1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ cấu xã hội đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở hưng yên hiện nay

86 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Cấu Xã Hội Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Trong Hệ Thống Chính Trị Khối Mặt Trận, Đoàn Thể Cấp Tỉnh Ở Hưng Yên Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Hưng Yên
Chuyên ngành Quản Lý Nhà Nước
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hưng Yên
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 832,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, tôi chọn đề tài " Cơ cấu xã hội đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên hiện nay” có tính cấp thiết cả về lý luận và thực t

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử cách mạng nước ta, trải qua bao thăng trầm, biến cố, songcác đoàn thể quần chúng và tổ chức xã hội luôn đóng, giữ vai trò quan trọng.Các tổ chức này đã động viên, tập hợp các tầng lớp nhân dân trong các cuộckháng chiến chống giặc ngoại xâm, đấu tranh thống nhất nước nhà Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã có vai trò cực kỳ quan trọngtrong sự hình thành và củng cố Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam Vai trò nàycủa các đoàn thể quần chúng đã được khẳng định rõ trong Điều 9 - Hiến phápnăm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Mặt trận Tổ quốcViệt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhândân Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí

về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chínhquyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng củanhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thihành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đạibiểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước”

Ngày nay, Mặt trận và các đoàn thể được coi là một trong những tổchức quần chúng của hệ thống chính trị quan trọng hàng đầu, không thể thiếu;

có vai trò tập hợp lực lượng trên nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đểxây dựng và phát triển đất nước Việc phát triển mặt trận và các đoàn thể nóichung, đội ngũ cán bộ của các đơn vị này nói riêng là một trong những côngtác quan trọng, then chốt của Đảng ta nhằm tạo ra một lực lượng có sức mạnh

và tài năng, đạo đức để phục vụ đất nước

Trong những năm gần đây việc xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết làcán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu vềđạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt độngthực tiễn, sáng tạo, gắn bó với nhân dân, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công

Trang 2

nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay là chủ trương và chính sách lớn trong nộidung công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước ta

Cán bộ, công chức hành chính là nguồn nhân lực nòng cốt trong quản

lý và tổ chức thực hiện công việc của Đảng, Nhà nước Hệ thống các cơ quannhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hay không phụ thuộc vào năng lực,trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức hành chính Do vậy, "xây dựngđội ngũ cán bộ, công chức nhà nước vừa có trình độ chuyên môn và kỹ năngnghề nghiệp cao, vừa giác ngộ về chính trị, vừa có tinh thần trách nhiệm, tậntụy công tâm, vừa có đạo đức liêm khiết khi thừa hành công vụ" [11, tr.132]

là nhiệm vụ cấp thiết của các cấp, các ngành đáp ứng yêu cầu công nghiệphóa, hiện đại hóa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Hưng Yên là một tỉnh thuần nông của đồng bằng Bắc Bộ, trong nhữngnăm gần đây Hưng Yên là một địa phương thu hút được rất nhiều các dự ánđầu tư trên các lĩnh vực phát triển Công nghiệp và Đô thị với những đặc thùcủa nó Thực tiễn đã chỉ ra rằng, trong những năm qua, thực hiện công cuộc cảicách hành chính, công tác cán bộ, Đảng bộ và chính quyền các cấp ở Hưng Yên

đã có những đổi mới, cải cách nhất định: ban hành và thực hiện nhiều chủtrương, chính sách đào tạo, thu hút, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức

Tuy nhiên, việc xây dựng và phát triển một đội ngũ cán bộ, công chức

ở Hưng Yên một cách toàn diện, đồng đều vẫn cần phải có thời gian cũng như

sự phối hợp của các ban ngành, các cấp lãnh đạo và sự nỗ lực của chính độingũ cán bộ, công chức Tỉnh Quá trình đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ,công chức còn diễn ra một cách chậm chạp và có nhiều bất cập Vấn đề đặt

ra là phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức như thế nào, có những giảipháp gì nhằm giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức của nước ta ngày càngphát triển toàn diện để phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nướcmột cách hiệu quả nhất

Trang 3

Trong sự nghiệp cách mạng hiện nay, việc xây dựng đội ngũ cán bộ,công chức hành chính có đủ phẩm chất, năng lực có ý nghĩa hết sức quantrọng Vì vậy, đã có nhiều đề tài, nghiên cứu đề cập đến vấn đề này Tuynhiên, việc xem xét cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức trong cácđơn vị khối mặt trận, đoàn thể là mảng đề tài còn thiếu và chưa được đề cậpnhiều Đối với Hưng Yên, vấn đề này hầu như chưa được khai thác.

Từ những yêu cầu của lý luận và thực tiễn trên, hơn nữa, là người côngtác thực tiễn ở ngành đoàn thể cấp huyện của tỉnh, bản thân tôi nhận thấycông tác tổ chức cán bộ nói chung và cơ cấu cán bộ công chức khối mặt trận,đoàn thể nói riêng còn nhiều bất cập, cần được nghiên cứu để có nhữngkhuyến nghị khoa học nhằm đổi mới căn bản về công tác tổ chức cán bộ Vì

vậy, tôi chọn đề tài " Cơ cấu xã hội đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống

chính trị khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên hiện nay” có tính cấp

thiết cả về lý luận và thực tiễn làm luận văn Thạc sỹ chuyên ngành xã hội học

để nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm qua, đã có nhiều công trình, đề tài, bài viết nghiêncứu của các nhà khoa học thuộc các ngành khoa học khác nhau nghiên cứu về

cơ cấu xã hội, trong đó phải kể đến một số công trình, bài viết sau:

“Phân tích cơ cấu xã hội từ giác độ xã hội học”, Tạp chí Xã hội học số 4/1992; “Bàn luận về giai tầng xã hội - cơ cấu giai tầng xã hội”, tạp chí KHXH số 9/2007; “Biến đổi cơ cấu xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới”, Thông tin Khoa học xã hội, số 3/2010; “Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, một chặng đường 20 năm nghiên cứu, phát triển và ứng dụng”, tạp chí

XHH 3/2010 của tác giả Nguyễn Đình Tấn Đây là những bài bài viết đãsớm khẳng định vai trò của lý thuyết cơ cấu xã hội trong nghiên cứu xã hộihọc nói riêng và trong các chuyên ngành của khoa học xã hội nói chung ở

Trang 4

Việt Nam để lý giải các vấn đề xã hội về mặt cơ cấu Cùng tác giả còn có sách

“Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội”, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà Nội,

2005 Đây là một công trình nghiên cứu công phu, đã trình bày những kháiniệm cơ bản và cách tiếp cận chủ yếu của xã hội học về cơ cấu xã hội và phântầng xã hội; đồng thời, tác giả cũng làm rõ việc vận dụng cách tiếp cận lý luận

xã hội học vào việc nhận thức và lý giải những vấn đề đang đặt ra trong quátrình đổi mới kinh tế - xã hội ở nước ta trên con đường công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước Ngoài ra, tác giả khái quát một bước của quá trình ứng dụng

lý thuyết cơ cấu xã hội vào nghiên cứu các phân hệ cơ cấu trong thời gianqua, đưa ra giải pháp đồng bộ hơn trong xây dựng cũng như đổi mới những

mô hình cơ cấu xã hội theo hướng tối ưu, năng động và hiệu quả hơn khinghiên cứu cơ cấu

Công trình “Thực trạng và xu thế phát triển cơ cấu xã hội nước ta trong giai đoạn hiện nay” của Đỗ Nguyên Phương (chủ nhiệm), đề tài cấp nhà

nước KX-07-05, Hà Nội 1995, đã cung cấp một số nội dung lý luận về thựctrạng và xu thế biến động cơ cấu xã hội giai cấp, lao động, nghề nghiệp, dân

cư, dân tộc ở nước ta Tác giả cũng chỉ ra mối quan hệ của con người ViệtNam trong điều kiện đổi mới Đề tài đã dự báo những biến động về mặt xãhội của con người thông qua những biến đổi về cơ cấu xã hội giai cấp, dân số,lao động và nghề nghiệp khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường

Công trình “Xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam” do Tạ Ngọc

Tấn (chủ nhiệm), đề tài khoa học cấp nhà nước mã số KX.04.14/06-10, nêutổng thể về biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam trong giai đoạn đổi mới, thể hiệntrên 5 lát cắt quan trọng nhất, đó là cơ cấu xã hội - giai cấp, cơ cấu xã hội -nghề nghiệp, cơ cấu xã hội - dân số, cơ cấu xã hội - dân tộc và cơ cấu xã hội -tôn giáo Trên cơ sở phân tích các nhân tố cơ bản tác động đến sự biến đổi cơcấu xã hội ở Việt Nam trong 25 năm đổi mới, đề tài đã làm nổi bật sự biến đổi

Trang 5

mạnh mẽ của cơ cấu xã hội Việt Nam trong 25 năm đổi mới Những biến đổi

đó đã tác động cả tích cực và tiêu cực đến quá trình phát triển đất nước, cụ thểtrên các mặt: kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội Đề tài đã đưa ra những dựbáo xu hướng biến đổi cơ cấu ở xã hội Việt Nam Đây là cơ sở rất quan trọngcho việc định hướng các chính sách cho quá trình phát triển trong giai đoạntiếp theo Đó là việc chủ động tổ chức, quản lý quá trình vận động, biến đổi,hướng tới hình thành một cơ cấu xã hội tối ưu, trên cơ sở chủ động quản lýquá trình biến đổi các thành tố, các mối quan hệ của cơ cấu xã hội một cáchhợp lý, đến việc hạn chế thấp nhất những khả năng ảnh hưởng tiêu cực, pháthuy cao độ vai trò tích cực của các thành tố, các mối quan hệ của cơ cấu xãhội đó trong đời sống xã hội Cũng cùng mục tiêu với công trình này, tác giả

Nguyễn Đình Tấn “Biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”,kỷ yếu hội thảo quốc tế “Biến đổi xã hội Việt Nam Ba Lan”, Hà Nội

tháng 12/2011cũng làm sáng tỏ sự biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam sau 25năm đổi mới theo nhiều chiều cạnh khác nhau

Trong công trình “Một số vấn đề cơ bản về biến đổi cơ cấu xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020” Đỗ Thiên Kính (Chủ biên), thực trạng biến

