1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Chương 13 phản ứng tủy với sâu răng và thủ thuật nha khoa

36 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 3,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CH AP TE R 13 Phản Ứng Tủy Với Sâu Răng Và Với Các Thủ Thuật Nha Khoa ASHRAF F FOUAD and LINDA LEVIN CHAPTER OUTLINE PHẢN ỨNG TỦY VỚI SÂU RĂNG CÁC CHẤT TRUNG GIAN THẦN KINH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ VIÊM TỦY HIỆN HỮU NHẠY CẢM NGÀ VÀ CÁCH XỬ LÝ PHẢN ỨNG TỦY VỚI GÂY TÊ TẠI CHỖ PHẢN ỨNG TỦY VỚI QIU TRÌNH PHỤC HỒI Mức Độ Viêm Tủy Trước Điều Trị Mức Độ Kích Ứng Vật Lý Do Thủ Thuật Vật Lý Sự Gần Nhau Của Quy Trình Ph.

Trang 1

PHẢN ỨNG TỦY VỚI SÂU RĂNG

CÁC CHẤT TRUNG GIAN THẦN KINH

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG

VÀ VIÊM TỦY HIỆN HỮU

NHẠY CẢM NGÀ VÀ CÁCH XỬ LÝ

PHẢN ỨNG TỦY VỚI GÂY TÊ TẠI CHỖ

PHẢN ỨNG TỦY VỚI QIU TRÌNH PHỤC HỒI

Mức Độ Viêm Tủy Trước Điều Trị

Mức Độ Kích Ứng Vật Lý Do Thủ Thuật Vật Lý

Sự Gần Nhau Của Quy Trình Phục Hồi Với Tủy Răng

Và Bề Mặt Ngà Lộ

Tình Thấm Của Ngà Và Lớp Tế Bào Tạo Răng Giữa

Các Vùng Phục Hồi Và Tủy

Tuổi Bệnh Nhân

PHẢN ỨNG TỦY VỚI VẬT LIỆU PHỤC HỒI

CHE TỦY TRỰC TIẾP VỚI MINERAL

TRIOXIDE AGGREGATE (MTA)

SỬ DỤNG CHẤT CẦM MÁU VÀ DIỆT KHUẨN TRÊN TỦY LỘ TRỰC TIẾP

PHẢN ỨNG TỦY VỚI QUY TRÌNH LASER Điều Trị Ngăng Ngừa, Chẩn Đoán Và Điều Trị Sâu Răng Laser Trong Điều Trị Nhạy Cảm Ngà

Sử Dụng Laser Như Cách Thức Bảo Vệ

PHẢN ỨNG CỦA TỦY VỚI SỬA SOẠN XOANG KHI SỬ

DỤNG KỸ THUẬT KHÍ MÀI MÒN PHẢN ỨNG CỦA TỦY VỚI KỸ THUẬT LÀM TRẮNG RĂNG PHẢN ỨNG CỦA TỦY VỚI THỦ THUẬT NHA CHU KÍCH ỨNG CƠ HỌC: CHUYỂN ĐỘNG CHỈNH NHA PHẢN ỨNG CỦA TỦY VỚI PHẪU THUẬT CHỈNH NHA KÍCH ỨNG SINH HỌC:THÓI QUYEN CẬN CHỨC NĂNG PHẢN ỨNG CỦA TỦY VỚI ĐẶT VÀ CHỨC NĂNG IMPLANT

TIỀM NĂNG TÁI SINH TỦY RĂNG

Tủy răng là một mô rất năng động trong viẹc đáp ứng kích thích

bên ngoài theo một loạt các cách khác nhau Tuy nhiên, có một số

tính năng độc đáo về phản ứng của tủy răng phân biệt nó với các

mô liên kết khác trong cơ thể Lộ tuỷ do sâu răng, một bệnh

nhiễm khuẩn mãn tính rất phổ biến, sự co vào trong một môi

trường hẹp sau khi răng trưởng thành hoàn toàn, và sự giảm thiểu

nuôi dưỡng lưu thông làm cho nó dễ bị chấn thương và khó tái

tạo Hơn nữa, tuỷ được ưu đãi một nguồn cung cấp phong phú

thần kinh mạch máu thúc đẩy những tác động của tình trạng viêm

và có thể dẫn đến tình trạng thoái hóa nhanh chóng và hoại tử,

một điều kiện được coi là rất nghiêm trọng của bất kỳ mô nào

trong cơ thể Việc điều trị sâu răng và những bất thường răng

bao gồm thủ thuật làm sạch và tạohình men răng và ngà răng,

mô cứng nhất của cơ thể, do đó làm tăng thêm sự kích thích tuỷ

Trong chương này, phản ứng của tuỷ với tất cả các biến cố sẽ

được thảo luận và những tiến bộ gần đây trong sự hiểu biết của

chúng tôi về các thủ thuật nha khoa và tác động của chúng trên

tuỷ sẽ được trình bày

504

PHẢN ỨNG TỦY VỚI SÂU RĂNG

Sâu răng là một nhiễm trùng tại chỗ, phá huỷ, tiến triển của ngà răng và; nếu không được kiểm soát, sâu răng có thể dẫn đến tủy hoại tử và mất răng Cả hai sản phẩm phụ của vi khuẩn và các sản phẩm từ các giải thể hữu cơ và vô cơ thành phần ngà răng trung gian ảnh hưởng của sâu răng lên trên tuỷ Ba phản ứng cơ bản có xu hướng bảo vệ chống lại sâu răng của tuỷ là:(1) giảm tính thấm ngà, (2) ngà thứ ba hình thành, và (3) phản ứng viêm

và miễn dịch Những phản ứng xảy ra đồng thời, và sự mạnh mẽ của chúng rất cao phụ thuộc vào bản chất phá huỷ của tổn thương tiến triển

Ở nhiễm trùng tiến triển của tổn thương sâu răng, nhiều yếu

tố nội sinh và ngoại sinh được giải phóng- kích thích nhu mô tủy ở dưới Chất chuyển hóa của vi khuẩn chẳng hạn như axit đã được coi là nguồn khởi xướng các phản ứng tủy, nhưng các khả năng đệm của dịch ngà làm suy giảm pH trước khi nó có thể trực tiếp tạo ra một phản ứng có hại, trừ khi độ dày ngà răng còn lại là tối thiểu.214

Trang 3

CH APT ER 13 • Pulpal Reactions to Caries and Dental Procedures 505

Hình 13-1 A, Tinh thể khối trắng chặn ống ngà ở ngà xơ hoá B Ngà xơ hoá trên phim xuất hiện sau một tổn thương loại II sâu. ( A from Yoshiyama M, Masada J, Uchida A, Ishida H: Scanning electron microscopic characterization of sensitive vs insensitive human radicular dentin J Dent Res 68 : 1498–1502, 1989.)

