công tác,rồi lại tiếp tục bồi dưỡng thêm các đợt khác với yêu cầu cao hơn [6].
Theo đó, quan điểm chỉ đạo của Đảng đã chỉ rõ trong báo cáo chính trịtại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếptục khẳng định: Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bìnhđẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế chínhsách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý
ở các cấp, các ngành [57] Quan điểm cơ bản này đã và đang được Nhà nướcViệt Nam thể chế hoá thành các chủ trương, chính sách cụ thể Một lần nữa,Việt Nam khẳng định sự nhận thức đúng đắn và thái độ kiên quyết trong việcthực hiện các cam kết quốc tế của quốc gia thành viên CEDAW, nhằm bảođảm quyền bình đẳng của phụ nữ
Ngoài ra, một số chỉ thị của Ban Bí thư và Bộ Chính trị cũng thể hiệnhành động tích cực trong việc đảm bảo bình đẳng giới trong chính trị từ sautinh thần chỉ đạo của Đại hội IX Chỉ thị 37/CT-TƯ, Ban Bí thư Đảng Cộngsản Việt Nam, năm 2004 về công tác cán bộ nữ trong tình hình mới, đề ramục tiêu, chỉ tiêu và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ nữ đến năm 2010.Chỉ thị số 46-TC/TW ngày 6/12/2004, Bộ Chính trị, năm 2004, về tổ chứcĐại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ X (năm 2006), nêu vấn đề hạnngạch tham gia chính trị của phụ nữ: "Đảm bảo tỉ lệ phụ nữ cấp uỷ viênkhông dưới 15 % và về tuổi tham gia cán bộ nữ chủ chốt ở cấp tỉnh, trungương ngang bằng với nam giới” [26]
Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2007) cũng đãthông qua Nghị quyết 11 về công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Liên quan đến bình đẳng giới ở chính trị,Nghị quyết nhấn mạnh:
Trang 27Xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng vớivai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quantrọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng Nghị quyết vạch
ra các chỉ tiêu định hướng cho hệ thống chính trị các cấp đến năm
2020, phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy Đảng cáccấp đạt 25% trở lên, nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dâncác cấp đạt từ 35% - 40% Các cơ quan, đơn vị có tỉ lệ nữ từ 30%trở lên, nhất thiết có lãnh đạo chủ chốt là nữ Cơ quan lãnh đạo cấpcao của Đảng, Quốc hội, nhà nước, chính phủ có tỉ lệ nữ phù hợpvới mục tiêu bình đẳng giới Cần đảm bảo tỉ lệ nữ tham gia cáckhóa đào tạo tại các trường lý luận chính trị, quản lý hành chính nhànước từ 30% trở lên [16]
Nhìn chung, chủ trương, đường lối và cam kết của Đảng Cộng sản ViệtNam đã thể hiện khá rõ nét về động thái tích cực trong việc đảm bảo bìnhđẳng giới trên các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực chính trị Tinh thần đó đã có
từ khi nhà nước vừa mới khai sinh Thực hiện lời di huấn và tinh thần củaBác, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã trở thành thành viên khá tích cực trongviệc cam kết các điều khoản quốc tế về bình đẳng giới và chống sự phân biệt,
kỳ thị giới trên lĩnh vực tham chính Các chủ trương, đường lối và thực hiệncam kết của Đảng Cộng sản Việt Nam đã cụ thể hóa thành các văn bản Luật
và hệ thống chính sách của Việt Nam
1.2.2 Luật pháp và chính sách của Việt Nam
Ở Việt Nam, có khá nhiều chính sách, nghị định và nghị quyết thúc đẩy
sự tham gia và đại diện của phụ nữ trong cơ quan lập pháp và hành chính củaChính phủ [68, tr.12] Dường như các văn bản luật, chính sách liên quan đếnviệc thúc đẩy sự tham gia và đại diện của phụ nữ trong chính trị được thể hiện
ở các nội dung: Một là, đảm bảo quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ; Hai là,
Trang 28đảm bảo quyền tham gia quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội của phụ nữ; Ba
là, các cơ chế thúc đẩy bình đẳng giới
1.2.2.1 Bảo đảm quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ
Như đã phân tích, ngay từ những ngày đầu khai sinh nhà nước, Đảng vàNhà nước ta đã thông qua Hiến pháp (1946) rằng, tất cả công dân Việt Namđều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá (điều 6) vàđàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện (điều 9) Tinh thần đóđược tiếp tục khẳng định tại các Hiến pháp (1959) Tuy nhiên, tinh thần nàychưa được thể hiện rõ trong việc đảm bảo về quyền bầu cử và ứng cử Hiếnpháp (1980 và 1992) đã khẳng định rõ rằng về quyền bầu cử và ứng cử củaphụ nữ Hiến pháp (1992) quy định rằng: Công dân, không phân biệt dân tộc,nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghềnghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủhai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhândân theo quy định của pháp luật (điều 54) [51]
Để đảm bảo được quyền ứng cử và bầu cử của phụ nữ theo tinh thầnHiến pháp (1980 và 1992), tại điều 126 của Bộ luật Hình sự (năm 1999) đãquy định biện pháp chế tài đối với tội xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cửcủa công dân như sau: Người nào lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc dùngthủ đoạn khác cản trở việc thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử của côngdân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ
ba tháng đến một năm Sau này, Luật Bầu cử được ban hành đã cụ thể hóahơn Tại điều 10 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đạibiểu Quốc hội (năm 2001) đã quy định: Số đại biểu Quốc hội là nữ do Uỷ banthường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban Chấphành TW Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bảo đảm để phụ nữ có số đại biểuthích đáng Đồng thời, cũng tại điều 14 của Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồngNhân dân (năm 2003) quy định rằng, Thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp huyện
Trang 29và cấp xã dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu HĐND, trong đó đảmbảo số lượng thích đáng đại biểu HĐND là phụ nữ
Thực hiện các quy định nói trên, một loạt các biện pháp cụ thể đã đượctriển khai ở các cấp nhằm tăng tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội khoá XI, trong đó
có hoạt động tuyên truyền, vận động cử tri, phân phát tờ gấp cổ vũ cho phụ nữtham gia lãnh đạo và Quốc hội, tổ chức tiếp xúc cử tri cho nữ ứng cử viên Uỷban quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đã tổ chức 6 lớp bồi dưỡngdành cho 216 nữ ứng cử viên Quốc hội khoá XI, nhằm trang bị thêm chonhững nữ ứng cử viên này những kiến thức và kỹ năng cần thiết, giúp họ tựtin hơn để có thể tranh cử thành công Luật Bình đẳng giới (2007) là mộttrong những khung pháp lý quan trọng đảm bảo quyền được ứng cử và bầu cửcủa phụ nữ Tại khoản 3 điều 11 luật này ghi rõ, nam nữ bình đẳng trong việc
tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu quốc hội, đại biểu HĐND; tựứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo lãnh đạo của tổ chứcchính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp Tại khoản 5điều này, Luật cũng quy định rõ các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới tronglịnh vực chính trị như bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu
Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; bảo đảm
tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù
hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới [52]
1.2.2.2 Đảm bảo quyền của phụ nữ trong việc tham gia quản lý Nhà nước về kinh tế và xã hội
Trong những năm qua, việc cụ thể hóa các chủ trương, đường lối củaĐảng và Nhà nước bằng các văn bản luật, chính sách đã góp phần đảm bảoquyền của phụ nữ trong việc tham gia quản lý nhà nước về kinh tế và xã hội.Nhờ đó, vị trí và vai trò của cán bộ nữ được khẳng định một cách đáng kể.Quyền này được thể hiện thông qua hệ thống pháp luật và chính sách như sau:
Luật Bình đẳng giới (2007) là dấu mốc khá quan trọng trong việc đảm
Trang 30bảo quyền tham gia quản lý nhà nước về kinh tế và xã hội Tại điều 11 củaluật này xác định nội dung bình đẳng giới ở lĩnh vực chính trị Việc đẩy mạnhthực hiện các qui định Luật bình đẳng giới ở 7 lĩnh vực khác, góp phần tạo ramôi trường, điều kiện tích cực hơn để phụ nữ có thể tham gia chính trị Ngoài