đổi của cơ cấu xã hội nước ta được phân tích theo một số chiều cạnh: sự biếnđổi của cơ cấu nghề nghiệp, di động xã hội và phân hoá xã hội Phân tích mốiquan hệ và các yếu tố tác động đến sự biến đổi của các giai cấp và tầng lớp,

xu hướng biến đổi của cơ cấu xã hội, thái độ của các nhóm xã hội khác nhau

về mục tiêu và định hướng phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ởnước ta trong giai đoạn 2011-2020

Trong Luận án Phó tiến sĩ (Hà Nội,1996) “Cơ cấu xã hội của đội ngũ sĩ quan trung, sơ cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam - thực trạng và xu hướng biến đổi” và bài viết “Suy nghĩ về thực trạng cơ cấu xã hội - giai cấp

và phân tầng xã hội ở nước ta hiện nay”, tạp chí Quốc phòng toàn dân số

Trang 6

2/2001, tác giả Phạm Xuân Hảo đã làm rõ thực trạng, nguyên nhân, xu hưóngbiến đổi cơ cấu xã hội của đội ngũ sĩ quan và trình bày khái quát kết cấu giaicấp, thực trạng phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo ở nước ta; từ đó đưa rakiến nghị với công tác quản lý xã hội một cách hài hòa hơn nhằm thực hiệnmục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Bài viết “Về quá trình vận động và biến đổi cơ cấu xã hội tầng lớp trí thức Việt Nam” của Nguyễn Duy Quý, tạp chí XHH số 3/1989 khẳng định vai

trò to lớn của tầng lớp trí thức trong quá trình giữ nước và dựng nước; tác giảcũng đã chỉ ra những mặt hạn chế của tầng lớp này, chưa đáp ứng yêu cầunhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay

Trong bài viết “Nghiên cứu giai cấp công nhân Việt Nam từ hướng tiếp cận cơ cấu xã hội - một số vấn đề đáng quan tâm” Tạp chí XHH số 1/1992,

tác giả Nguyễn Hữu Minh đã vận dụng cách tiếp cận cơ cấu xã hội của XHHtrong nghiên cứu giai cấp công nhân nước ta; phác hoạ bức tranh xã hội củagiai cấp công nhân với những đặc trưng về số lượng và chất lượng; đồng thờiphân tích các nhóm xã hội bên trong giai cấp công nhân và mối quan hệ giữacác nhóm, để chỉ ra tính cơ động xã hội của giai cấp công nhân

Công trình “Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong đổi mới hệ thống chính trị” của tác giả Trần Xuân Sầm (chủ nhiệm) đề

tài KX.05-11 (Tổng luận nghiên cứu) Hà Nội 1994, đã đưa ra những luận cứkhoa học về thực trạng cơ cấu và chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũcán bộ lãnh đạo trong hệ thống chính trị, chỉ ra nguyên nhân và bài học kinhnghiệm trong công tác cán bộ Đồng thời, công trình dự báo sự biến động cơcấu, tiêu chuẩn, số lượng, chất lượng và đề xuất một số phương hướng, giảipháp cơ bản có tính hệ thống để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo đáp ứngyêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước

"Về thực trạng và xu hướng chuyển đổi cơ cấu xã hội nông thôn đồng

Trang 7

bằng Bắc Bộ hiện nay" của tác giả Tô Duy Hợp, Tạp chí Xã hội học số 4/1990

là bài viết tóm tắt những đặc điểm và xu hướng chủ yếu chuyển đổi từ cơ cấu

xã hội nông thôn kiểu cũ sang cơ cấu xã hội nông thôn kiểu mới qua kết quảđiều tra xã hội học ở đồng bằng Bắc Bộ trong 10 năm (1980 - 1990), nhất là

từ sau Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (1/1981) Qua bài viết,tác giả đưa ra ba trình độ chuyển đổi cơ cấu xã hội ở nông thôn, như: vượttrội, chủ động; trung bình và nghèo khổ, thụ động (theo phân tích, tổng hợpthông tin từ làng xã và hộ gia đình) Đồng thời, tác giả khẳng định: cơ cấu xãhội nông thôn trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần định hướng xã hội chủ nghĩa bị phân tán và dần hình thành tháp phântầng xã hội vượt trội - yếu kém, giàu có - nghèo khổ

Công trình “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức” tác giả Thang Văn Phúc và Nguyễn Thị Minh Phương, NXB Chính trị

Quốc gia, Hà Nội 2005, đã xác định hệ thống các yêu cầu, tiêu chuẩn của cán

bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của một Nhà nước pháp quyền XHCN củadân, do dân và vì dân

Lê Ngọc Hùng “Biến đổi xã hội ở Việt Nam qua một số kết quả điều tra mức sống hộ gia đình”, kỷ yếu hội thảo quốc tế “Biến đổi xã hội Việt Nam Ba Lan”, Hà nội 12/2011 Với cách tiếp cận cơ cấu xã hội, tác giả đã cho thấy rõ

một số chiều cạnh biến đổi xã hội thể hiện ở các nhóm hộ gia đình phân theothu nhập Bài viết chỉ ra rằng những biến đổi xã hội như là biến đổi trong cáchchi tiêu cho giáo dục - đào tạo, biến đổi cơ hội giáo dục - đào tạo đang có tácđộng tích cực tới biến đổi kinh tế

Nghiên cứu về cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ của Bình Phước có luận

văn “Cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức các Ban Đảng cấp tỉnh ở Bình Phước - thực trạng và xu hướng biến đổi” của tác giả Dương Thanh Huân, năm

2011 Luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận và phân tích thực trạng cơ cấu độingũ cán bộ, công chức các Ban Đảng dưới cách tiếp cận của xã hội học, đưa ra

Trang 8

những luận cứ khoa học dự báo xu hướng biến đổi trong thời gian tới.

Trong các bài viết và công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến chủ đề

cơ cấu xã hội dưới góc độ xã hội học Tuy nhiên, việc nghiên cứu cơ cấu xãhội của đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị, cụ thể khối mặttrận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên chưa có tác giả nào nghiên cứu Do đó,tác giả chọn nghiên cứu vấn đề nêu trên là không trùng lặp với các công trình

đã kể trên Song trong luận văn, tác giả có kế thừa, tiếp nhận những thông tin,kết quả khoa học đã có và hy vọng bổ sung thông tin, góp phần làm phongphú thêm “bức tranh” về cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức trong

hệ thống chính trị của tỉnh Hưng Yên; đề xuất được một số giải pháp xâydựng đội ngũ cán bộ công chức tỉnh Hưng Yên có cơ cấu xã hội hợp lý, đápứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu một số vấn đề lý luận về cơ cấu xã hội, phân tíchthực trạng và những vấn đề đặt ra đối với cơ cấu xã hội đội ngũ cán bộ, côngchức khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên hiện nay, đề tài khuyếnnghị một số giải pháp xây dựng cơ cấu xã hội đội ngũ cán bộ, công chức khốimặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng

và phát triển ở tỉnh Hưng Yên thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ cấu xã hội đội ngũ cán bộ, công chứckhối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh

Đánh giá thực trạng cơ cấu xã hội đội ngũ cán bộ, công chức trong khốimặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên

Phân tích những vấn đề đặt ra về cơ cấu xã hội đội ngũ cán bộ, côngchức trong khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên hiện nay

Trang 9

Một số giải pháp xây dựng cơ cấu xã hội đội ngũ cán bộ, công chứctrong khối mặt trận, đoàn thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xãhội ở tỉnh Hưng Yên thời gian tới.

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức

các cơ quan khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên

- Khách thể nghiên cứu: Cán bộ, công chức các cơ quan khối mặt trận,

đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên

- Phạm vi nghiên cứu:

Trong khuôn khổ của đề tài này, tác giả chỉ hướng vào nghiên cứu cơcấu xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ởHưng Yên

Cơ cấu xã hội đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan Khối Mặt trậnđoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên được xác định cụ thể là: Ủy ban Mặt trận Tổquốc Việt Nam, Liên đoàn lao động, Đoàn thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ,Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh

+ Về không gian nghiên cứu: tại tỉnh Hưng Yên

+ Về thời gian nghiên cứu: thực hiện trong năm 2013

Đề tài tập trung trả lời những câu hỏi nghiên cứu sau:

- Thực trạng cơ cấu xã hội của cán bộ, công chức khối mặt trận, đoànthể cấp tỉnh ở Hưng Yên hiện nay như thế nào?

- Cơ cấu xã hội đội ngũ cán bộ, công chức cấp tỉnh ở Hưng Yên hiệnnay có gì bất cập không, đã đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của mặttrận, đoàn thể cấp tỉnh chưa?

- Cần thực hiện những giải pháp nào để xây dựng cơ cấu đội ngũ cán

bộ, công chức khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên một cách hợp lý

và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay?

Trang 10

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng

Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về côngtác cán bộ; các lý thuyết và phương pháp luận nghiên cứu Xã hội học về cơcấu xã hội

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể (3 phương pháp)

1 Phương pháp phân tích tài liệu, số liệu thống kê về đội ngũ cán bộ,công chức khối Mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên

2 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân: phỏng vấn sâu 21 trường hợp,

6 cán bộ lãnh đạo, quản lý khối Mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên; 10cán bộ, công chức cơ quan Mặt trận, đoàn thể; 5 cán bộ, công chức khối cơquan khác

3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, trưng cầu ý kiến: với tổng số

162 cán bộ, công chức khối Mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên (100%cán bộ công chức khối mặt trận, đoàn thể)

6 Giả thuyết nghiên cứu, các biến số và khung phân tích

6.1 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1: Cơ cấu xã hội đội ngũ cán bộ, công chức khối mặt

trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên hiện nay chưa thật hợp lý, còn nhữngbất cập về độ tuổi, nguồn cán bộ kế cận, giới tính, trình độ học vấn vàtrình độ lý luận chính trị

Giả thuyết 2: Cơ cấu xã hội đội ngũ cán bộ, công chức khối mặt trận,

đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên hiện nay chưa đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụchính trị của cơ quan Mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh

- Giả thuyết 3: Sự phân hóa về mặt mức sống Trong đội ngũ cán bộ,

công chức khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên chưa thật sự rõ nét

Trang 11

6.2 Các biến số

* Biến độc lập:

- Đặc trưng nhân khẩu - xã hội thuộc của cá nhân và gia đình

- Công tác quy hoạch đào tạo cán bộ, công chức ở khối Mặt trận, đoànthể cấp tỉnh ở Hưng Yên

- Yêu cầu về đội ngũ cán bộ, công chức của các cơ quan Mặt trận, đoànthể cấp tỉnh ở Hưng Yên

* Biến phụ thuộc:

- Cơ cấu giới tính

- Cơ cấu vị trí (lĩnh vực - cấp bậc)công tác

- Cơ cấu trình độ(chuyên môn - chính trị)

- Cơ cấu về mức sống, thu nhập

* Bối cảnh kinh tế - xã hội:

- Quan điểm, chính sách về cán bộ, công chức của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Hưng Yên.

- Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên.

Trang 12

Cơ cấu về mức sống, thu nhập

Yêu cầu về đội ngũ

Cơ cấu vị trí(lĩnh vực - cấp bậc) công tác

Quan điểm, chính sách về cán bộ, công chức của Đảng, Nhà nước và của tỉnh

Hưng Yên

Cơ cấu

xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức khối mặt trận đoàn thể

Trang 13

7 Đóng góp và ý nghĩa của luận văn

- Đề tài góp phần hoàn thiện những quan điểm lý luận, các lý thuyết xãhội học về cơ cấu xã hội

- Cung cấp số liệu, chứng cứ khảo sát thực trạng của đội ngũ cán bộ các

cơ quan khối Mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh trong việc tham mưu cho cấp ủy chỉđạo kịp thời, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cán bộ, góp phần xây dựngđội ngũ cán bộ, công chức khối Mặt trận, đoàn thể của tỉnh Hưng Yên chấtlượng ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 14

Chương 1

CƠ CẤU XÃ HỘI CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP TỈNH (KHỐI MẶT TRẬN, ĐOÀN THỂ)

- TIẾP CẬN LÝ LUẬN

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1.1 Cơ cấu xã hội

Cơ cấu xã hội là khái niệm được nhiều ngành khoa học xã hội và nhânvăn nghiên cứu: Triết học, chính trị học, sử học, Dân tộc học, Xã hội học…Tùy theo đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu mà mỗikhoa học có quan niệm và cách tiếp cận khác nhau về cơ cấu xã hội

Trong khoa học xã hội học, cơ cấu xã hội là khái niệm cơ bản, thenchốt; phân tích cơ cấu xã hội là phương pháp tiếp cận đặc thù trong nghiêncứu về các hệ thống xã hội Vì thế trong lý thuyết của mình các nhà xã hộihọc đều bàn đến khái niệm cơ cấu xã hội

Xuất phát từ luận điểm, xã hội là tổng hòa các đoàn thể xã hội, cácđoàn thể xã hội được sắp xếp theo một trật tự nhất định trong hệ thống xã hội

và giữa chúng có sự lệ thuộc vào nhau J H Fischer, nhà xã hội học người

Mỹ đã cho rằng: “Cơ cấu của một xã hội liên hệ đến sự sắp đặt những thànhphần hoặc những đơn vị của xã hội đó Nếu chúng ta nhìn xã hội toàn diệnnhư một hỗn hợp những đoàn thể chủ yếu, chúng ta sẽ nhận thấy những thànhphần chính đó đều được đặt trong một tương quan có thứ tự là lệ thuộc tương

hỗ với nhau” [19, tr.96] Khi nghiên cứu cơ cấu xã hội phải xem xét cả “sắcthái tĩnh” và “sắc thái động” của nó, hai sắc thái trên luôn liên kết với nhau

“Ngay cả khi nghiên cứu về sắc thái gọi là “tĩnh” của những cơ cấu xã hội,chúng ta phải hiểu rằng cơ cấu luôn luôn “chuyển động” đối với thời gian, vớichiều hướng và với những con người trong những cơ cấu ấy” [19, tr.96]

Trang 15

Giáo sư G.V Oxipov, nhà xã hội học người Nga cho rằng:

Cơ cấu xã hội là toàn thể các mối liên hệ tương hỗ ổn định giữa các yếu

tố trong một hệ thống xã hội Những cộng đồng xã hội (các giai cấp, dân tộc,tập đoàn chính trị, nghề nghiệp, tập đoàn dân cư, tập đoàn theo lãnh thổ, v.v.)

là những yếu tố của cơ cấu xã hội, còn các mối liên hệ là các quan hệ xã hộiquy định bởi địa vị và vai trò mỗi cộng đồng xã hội trong hệ thống của tất cảcác quan hê xã hội Phương diện xã hội của bất cứ yếu tố cơ cấu nào đều tậptrung vào các mối liên hệ của nó với những quan hệ sản xuất và quan hệ giaicấp trong xã hội [6, tr.507]

GS TS Nguyễn Đình Tấn, Viện Xã hội học, Học viện Chính trị - Hànhchính quốc gia Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm về cơ cấu xã hội như sau:

Cơ cấu xã hội là kết cấu và hình thức tổ chức bên trong của một hệthống xã hội nhất định - biểu hiện như là sự thống nhất tương đối bền vữngcủa các nhân tố, các mối liên hệ, các thành phần cơ bản nhất của hệ thống xãhội, những thành phần này tạo ra bộ khung cho tất cả các xã hội loài người.Những thành tố cơ bản nhất của cơ cấu xã hội là nhóm, vai trò, vị thế xã hội,mạng lưới xã hội và các thiết chế [56, tr.117]

Quan niệm này đã chỉ ra rằng: Thứ nhất, cơ cấu xã hội là kết cấu và

hình thức tổ chức bên trong của một hệ thống xã hội nhất định [56, tr.117]

Nó cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa cơ cấu xã hội và hệ thống xã hội, giữa

cái bộ phận và cái tổng thể Thứ hai, cơ cấu xã hội là sự thống nhất tương đối

bền vững của các nhân tố, các mối quan hệ, các thành phần cơ bản của một hệthống xã hội nhất định [56, tr.118].Quan niệm này khắc phục được cách nhìnphiến diện khi quy cơ cấu xã hội vào các quan hệ xã hội, vừa khắc phục được

cách nhìn tách rời giữa cơ cấu xã hội và các quan hệ xã hội Thứ ba, coi cơ

cấu xã hội là “bộ khung”, “bộ dàn” để xem xét xã hội [56, tr.119] Việc đưa raquan niệm cơ cấu xã hội là cơ sở cho việc phân tích hệ thống xã hội dưới cái

Trang 16

nhìn xã hội học về cơ cấu xã hội Thứ tư, xác định nhóm xã hội là thành tố cơ

bản, là đơn vị phân tích để hiểu được cơ cấu xã hội Đây là nét riêng biệt và làđiểm khác biệt trong quan niệm xã hội học về cơ cấu xã hội so với các quanniệm trước đó

Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác của các nhà xã hội học thế giới

và Việt Nam về cơ cấu xã hội Song tựu chung lại, khi bàn đến cơ cấu xã hộivới tính cách là một khái niệm cơ bản của xã hội học, các nhà xã hội học này

thường đề cập đến các nội dung sau đây: Một là, cơ cấu xã hội là kết cấu xã hội (cấu trúc xã hội) của hệ thống xã hội Hai là, cơ cấu xã hội là sự sắp đặt,

thang bậc của các yếu tố, các thành phần xã hội cấu thành hệ thống xã hội (vềnội dung này, các nhà xã hội học có những quan niệm khác nhau, hoặc là

thành phần xã hội, hoặc là yếu tố xã hội, hoặc là nhóm xã hội,…) Ba là, nói

đến CCXH là nói đến cơ chế của các mối liên hệ tương đối bền vững giữa cácyếu tố, các thành phần của hệ thống xã hội; sự liên hệ ấy tạo nên tính quy luật

tích hợp của mỗi hệ thống xã hội Bốn là, CCXH luôn trong trạng thái vận

động, biến đổi

1.1.2 Khái niệm Hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị là một trong những khái niệm phản ánh đặc trưngcủa những quan hệ quyền lực chính trị; cũng như các bộ phận, các nhân tốtham gia vào các quá trình, quy trình chính trị trong thể chế chính trị dân chủhiện đại Có thể hiểu hệ thống chính trị theo một số nội dung cơ bản sau: Hệthống chính trị là tổng thể các tổ chức chính trị của xã hội được chính thứcthừa nhận về mặt pháp lý nhằm thực hiện quyền lực chính trị của xã hội đó;

Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp thống trịthực hiện quyền lực chính trị trong xã hội; Hệ thống chính trị là một cơ cấu,

tổ chức bao gồm đảng phái chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hộitồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành nhằm duy trì, bảo

vệ, và phát triển xã hội đó…

Trang 17

Từ các cách hiểu về hệ thống chính trị nêu trên, có thể xem hệ thốngchính trị là (toàn bộ các thiết chế chính trị như tổ chức Đảng, chính quyền,các đoàn thể nhân dân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhấtđịnh và gắn bó hữu cơ với nhau nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sựquản lý của Nhà nước và phát huy quyền dân chủ của nhân dân) [59, tr.10].

Hệ thống chính trị ở Việt Nam bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội nôngdân, Tổng liên đoàn lao động Việt nam, Hội Phụ nữ, Hội cựu chiến binh,Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

1.1.3 Cán bộ, công chức khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên

1.1.3.1 Cán bộ, công chức

Khái niệm công chức được đề cập tại Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng5/1950 của Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về Quy chế côngchức Năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 169/NĐ-HĐBTquy định về công chức nhưng chỉ nêu khái niệm, vì vậy trên thực tế Nghị địnhnày chưa được hướng dẫn thi hành Năm 1998, ban hành Pháp lệnh Cán bộ,công chức Cán bộ công chức được quy định tại Pháp lệnh là công dân ViệtNam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

Năm 2003 Pháp lệnh cán bộ công chức được sử đổi bổ sung, các Nghịđịnh hướng dẫn đã cụ thể hóa cán bộ, công chức thành tám loại đối tượng vớinhững dấu hiệu khác nhau, từ đó có thể phân biệt “ cán bộ” với “công chức”

Hiện nay theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (có hiệulực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010), Khái niệm cán bộ, công chức được xácđịnh như sau:

Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức

vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam,Nhà nước, tổ chức chính trị - cã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực

Trang 18

thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), cấp huyện, quận, thị xã,thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế vàhưởng lương từ ngân sách Nhà nước.