Khi đường thâm nhật vào mô tuỷ không bị cản trở, cả hai chất

chuyển hóa của vi khuẩn và các thành phần tế bào gây ra viêm

Trong tổn thương ban đầu đến trung bình, bằng chứng hiện tại

cho thấy rằng các sản phẩm phụ có tính axit của các hoạt động

sâu răng phá hoại lớp nền ngà gián tiếp, từ đó giải phóng các

phân tử hoạt tính sinh học trước đây bị cô lập trong quá trình

sinh ngà Một khi được giải phóng, các phân tử này một lần nữa

đảm nhận vai trò của chúng trong việc hình thành ngà răng, lần

này kích thích cho sinh ngà thứ ba.216 Lý thuyết này được hỗ trợ

bởi những phát hiện rằng chất nền ngà khử khoáng cấy tại chỗ

tiếp xúc tủy có thể gây ra hiện tượng sinh ngàLý thuyết này

được hỗ trợ bởi những phát hiện rằng chất nền ngà khử khoáng

cấy tại chỗ tiếp xúc tủy có thể gây ra hiện tượng sinh ngà.243

Hơn nữa, vị trí của thanh lọc protein nền ngà của ngà lộ hoặc

tuỷ lộ kích thích sự hình ngà thứ ba, chỉ ra rằng các phân tử này

có thể tác động trực tiếp hoặc thông qua ngà răng nguyên

vẹn.217,242

Các bằng chứng gần đây cung cấp một số phân tử ứng cử viên

cho việc kích thích cho sinh ngà sửa chữa Heparin-gắn yếu tố

sinh trưởng, yếu tố tăng trưởng chuyển đổi (TGF) -β1, TGF-β3,

yếu tố tăng trưởng giống Insulin (IGF) -1 và -2, tiểu cầu có

nguồn gốc từ yếu tố tăng trưởng và các yếu tố tăng trưởng mạch

máu đã được chứng minh kích thích sinh ngà trong ống nghiệm

Các họ TGF-β đặc biệt có vẻ là quan trọng trong việc truyền tín

hiệu quá trình cho sự phân chia các tế bào tạo răng odontoblast

cũng như sinh ngà sơ cấp và thứ ba Là một dạng tương đồng,

TGF-β1 phân bố đều ở các phần hòa tan và không hòa tan của

nền ngà.39 Trong khi sâu răng hoà tan ngà răng, người ta tin

răng lượng TGF-β1 hoà tan có thể khuếch tán qua ngà còn

nguyên vẹn trong khi phần không hòa tan được cố định trên nền

ngà và phục vụ để kích thích tế bào tạo răng, nhiều như TGF-βs

màng bị ràng buộc trong quá trình tạo răng.214

Mặc dù có sự quan tâm nghiên cứu trong sinh ngà thứ ba,

đây không phải là đầu tiên và cũng không nhất thiết phải là cơ

chế hiệu quả nhất qua trung gian bảo vệ tuỷ chống lại các mầm

bệnh xâm nhập Một sự kết hợp của bồi đắp tăng ngà trong ống và lắng đọng trực tiếp các tinh thể khoáng chất vào các ống ngà thu hẹp để giảm tính thấm ngà là biện pháp đối phó đầu tiên đến sâu răng vàđược gọi là ngà răng xơ cứng Nó xảy ra bởi sự kết hợp của tăng lắng đọng của ngà răng trong ống và ống này bị tắc bởi các tinh thể kết tủa Điều này dẫn đến giảm hiệu quả trong tính thấm ngà răng xảy ra trong một khoảng thời gian tương đối ngắn Các nghiên cứu kinh điển đã lưu ý rằng trong khi xơ cứng được quan sát trong ngà của không bọ bệnh và không bị mòn, có 95% tăng tỷ lệ mắc trong răng sâu.222

Trong các nghiên cứu in vitro với nuôi cấy lát răng liên can TGF-β1 là một yếu tố trung tâm trong sự lắng đọng tăng ngà trong ống.213 Các lắng đọng tinh thể trắng lòng ống ngà nhất có thể là kết quả từ một sự kích thích tương tự như của tế bào tạo răng sống, có thể kết hợp với cơn mưa giải phóng chất khoáng trong quá trình khử khoáng140,239

(Hình 13-1).Sự hình thành của ngà thứ ba xảy ra trong một khoảng thời gian dài hơn so với trong ngà xơ cứng, và kết quả của nó phụ thuộc nhiều vào các kích thích Kích thích nhẹ kích hoạt tế bào tạo răng tĩnh trú, và xây dựng các chất nền hữu

cơ của ngà răng Đây là loại ngà thứ ba được gọi là ngà phản ứng và có thể được quan sát thấy khi ngà răng sơ cấp khử khoáng xảy ra dưới tổn thương men không tạo khoang.135 Các chất trung gian có mặt trong quá trình sâu răng gây tạo ra một

sự tăng điều hòa tập trung của sản sinh xhaast nền bằng các tế bào tạo răng tại chỗ Ngà răng kết quả có sự tương tự về hình thái với ngà sinh lý và chỉ có thể xuất hiện rõ ràng do sự thay đổi hướng của các ống ngà mới (Hinh 13-2) Trong các tổn thương tiến triển, quá trình sâu răng có thể chứng minh có thể chứng minh khả năng tiêu diệt các tế bào tạo răng kề nó và đòi hỏi sự tái tạo các lớp tế bào tạo răng bị mất đi với nguồn tế bào gốc Sự xuất hiện của lớp nền kết quả là sự đáp ứng trực tiếp của phân chia các tế bào tiết Điều này tạo ra sự không đồng nahast của ngà sửa chữa, có hình thể sắp xếp từ kiểu các ống ngà có tổ chức tới bất

Trang 4

506 PART I I • THE ADVANCED SCIENCE OF ENDODONTICS

Hình 13-2 Sinh ngà phản ứng (TD); ghi nhận hình thái ống và

sự không liên tục của các ống ngà tại giao diện của ngà thứ cấp và

ngà thứ ba Các tế bào tạo răng tại chỗ vẫn có mặt.

Hình 13-3 Ngà sửa chữa; sự kích thích mạnh mẽ của nhiễm khuẩn gây ra sự tiêu diệt tế bào tạo răng Ngà kết quả không đồng đều với sự thâm nhập mô mềm

tổ chức như ngà sợi Ngà sợi, do cấu hình phức tạp và mô bất

thường của nó, có tính thấm cao hơn ngà sinh lý 252

(Hình 3)

13-Mặc dù ngà răng có thể cung cấp một rào cản vật lý chống

lại các kích thích độc hại, phản ứng miễn dịch và tế bào tủy

cung cấp thách thức các mầm bệnh xâm lấn Trong tổn thương

sâu răng tiến triển, đáp ứng miễn dịch của vật chủ tăng cường độ

với sự trầm trọng nhiễm trùng Nó đã được chứng minh rằng bộ

các hóa chất của các tế bào T, các tế bào dòng B-, bạch cầu trung

tính và đại thực bào tỷ lệ thuận với độ sâu tổn thương ở răng.107

Sự tan rã của một lượng lớn ngà răng, tuy nhiên, không cần thiết

để gợi tạo ra một phản ứng miễn dịch tủy Điều này được hỗ trợ

bởi việc quan sát thấy một viêm tủy phản ứng dưới tổn thương

không tạo xoang và tổn thương rãnh, hố không liền lại.33

Các phản ứng viêm sớm với sâu răng được đặc trưng bởi sự

tích tụ tập trung các tế bào viêm mạn tính (Hình.13-4) Điều này

có trung gian ban đầu bởi các tế bào tạo răng và sau đó bằng các

tế bào đuôi gai Là các tế bào ngoại vi nhất trong tuỷ, các tế bào

tạo răng có vị trí gặp kháng nguyên ngoại lai đầu tiên và bắt đầu

phản ứng miễn dịch bẩm sinh Phát hiện mầm bệnh nói chung

được thực hiện thông qua các thụ thể đặc hiệu gọi là mô hình

thụ thể nhận biết (PRRS).109 Các thụ thể nhận ra tác nhân gây

bệnh liên quan mô hình phân tử (PAMPs) này tiến vào cơ thể và

bắt đầu một cơ chế bảo vệ vật chủ thông qua việc kích hoạt các

con đường yếu tố hạt nhân (nF) -κB.91 Một phân loại PAMP

phân tử nhận biết là nhóm thụ thể giống Toll (TLRs) Các tế bào

tạo răng đã được chứng minh là có biểu hiện gia tăng TLRs nhất

định để đáp ứng với các sản phẩm của vi khuẩn Trong điều kiện

thí nghiệm, các tế bào tạo răng biểu hiện của TLR 3, 5, và 9

B

A

TD

Trang 5

CH APT ER 13 • Pulpal Reactions to Caries and Dental Procedures 507

Hình 13-4 Đáp ứng tuỷ sớm với sâu răng được thể hiện bằng sự

tích tụ tập trung các tế bào viêm mãn tính Lưu ý ở vùng ngoại vi

viêm, mô tuỷ tương đối không bị tác động

Trang 6

508 PART I I • THE ADVANCED SCIENCE OF ENDODONTICS

Hình 13-5 Các tế bào tạo răng được bộc lộ với liposaccharide (LPS) trong một mẫu nuôi cấy in vitro thể hiện interleukin 8 (IL-8), chứng