ra, thực hiện Luật phòng chống bạo lực gia đình - một công cụ pháp lý xáclập qui tắc ứng xử chung của các thành viên gia đình, cộng đồng nhằm bảo vệquyền con người được tự do, bình đẳng, được tôn trọng nhân phẩm, danh dự,cũng là cơ sở quan trọng để phụ nữ tham gia bình đẳng trong mọi lĩnh vựcđời sống xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị
Như vậy, Luật pháp và hệ thống chính sách Việt Nam dường như kháđầy đủ để đảm bảo quyền của phụ nữ trong chính trị Tuy nhiên, trong quátrình thực hiện vẫn còn nhiều trở ngại về nhận thức và hành động Do đó, tỷ lệcán bộ nữ tham gia vào quá trình lãnh đạo, quản lý có tăng nhưng chưa đượcbền vững Vì thế, cần có những cơ chế thúc đầy nhằm thực hiện bình đẳnggiới trong chính trị ở Việt Nam hiệu quả hơn
1.2.2.3 Cơ chế thúc đẩy bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam
Cơ chế thúc đẩy bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam đã được cụthể hóa trong các nghị định, các văn bản hướng dẫn và chiến lược hành độngquốc gia về bình đẳng giới Có thể nói,Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện
cơ chế thể chế quốc gia quan trọng Các cơ quan Hội Liên hiệp phụ nữ ViệtNam, Ủy ban Quốc gia tiến bộ phụ nữ Việt Nam và Bộ Lao động, Thươngbình và Xã hội đóng vai trò tư vấn, phối hợp, vận động, thúc đẩy, hỗ trợ, quản
lý, giám sát tiến bộ phụ nữ, bình đẳng giới ở các lĩnh vực/ngành, trong đó cólĩnh vực chính trị
Tại Nghị định số 19/NĐ-CP, năm 2003 đã quy định rằng, Hội Liên hiệpphụ nữ Việt Nam được quyền hợp pháp có đại diện xứng đáng được bầu vàoBan Chấp hành trung ương Đảng, Quốc hội, cấp ủy đảng và HĐND các cấp
Cơ quan hành chính cùng cấp, định kỳ phối hợp với Hội phụ nữ cùng cấp tổ
Trang 31chức cuộc họp thu thập ý kiến về việc thực hiện chủ trương, chính sách, luậtpháp, phát hiện những hành vi vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của phụnữ.
Luật Bình đẳng giới được ban hành và có hiệu lực góp phần đảm bảoviệc thực thi bình đẳng giới trong các lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực thamchính Để Luật Bình đẳng giới được đi vào cuộc sống, đến năm 2008, Chínhphủ đã có quyết định số 70/NĐ-CP về một số hướng dẫn về thực hiện LuậtBình đẳng giới, xác định trách nhiệm của Chính phủ và các cơ quan Chínhphủ trong việc thực thi Luật Bình đẳng giới Chính phủ chịu trách nhiệm toàn
bộ, Bộ lao động, thương binh và xã hội là cơ quan chủ trì điều phối (phối hợpvới các cơ quan Chính phủ khác) thực hiện bình đẳng giới; ở cấp địa phương,
Ủy ban nhân dân ở 3 cấp chịu trách nhiệm thực thi Luật Bình đẳng giới Cácvấn đề bình đẳng giới bao gồm các chương trình bình đẳng giới ở cấp quốcgia và địa phương, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quy định luật pháp,các chương trình khác, và giám sát, tổng hợp các kết quả thực hiện chỉ tiêu vàmục tiêu của Luật Bình đẳng, củng cố và đổi mới các hoạt động truyền thông
và giáo dục về chính sách và pháp luật về bình đẳng giới
Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 57/NQ-CP về việc banhành chương trình hành động của chính phủ giai đoạn đến 2020 thực hiệnNghị quyết số 11-NQ/TW [20] Nghị quyết đã khẳng định, nâng cao vị thếcác phụ nữ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống thông qua tăng cường sự thamgia lãnh đạo và quản lý của phụ nữ; thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam
và nữ; lồng ghép cơ chế, chính sách cụ thể về độ tuổi trong quy hoạch, đàotạo, bổ nhiệm đối với cán bộ, công chức nữ Thông qua các hành động cụ thểnhư sau: Tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục và đào tạo, y tế, pháp luật chophụ nữ và trẻ em gái; Xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo cán bộ nữ;Xây dựng và thực hiện chính sách đặc thù đối với lao động nữ làm việc ởvùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và là người dân tộc thiểu số;
Trang 32Xây dựng cơ chế đảm bảo thúc đẩy sự tham gia nhiều hơn của phụ nữ vào cácquá trình ra quyết định và tăng tỷ lệ nữ ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồngnhân dân các cấp Đồng thời, Nghị quyết cũng đã quy định trách nhiệm của
cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương trong việc bảođảm cho nữ cán bộ, công chức tham gia quản lý nhà nước [20]
Ngoài ra, Chính phủ cũng ban hành Nghị quyết số 48/2009/NĐ-CPngày 19/5/2009 về việc ban hành các giải pháp đảm bảo bình đẳng giới [19],giải quyết yêu cầu về thông tin, giáo dục, truyền thông nhằm phổ biến phápluật và các chính sách về giới và bình đẳng giới, lồng ghép vấn đề bình đẳnggiới trong xây dựng chính sách thực hiện bình đẳng giới tại vùng xa và cácvùng nghèo khó
Có thể nói, Nhà nước ta rất chú trọng đến cơ hội phát triển của phụ nữtrong các lĩnh vực Cơ chế thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam đã được thểchế hóa rất rõ ràng và cụ thể trong các quy định của các Nghị định, Nghịquyết của Chính phủ
Bên cạnh đó, Chính phủ đã phê duyệt chiến lược quốc gia về Bình đẳnggiới giai đoạn đến năm 2020 Chiến lược đã khẳng định, thúc đẩy bình đẳnggiới trong lĩnh vực chính trị: Bình đẳng giới trong chính trị là thước đo quantrọng và cao nhất về mức độ bình đẳng giới Đây chính là lĩnh vực có khoảngcách giới rất lớn so với các lĩnh vực khác Chiến lược nhằm thu hút sự thamgia nhiều hơn của phụ nữ trong chính trị, trong hoạch định và thực thi chínhsách nhằm đảm bảo rằng các chính sách được ban hành có tính đến quanđiểm, kinh nghiệm của cả phụ nữ và nam giới, do vậy, chính sách sẽ đáp ứngtốt hơn nhu cầu của phụ nữ và nam giới Sự tham gia bình đẳng của cả haigiới trong chính trị cũng sẽ tạo đà tốt hơn cho việc lồng ghép giới trong quátrình xây dựng và thực hiện chính sách [58] Trên tinh thần đó, chiến lược đã
đề ra mục tiêu chung là đến năm 2020 về cơ bản đảm bảo cơ hội tham gia và
hưởng lợi một cách bình đẳng cho phụ nữ và nam giới vào các lĩnh vực của đời
Trang 33sống xã hội, trong đó tập trung phấn đấu thu hẹp khoảng cách giới trong một sốlĩnh vực chủ yếu và giải quyết các vấn đề giới nổi cộm trong từng thời kỳ
Nhằm đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu của chiến lược, Chính phủcũng đã đưa một số giải pháp để thực hiện: Một là, hoàn thiện hệ thống chínhsách, pháp luật về bình đẳng giới, thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giớitrong các chính sách, pháp luật, chương trình, chiến lược; Hai là, Đẩy mạnhthông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức về bình đẳnggiới trong đội ngũ cán bộ, công chức và nhân dân; Ba là, xây dựng Chươngtrình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới nhằm hỗ trợ các Bộ ngành, địaphương giải quyết những vấn đề giới cấp bách; Bốn là, phát triển các hệ thốngdịch vụ có chất lượng nhằm hỗ trợ phụ nữ và nam giới được tham gia bìnhđẳng trong các lĩnh vực; Năm là có cơ chế huy động nguồn lực và đầu tư ngânsách có hiệu quả cho hoạt động bình đẳng giới; Sáu là, tăng cường các nghiêncứu liên quan tới bình đẳng giới nhằm cung cấp những cơ sở khoa học vữngchắc cho việc hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật Phát triển khoahọc công nghệ hướng tới bảo đảm bình đẳng giới; Bảy là, đẩy mạnh hợp tácquốc tế đa phương, song phương và phi chính phủ, nâng cao hiệu quả hộinhập trong thực hiện bình đẳng giới; Tám là, nâng cao năng lực thể chế phục
vụ công tác bình đẳng giới Tăng cường sự chỉ đạo và kiểm tra của các cấp ủyđảng, chính quyền đối với công tác bình đẳng giới nhằm tạo sự thống nhất cả
về nhận thức và hành động trong triển khai thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêucủa Chiến lược [58]
Bằng những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam, bình đẳng giới trên cáclĩnh vực đã được đảm bảo Trong đó, vị trí và vai trò của phụ nữ trong chínhtrị cũng dường như có xu hướng thay đổi tích cực hơn Các nghiên cứu chothấy rằng, phụ nữ đã và đang tham gia với tư cách là thành viên của các tổchức và đảm nhận các vị trí ra quyết định ở mọi cấp độ chính trị, ngày càngnhiều hơn Điều này chứng tỏ, các cấp lãnh đạo đã quan tâm chỉ đạo, qui
Trang 34hoạch, quản lí cán bộ đã tạo điều kiện, tin tưởng giao nhiệm vụ và bản thâncán bộ phụ nữ nỗ lực vượt mọi khó khăn, vươn lên khẳng định trong côngviệc và cuộc sống.