Công chức là công dân Việt nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm và ngạch,chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổchức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vịthuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp,công nhân quốc phòng, trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà khôngphải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý củađơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chứcchính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biênchế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Đối với công chức trong bộ máylãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹlương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [48, tr.3]

Tiếp sau Luật Cán bộ, công chức 2008 thì Luật Viên chức đã được banhành năm 2010 để điều chỉnh đối tượng là viên chức trong đơn vị sự nghiệpcông lập Như vậy, đội ngũ cán bộ, công chức do Luật Cán bộ, công chứcđiều chỉnh so với đội ngũ viên chức sự nghiệp công lập ít hơn rất nhiều Đây

là đối tượng của quản lý cán bộ , công chức của cơ quan Đảng, Nhà nước, tổchức chính trị - xã hội các cấp

1.1.3.2 Cán bộ, công chức khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên

Khối mặt trận, đoàn thể ở tỉnh Hưng Yên hiện nay, bao gồm 6 cơ quan:Hội liên hiệp phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Mặt trận Tổ quốc, Hội cựu chiếnbinh, Hội chữ thập đỏ, Hội nông dân Các cơ quan, đơn vị này có chức năng,nhiệm vụ riêng:

- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống

Trang 19

chính trị của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng cộng sảnViệt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện

ý chí, nguyện vọng tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, nơi hiệp thương, phốihợp và thống nhất hành động của các thành viên Nhiệm vụ của Ủy ban Mặttrận Tổ quốc được quy định tại Điều 2 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Tậphợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị

và tinh thần trong nhân dân Tuyên truyền, động viên nhân dân phát huyquyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng,nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật

- Liên đoàn Lao động tỉnh, trực thuộc tổng liên đoàn Lao động ViệtNam - một tổ chức chính trị, xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, độingũ trí thức và những người lao động tự nguyện lập ra nhằm mục đích tậphợp, đoàn kết lực lượng, xây dựng giai cấp công nhân công nhân ViệtNam lớn mạnh về mọi mặt, có tính chất giai cấp của giai cấp công nhân

và tính chất quần chúng, có chức năng: Đại diện bảo vệ các quyền và lợiích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, người lao động.Tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội, tham gia kiểm tra,giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội, thamgia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế,giáo dục, động viên công nhân, viên chức, người lao động phát huy quyềnlàm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam luôn luôn trung thành với lợi íchcủa giai cấp công nhân và của dân tộc, đồng thời phát huy truyền thống đoànkết quốc tế, tăng cường và mở rộng hợp tác với công đoàn các nước, các tổchức quốc tế trên nguyên tắc hữu nghị, đoàn kết, bình đẳng, hợp tác cùng cólợi, phấn đấu cho mục tiêu: Vì lợi ích người lao động, vì hòa bình, dân chủ,

Trang 20

độc lập dân tộc, phát triển và tiến bộ xã hội.

- Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội

của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ ChíMinh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đoàn bao gồm những thanh niên tiêntiến, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền vớichủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

Được xây dựng, rèn luyện và trưởng thành qua các thời kỳ đấu tranhcách mạng, Đoàn đã tập hợp đông đảo thanh niên phát huy chủ nghĩa anhhùng cách mạng, cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc,thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bước vào thời kỳ mới,Đoàn tiếp tục phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc và bản chấttốt đẹp của mình, kế tục trung thành, xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vangcủa Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; thường xuyên bổ sung lực lượng trẻcho Đảng; tổ chức động viên đoàn viên, thanh niên cả nước đi đầu trong sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa

- Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội, tập hợp

rộng rãi các tầng lớp phụ nữ Việt Nam

Hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Liênđoàn phụ nữ dân chủ quốc tế và Liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN (HiệpHội các nước Đông Nam Á) Hội tham gia tích cực trong các hoạt động vì hoàbình, đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới

Mục đích của Hội là hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ,chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ

Từ những tổ chức tiền thân cho đến Hội liên hiệp phụ nữ Việt Namngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Hội đoàn kết cáctầng lớp phụ nữ, phát huy truyền thống yêu nước, anh hùng, bất khuất, trung

Trang 21

hậu, đảm đang, tài năng, trí tuệ góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và

bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng,văn minh

Hội có chức năng đại diện, bảo vệ quyền bình đẳng, dân chủ, lợi ích

hợp pháp và chính đáng của phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản

lý Nhà nước và đoàn kết, tập hợp, tuyên truyền, giáo dục, vận động, tổ chức

hướng dẫn phụ nữ thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

- Hội Nông dân tỉnh: Là đơn vị trực thuộc Hội Nông dân Việt Nam.Hội Nông dân Việt Nam là đoàn thể chính trị - xã hội của giai cấp nông dân

do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc ViệtNam Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội Nôngdân Việt Nam là trung tâm, nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộcxây dựng nông thôn mới

Mục đích của Hội là tập hợp đoàn kết nông dân, xây dựng giai cấpnông dân vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là lực lượng tin cậy trong khốiliên minh vững chắc công, nông, trí, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạtđộng, xây dựng Hội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hànhđộng; nâng cao vai trò đại diện, phát huy quyền làm chủ, bảo vệ quyền và lợiích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân

- Hội Cựu chiến binh Việt Nam là một đoàn thể chính trị - xã hội, thành

viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là một cơ sở chính trị của chính quyềnnhân dân, một tổ chức trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Namlãnh đạo, hoạt động theo đường lối, chủ trương của Đảng, Hiến pháp, pháp

Trang 22

luật của Nhà nước và Điều lệ của Hội.

Mục đích của Hội là tập hợp, đoàn kết, tổ chức, động viên các thế hệCựu chiến binh giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”,tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng,xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệquyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của Cựu chiến binh, chăm lo giúp đỡnhau trong cuộc sống, gắn bó tình bạn chiến đấu

Hội Cựu chiến binh Việt Nam có chức năng đại diện ý chí, nguyệnvọng và quyền lợi chính đáng, hợp pháp của Cựu chiến binh Hội làm thammưu giúp cấp uỷ Đảng và làm nòng cốt tập hợp, đoàn kết, vận động Cựuchiến binh thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội của cách mạng, của Hội;tham gia giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộviên chức Nhà nước

Như vậy, cán bộ, công chức khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng

Yên được hiểu là những người hiện đang công tác tại các cơ quan, đơn vị trong khối mặt trận, đoàn thể; cán bộ gắn với tiêu chí được bầu

cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm

kỳ, còn công chức gắn với tiêu chí được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh theo chuyên môn, nghiệp vụ trong các cơ quan, đơn vị thuộc khối mặt trận đoàn thể.

1.1.4 Cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên

Các cơ quan khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh là các tổ chức chính trị

-xã hội có mối liên hệ mật thiết với cơ quan khối đảng Dựa trên cơ cấu tổchức bộ máy, quyền hạn, các cơ quan khối mặt trận, đoàn thể thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ của mình Quan hệ giữa các Ban Đảng với Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể, với thường trực hội đồng nhân dân và lãnh đạo uỷ ban nhân

Trang 23

dân tỉnh là quan hệ phối hợp Khi triển khai thực hiện nhiệm vụ tham mưu cógắn với công tác Mặt trận Tổ quốc và có liên quan tới công tác quản lý nhànước thì các cơ quan tham mưu giúp việc tỉnh uỷ phối hợp với thường trực hộiđồng nhân dân, lãnh đạo uỷ ban nhân dân; các cơ quan Đảng, Nhà nước phốihợp, tạo điều kiện, hỗ trợ lẫn nhau để cùng hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Xem xét cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức khối mặt trận,đoàn thể cấp tỉnh bao gồm các nhóm cán bộ, công chức với vị trí, vai trò,khác nhau trong trong các cơ quan, đơn vị trực thuộc khối mặt trận, đoàn thểcấp tỉnh; xem xét cơ cấu xã hội đội ngũ cán bộ, công chức của từng cơ quan:Mặt trận Tổ quốc, Liên đoàn Lao động, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, HộiPhụ nữ, Hội Cựu chiến binh; xem xét mối liên hệ giữa các nhóm cán bộ, côngchức trong từng cơ quan và giữa các cơ quan với nhau

Các nhóm cán bộ, công chức này được xác định theo các dấu hiệuchung của nhóm xã hội, với những vị trí, vai trò khác nhau trong mỗi cơ quan

Số lượng, trình độ của các thành viên trong các nhóm này được quy định bởiyêu cầu nhiệm vụ của từng tổ chức, bộ máy cơ quan

Do vậy, cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh là kết cấu bên trong của hệ thống các cơ quan khối mặt trận, đoàn thể, là yếu tố cấu thành “bộ khung”, là cấu trúc các thành tố hợp thành của bộ máy các cơ quan mặt trận, đoàn thể Nó tạo nên hoạt động ăn khớp giữa các bộ phận trong hệ thống cơ quan mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh.

Phân tích cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức này cần bám sátcác dấu hiệu như: cơ cấu giới tính, độ tuổi; thành phần xuất thân; trình độ đàotạo (bao gồm cả trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị); cơ cấu về mứcsống (được xác định theo mức thu nhập chủ yếu)

Phân tích cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức khối mặt trận,đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng tổ

Trang 24

chức, bộ máy các cơ quan mặt trận, đoàn thể vững mạnh, hoàn thành tốt chứcnăng, nhiệm vụ theo quy định, Điều lệ của các cơ quan khối mặt trận, đoànthể Việc phân tích này cũng có một ý nghĩa nhất định vì nó liên quan đếncông tác tổ chức bộ máy, nhằm đảm bảo chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơquan, cũng như việc quan hệ phối hợp công tác trong nội bộ cơ quan mặt trận,đoàn thể Điều này cũng đã được Nghị quyết số 42 của Bộ chính trị yêu cầu là

“đảm bảo sự đồng bộ về cơ cấu” trong tổ chức, bộ máy mỗi cơ quan nhằm

thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ

1.2 LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ

1.2.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ

Tư tưởng của C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin và Hồ Chí Minh về cán

bộ, công tác cán bộ được khái quát trên những nội dung cơ bản sau:

Một là,cán bộ là gốc của cách mạng, cán bộ tốt thì cách mạng thành công; người cán bộ phải vừa có đức, vừa có tài.