minh bằng nhuộm màu miễn dịch với kháng thể kháng IL8

được tăng lên để đáp ứng với acid lipoteichoic, trong khi

lipopo-lysaccharide tăng biển hiện TLR2.59,166

Khi các tế bào tạo răng TLR được kích thích bởi một tác nhân gây bệnh, tiền viêm

cytokine, chemokine và peptide kháng sinh được xây dựng bởi

các tế bào tạo răng, kết quả thu nhận và kích thích các tế bào

miễn dịch cũng như trực tiếp tiêu diệt vi khuẩn.67 Nhiều tế bào

sản xuất chemokine đồng thơgi ở mức thấp Các tế bào không bị

kích thích biểu hiện gen mã hóa cho CCl2, CXCL12, và

CXCL14, ba gen được biết đến để mã hoá cho yếu tố hoá hướng

độngcho tế bào đuôi gai non.40 Chúng cũng sản xuất CCL26,

một chất đối kháng tự nhiên cho CCR1, CCR2, và CCR5, mà là

các chemokin thường được sản xuất bởi bạch cầu đơn nhân và

tế bào đuôi gai.264 Kích thích với thành phần vách tế bào vi

khuẩnt đã được chứng minh để tăng đáp ứng tạo ra nhiều

chemokine, gợi ý rằng tế bào tạo răng cảm nhận các mầm bệnh

và thể hiện các yếu tố thu nhận các tế bào tác động miễn

dịch40,136 (Hình 13-5) Những dữ liệu này cho thấy một kịch

bản trong đó kích thích các tế bào tạo răng thể hiện mức độ cao

của các chemokine như interleukin (IL) -8 (CXCL8)- hoạt động

phối hợp với việc giải phóng TGF-β1 bị cô lập từ ngà sâu răng,

kết quả trong số đó là một sự gia tăng tập trung số lượng tế bào

đuôi gai, với giải phoáng thêm các chất trung gian hoá ứng

động.68 Các dòng tế bàomiễn dịch tiếp theo bao gồm các tế bào

lympho, đại thực bào và các tế bào huyết tương Thâm nhiễm tế

bào này kèm theo sản sinh mao mạch tại chỗ để đáp ứng với các

yếu tố tạo mạch, cũng như sự đông tụ của sợi thần kinh và các tế

bào đuôi gai HLA-DR-dương.257,258

Khi tổn thương sâu răng tiến triển, mật độ của viêm mãn

tính thâm nhiễm, cũng như của các tế bào đuôi gai trong khu

vực tế bào tạo răng, tăng lên Tế bào đuôi gai tủy có trách nhiệm

thể hiện kháng nguyên và kích thích các tế bào lympho T Trong

tuỷ viêm, chúng rải rác khắp tuỷ Với sâu răng tiến triển, chúng

tập hợp ban đầu trong các khu vực tuỷ và dưới các tế bào tạo

răng, sau đó mở rộng vào lớp tế bào tạo răng, và cuối cùng di cư

vào lối vào ống ngà bên cạnh tế bào tạo răng 259 (Hình 13-6)

Trang 7

CH APT ER 13 • Pulpal Reactions to Caries and Dental Procedures 509

Hình 13-6 Sâu ngà kích thích sự tích tụ các tế bào đuôi gai tuỷ

trong và xung quanh lớp tế bào tạo răng (Courtesy Mats

Jontell.)

hai quần thể riêng biệt của các tế bào đuôi gai đã được xác

định trong tủy răng CD11c + được tìm thấy trong biên giới

tuỷ / ngà và ở dưới hố rãnh Tế bào đuôi gai F4 / 80 + tập

trung ở các không gian quanh mạch trong vùng dưới tế bào tạo

răng và tuỷ trong.264 Tế bào đuôi gai CD11c + thể hiện thụ thể

giống toll 2 và 4 và CD205 dương Tế bào đuôi gai F4 / 80 + có

khả năng di cư Do chúng di chuyển khỏi tuỷ trung tâm, chúng

tăng kích thước và trở thành CD86 dương Mối quan hệ không

gian chặt chẽ giữa các tế bào tạo răng và các tế bào đuôi gai

dưới tổn thương sâu răng đã dẫn đến suy đoán rằng tế bào đuôi

gai có thể đóng một

Trang 8

510 PART I I • THE ADVANCED SCIENCE OF ENDODONTICS

vai trò trong sự phân chia các tế bào tạo răng và / hoặc hoạt động

bài tiết trong việc bảo vệ miễn dịch và quá trình sin ngà Tế bào

Schwann tủy đã được hiển thị để sản xuất phân tử trong phản ứng

với sâu răng, đó là biểu hiện đòi hỏi khả năng biểu hiện kháng

nguyên

Các bằng chứng cho thấy rằng các tế bào tạo răng cũng đóng

một vai trò trong đáp ứng miễn dịch dịch thể với sâu răng

Immuno-globulin (Ig) G, IgM, IgA xuất hiện trong tế bào chất và

quá trình tế bào tạo răng trong ngà sâu của con người, cho thấy

rằng các tế bào chủ động vận chuyển kháng thể đối lại nhiễm

trùng.171 Trong tổn thương mới chớm, các kháng thể tích tụ

trong lớp tế bào tạo răng và với sự tiến triển tổn thương có thể

được nhìn thấy trong các ống ngà Cuối cùng điều này dẫn đến

sự tập trung các kháng thể dưới tổn thương.170

Trong giai đoạn nặng nhất nhất của sâu răng, các đáp ứng

miễn dịch dịch thể được đi kèm với sự tiêu diệt miễn dịch bệnh

lý mô tủy Trong các nghiên cứu động vật ở khỉ tăng miễn dịch

với albumin huyết thanh bò (BSA), có sự gia tăng quan sát trong

việc phá hủy các mô tủy tiếp sau thử thách tấn công kháng

nguyên trên lát cắt ngà tươi.20 Những phát hiện này ủng hộ quan

điểm cho rằng sự hình thành phức hợp kháng nguyên- kháng

thể, ngoài các sản phẩm khác nhau của chuỗi chu trình viêm,

làm phát sinh một phản ứng không đặc hiệu mà,trong khi được

thiết kế để thoát khỏi cơ thể của các mầm bệnh, có tác động phá

hủy các mô nhu mô của cơ thể

CÁC CHẤT TRUNG GIAN THẦN KINH

Các chất trung gian thần kinh có liên quan đến các phản ứng tủy

với các chất kích thích và các thành phần miễn dịch tương tự; họ

có thể làm trung gian bệnh lý cũng như các phản ứng liền

thương (Xem Ref.43) Các kích thích bên ngoài của ngà răng

gây giải phóng peptid thần kinh tiền viêm từ dây thần kinh

hướng tâm tủy.35

Chất P, calcitonin peptide liên quan gen (CGRP), neurokinin A (NKA), nKY, và peptide ruột vận mạch