Nói tóm lại, hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới có khánhiều và đủ cơ sở pháp lý để đảm bảo quyền của phụ nữ trên các lĩnh vực, đặcbiệt là lĩnh vực chính trị Hệ thống này là một bước tiến trong việc giảm sátthực hiện các văn bản pháp lý khác nhau và quan trọng hơn là bước tiến tronggiám sát bình đẳng giới ở Việt Nam [68, tr.13] Có thể nói, hệ thống khungpháp lý ở Việt Nam đã góp phần thúc đẩy thực hiện mục tiêu bình đẳng giớitrong đời sống chính trị ở Việt Nam Mặc dù vậy, các chính sách quy định íttrách nhiệm khi không thực hiện nghị quyết hoặc không đạt các chỉ tiêu.Chẳng hạn, nghị định mới ban hành gần đây áp dụng các biện pháp kỷ luậtcán bộ, công chức vi phạm các quy định pháp luật về bình đẳng giới là mộtbước tiến trong trách nhiệm Tuy nhiên, nghị định này không quy định chi tiết
về “quy định của pháp luật về bình đẳng giới” và không bàn cụ thể các chỉtiêu đại diện của phụ nữ Ngoài ra, chỉ tiêu ở một số văn bản không thốngnhất với nhau [68, tr.13] Như vậy, hệ thống chính sách pháp lý ở Việt Namkhá đầy đủ, song vẫn còn chưa thống nhất giữa các văn bản về các chỉ tiêuhoặc các quy định Do đó, cần có sự trao đổi và thống nhất giữa các bên racác quyết sách, góp phần mang lại tính hiệu quả trong việc thực hiện các chủtrương, đường lối của Đảng về bình đẳng giới ở Việt Nam trong tương lai
1.3 MỘT SỐ LÝ THUYẾT XÃ HỘI HỌC
1.3.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng
Lý thuyết cấu trúc chức năng là một trong những học thuyết lớn nhấttrong xã hội học Nó được khơi nguồn từ cuối thế kỷ XIX, thịnh hành trongsuốt thế kỷ XX và có ảnh hưởng sâu sắc tới toàn bộ xã hội học hiện đại.Thuyết cấu trúc chức năng đề cập đến toàn bộ những vấn đề xã hội, cơ cấu xãhội, sự tương tác xã hội, sự kiện cơ cấu Các đại biểu tiêu biểu cho chủ thuyết
Trang 35cấu trúc chức năng như A Comte, H Spencer, E Durkheim, T Parson đã đểlại những dấu ấn sâu sắc trong làng xã hội học và đặt nền tảng để lý giải cácvấn đề xã hội, trong đó cả vấn đề giới, gia đình và phụ nữ.