C.Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin xác định, những người cán bộ phải lànhững người cộng sản, những lãnh tụ, những người đi đầu trong cuộc đấutranh vì nhân dân lao động

Một mặt, trong các cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc cácdân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụthuộc vào các dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản; mặt khác, tronggiai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và tư sản, họluôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào [38, tr.29]

Thường thường, trong phần nhiều các trường hợp, hay ít ra trong nhữngnước văn minh hiện nay thì các giai cấp đều do các chính đảng lãnh đạo; rằng

Trang 25

thông thường thì các chính đảng đều nằm dưới quyền lãnh đạo của nhữngnhóm ít nhiều có tính chất ổn định, gồm những người có uy tín nhất, có ảnhhưởng nhất, có kinh nghiệm nhất, được bầu ra giữ những trách nhiệm trọngyếu nhất và người ta gọi là các lãnh tụ [7, tr.30]

Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thốngtrị nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụchính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạophong trào…[30, tr.473] Theo Lênin, muốn lật đổ chế độ cũ, giành chínhquyền, giai cấp vô sản cần phải xây dựng được cho mình một đội ngũnhững cán bộ "chuyên nghiệp", "tâm huyết" và phải “thông thạo mọi việc”

Vì lẽ, "Chính trị là một khoa học và một nghệ thuật không phải từ trên trờirơi xuống, mà đòi hỏi một sự cố gắng, rằng giai cấp vô sản muốn thắng giaicấp tư sản phải đào tạo lấy "những nhà chính trị giai cấp" thực sự củamình, những nhà chính trị vô sản và không thua kém các nhà chính trị củagiai cấp tư sản" [7, tr.80-81]

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề cán bộ và công tác cán bộ là mộtnội dung cốt lõi Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của cán bộ cách mạng.Người coi "cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hoặcthất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [40, tr.269, 273] Vì vậy, người cán bộcách mạng phải vừa có đức, vừa có tài, trong đó đức là gốc Hồ Chí Minh chorằng: có tài mà không đức thì có hại cho nước, có đức mà không có tài thì nhưông bụt ngồi trong chùa không giúp ích gì cho đời Người cán bộ phải trungthành với Đảng, với Tổ quốc, giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, vừa làngười lãnh đạo, vừa là người “đầy tớ trung thành của nhân dân”, là “côngbộc” của dân; có năng lực tổ chức thực hiện đường lối, biến nghị quyết, chủtrương thành hiện thực trong cuộc sống; người cán bộ phải có phong cách tốt,

“nói đi đôi với làm”, sâu sát thực tế và phải luôn học hỏi (cả trong quần

Trang 26

chúng) để không ngừng nâng cao trình độ nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ

và chức trách đang công tác

Hai là, coi trọng các khâu trong công tác cán bộ: lựa chọn, đào tạo bồi dưỡng, đánh giá, bố trí - sử dụng; công tác cán bộ phải xuất phát từ đường lối chính trị của giai cấp.

Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, công tác cán bộtrước hết phải căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ được xácđịnh xuất phát từ yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng Lênin từng cho rằng,nguồn cán bộ chỉ có trong phong trào cách mạng, trong hoạt động thực tiễn,trong công tác thực tế, trong phong trào thi đua trên tất cả các lĩnh vực củađời sống xã hội; việc lựa chọn cán bộ phải xuất phát từ lợi ích chung của cáchmạng và yêu cầu cụ thể của nhiệm vụ mà người lãnh đạo sẽ được giao, trên

cơ sở đó mà chọn những người có đủ phẩm chất và năng lực để gánh váccông việc Lênin viết: “Chúng ta cần phải lựa chọn những cán bộ phụ trách,

và ở đây không thể có vấn đề không tín nhiệm đối với một người nào đó đãkhông được bầu, mà chỉ có vấn đề xem xét việc đó có lợi cho sự nghiệp cáchmạng không, và người được lựa chọn có xứng đáng với chức vụ mà người ấy

sẽ đảm nhiệm không" [32, tr.359]; Trong việc phát hiện, lựa chọn và đào tạocán bộ đòi hỏi phải tiến hành "rộng rãi, có kế hoạch, thường xuyên và côngkhai trên quy mô chung và chuyên môn, địa phương và toàn quốc đồng thời,giao công tác cho họ để bồi dưỡng và thử thách” [33, tr.335]

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của công tác cán bộ Ngườikhẳng định: "Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công và thất bại củachính sách đó là do cách tổ chức công việc, do nơi lựa chọn cán bộ, do nơikiểm tra Nếu ba điểm ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích" [40,tr.154] Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ gồm các nội dung cơ bảnsau: xuất phát từ công việc để đặt người, chứ không phải từ người mà đặt

Trang 27

việc, công tác cán bộ phải bám sát nhiệm vụ cách mạng; phải hiểu và đánh giáđúng cán bộ, đánh giá cán bộ phải công minh; phải “khéo dùng cán bộ”, tức là

sử dụng cán bộ đúng người, đúng việc,…, kết hợp cán bộ già và cán bộ trẻ,cán bộ tại chỗ và cán bộ trên điều về, chống bè phái, cục bộ địa phương, họhàng trong công tác cán bộ; phải chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, đềbạt cán bộ

Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Cán

bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích chodân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báocáo cho Đảng, cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng" [40, tr.296]

1.2.2 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về công tác cán bộ trong giai đoạn đổi mới đất nước (1986 - 2010)

Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta cán bộ dùng để chỉ nhữngngười được biên chế vào làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể,doanh nghiệp nhà nước và sĩ quan trong lực lượng vũ trang Ngoài ra, cán bộđược coi là những người có chức vụ, vai trò nòng cốt trong một cơ quan, tổchức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức và liên quanđến vị trí lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần quyết định xuhướng phát triển của cơ quan, tổ chức

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế, những thành tựu của sự pháttriển kinh tế - xã hội chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường mở rộng giaolưu hợp tác nhiều mặt với các nước; đồng thời, công cuộc cải cách hành chínhngày nay đặt ra nhu cầu chuyên biệt hóa trong sự điều chỉnh pháp luật ngày càng

rõ nét Do vậy, Nhà nước ta đã cho ra đời luật Cán bộ, công chức và luật này đượcQuốc hội ban hành tháng 11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010

Xuất phát từ quan điểm cán bộ là nhân tố quyết định sự thành công haythất bại của sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo, xây

Trang 28

dựng đội ngũ cán bộ gắn với giải quyết nhiệm vụ chính trị trong từng giaiđoạn cách mạng

Giai đoạn 1986 - 2010, trước những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đấtnước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta đã có nhữngđổi mới về cán bộ và công tác cán bộ, đòi hỏi đội ngũ cán bộ và công tác cán

bộ phải có những thay đổi theo hướng có cơ cấu xã hội hợp lý, có tính chuyênnghiệp cao, có đủ năng lực, trình độ phẩm chất, thẩm quyền để thực thi vai tròlãnh đạo và quản lý đất nước Những nội dung cơ bản về cán bộ, công tác cán bộcủa Đảng và Nhà nước ta trong những năm đổi mới có thể khái quát như sau:

- Không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Nhằm đáp ứng

công cuộc đổi mới và phát triển đất nước hiện nay yêu cầu hàng đầu trong xâydựng đội ngũ cán bộ phải theo hướng toàn diện, cả về tư tưởng chính trị,phẩm chất chính trị và đạo đức lối sống, năng lực và trình độ chuyên môn,năng lực thực tiễn, trên tinh thần quán triệt nguyên tắc cán bộ phải có cả đức

và tài, trong đó đức được xác định là gốc Chất lượng của đội ngũ cán bộ phảitrên cơ sở thống nhất về phẩm chất và năng lực cán bộ, thể hiện ở việc hoànthành tốt các nhiệm vụ được giao

- Tăng cường tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ Thực tiễn đất

nước hiện nay đang đặt ra yêu cầu người cán bộ phải là một nghề có tínhchuyên nghiệp cao với những tiêu chuẩn cơ bản về phẩm chất, tác phong, sựhiểu biết và kiến thức chuyên môn, về pháp luật và sự thành thạo trong côngviệc nghề nghiệp hàng ngày Từ đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải được đào tạomột cách chính quy và hệ thống, đồng thời phải luôn được bồi dưỡng, cậpnhật tri thức mới của khoa học công nghệ và tình hình thế giới, trong nước

- Tích cực trẻ hóa đội ngũ cán bộ và xây dựng các thế hệ cán bộ kế cận

để tăng cường sức mạnh chiến đấu, tính năng động và bảo đảm sự kế thừaliên tục là một trong những hướng đổi mới quan trọng nhằm nâng cao chất

Trang 29

lượng đội ngũ cán bộ Để chủ trương trẻ hoá đội ngũ cán bộ đem lại hiệu quảthực tế, một trong những giải pháp quan trọng được đề ra là phải chăm lo tạonguồn cán bộ trong phong trào thực tiễn và ngay từ các trường đại học caođẳng và dạy nghề Đồng thời có chính sách phù hợp để thu hút những cán bộtrẻ được đào tạo về chuyên môn tăng cường cho cơ sở, nhất là trong các lĩnhvực chuyên môn về y tế và giáo dục Bên cạnh đó, phải hình thành cho đượcđội ngũ cán bộ có ba độ tuổi kế tiếp nhau.

- Trong công tác cán bộ, cần xóa bỏ định kiến về thành phần xuất thân

và định kiến giới trong cán bộ Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong chính

sách xây dựng đội ngũ cán bộ, Đảng ta đang ra sức động viên mọi ngườitrong các tầng lớp nhân dân, huy động những người có đủ đức và tài trongmọi lực lượng tham gia vào hệ thống chính trị Kiên quyết chống bệnh hẹphòi, định kiến về thành phần xuất thân, lý lịch; không phân biệt đối xử giữađảng viên và người ngoài Đảng

- Phát huy dân chủ trong công tác cán bộ Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu

phải đảm bảo tính tập thể trong các quyết định về công tác cán bộ trên cơ sởdân chủ xem xét đầy đủ các ý kiến của tổ chức và cá nhân có liên quan, đi đôivới nêu cao ý thức trách nhiệm của người đứng đầu Để làm tốt yêu cầu nàyĐảng đề cao nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời phát huy đầy đủ tráchnhiệm cá nhân trong công tác cán bộ Bên cạnh đó là thực hiện quyền củanhân dân tham gia giám sát cán bộ

- Bảo đảm tính quy hoạch trong công tác cán bộ Đảng ta đề ra yêu cầu

xây dựng đội ngũ cán bộ kế tục là nhiệm vụ thường xuyên, và phải được tiếnhành theo quy hoạch Theo đó việc quy hoạch cán bộ trở thành một trongnhững khâu chủ yếu của công tác cán bộ Từng bước thực hiện đổi mới nộidung và phương thức quy hoạch cán bộ, có quy chế, quy định chặt chẽ và đi

Trang 30

vào tiêu chuẩn hoá Quy hoạch gắn liền với đào tạo, bồi dưỡng để thực hiệnkịp thời việc chuyển tiếp từng bước các thế hệ cán bộ.