được giải phóng và ảnh hưởng đến biến cố mạch máu như giãn

mạch và tăng tính thấm thành mạch máu Điều này dẫn đến một

sự gia tăng ròng áp lực mô mà có thể tiến triển đến hoại tử ở cực

và tình trạng dai dẳng Kích thích các dây thần kinh giao cảm

trong đáp ứng với việc giải phóng tại chỗ các chất trung gian

như norepinephrine, neuropeptide Y, và adenosine triphos-phate

(ATP) được chứng minh làm thay đổi lưu lượng máu tủy Cả hai

khu vực nghiên cứu thụ thể và nghiên cứu giải phẫu đã chỉ sản

sinh của sợi hướng tâm để đáp ứng với viêm.35

Peptid thần kinh có thể hành động để điều chỉnh phản ứng

miễn dịch tủy Người ta đã chứng minh rằng chất P đóng vai trò

như một chất hoá ứng động và kích thích cho các đại thực bào và

lympho T Kết quả của sự kích thích này được tăng lên tạo ra các

chất chuyển hóa acid arachidonic, kích thích phân bào lympho,

và sản xuất các cytokine CGRP chứng tỏ hoạt động ức chế

miễn dịch, được chứng minh bằng việc giảm sản xuất H2O2 bởi

các đại thực bào và sự suy giảm của lớp biểu hiện kháng nguyên

II và tăng sinh tế bào lympho

Chất P và CGRP gây phân bào cho tủy và tế bào giống tế

bào tạo răng và từ đó khởi xướng và truyền bá đáp ứng liền

thương tủy.237 CGRP đã được chứng minh kích thích việc sản

xuất protein hình thái xương của tế bào tuỷ người Kết quả của

sự kích thích như đã được mặc nhiên công nhận gây sinh ngà

thứ ba 37

Khi tổn thương mục xương gần với tuỷ, có một đợt cấp tính của các viêm tiền mãn tính Điều này được đặc trưng bởi một dòng bạch cầu trung tính Sự tích tụ của các tế bào viêm rõ nét trước khi sự nhiễm trùng tấn công tới ngà thứ ba.128,129,200

Trong

sự hiện diện của viêm tủy nặng, hình thức vi áp xe tạo trung và cuối cùng kết thành một khối, dẫn đến hoại tử tủy tiến triển (Hình 13-7)

Lộ tuỷ ở các răng sữa và răng vĩnh viễn chưa trưởng thành

có thể dẫn đến một phản ứng tăng sinh, hoặc -viêm tủy răng tăng sản Mô viêm hởi tăng sinh qua các tiếp xúc và tạo thành một polyp tuỷ (Hình 13-8) Nó được coi như là một nguồn cung

Hình 13-7 Lát cắt nhuộ màu hematoxylin và eosin của tuỷ răng,

cho thấy hoại tử tuỷ.

Hình 13-8 Một sự đáp ứng tăng sinh với sâu răng ở một răng trẻ,

điển hình được gọi là viêm tuỷ tăng sinh, viêm tuỷ loạn sản, hay polyp tuỷ (Courtesy Dr Howard Strassler, University of Maryland.)

Trang 9

CH APT ER 13 • Pulpal Reactions to Caries and Dental Procedures 511

cấp giàu máu đi đôi với bạch huyết phong phú và dẫn lưu miệng

cho phép phản ứng tăng sinh này Điều trị ống tuỷ thông thường

hoặc điều trị tủy sống tiến triển được chỉ định

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC TRIỆU

CHỨNG LÂM SÀNG VÀ VIÊM

TỦY HIỆN HỮU

Từ một quan điểm lâm sàng, hữu ích nhất đối với các bác sĩ là ó

thể chẩn đoán trạng tủy từ các triệu chứng trình bày trong hồ sơ

cá nhân của bệnh nhân Nếu các triệu chứng không thể kết luận,

một số xét nghiệm khách quan sẽ hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng

trong việc đạt được một chẩn đoán xác định các bệnh lý tủy

Trong thực tế, kết hợp như vậy các kết quả chủ quan và khách

quan là thường xuyên không đủ trong việc đạt được chẩn đoán

cuối cùng của tình trạng của tủy răng Điều này đặc biệt đúng

trong trường hợp của viêm tuỷ sống, trong đó rất khó cho bác sĩ

lâm sàng để xác định về mặt lâm sàng viêm tuỷ hồi phục hay

không hồi phục

Nhiều bác sĩ lâm sàng dựa trên các triệu chứng đau đớn để

xác định tình trạng của tuỷ Một số nghiên cứu đã xem xét câu

hỏi này ở một số chi tiết Một số nghiên cứu cổ điển được thực

hiện, trong đó, các biểu hiện lâm sàng chủ quan và khách quan

liên quan đến răng sâu đã được ghi lại trước khi nhổ răng và kiểm

tra mô học Giả thuyết cơ bản trong những nghiên cứu này là

các triệu chứng lâm sàng nặng hơn, viêm tủy dữ dội hơn và sự

phá huỷ hiển nhiên trên nghiên cứu mô học Những phát hiện của

các nghiên cứu này tiết lộ rằng trong tuỷ sống, các triệu chứng

lâm sàng thường không tương quan với các biểu hiện mô họ

hình thái.90,150,209 Hơn nữa, lộ tuỷ do sâu răng có liên quan với

phản ứng viêm trầm trọng hoặc hoại tử tuỷ, bất kể triệu chứng

(Hình 13-9) Những thay đổi mô học dao động trong mức độ từ

đang chỉ có tại vị trí lộ tuỷ tới sâu vào các ống tuỷ chân răng.209

Trong một vài nghiên cứu, các triệu chứng kéo dài hoặc triệu

chứng nặng tự phát có liên quan với viêm tủy răng từng phần

hoặc toàn bộ mãn tính- hoặc hoại tử tuỷ.57,209 Tuy nhiên, trong

các nghiên cứu khác, người ta thường thấy những trường hợp có

Hình 13-9 Hình chụp mô học của răng hàm với lộ tuỷ do sâu

răng Vùng lộ được che tuỷ nhưng thất bại, và bệnh nhân có triệu

chứng Hình ảnh cho thấy vùng hoại tử với viêm lan rộng xuyên

qua tuỷ thân (Courtesy Dr Larz Spangberg, University of Connecticut.)

Trang 10

512 PART I I • THE ADVANCED SCIENCE OF ENDODONTICS

bằng chứng mô học của phản ứng viêm nặng, bao gồm hoại tử một phần, nhưng ít hoặc không có triệu chứng lâm sàng, còn gọi là viêm tuỷ không đau.57,90,150,209 Dựa trên những nghiên cứu và nhiều dữ liệu gần đây, người ta báo cáo rằng tỷ lệ của -viêm tủy răng không gây đau và dẫn đến hoại tử tuỷ và viêm nha chu cận chóp mãn tính là khoảng 40% đến 60% của các trường hợp viêm tủy răng.149

Kết quả lâm sàng ất cần thiết để xác định sức sống của tuỷ và liệu tình trạng viêm đã mở rộng vào các mô cận chóp hay chứ Không đáp ứng với test điện nói chung chỉ định rằng tuỷ đã hoại tử.202,209 Thử nghiệm tuỷ với nhiệt có giá trị trong tái tạo một triệu chứng nhạy cảm với nhiệt và cho phép các bác sĩ lâm sàng đánh giá phản ứng của bệnh nhân với một kích thích và thời gian của phản ứng Tuy nhiên, thử nghiệm tuỷ không thể xác định mức độ viêm tuỷ.57,209 Những nghiên cứu cho thấy viêm tủy không hồi phục có thể được chẩn đoán chắc chắn chỉ trong một số trường hợp, ngoài việc đáp ứng các thử nghiệm tuỷ, tuỷ có triệu chứng tự phát nghiêm trọng Tuỷ hoại tử có thể được dự đoán chẩn đoán bằng một đáp ứng âm tính với thử nghiệm tuỷ, cho cả hai thử nhiệm lạnh và điện để tránh đáp ứng sai.190,191