A Comte - nhà xã hội học Pháp - cho rằng trong khi đặt mục tiêu cho
sự phát triển xã hội là phấn đấu cho một sự dung hòa giữa trật tự và phát triển
cả trong gia đình và xã hội Ông đã lấy gia đình như một đơn vị xã hội và giađình được xem với tư cách là một thiết chế xã hội Cho nên, ông đã tập trungvào nghiên cứu các thành tố và cấu trúc gia đình, nghiên cứu về mối quan hệgiữa các thành tố như sự phân công lao động theo giới, quan hệ giữa các thànhviên trong gia đình, đặc biệt là cha mẹ, con cái, vợ chồng Ông nhấn mạnh vàủng hộ bản chất gia trưởng của gia đình và không chấp nhận ly hôn, đây là điềukiện bảo đảm cho sự ổn định gia đình và cũng là cơ sở ổn định của xã hội
H Spencer - nhà xã hội học Anh - đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi họcthuyết sinh học xã hội Thông qua việc phân tích một hệ thống hữu cơ thựcchứng, H Spencer đã đưa ra mô hình đầu tiên cho sự phân tích xã hội học vềphụ nữ, về vị trí của họ trong gia đình và xã hội Ông luôn tỏ thái độ ủng hộ
mô hình phụ nữ hoạt động cơ bản trong gia đình, nam giới là cầu nối giữa giađình và các tổ chức xã hội Sở dĩ là vì, ông cho rằng các nhà sinh vật xã hộikết luận não bộ của phụ nữ nhỏ và kém thông minh hơn nam giới Do đó, phụ
nữ chỉ có trách nhiệm là duy trì sự cân bằng gia đình và trong mối quan hiệnvới các thiết chế xã hội khác Hành động xã hội như các phong trào đòi bìnhđẳng giai cấp, bình đẳng cho phụ nữ sẽ phá vỡ sự cân bằng của xã hội, đingược lại sự tiến bộ xã hội
E Durkheim - nhà xã hội học Pháp - cho rằng, phụ nữ phải chịu sựthống trị và kiểm soát của nam giới trong gia đình và xã hội phụ quyền, đây là
tổ chức xã hội bảo vệ cho họ
T Parson - nhà xã hội học Mỹ - luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò là yếu tốduy trì sự ổn định xã hội Mỗi cá nhân đều có vị trí, vai trò nhấn định trong hệ
Trang 36thống xã hội Vị trí, vai trò này được hình thành thông qua quá trình xã hộihóa Ông cho rằng, xã hội được vận hành một cách có hiệu quả nhất là sựphân công lao động rõ ràng theo giới, sự phân công này dựa trên dựa trên sựkhác biệt sinh học giữa nam và nữ Trong đó, nam giới có vai trò công cụ, nữđóng vai trò tình cảm.
Như vậy, những học giả theo cách tiếp cận cấu trúc chức năng cho rằng
sự khác biệt giới góp phần vào sự ổn định và liên kết xã hội Họ cho rằng, sựphân công lao động nam nữ là dựa trên cơ sở tự nhiên; nam và nữ thực hiệnnhững nhiệm vụ thích hợp với họ về mặt sinh học [14, tr.115] Có thể nói, trên
cơ sở phân tích chủ thuyết cấu trúc chức năng, xã hội muốn vận hành ổn định
và có hiệu quả thì đòi hỏi có sự phân chia rạch ròi về vị trí, vai trò của mỗingười dựa trên sự khác biệt giới Chính quan điểm này đã tạo ra sự phân chia
về lĩnh địa hoạt động của phụ nữ và nam giới Phụ nữ thường hoạt động được
“gói trọn” trong không gian gia đình, trong khi đó, không gian hoạt động củanam giới là “không gian mở” Sự xâm phạm lĩnh địa hoạt động của nhau lànguyên nhân dẫn đến sự rối loạn xã hội Vì thế, phụ nữ tham gia lãnh đạo,quản lý là một hiện thực khó chấp nhận trong nhận thức của mỗi người trongcộng đồng và xã hội Lẽ đó, nghiên cứu đã vận dụng những hạt nhân hợp lýcủa chủ thuyết cấu trúc chức năng vào việc lý giải vì sao khi tham gia lãnhđạo, quản lý của phụ nữ gặp nhiều vật cản là phù hợp Đồng thời, cũng gópphần tìm kiếm những giải pháp hiệu quả nhằm hạn chế những rào cản đối vớiphụ nữ trong tham chính để từ đó, tạo ra một sân chơi “công bằng” trongchính trường
1.3.2 Lý thuyết xã hội hóa và giới
Xã hội hóa là quá trình các cá thể tiếp thu, học tập nền văn hóa của xãhội mà cá nhân sinh ra, tức là học các kinh nghiệm xã hội, học hỏi những gìcần làm, học ngôn ngữ, học các chuẩn mực, giá trị của xã hội thể thích ứngđược với xã hội [54, tr.46] Xã hội hóa là một tiến trình kéo dài suốt đời dựa
Trang 37trên sự tương tác xã hội, qua đó cá nhân phát triển khả năng của mình và họccác mẫu văn hóa của xã hội.