- Đổi mới công tác đánh giá cán bộ Trong đánh giá cán bộ phải có

quan điểm khách quan và toàn diện, dựa trên tiêu chuẩn, hiệu quả nhưng cótính đến điều kiện môi trường, điều kiện công tác và mức độ tín nhiệm củanhân dân, trên cơ sở phê bình và tự phê bình; tôn trọng nguyên tắc tập thể,dân chủ công khai Đấu tranh, phê phán, khắc phục những quan niệm, cáchlàm cũ trong công tác đánh giá cán bộ như chủ quan, duy ý chí; định kiến, hẹphòi, cục bộ địa phương, bè phái, thiếu dân chủ Đánh giá cán bộ một cách có

hệ thống trên cơ sở xác định tiêu chuẩn cụ thể; phải từ lợi ích chung của đất nướcdân tộc, từ chính sách cán bộ thống nhất của Đảng mà đánh giá cán bộ, phải lấyhiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất, năng lực

- Thực hiện luân chuyển cán bộ để đảm bảo tính đồng bộ, kết hợp các

loại cán bộ, các lớp cán bộ để bổ sung cho nhau với phương châm có lên cóxuống, có vào có ra Thực hiện luân chuyển từ trung ương xuống địa phương,

từ địa phương lên trung ương, từ địa phương này sang địa phương khác Phảikhắc phục cho được biểu hiện hẹp hòi, cục bộ, bố trí cán bộ theo kiểu khépkín trong từng địa phương, từng ngành, không tiếp nhận cán bộ từ nơi khác,ngành khác tới Thực hiện bầu cử có thời hạn và bổ nhiệm cán bộ có thời hạn

- Đổi mới, bổ sung, hoàn chỉnh chính sách đãi ngộ đối với cán bộ cùng với cải cách bộ máy hành chính Căn cứ vào năng lực thực tế, hiệu quả công

việc mà xác định trình độ chuyên môn và giá trị xã hội của cán bộ, để khuyếnkhích họ tìm tòi sáng tạo trong công tác Từng bước xoá bỏ dần các khoảnngoài lương, công khai hoá các khoản thu nhập Xây dựng chế độ tiền thưởngđối với cán bộ, phân định rõ biên chế trong bộ máy hành chính với biên chếtrong các đơn vị sự nghiệp, kinh tế, dịch vụ công, thực hiện khoán biên chế vàchi phí hành chính ổn định

Trang 31

- Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ.

Đảng ta đặc biệt đề cao yếu tố con người trong toàn bộ sự nghiệp đổi mới.Đảng nhấn mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng để từng bước hình thành độingũ cán bộ có tư duy mới, có kiến thức, có phẩm chất đạo đức và năng lựchoạt động thực tiễn, coi đó là công việc quan trọng và cấp thiết

- Tăng cường phân công phân cấp trong công tác quản lý cán bộ.

Nguyên tắc phân công, phân cấp là người phụ trách công việc phải có quyềnhạn và trách nhiệm chính trong việc tuyển, chọn, sử dụng bộ máy dưới quyền

Về nội dung việc tăng cường phân cấp, phân công phải được tiến hành đồng

bộ trên tất cả các khâu quy hoạch, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sửdụng, chính sách đãi ngộ Vừa mở rộng thẩm quyền vừa bảo đảm tính dân chủtrong tuyển chọn, sử dụng cán bộ

1.3 MỘT SỐ LÝ THUYẾT

1.3.1 Lý thuyết cơ cấu - chức năng

Thuyết chức năng được khởi xướng từ H.Spencer và E.Durkhiem trongbối cảnh của xã hội châu Âu đầu thế kỷ XX Chức năng được hiểu là nhu cầu,lợi ích, sự cần thiết, sự đòi hỏi, hệ quả, tác dụng mà một thành phần, bộ phận tạo

ra hay thực hiện để đảm bảo sự tồn tại, vận động của cả hệ thống [24, tr.223]

Luận điểm gốc của thuyết chức năng nhấn mạnh đến tính cân bằng, ổnđịnh và khả năng thích nghi của cấu trúc Thuyết này cho rằng:

Mỗi một yếu tố, một thành phần, một bộ phận cấu thành của xã hộiđều thực hiện những chức năng và thoả mãn những nhu cầu nhấtđịnh của xã hội Một xã hội tồn tại và phát triển được là do các bộphận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau để đảm bảo

sự cân bằng chung của cả cấu trúc Bất kỳ một sự thay đổi của thànhphần nào cũng kéo theo sự thay đổi của các bộ phận, các yếu tố,thành phần khác và làm biến đổi cả hệ thống Sự biến đổi của cấutrúc tuân theo quy luật tiến hoá, thích nghi khi môi trường sống thay

Trang 32

đổi; sự thay đổi của cấu trúc luôn hướng tới thiết lập lại trạng tháicân bằng ổn định [24, tr.223].

- Các nhà chức năng luận cho rằng:

Giống như các bộ phận khác nhau trong cơ thể con người, mỗi thiếtchế xã hội như nhà nước, tôn giáo, gia đình, trường học…đều giữnhững chức năng nhất định, song lại luôn có sự liên hệ mật thiết vớinhau và chính điều này tạo cho xã hội sự cân bằng trong hoạt động.Đối với cấu trúc xã hội, các đại diện của chủ thuyết này vừa nhấnmạnh tính hệ thống của nó, vừa đề cao vai trò quan trọng của hệ giátrị, chuẩn mực xã hội trong việc tạo dựng sự nhất trí, thống nhất ổnđịnh trật tự xã hội [24, tr.218]

Thuyết chức năng cho rằng, mọi xã hội từ bản chất nội tại của nó luôn

có xu hướng tiến tới sự hài hoà và tự điều chỉnh, tương tự như những cơ thểsinh học, giống như cơ thể con người là một thể thống nhất, mà các bộ phậnriêng phải phục tùng những nhu cầu cụ thể của cả hệ thống [24, tr.226] Xãhội là một hệ thống các thiết chế phụ thuộc lẫn nhau và tham gia tạo nên sựbền vững của tổng thể Do đó, để giải thích sự tồn tại của một thiết chế nhấtđịnh, chúng ta không nên tìm hiểu mục đích của các cá nhân mà phải tìm hiểu

hệ thống xã hội như một tổng thể, đòi hỏi những nhu cầu của nó được thoảmãn như thế nào? Và chức năng ứng dụng của xã hội học trước hết là nhằmtác động để tạo ra sự ổn định xã hội, điều chỉnh xã hội sao cho phù hợp vớibản chất bên trong của nó

Mặc dù không phủ nhận sự khác biệt về mặt giá trị giữa các nhóm xãhội cũng như tính linh hoạt, chủ động của các cá nhân, nhưng những ngườitheo thuyết chức năng vẫn coi con người chỉ là những cái máy hành động theonhững vai trò mà xã hội đã định trước Từ chỗ nhìn nhận con người chỉ như làmột thực thể thụ động, thuyết chức năng chỉ nhấn mạnh đến tính vững chắccủa các thiết chế và các cấu trúc xã hội, nó chỉ quan tâm đến sự phục tùng của

Trang 33

các cá nhân đối với các chuẩn mực, nhu cầu của hệ thống xã hội mà khôngtính đến vai trò làm thay đổi hoàn cảnh của chủ thể

Vận dụng thuyết này trong luận văn để nhận diện và giải thích nhữngyếu tố như phẩm chất chính trị, môi trường công tác, sự lựa chọn nghềnghiệp, các quan hệ xã hội của cán bộ, công chức khối mặt trận, đoàn thểcấp tỉnh và xem các chức năng, nhiệm vụ của cơ quan khối mặt trận, đoàn thể

có tác động thế nào tới cơ cấu xã hội của đội ngũ này

1.3.2 Lý thuyết hệ thống

Trong cuốn sách "Hệ thống xã hội", nhà xã hội học người Mỹ Talcott

Parsons cho rằng: Khái niệm hệ thống nhấn mạnh một tập hợp các yếu tốđược sắp xếp theo trật tự nhất định, nghĩa là được định hình vừa độc lập vừaliên tục trao đổi qua lại với hệ thống môi trường xung quanh [24, tr.228]

Talcott Parsons xem xét hệ thống trong một trục tọa độ ba chiều: cấutrúc - chức năng - kiểm soát Tức là hệ thống nào cũng có cấu trúc của nó, hệthống luôn nằm trong trạng thái động vừa tự biến đổi vừa trao đổi với môitrường xung quanh, hệ thống có khả năng điều khiển và tự điều khiển.Parsons

đã đưa ra sơ đồ nổi tiếng về hệ thống chức năng xã hội, viết tắt là AGIL.Trong đó gồm bốn loại yêu cầu chức năng hợp thành: (A) thích ứng với môitrường; (G) Hướng đích - huy động các nguồn lực để đạt mục tiêu; (I) Liênkết, phối hợp các hoạt động; (L) Duy trì khuôn mẫu để tạo ra sự ổn định, trật

tự Tương quan và tương tác AGIL sẽ đảm bảo trật tự, ổn định của hệ thống

xã hội Tương ứng với sơ đồ trên, trong hệ thống xã hội, người ta có tiểu hệthống kinh tế; tiểu hệ thống chính trị; tiểu hệ thống pháp luật và tiểu hệ thốngcác giá trị, chuẩn mực xã hội được quy chuẩn thông qua các thiết chế giađình, nhà trường, tổ chức văn hóa, tôn giáo