Tuỷ hoại tử có thể được xác nhận bởi một thử nghiệm tạo xoang và / hoặc thiếu xuất huyết tủy khi chuẩn bị

mở đường vào Tuy nhiên, cần lưu ý, các dấu hiệu sau cần được đánh giá một cách thận trọng Thỉnh thoảng, không gian tuỷ rất nhỏ, chẳng hạn như trong các ống tuỷ bị vôi hóa, và xuất huyết sau khi mở đường vào tuỷ có thể không đáng kể về mặt lâm sàng Ngược lại, trường hợp tuỷ hoại tử và nhiễm trùng cấp tính có thể có hệ thống xuất huyết thoát mủ qua không gian tuỷ lớn khi mở đường vào, đặc biệt là sau khi sử dụng dụng cụ sửa soạn ban đầu

Việc thiếu sự tương quan giữa tình trạng mô học của tuỷ

và các triệu chứng lâm sàng có thể được giải thích là do các tiến bộ gần đây trong khoa học về sinh học tuỷ Trong vài thập

kỷ qua, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng rất nhiều trung gian phân

tử có thể giảm ngưỡng đau, thúc đẩy, và / hoặc điều chỉnh các phản ứng viêm trong tủy răng Nếu không có việc sử dụng các

kỹ thuật nhuộm rất chuyên ngành, bản chất và số lượng các chất trung gian viêm không thể được xác định từ phân tích mô học Nhiều trong số các chất trung gian phân tử có xu hướng giảm ngưỡng đau, hoặc trực tiếp bằng cách tác động vào các tế bào thần kinh ngoại vi hoặc thông qua việc thúc đẩy quá trình viêm Vì vậy, một số các trung gian đã được chứng minh là tăng cao trong tuỷ răng được chẩn đoán với viêm tủy đau Các chất trung gian bao gồm prostaglandins47,204; amin hoạt mạch, bradykinin134; yếu tố khối u hoại tử alpha (TNF-α) 123; neuropep-tides như chất P,29 CGRP, và nKA 11; và catecho-lamines.167 Trong thực tế, nó thậm chí còn chỉ ra rằng khi bệnh nhân có viêm tủy răng đau, dịch nưới liên quan đến răng bị ảnh hưởng đã tăng đáng kể peptid thần kinh so với trong răng đối diện. 11

Trong một nghiên cứu khác, các tình nguyện viên được đào tạo có một răng cửa bị kích thích với một ngưỡng tam giá trị không đổi trong 90 giây.10 Điều này dẫn đến một sự gia tăng đáng kể trong chất nền metallo-proteinase cổ răng 8 (MMP8), một trong những collagenases tham gia vào sự phá hủy mô

Người ta cũng xác định rằng các thụ thể opioid ngoại vi hiện diện trong tủy răng,108 và chúng có thể đóng một vai trò giải thích tại sao nhiều trường hợp với viêm tủy răng không hồi phục không có triệu c hứng.Như đã nói trước, răng sâu thường không

Trang 11

CH APT ER 13 • Pulpal Reactions to Caries and Dental Procedures 513

liên quan đến triệu chứng đáng kể Tuy nhiên, chúng vẫn có một

số lượng đáng kể viêm Tủy răng có sâu răng từ nhẹ đến trung

bình tăng peptid thần kinh Y 61 và thụ thể Y1,62

so với răng bình thường Peptid thần kinh Y là một chất dẫn truyền thần

kinh và được cho là hoạt động như một bộ điều biến của viêm

thần kinh Tương tự như vậy, mức peptide vận mạch ruột (VIP),

mặc dù không phải thụ thể của nó vPAC1, dường như tăng lên

trong tuỷ răng có sâu răng trung bình.60

Với những tiến bộ gần đây trong sinh học phân tử, phát hiện

đồng thời hiệu quả của hàng trăm các chất trung gian phân tử và

biểu hiện gen của chúng đã trở thành hiện thực Nghiên cứu hiện

tìm kiếm để kiểm tra gen được thể hiện cụ thể hoặc điều hoà

trong tuỷ để đáp ứng với tổn thương sâu răng Về vấn đề này,

nghiên cứu sơ bộ đã chỉ ra rằng các cytokine khác nhau và các

trung gian gây viêm khác điều hoà bên dưới một tổn thương sâu

răng một cách tương quan với độ sâu của sâu răng.147 Gene đã

được sử dụng trong một số nghiên cứu để có được một bản đồ

chính xác của các ứng cử viên gen cho thấy sự biểu hiện cao trong

tuỷ bị viêm, lớp tế bào tạo răng.148,176,177 Các phương pháp chẩn

đoán tại ghế răng chính xác hơn có tiềm năng khả thi, đặc biệt là

lấy mẫu từ dịch nướu, dịch ngà, hoặc tuỷ trực tiếp Đối với lý do

này, cần nghiên cứu thêm để xác định các chất trung gian quan

trọng có thể dự đoán sự tồn tại hay sự thoái hóa tuỷ trong trường

hợp chẩn đoán khó khăn

NHẠY CẢM NGÀ VÀ CÁCH XỬ LÝ

Quá cảm ngà tượng trưng cho một tình huống đặc biệt, trong đó

vấn đề phát sinh tủy đáng kể, thường là mãn tính, mà dường như

không kết hợp với bệnh lý tủy không hồi phục trong phần lớn

các trường hợp Quá cảm ngà được đặc trưng bởi cơn đau ngắn,

nhói phát sinh từ ngà răng tiếp xúc với kích thích-thường là

nhiệt, bay hơi, xúc giác, thẩm thấu, hoặc hóa chất mà không thể

được gán cho bất kỳ hình thức khác của tổn thương hoặc bệnh

lý nha khoa nào.94 Bề mặt ngoài của chân răng nanh, răng tiền

hàm, răng hàm thường bị ảnh hưởng, đặc biệt là trong mất bám

dính nha chu Quá cảm ngà có thể liên quan đến mài mòn quá

nhiều khi đánh răng, bệnh nha chu, hoặc xói mòn từ acids 2,3,44

chế độ ăn uống hoặc vấn đề dạ dày và có thể được tăng rộng sau

khi khám và đo răng.44,251 Ngà quá nhạy cảm nhất có thể do thiếu

sự bảo vệ của cementum, mất lớp bám, và chuyển động thủy

động lực học của chất lỏng trong ống ngà.4,31

Mức độ viêm trong tuỷ trong trường hợp quá cảm ngà không đặc trưng bởi tình trạng

này thường là không đủ nghiêm trọng để nhổ răng hoặc điều trị

nội nha Tuy nhiên, ngà ống có mặt trong khu vựccủa quá cảm

261

Hình 13-10) và có thể dẫn đến tăng kích thích và viêm khu

trú hồi phục của tuỷ tại các vùng liên quan

Việc áp dụng các chất điều chế thần kinh như kali nitrate 146

hoặc chất chặn ống như strontium clorua, oxalat, hoặc chất dán

ngà (Hình 13-11) 4,184 thường làm giảm bớt tình trạng này, ít

nhất là tạm thời Tuy nhiên, vị trí của các phân tử thụ động hoặc

tinh thể có thể chỉ cung cấp giảm đau tạm thời, do đó có một

nhu cầu cung cấp vật liệu tương hợp sinh học dán vào bề mặt

chân răng và cung cấp giải pháp kéo dài hơn Một trong những

loại vật liệu là một thủy tinh natri canxi phosphosilicate hoạt

tính sinh học,141 đó là phát triển thành một sản phẩm thương mại

(SootheRx, novaMin Technology Inc, Alachua, FL) Một sản phẩm khác sử dụng sự kết hợp của một oxalat canxi và một liên kết axit khắc để bịt các ống ngà (BisBlock, Bisco Inc,Schaumberg, IL) Mối quan tâm đã được nâng lên rằng độ pH axit trong acid etch có thể gây tan rã của các tinh thể oxalat, do đó ảnh hưởng tới hiệu quả của vật liệu.256 Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây cho thấy BisBlock và hai sản phẩm khác (Seal & Protect, DENTSPLY DeTrey GmbH, Konstanz, Germany, và Vivasens, Ivoclar vivadent AG, schaan, Liechtenstein) có hiệu quả trong nhiều tuần sau khi điều trị, so với giả dược.180