Xét ở khía cạnh giới, theo Lê Thị Quý (2009) cho rằng, nghiên cứu của
J Rubin và cộng sự đã nhận xét, hầu hết các bậc cha mẹ thấy những biểu hiệnkhác biệt về giới của con mình ngay từ những ngày đầu tiên Khi trẻ lớn lên,những quan niệm của cha mẹ về vai trò giới tác động đến cách giáo dục, cư
xử của họ với trẻ Việc giáo dục con trai hoặc con gái theo các khuôn mẫu giớinhư con trai phải mạnh mẽ, hướng ngoại còn con gái phải dịu dàng, hướng nội,chăm lo việc gia đình đã làm cho quá trình xã hội hóa hình thành nhân cách củacon người đậm màu sắc giới Xã hội hóa về giới hình thành một cách kháchquan ở các môi trường gia đình và xã hội thông qua các hệ thống các chuẩn mực
và giá trị sống của xã hội đó Các khuôn mẫu giới luôn được đề cập và nhấnmạnh về các giá trị và cách sống của mỗi giới như nam tính và nữ tính Trẻ emhọc những cái mà nam giới và phụ nữ đã làm và đến lượt mình chúng lại thểhiện khuôn mẫu mà người ta khác mong chờ ở chúng Nếu khác đi, trẻ em gái
có thể bị coi là “nổi loạn”, trẻ em nam thì bị coi là “thiếu sinh khí”
Như vậy, xã hội hóa là quá trình khách quan trong sự phát triển của conngười Trong khi thực hiện các tương tác với xã hội, hội nhập vào các chuẩnmực mà họ đang sống, con người cũng tiếp nhận các quy chuẩn về giới trong
xã hội đó Có thể thấy rằng, vai trò giới được hình thành từ quá trình xã hộihóa và nó ăn sâu vào trong nhận thức của mỗi giới Từ đó, vai trò “thiênchức” luôn mặc định cho phụ nữ và nam giới là “trụ cột” gia đình Chính điềunày đã tạo định kiến giới đối với phụ nữ khi họ “vượt tường” ra khỏi khônggian gia đình để tham gia các hoạt động chính trị, xã hội Khi đó, họ phải đốimặt với nhiều thách thức, rào cản và để rồi, con đường chức nghiệp của họgian nan lại trở nên gian nan hơn Vận dụng lý thuyết xã hội hóa trong tiếpcận giới góp phần lý giải vì sao phụ nữ phải gặp nhiều áp lực về gánh nặnggia đình hoặc tính cách, năng lực của phụ nữ mang đầy nữ tính khi họ tham
Trang 38gia lãnh đạo, quản lý Hoặc lý giải sự đố kỵ hay không chấp nhận hoặc phânbiệt đối xử giới trong các cơ quan, tổ chức ở Đồng Tháp hiện nay
1.3.3 Lý thuyết nữ quyền
Phong trào nữ quyền phát triển mạnh ở Phương Tây vào khoảng cuốithế kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ thứ XIX Phong trào này có mục tiêu xóa bỏ sựthống trị của nhà nước tư sản đối với phụ nữ Phong trào nữ quyền khá đadạng cho nên có những cách lý giải khác nhau về nguyên nhân dẫn đến sự ápbức của phụ nữ, con đường giải phóng của phụ nữ… Trong khuôn khổ nghiêncứu của đề tài, nghiên cứu chủ yếu tập trung vào trường phái nữ quyền tự do để
lý giải những rào cản đối với phụ nữ khi tham gia lãnh đạo, quản lý hiện nay
Thuyết nữ quyền tự do là trường phái có xu hướng lịch sử dài nhất, cócội rễ ở thế kỷ XIX Họ tìm sự lý giải cho sự bất bình đẳng ở quan hệ văn hóa