Nguyên lý tính chỉnh thể là nguyên lý xuất phát đồng thời là nguyên lýtrung tâm của lý thuyết hệ thống Nó cho thấy đặc trưng cơ bản nhất của hệ

Trang 34

thống là tính thống nhất, chỉnh thể Tính thống nhất của hệ thống là sự thốngnhất trong đa dạng hay gọi đó là tính phức thể Hệ thống là một thể phức tạp,

đa cấu trúc, đa chức năng, đa dạng và phức tạp về các loại quan hệ Cấu trúccủa hệ thống đóng khác với hệ thống mở; hệ thống thuần nhất khác với hệthống không thuần nhất; hệ thống điều khiển khác với hệ thống bị điều khiển

Hệ thống có các mối quan hệ bên trong và quan hệ bên ngoài; bên trong “tíchhợp”, bên ngoài “thích nghi”

Khi phân tích xã hội như một tổng thể, Mác đã đưa ra khái niệm cơ sở

hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Trong đó có sự vận động của những quyluật phản ánh mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa

cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Sự vận động của các quy luật đó tạonên sự thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội, là “một quá trình lịch

sử tự nhiên” Lý luận hình thái kinh tế - xã hội của Mác là lý thuyết hệ thốngkhoa học Nó cho ta phương pháp tiếp cận, đi từ sản xuất vật chất để tìm hiểucấu trúc, chức năng và sự vận hành của các hệ thống xã hội Và hệ lụy của nó,nói như V Doborianop, phải đi từ sản xuất vật chất để tìm hiểu cơ cấu xã hội

Vận dụng lý thuyết này trong luận văn để xem xét các cơ quan khốimặt trận, đoàn thể là một yếu tố cấu thành của hệ thống chính trị, mà ở đây hệthống chính trị tỉnh Hưng Yên như là một hệ thống chỉnh thể được cấu thànhbởi nhiều yếu tố; trong đó có các cơ mặt trận, đoàn thể, chính quyền, lựclượng vũ trang, các Ban Đảng… Cụ thể là đặt cơ cấu xã hội của đội ngũ cán

bộ, công chức khối mặt trận, đoàn thể trong mối quan hệ với chức năng,nhiệm vụ của tổ chức và trong mối tương quan với môi trường xã hội, mà ởđây là giữa các cơ quan khối mặt trận, đoàn thể với nhau và với các cơ quanBan Đảng

1.3.3 Phương pháp tiếp cận cơ cấu xã hội

1.3.3.1 Phương pháp luận trong tiếp cận xã hội học về cơ cấu xã hội

Trang 35

A Comte đã đưa ra khái niệm “tĩnh học xã hội” (cơ cấu xã hội, đồngtình xã hội, trật tự xã hội), “động học xã hội” (giai đoạn phát triển khác nhau

có quy luật vận động xã hội khác nhau) để xây dựng phương pháp nghiên cứu cơbản của xã hội học: nghiên cứu xã hội trong trạng thái tĩnh và trạng thái động

E Durkheim đã nêu một tuyên ngôn nổi tiếng: nhà xã hội học ngaybước đi đầu tiên đã đặt chân vào hiện thực và khuyến cáo, nguyên tắc quantrọng đầu tiên của xã hội học là coi xã hội như là sự vật

Tiếp cận cơ cấu xã hội dưới ánh sáng xã hội học mác-xít đòi hỏi phải

quán triệt và thực hiện nguyên tắc: khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển Ở mỗi thời điểm phát triển của hệ thống xã hội bao giờ cũng có

một cấu trúc xã hội tương ứng; và xâu chuỗi cơ cấu xã hội theo chiều lịch sửcủa hệ thống xã hội ta thấy chúng luôn vận động và biến đổi Xem xét cơ cấu

xã hội của xã hội hay một nhóm xã hội đòi hỏi phải tôn trọng sự thật, phải cócái nhìn đa chiều để thấy rõ sự phong phú, phức tạp trong cấu trúc, trong liên

hệ xã hội của hệ thống xã hội; phải luôn chú ý đến những điều kiện lịch sử cụthể có tác động đến sự biến đổi cơ cấu xã hội

Để phản ánh cơ cấu xã hội của một hệ thống xã hội, xã hội học rất coitrọng các số liệu thu được từ điều tra thực tế bằng phương pháp điều tra mẫu;kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứuđịnh tính; kết hợp phân tích các thông tin xã hội thu được từ các phươngpháp: quan sát, phỏng vấn, phân tích tài liệu và số liệu thống kê Điều tra xãhội học về cơ cấu xã hội để mô tả mô hình cơ cấu xã hội thực và phân tíchtính chỉnh thể trong cơ cấu xã hội của hệ thống xã hội (về thực chất là pháthiện những khuyết tật cấu trúc của hệ thống xã hội)

Sự biến đổi cơ cấu xã hội mặc dù một phần chịu tác động của nhữngyếu tố chủ quan (đường lối, chính sách của giai cấp cầm quyền), song nóluôn biểu hiện sự biến đổi một cách tự nhiên theo những quy luật khách

Trang 36

quan Do vậy, xem xét cơ cấu xã hội phải hết sức khách quan, trung thực,khoa học, tránh định kiến chủ quan Cho nên, nghiên cứu cơ cấu xã hộikhông chỉ dừng lại ở việc mô tả thực trạng mà phải xem xét chiều hướngbiến đổi cơ cấu xã hội.

1.3.3.2 Phương pháp phân tích cơ cấu xã hội

Cơ cấu xã hội là một khái niệm khoa học, "mọi cố gắng nhằm nắmvững và hiểu biết xã hội như là một hệ thống đều dựa trên sự hiểu biết cụ thể

về cơ cấu của nó” [7, tr.74] Việc phân tích cơ cấu cho ta chìa khóa để khámphá cấu trúc bên trong của một xã hội nhất định nhận thức được sự cân bằnghay nghiêng lệch, đánh giá được trình độ phát triển cao hay thấp của xã hội

Phân tích cơ cấu xã hội theo giác độ tiếp cận của xã hội học cần chú ýnhững nội dung và thao tác sau:

Một là, cơ cấu xã hội là kết cấu, hình thức tổ chức bên trong của một hệ

thống xã hội, là sự thống nhất giữa hai mặt, thành phần xã hội và liên hệ xãhội Xã hội dù phức tạp như thế nào cũng cần tránh sự coi trọng mặt này songlại xem nhẹ mặt kia và ngược lại chỉ rõ hai mặt đó

Hai là, nghiên cứu cơ cấu xã hội của bất kỳ hệ thống xã hội nào cũng đi

từ sự phân tích các nhóm xã hội với vai trò, vị thế của nó và các thiết chế Đó

là "khung", phân tích cơ cấu xã hội dưới góc độ xã hội học Theo GS.TSNguyễn Đình Tấn, nhóm là đơn vị phân tích cơ bản, đầu tiên để hiểu được cơcấu xã hội chính vì coi nhóm là đơn vị phân tích trước tiên, cơ bản đã mang lạimột sự thuận tiện đáng kể cho sự phân tích; giúp nhà nghiên cứu dễ dàng có thểtriển khai những nghiên cứu định lượng một cách hiệu quả đồng thời chỉ ra đượccấu trúc đa chiều, đa khía cạnh, đa cấp độ của những cơ cấu xã hội hiện thực

Ba là, cơ cấu xã hội phải được xem xét cả trạng thái tĩnh và trạng thái

động.Nghiên cứu cơ cấu xã hội một mặt chỉ ra được thực trạng, mặt khác chỉ

ra được xu hướng vận động và biến đổi của nó

Trang 37

Bốn là, nghiên cứu cơ cấu xã hội của hệ thống xã hội phải đồng thời

phân tích cơ cấu với phân tích các yếu tố văn hóa có liên quan, làm rõ giá trị,thang giá trị, chuẩn mực xã hội đang hiện hành và cả những yếu tố mang tínhmầm mống trong đó

Năm là, phân tích cơ cấu xã hội cần đi sâu phân tích tính cơ động xã

hội Tìm ra xu hướng của quá trình biến đổi, phát triển theo thời gian của cơcấu xã hội

Sáu là, phân tích cơ cấu xã hội không chỉ bao hàm việc xem xét cấu

trúc “ngang” một tổng thể các nhóm tổ chức đã cấu thành nên cơ cấu xã hội

mà đòi hỏi cần phải phân tích cơ cấu trúc “dọc” cấu trúc “tầng bậc” của xãhội Qua đó cho phép hiểu được một cấu trúc “đan kết”, “ngang” và “dọc” của

xã hội, nhận diện được thực trạng đa diện cũng như sự vận động, biến đổiphức tạp, đa chiều của những cơ cấu xã hội hiện thực

Bảy là, xã hội là một hệ thống đa cơ cấu tự nhiên, chứa đựng trong đó

nhiều phân hệ cơ cấu.Chỉ có thể làm rõ cơ cấu xã hội khi nghiên cứu đầy đủcác chiều cạnh của nó, các phân hệ cơ cấu của hệ thống xã hội.Các phân hệ cơbản của cơ cấu xã hội là: cơ cấu xã hội - giai cấp; cơ cấu xã hội - lãnh thổ; cơcấu xã hội - nghề nghiệp; cơ cấu xã hội - dân tộc; cơ cấu xã hội - tôn giáo…

Tính đa dạng, phức tạp của cơ cấu xã hội, một mặt thể hiện ở sự phongphú, đa dạng của các phân hệ cơ cấu xã hội, mặt khác mỗi phân hệ lại chính làmột hệ thống, trong đó chứa đựng các yếu tố cấu thành nên nó Có thể hiểunhư là hệ thống trong hệ thống Chẳng hạn như, các giai cấp, tầng lớp trong

xã hội là các yếu tố cấu thành nên cơ cấu xã hội - giai cấp Cụ thể hơn, phân

hệ cơ cấu xã hội - giai cấp bao chứa trong nó các giai cấp, tầng lớp Đến lượt

nó, mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp lại bao gồm những thành viên, những nhóm xãhội nhỏ như nhóm giàu, nhóm nghèo… Hầu như, nhóm nghèo và nhóm giàuđều có mặt trong mỗi giai cấp, tầng lớp Như vậy, cơ cấu xã hội không chỉ

Trang 38

mang tính đa dạng mà còn nhiều cấp độ.