Về lâu dài, sự phát triển của lớp cặn, chẳng hạn như từ đánh răng, ngà răng xơ cứng, ngà phản động, và sự tắc nghẽn của ống với đại phân tử lớn nội sinh đều được nghĩ rằng làm giảm vấn đề 183

(minh họa bởi cơ chế của quá cảm ngà hình ảnh động trên Tư vấn các chuyên gia)

PHẢN ỨNG TỦY VỚI GÂY TÊ TẠI CHỖ

Một dòng máu tủy còn nguyên vẹn là rất quan trọng cho việc duy trì sức khỏe của tủy răng Bởi vì tủy răng được đính trong buồng cứng chắc và cung cấp máu bởi vài tiểu động mạch qua lỗ chóp,

nó không thể được hưởng lợi từ lưu thông máu bên cạnh hoặc các thay đổi thể tích có thể bù đắp cho những thay đổi trong dòng máu chảy trong các mô mềm khác Hơn nữa, việc giảm lưu lượng máu có ảnh hưởng trầm trọng trong việc giảm độ thanh thải lớn độc tố hoặc các sản phẩm chất thải có trọng lượng phân

tử,185 gây bệnh lý tủy không hồi phục Chất co mạch được thêm vào thuốc gây tê tại chỗ để tăng cường thời gian gây tê Tuy nhiên, chất co mạch trong thuốc tê tại chỗ có thể tác động tiêu cực tới sức khỏe của tủy nếu chúng làm giảm lưu lượng máu, đặc biệt là nếu tủy bị viêm trước đó Các nghiên cứu trước đây

đã chứng minh rằng chất co mạch trong thuốc gây tê làm giảm chảy máu tủy ở động vật thực nghiệm khi dung bằng cách tiêm thấm và gây tê chặn thần kinh 118 (Hình 13-12), và tác động này nghiêm trọng hơn với phương pháp tiêm dây chằng nha chu 117 (Hình 13-13) Gần đây hơn, các thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hành mà trong đó đối tượng được gây tê tại chỗ khác nhau chứa hoặc không epine-phrine ở nồng độ 1: 100.000, và dòng máu tủy được đo bằng laser Doppler tốc độ dòng chảy kế Trong nhóm đó nhận được epine-phrine, có sự giảm đáng kể một cách nhất quán máu tủy chảy,5,46,160 được đo bằng laser Doppler tốc

độ dòng chảy kế Trong nhóm đó nhận được epine-phrine, có sự giảm đáng kể một cách nhất quán máu tủy chảy.193 Điều thú vị trong một nghiên cứu, việc giảm dòng máu tủy với tiêm thấm epinephrine nhiều hơn sự giảm tưới máu nướu và không trở về giá trị cơ sở sau 1 giờ tiêm.5 Tương tự sự giảm lưu lượng máu trong tủy đã được báo cáo khi tiêm chặn dây thần kinh ống răng dưới bằng lidocaine và 1: 100.000 hoặc 1: 80.000 epinephrine.169 Điều quan trọng cần lưu ý là sự hạn chế của nghiên cứu sử dụng tia laser Doppler đo tốc độ dòng chảy: một tỷ lệ lớn các tín hiệu

đo có thể có được từ các nguồn khác hơn so với tủy răng.192,219 Như vậy việc theo dõi các thay đổi nhỏ trong lưu lượng máu tủy cần được diễn giải một cách thận trọng, đặc biệt nếu đê cao su hoặc một rào cản tương tự đã không được sử dụng.89 Nghiên cứu trên người về hiệu quả của gây tê dây chằng nha chu hoặc tiêm trong xương trên lưu lượng máu tủy không có sẵn, nhưng

từ nghiên cứu động vật, rất có thể những kỹ thuật gây mê phụ gâygiảm nghiêm trọng hơn hoặc thậm chí có sự ngừng thoáng qua của dòng máu tủy Nó cũng chỉ ra rằng tiêm trong xương Depo- Medrol (một corticosteroid) ở những bệnh nhân có triệu chứng viêm tủy răng không hồi phục gây ra sự giảm đáng kể

Trang 12

514 PART I I • THE ADVANCED SCIENCE OF ENDODONTICS

n = 5 Maxillary canine teeth

Hình 13-10 A, Hình ảnh scan hiển vi electron của một bề mặt ngà lộ trên vùng quá cảm Một tỉ lệ lớn các ống ngà (mũi tên) mở rộng được quan sát thấy.

B, Hình ảnh SEM của một ống ngày nứt trên vùng quá cảm Lòng ống ngà được lớt bởi cấu trúc màng (mũi tên).C,Hình ảnh SEM của ngà lộ của một vùng mất cảm giác tự nhiên Lòng ống ngà (mũi tên) hầu hết bị chặn, và bề mặt vô cùng láng. D, Hình ảnh SEM của một ống ngà gãy của vùng mấcatảmia átc

ựnh iên.các tinh thể giống đá 0,1-0,3 um (mũi tên)

có mặt (From Yoshiyama M, Masada J, Uchida A,

characterization of sen- sitive vs insensitive human radicular dentin J Dent Res 68 : 1498, 1989.)

Hình 13-11 Lớp cặn bẩn được xử lý với 30% dipotassium oxalate

trong 2 phút cộng với 3% monopotassium và monohydrogen trong 2 phút Bề mặt ngà hoàn toàn được phủ bởi tinh thể calcium oxalate (*1900) (From Pashley DH, Galloway SE: The effects of oxalate

Trang 13

CH APT ER 13 • Pulpal Reactions to Caries and Dental Procedures 515

treatment on the smear layer of ground surfaces of human dentine

1:100,000 eponephrine) trên dòng máu tủy ở các răng nanh hàm trên của chó Có một sự giảm mạnh dòng máu tủy sớm sau khi tiêm thấm Mũi tên chỉ ra thời điểm tiêm thấm.Cột dọc cho thấy sự lệch tiêu chuẩn (From Kim S, Edwall L, Trowbridge H, Chien S: Effects of local anesthetics on pulpal blood flow in dogs J Dent

Res 63 : 650, 1984.)

Trang 14

516 PART I I • THE ADVANCED SCIENCE OF ENDODONTICS

Canine teeth

Premolar teeth

(mean ± SEM, n = 20) +20

đó, người ta mong muốn nhất thực hiện một thủ tục phục hồi ít chấn thương mà không có khả năng chuyển thành chẩn đoán viêm tủy không hồi phục Như đã thảo luận trước đó, viêm tủy răng không hồi phục có thể biểu hiện lâm sàng với đau sau can thiệp

tự phát nghiêm trọng, nhưng nó cũng có thể không có triệu chứng, dẫn đến sự sụp đổ trong yên tĩnh của tủy Các tác dụng phụ của các thủ tục phục hồi là đặc biệt quan trọng trong các trường hợp ngấp nghé, chẳng hạn như những chiếc răng có triệu chứng nhẹ với sâu răng sâu nhưng không có tiếp xúc với tủy

—100

0 5 10 20 30

Time (min)

60 Hiện vẫn còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đáp ứng của tủy răng

như tích tụ các ảnh hưởng của sâu răng, vi kẽ, thủ tục phục hồi,

và vật liệu chưa được hiểu rõ Nó thường được chấp nhận rằng

Hình 13-13 Tác động của tiêm dây chằng (ví dụ 2% lidocaine

với 1:100,000 epinephrine) trên dòng máu tủy ở răng nanh hàm

dưới và răng hàm nhỏ hàmdưới của chó Tiêm thấm vào rãnh lợi

gần và xa của răng hàm nhỏ Tiêm tê gây ra sự giảm hoàn toàn

dòng máu tủy kéo dài 30 phút ở các răng hàm nhỏ.Mũi tên cho

thấy thời điểm tiêm tê (From Kim S: Ligamental injection: a

physiological explanation of its efficacy J endod 12 : 486, 1986.)