xã hội Theo họ, sự tiếp cận không ngang bằng nhau trên cơ sở giới đối vớiquyền công dân và những nguồn lực xã hội nhất định như giáo dục, công ănviệc làm là nguyên nhân mang lại sự bất bình đẳng giới Cụ thể hơn, sự bị trịcủa phụ nữ nằm trong sự ràng buộc về tập quán và pháp lý Ngoài ra, sự lệ thuộckinh tế của phụ nữ cũng chính là nguyên nhân tạo ra sự bất bình đẳng giới Vềvấn đề này, trong tác phẩm “sự huyền bí của nữ tính” của B Friedan đượcnghiên cứu năm 1963 chỉ ra rằng, “chỉ với sự độc lập về kinh tế, phụ nữ mớiđược tự do cưới chồng vì tình yêu chứ không cần phải có sự trợ giúp về tài chínhhay địa vị của gia đình hay chồng tương lai của cô ta” [54, tr.150]
Chính vì thế, các nhà nữ quyền tự do cho rằng, đòi cơ hội bình đẳngcho phụ nữ thông qua thay đổi việc lập pháp để đảm bảo quyền cá nhân, chấmdứt sự phân biệt đối xử trên cơ sở và thông qua các phương tiện dân chủ làgiải pháp để giúp phụ nữ vượt lên chính mình [14, tr.117]
Bên cạnh đó, các nhà nữ quyền theo trường phái này cũng kêu gọi mỗiphụ nữ có thể tự giải phóng mình với tư cách cá nhân bằng cách bác bỏ cácvai trò giới tính truyền thống của mình là phụ thuộc vào nam giới Bởi vì, cái
Trang 39khác biệt giữa nam giới và phụ nữ là sự khác biệt về hình dáng, chứ khôngphải là trí tuệ [54, tr.151].
Như vậy, lý thuyết nữ quyền tự do đã lý giải sự khác biệt giới do sựkhác biệt về cơ hội tiếp cận các nguồn lực giữa phụ nữ và nam giới Chính
sự khác biệt này đã tạo ra khoảng cách giữa phụ nữ và nam giới trong cáclĩnh vực, trong đó có cả lĩnh vực tham chính Lý giải của thuyết nữ quyền
tự do giúp nghiên cứu làm rõ về những rào cản của phụ nữ khi tham gialãnh đạo, quản lý hiện nay và đồng thời, đưa ra những kiến nghị, chínhsách phù hợp, kịp thời để thu hẹp khoảng cách giới trong chính trị của phụ nữ
và nam giới
Tiểu kết chương 1
Nói tóm lại, Đảng và Nhà nước đã có một khung pháp khá đầy đủ đểđảm bảo sự tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ Vì thế, phụ nữ có quyềnđược bình đẳng trong tham chính Tuy nhiên, trong quá trình tham gia lãnhđạo, quản lý, phụ nữ phải đối diện với nhiều thách thức và rào cản Các lýthuyết xã hội học như lý thuyết chức năng, lý thuyết xã hội hóa về giới và lýthuyết nữ quyền đã giúp giải thích khá rõ về thách thức của phụ nữ phải đốidiện khi tham gia lãnh đạo, quản lý
Theo lý thuyết chức năng, phụ nữ và nam giới đều có lãnh địa hoạtđộng riêng biệt Không gian hoạt động của phụ nữ được gói trọn vào bốn bứctường của gia đình, trong khi đó, nam giới luôn được ủng hộ hoạt động bênngoài xã hội Điều này đã được lý thuyết xã hội hóa về giới lý giải thêm rằng,phụ nữ và nam giới đã được xã hội hóa ngay từ khi chào đời Chính vì thế,phụ nữ luôn được coi phải thực hiện “thiên chức” và nam giới phải bươn chảingoài xã hội Ngoài ra, lý thuyết nữ quyền cũng đã củng cố thêm về cách lýgiải trên rằng, các tập tục văn hóa cũng như quy định của pháp lý không cólợi cho phụ nữ đã tạo ra khoảng cách giới trong các lĩnh vực, trong đó có lĩnhvực chính trị Vận dụng các lý thuyết nghiên cứu này sẽ góp phần lý giải về
Trang 40các yếu tố tác động đến sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý ởĐồng Tháp hiện nay là hợp lý