Tính “đa chiều”, nhiều “cấp độ” là đặc trưng cấu trúc đòi hỏi phải phântích cơ cấu xã hội của xã hội dưới góc độ xã hội học Trong nghiên cứu cơcấu xã hội thực nghiệm cần lập nên những tiêu chí cụ thể thích hợp với từngmục tiêu đặt ra của mỗi nghiên cứu để từ đó mà thu thập đầy đủ các thông tincần thiết cấu trúc xã hội

1.4 VAI TRÒ CỦA PHÂN TÍCH CƠ CẤU XÃ HỘI TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ

Cơ cấu xã hội là đối tượng nghiên cứu của bộ môn chủ nghĩa duy vậtlịch sử, Chủ nghĩa xã hội khoa học, xã hội học… đồng thời còn là đối tượngcủa các môn khoa học quản lý xã hội Mọi cố gắng để hiểu xã hội với tư cách

là hệ thống đều dựa trên sự phân tích cơ cấu xã hội để nắm vững các phươngtiện xã hội, biến động xã hội trong từng thời điểm cụ thể "Phân tích cơ cấu xãhội trong từng thời điểm lịch sử là cơ sở cho việc xác định nội dung, phươnghướng, phương pháp quản lý xã hội, là căn cứ để xây dựng chính sách xã hội"[21, tr.42] Cho nên, "kết cấu xã hội của xã hội và chính quyền có nhiều biếnđổi, nếu không tìm hiểu các biến đổi này thì không thể tiến một bước trongbất kỳ lĩnh vực hoạt động xã hội nào.Vấn đề tiền đồ phụ thuộc vào sự tìmhiểu những biến đổi này" [35, tr.221]

Trong xã hội hiện thực cơ chế kinh tế thị trường, với sự đa dạng củacác thành phần kinh tế là nhân tố khách quan quyết định tính chất phức tạp,

đa dạng của cơ cấu xã hội Ph Ăngghen viết: "Trong mỗi thời đại lịch sử, sảnxuất kinh tế và cơ cấu xã hội, cơ cấu này tất yếu phải do kinh tế mà ra" [37,tr.11] Đồng thời, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sự chuyển dịch xã hội

là tất yếu, diễn ra thường xuyên, liên tục, có sự chuyển hóa và phân cực trong

xã hội, trong từng giai cấp và tầng lớp

Nghiên cứu cơ cấu xã hội giữ vị trí quan trọng với những người làm xã

Trang 39

hội học, đặc biệt là trong công tác tổ chức, đánh giá, quy hoạch cán bộ Bởi

vì, cơ cấu xã hội luôn vận động, biến đổi Nếu không nắm bắt kịp thời nhữngbiến đổi về cơ cấu đội ngũ cán bộ, không những không nắm bắt kịp thời diễnbiến tư tưởng của đội ngũ này, mà còn khó khăn trong công tác quy hoạch,phát triển cán bộ Do vậy, có thể khẳng định, phân tích cơ cấu đội ngũ cán bộvừa là vấn đề lý luận, vừa là kinh nghiệm và thực tiễn

Như vậy, có thể khẳng định phân tích cơ cấu xã hội và công tác cán bộ

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Để quản lý cán bộ có hiệu quả, khoa họckhông thể không tiến hành phân tích thực trạng, xu hướng biến đổi cơ cấu xãhội trong từng thời điểm lịch sử của đội ngũ cán bộ Trong luận văn việc phântích thực trạng, xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội của cán bộ, công chức có ýnghĩa quan trọng đối với công tác cán bộ khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ởHưng Yên hiện nay

Tiểu kết chương 1

Để có một đội ngũ cán bộ, công chức khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ởHưng Yên luôn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, vấn đềthen chốt là phải xây dựng đội ngũ này có số lượng hợp lý, cơ cấu thích hợp, chấtlượng ngày càng cao Muốn vậy, cần dựa trên những kết quả nghiên cứu về thựctrạng đội ngũ cán bộ, công chức khối mặt trận, đoàn thể hiện nay, trong đó có kếtquả phân tích cơ cấu xã hội Đó là cơ sở khoa học - thực tiễn cho việc tiến hànhcông tác tư tưởng, công tác tổ chức trong đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ, côngchức khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên nói riêng

Phân tích cơ cấu xã hội là cách thức, phương pháp đặc thù của xã hộihọc trong nghiên cứu xã hội, nghiên cứu hệ thống xã hội Sau nhiều năm rađời, tồn tại và phát triển, khoa học xã hội học đã xây dựng được hệ lý thuyết

về cơ cấu xã hội, phương pháp phân tích cơ cấu xã hội Đó là cơ sở lý luậncho việc tiếp cận phân tích cơ cấu xã hội của các đối tượng với tính cách làmột hệ thống xã hội Phân tích làm rõ thực trạng cơ cấu xã hội của đội ngũ

Trang 40

cán bộ, công chức khối mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh ở Hưng Yên phải nắmvững và vận dụng sáng tạo lý thuyết xã hội học về cơ cấu xã hội và phươngpháp phân tích cơ cấu xã hội.

Chương 2 THỰC TRẠNG CƠ CẤU XÃ HỘI CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ

CÔNG CHỨC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ KHỐI MẶT TRẬN,

ĐOÀN THỂ CẤP TỈNH Ở HƯNG YÊN

2.1 CƠ CẤU XÃ HỘI CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC KHỐI MẶT TRẬN, ĐOÀN THỂ CẤP TỈNH

Đặc điểm kinh tế - xã hội - văn hóa - chính trị trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI,trong bối cảnh chịu sự tác động không nhỏ của thời tiết, thiên tai, dịch bệnh,nhất là cuộc khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu; Đảng bộ vànhân dân tỉnh Hưng Yên với quyết tâm cao, đoàn kết thống nhất, chủ động,sáng tạo, nỗ lực phấn đấu, vượt qua nhiều thử thách, khó khan đã giành đượcnhiều thành tựu quan trọng, hoàn thành khá toàn diện mục tiêu đại hội đề ra

Kinh tế duy trì tăng trưởng khá Tốc độ tăng trưởng 5 năm bình quânđạt 11,74% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng nhanh công nghiệp

và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp Năm 2010, cơ cấu kinh tế Nôngnghiệp - Công nghiệp, xây dựng - Dịch vụ ước đạt 25% - 44% - 31% Thunhập bình quân đầu người đạt 20 triệu đồng [9, tr.14] Tỉnh quan tâm, tạo điềukiện để các thành phần kinh tế phát triển mạnh, tạo động lực thúc đẩy tăngtrưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tạo thêm nhiều việc làm,cải thiện đời sống người lao động

Văn hóa - xã hội phát triển, nhiều mặt tiến bộ Sự nghiệp giáo dục, đàotạo tiếp tục phát triển, nâng cao dân trí , đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân

Ngày đăng: 20/07/2022, 00:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chung Á, Nguyễn Đình Tấn (1997), Nghiên cứu xã hội học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Chung Á, Nguyễn Đình Tấn
Nhà XB: Nxb Chínhtrị quốc gia
Năm: 1997
2. Ngô Vương Anh (2002), "Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ công chức Việt Nam", Tạp chí Hoạt động khoa học, (4), tr.2-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh vềcán bộ công chức Việt Nam
Tác giả: Ngô Vương Anh
Năm: 2002
3. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2000), Lịch sử đảng bộ tỉnh Hưng Yên (Tập 1, 1930-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đảng bộ tỉnhHưng Yên
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
5. Trần Văn Bính (2003), "Xu hướng biến đổi đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên thời kỳ 2001-2010", Tạp chí Lịch sử Đảng, (10), tr.26-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng biến đổi đạo đức, lối sống của cán bộ,đảng viên thời kỳ 2001-2010
Tác giả: Trần Văn Bính
Năm: 2003
6. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2005), Xã hội học, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học quốcgia
Năm: 2005
7. V. Doborianov (1985), Xã hội học Mác - Lênin, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Mác - Lênin
Tác giả: V. Doborianov
Nhà XB: Nxb Thông tin lý luận
Năm: 1985
8. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ XVI, Công ty in Tạp chí Cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ lầnthứ XVI
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
Năm: 2005
9. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ XVII, Công ty in Tạp chí Cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu tỉnh Đảngbộ lần thứ XVII
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
Năm: 2010
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 khóa VIII về chiến lược cán bộ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hànhTrung ương Đảng lần thứ 3 khóa VIII về chiến lược cán bộ của thờikỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1997
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
13. Nguyễn Khoa Điềm (2003), "Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nhiều giải pháp trong giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ đảng viên", Tạp chí Tư tưởng văn hoá, (10), tr.3-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệthống chính trị và của nhiều giải pháp trong giáo dục đạo đức, lốisống cho cán bộ đảng viên
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Năm: 2003
14. Điều lệ Mặt trận tổ quốc Việt Nam (2009), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Mặt trận tổ quốc Việt Nam
Tác giả: Điều lệ Mặt trận tổ quốc Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
15. Điều lệ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (2013), Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (
Tác giả: Điều lệ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2013
16. Điều Lệ Công đoàn Việt Nam (2013), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều Lệ Công đoàn Việt Nam
Tác giả: Điều Lệ Công đoàn Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2013
17. Điều lệ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2012), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Tác giả: Điều lệ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
18. Điều lệ Hội nông dân Việt Nam (2013), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Hội nông dân Việt Nam
Tác giả: Điều lệ Hội nông dân Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
19. Điều lệ Hội cựu chiến binh Việt Nam (2013), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Hội cựu chiến binh Việt Nam
Tác giả: Điều lệ Hội cựu chiến binh Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
20. Nguyễn Hữu Đổng (Chủ biên) (2010), Đảng và các tổ chức chính trị-xã hội trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng và các tổ chức chính trị-xãhội trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Hữu Đổng (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 2010
21. Phạm Xuân Hảo (1996), Cơ cấu xã hội của đội ngũ sỹ quan trung, sơ cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam - Thực trạng và xu hướng biến đổi, Luận văn Phó tiến sĩ Khoa học Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu xã hội của đội ngũ sỹ quan trung, sơcấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam - Thực trạng và xu hướngbiến đổi
Tác giả: Phạm Xuân Hảo
Năm: 1996
22. Vũ Văn Hiền (2007), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằmđáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước
Tác giả: Vũ Văn Hiền
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w