viêm tủy răng không hồi phục gây ra sự giảm đáng kể

prostaglandin e2 trong tủy 1 ngày sau khi thực hiện, chỉ ra rằng

tuyến đường tiêm thấm này gây kết quả đáng kể vào mô tủy.104

Gộp chung lại, những phát hiện này cho rằng gây tê tại chỗ có

thể thỏa hiệp khả năng tủy viêm để phục hồi từ tình trạng viêm,

đặc biệt là nếu nó viêm nặng, nếu răng là đối tượng của phục hồi

rộng lớn, hoặc nếu thuốc gây tê được phân phối thông qua một

dây chằng nha chu hay một tuyến đường trong xương Tuy

nhiên, điều quan trọng là giả thuyết này cần được hỗ trợ hoặc

bác bỏ bằng các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên trong tương

lai

Gây tê trong tủy thường được sử dụng như một phương sách

cuối cùng khi các phương pháp gây tê tủy là không đủ trong

việc điều trị tủy Hiệu quả của gây tê trong tủy ở những trường

hợp này không được công nhận, kể từ khi tủy bị lấy bỏ Tuy

nhiên, đôi khi một thủ tục lấy tủy buồng được thực hiện để duy

trì sức sống tủy, chẳng hạn như ở trẻ em, nơi răng có chóp chưa

trưởng thành Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng gây tê trong tủy có

thể được sử dụng trong những trường hợp này, không có sự

khác biệt về lâm sàng khi theo dõi trên 24 tuần giữa các nhóm

thực hiện hoặc không gây tê trong ống tủy, và khi được thực

hiện, chia ra nhóm chứa hoặc không chứa epine-phrin.233

PHẢN ỨNG TỦY VỚI QUY TRÌNH PHỤC HỒI

Một khối lượng đồ sộ của y văn tồn tại về những tác động của

thủ tục phục hồi trên tủy răng Chủ đề dễ hiểu này quan trọng cho

các nha sĩ thực hành trong nhiều năm Thủ tục phục hồi được thực

hiện chủ yếu để điều trị sâu răng-bệnh nha khoa truyền nhiễm và

chính nó gây kích ứng đáng kể cho tủy răng Chúng cũng có thể

Trang 15

CH APT ER 13 • Pulpal Reactions to Caries and Dental Procedures 517

những ảnh hưởng tổn thương tủy, có thể là từ sâu

răng, thủ tục phục hồi, hoặc chấn thương, được

tích lũy Đó là, với mỗi kích Là một phần trong

bản chấp thuận, các bác sĩ thường phải đối mặt

với nhiệm vụ phác thảo những rủi ro có thể có của

điều trị phục hồi Các câu hỏi về số phận của tủy

bên dưới một đơn vị thân răng kim loại-sứ (MC)

hoặc MC mố cầu là được đặt ra.45 Những bệnh

nhân đã nhận được một trong hai điều trị từ

1981-1989 tại Bệnh viện Nha khoa Hoàng tử Philip tại

Hồng Kông đã được lựa chọn ngẫu nhiên và được

mời tham dự một cuộc hẹn tái khám thực hiện

kiểm tra về lâm sàng và X quang Một trăm hai

mươi hai răng với tủy trước can thiệp còn sống xử

lý với với một đơn vị MC thân răng và 77 xử lý

như mố cầu được kiểm tra Thời gian quan sát

trung bình là 169 tháng đối với loại thứ nhất và

187 tháng cho loại sau Hoại tử tủy đã xảy ra ở

15,6% các răng được điều trị bằng mão một đơn vị

sau 10 năm, trong khi 32,5% tủy trong các nhóm

trụ cầu đã hoại tử Có một tỷ lệ cao hơn đáng kể

của tủy hoại tử ở răng trước đó từng là mố cầu

(54,5% của răng trụ trước được kiểm tra) Nói

chung, tuy nhiên, các bằng chứng sẵn có cho thấy

những ảnh hưởng của thủ tục nha khoa trên tủy

phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ chốt được thảo

luận trong các phần sau

Mức Độ Viêm Tủy Trước Điều Trị

Như đã nêu ở trên, tủy răng bị tổn thương do khả

năng của nó đáp ứng với chất kích thích bên ngoài

bởi vì (1) nó được chứa trong một môi trường

không chuẩn mực, và (2) nó không có đủ tuần

hoàn phụ trợ Do đó, tủy bị viêm càng nặng nề,

càng ít có khả năng đáp ứng với kích thích, chẳng

hạn như trong các hình thức phục hồi.130

Hầu hết các nghiên cứu được thiết kế để đánh

giá những tác động của thủ tục phục hồi (hoặc vật

liệu) vào tủy được tiến hành trên răng người hoặc

động vật thí nghiệm với tủy bình thường Hơn

nữa, rất nhiều dự án nghiên cứu trên động vật khi

động vật đã bị gây tê mà không sử dụng thuốc gây

tê tại chỗ, mà như đã nói trước đây, làm giảm lưu

lượng máu tủy Do đó, kết quả của những nghiên

cứu này có thể không tiết lộ những tác động thực

sự của các thủ tục khi tủy đã bị viêm do các tổn

thương sâu răng

Trang 16

518 PART I I • THE ADVANCED SCIENCE OF ENDODONTICS

và chảy máu tủy được giảm bằng cách tiêm thuốc gây tê cục

bộ Thí nghiệm cổ điển đã ghi nhận rằng mức độ khác nhau của

sự kích thích gây ra mức độ khác nhau của viêm tủy,154 và

nghiêm trọng hơn, viêm có thể mất nhiều thời gian để liền

thương 155 Trong một nghiên cứu đánh giá đáp ứng của tủy với

thủ thuật che tủy như là một chức năng của thời gian lộ tủy, nó

đã chỉ ra rằng tủy đáp ứng tốt với sự lộ tủy lên tới 24 giờ sau khi

lộ, nhưng không thuận lợi sau một thời gian dài tiếp xúc với

môi trường miệngt.52 Có thể cho rằng các giai đoạn tiếp xúc lâu

hơn dẫn đến sự hình thành của một màng sinh học vi khuẩn, khó

khăn cho các phản ứng miễn dịch tủy để loại bỏ Điều này có

liên quan trong trường hợp lộ tủy cơ học vô trùng hoặc răng nơi

tủy bị lộ bởi các chấn thương trong một thời gian ngắn Trong

những trường hợp này, tủy thường đáp ứng tốt với thủ tục điều

trị tủy

X=Degree of pulpal response

6000 or 20,000 rpm

50,000 rpm

R D.=Remaining dentin thickness (MM)

tínhthường không được sử dụng trong việc xác định tác động

của thủ tục nha khoa Các nghiên cứu lâm sàng trước đây cho

thấy một kết quả lâu dài không thuận lợi của các trường hợp che

tủy với lộ tủy do sâu răng,17,95 nhưng nghiên cứu mới trong đó

MTA đã được sử dụng hiển thị kết quả thuận lợi hơn.16,26

Trong trường hợp không có triệu chứng tự phát nặng hoặc lộ

tủy, các bác sĩ lâm sàng hiện không thể xác định chính xác mức

độ của viêm tủy trước khi can thiệp Như vậy, mỗi nỗ lực cần

được thực hiện để giảm thiểu kích thích gia tăng trong thủ tục

phục hồi, bởi vì có thể kích thích là quá mức và có thể chuyển đổi

các tình trạng viêm của tủy từ bình thường trở thành điều kiện

Các kích thích vật lý tủy trong quá trình hồi phục, chẳng hạn

như từ nhiệt, sấy khô hoặc rung động, có thể ảnh hưởng xấu đến

tủy răng

Nhiệt

Các thủ tục phục hồi như chuẩn bị khoang, chuẩn bị cùi răng,

hoặc trùng hợp các loại nhựa trong chế tạo trực tiếp một phục hồi

tạm thời 234 có thể gây ra sự gia tăng đáng kể nhiệt độ trong tủy

Người ta chứng minh bằng cách sử dụng mô hình động vật linh

trưởng trong đó sự tăng nhiệt độ 10 ° C trong tủy gây viêm

không hồi phục ở 15%, và tăng tới mức 20 ° C gây ra sự hình

thành áp xe tủy trong 60% của răng được đánh giá.262 Một số

nghiên cứu cũ khác ghi nhận sự phỏng hoặc viêm nhiễm nặng

trong tủy khi chuẩn bị khoang hay chụp đã được thực hiện mà

không có chất làm nguội (Hình 13-14, 13-15, 13-16) Tuy

nhiên, trong một nghiên cứu, mà ứng dụng điều khiển nhiệt dần

dần trên một diện tích bề mặt nhai lớn của răng người còn

nguyên vẹn không gây tê, thất bại trong việc chứng thực cho

những khám phá trước đó.12 Trong nghiên cứu này, sự gia tăng

nhiệt độ trong tủy khoảng 11 ° C, theo dõi trong 2-3 tháng đánh

giá, không gây ra bất kỳ thay đổi lâm sàng hoặc mô học tủy của

bất kỳ của răng đánh giá nào Sự tăng nhiệt trong tủy răng chuột

đến 42 ° in vitro nâng sốc nhiệt protein-70, được biết đến là sự

bảo vệ mô, và gây ra thay đổi trong phosphatase kiềm và protein

mối nối -đã trở lại bình thường một vài giờ sau đó.7 Ngược lại,

trong một nghiên cứu khác, nhiệt áp dụng ở vùng chuẩn bị

khoang sâu (sửa soạn không xâm lấn trong răng người) gây ra

sự thay đổi mô học phụ thuộc vào mức độ gần nguồn nhiệt của

tủy.168 Phổ biến trong nghiên cứu này sự quan sát mất tế bào tạo

răng hay sự hút của chúng vào ống ngà Trong trường hợp các

Hình 13-14 Với tưới nước và làm lạnh khí thích hợp, cùng một dụng cụ cắt và cùng độ dày ngà còn lại so sánh, mức độ đáp ứng tủy với các kỹ thuật sử dụng tay khoan nhanh (giảm lực) được cho là ít chấn thương hơn kỹ thuật với tốc độ chậm (tăng lực) (From Stanley

HR, Swerdlow H: An approach to biologic variation in human pulpal studies J Prosthet Dent 14 : 365, 1964.)

sàn xoang nhỏ hơn 0,5 mm tính từ tủy, khu vực đông máu hoại

tử có thể nhìn thấy, mặc dù bệnh nhân vẫn không có triệu chứng trong thời gian 1 tháng của nghiên cứu Việc đo nhiệt ủa răng đang được chuẩn bị, trong các khu vực khác vị trí sửa soạn, thỉnh thoảng thấy giảm nhiệt độ,80 có lẽ là do tính dẫn điện kém của ngà răng và tác dụng làm mát không khí nén từ tay khoan tốc độ cao Hơn nữa, sửa soạn xoang và cùi răng bao gồm một số các kích thích khó chịu khác, chẳng hạn như khô, làm ngừng các quá trình tế bào tạo rang, rung động, và tích tụ các chất kích thích vi khuẩn trên bề mặt của men răng Gộp chung với nhau, những phát hiện này gợi ý rằng sự gia tăng thoáng qua của nhiệt

độ đến mức độ có liên quan đến thủ tục nha khoa hiện đại không thể là thủ phạm trong việc gây thay đổi tủy Thay vào đó, việc áp dụng hiệp đồng của nhiệt quá mức với các yếu tố kích thích khác

và gần gũi với tủy có thể gây ra thay đổi bệnh lý

Desiccation

Làm khô trong khoang và chuẩn bị chụp từ lâu đã được biết là gây ra sự hút nhân tế bào tạo răng vào ống ngà và viêm tủy.30 Một nghiên cứu cho thấy rằng khi ít nhất là 30 giây sấy khô liên tục xoang loại V liên tục trên răng hàm người có tủy không viêm gây ra sự dịch chuyển đáng kể của các hạt nhân tế bào tạo răng, viêm tủy răng, và thậm chí các vùng hoại tử liên quan đến các khu vực sấy khô.51Tuy nhiên, một nghiên cứu khác cho thấy

Trang 17

CH APT ER 13 • Pulpal Reactions to Caries and Dental Procedures 519

X=Degree of

pulpal response

X=Burn lesion

R D.=Remaining dentin thickness (MM)

Burn

lesion

X

XX XXX XXX XXXX

2.0 MM 1.5 MM

1.0 MM

trong tủy với sấy khô cũng được quan sát trong một mô hình chuột sử dụng vận chuyển axon protein phóng xạ.36

Chất Kích Thích Sinh Học Và Hóa Học

Sâu răng rõ ràng là một bệnh truyền nhiễm, trong đó các vi sinh vật và các yếu tố độc lực của chúng liên tục kích thích tủy, thậm chí ở giai đoạn đầu rất lâu trước khi làm lộ tủy.33 Tuy nhiên, mặc dù việc loại bỏ sâu răng có thể nhìn thấy trong sửa sọa khoang, sàn khoang chắc chắn bị lấy bỏ chung với các ổ nhiễm

vi khuẩn sâu răng Trong khi các đê cao su nên được sử dụng với bất kỳ thủ tục sửa soạn khoang nào để ngăn khoang bị ô nhiễm bởi vi sinh vật trong nước bọt, việc sử dụng nước như chất làm mát cho phép xoang dễ bị nhiễm vi khuẩn từ dòng nước Những lo ngại về ô nhiễm khoang còn lại nhắc nhở việc sử dụng khử trùng

Hình 13-15 Không có sự làm mát bằng nước phù hợp, các dụng

cụ cắt tạo ra tổn thương cháy trong tủy khi độ dày ngà còn lại ít

hơn 1.5mm (From Stanley HR, Swerdlow H: An approach to

biologic variation in human pulpal studies J Prosthet Dent

14 : 365, 1964.)

bằng hóa chất Hóa chất như hydrogen peroxide, sodium hypochlorite, hoặc canxi hydroxit đã được đề xuất cho mục đích này, mặc dù chúng có thể phát huy một số độc tính.50 Một nghiên cứu trước đó đã cho thấy lượng vi khuẩn còn sót lại sau phục hồi thích hợp là không rõ ràng.151 Khi ngà răng bị lộ, có dòng chảy chất lỏng ngà bên ngoài liên tục giảm thiểu tối đa các dòng chảy vào bên trong của bất kỳ chất độc hại nào.252 Điều này có thể hỗ trợ trong việc giảm kích ứng với các yếu tố của vi khuẩn còn sót lại trong ống ngà

Hình 13-16 Không có sự làm mát bằng nước phù

hợp, các dụng cụ cắt tạo ra tổn thương cháy trong tủy khi độ dày ngà còn lại ít hơn 1.5mm (From Swerdlow H, Stanley HR Jr: Reaction of the human dental pulp to cavity preparation.Effect of water

Trang 18

520 PART I I • THE ADVANCED SCIENCE OF ENDODONTICS spray at 20,000 rpm J Am Dent Assoc 56 : 317,

1958.)

Ngày đăng: 19/07/2022, 22:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w