Nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền,các đoàn thể và toàn dân về vai trò, tầm quan trọng của công tác chăm sóc sứckhỏe nhân dân được nâng lên, nhiều phong trào thực tiễn nhằm tuyên
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người là trung tâm của mọi sự phát triển Con người vừa là mụctiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Là mục tiêu bởi mọi sựphát triển đều vì con người, là động lực vì mọi sự phát triển đều do con ngườitạo ra Đó là cơ sở của quan điểm phát triển nội sinh do con người và vì conngười Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng ta luôn đặt con người ở vị tríhàng đầu Do đó, phát triển con người cả về thể chất và trí tuệ được Đảng vàNhà nước đặc biệt quan tâm Trước tiên, để phát triển con người toàn diện thìcần phải có một sức khỏe tốt, nếu mỗi người không có được một thể lực khỏemạnh thì khó phát huy hết năng lực của mình trong học tập, lao động và côngtác Sức khỏe là vốn quý, sức khỏe là cơ sở quan trọng để mỗi các cá nhân tạo
ra nhiều của cải cho xã hội, thúc đẩy đất nước phát triển Sinh thời, Chủ tịch
Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề chăm sóc sức khỏe cho các tầng lớp nhândân, bản thân Người là một tấm gương trong việc rèn luyện sức khỏe Ngườicho rằng: “Mỗi người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt Mỗi người dân mạnhkhỏe tức là cả nước mạnh khỏe Dân cường thì nước thịnh” [49, tr.160]
Tại hội nghị quốc tế về chăm sóc sức khỏe ban đầu họp tại Alma Ata,Kazakhstan ngày 12/9/1978, Tổ chức y tế thế giới đã định nghĩa ''Sức khoẻ làmột trạng thái thoải mái, đầy đủ về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ khôngchỉ là không có bệnh hay không có tật" [24, tr.13] Như vậy, sức khoẻ phảiđược hiểu theo nghĩa tổng hợp gồm tất cả vấn đề có liên quan đến con người,đến môi trường sống, sức khoẻ của một con người luôn luôn gắn với sức khoẻcủa một cộng đồng xã hội, môi trường mà con người đó sinh sống Sức khỏelại luôn luôn ở trạng thái biến động, vì một mặt sức khoẻ biến động theo thờigian, theo sự cân bằng giữa các yếu tố có lợi và có hại cho sức khoẻ và theokhả năng đối phó của con người đối với các yếu tố sinh học, kinh tế, chính trị,
xã hội luôn luôn tác động đến con người Theo tuyên ngôn Alma-Ata: Chăm
Trang 2sóc sức khoẻ ban đầu là những sự chăm sóc thiết yếu, xây dựng trên những cơ
sở và phương pháp thực hành khoa học và chấp nhận được về mặt xã hội, cóthể phổ biến rộng rãi cho tất cả các cá nhân và các gia đình trong cộng đồngcùng tham gia đầy đủ, với một giá thành mà cộng đồng và nước đó có thểchấp nhận được ở mọi giai đoạn phát triển và theo một tinh thần tự nguyện, tựgiác Chăm sóc sức khỏe ban đầu là tuyến đầu tiên tiếp xúc của hệ thống y tếquốc gia với cá nhân, gia đình và cộng đồng đem dịch vụ y tế gần nhất đếnnhững nơi con người sống và làm việc Chăm sóc sức khoẻ ban đầu là một bộphận cấu thành bản lề và trung tâm của hệ thống y tế quốc gia Như vậy,chăm sóc sức khoẻ cộng đồng là chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở cơ sở nhằmgiải quyết các vấn đề sức khoẻ chính của cộng đồng, theo chủ trương "củacộng đồng, do cộng đồng, vì cộng đồng" [16, tr.19]
Xã hội càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người dâncàng được nâng lên thì vấn đề chăm sóc sức khỏe ngày càng trở thành mốiquan tâm hàng đầu của mỗi cá nhân, gia đình và của toàn xã hội Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) chỉ rõ: “Sự cường tráng về thểchất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo ra tài sảntrí tuệ và vật chất cho xã hội Chăm lo cho con người về thể chất là tráchnhiệm của toàn xã hội” [37, tr.30]
Tiếp tục thực hiện chủ trương bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân(CSSKND), tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) Đảng xácđịnh: Thực hiện đồng bộ chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhândân, nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và pháttriển giống nòi Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế, đặc biệt là mạnglưới y tế cơ sở Xây dựng một số Trung tâm Y tế chuyên sâu Đẩy mạnhsản xuất dược phẩm, bảo đảm các loại thuốc thiết yếu đến mọi địa bàn dân
cư Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe; đổi mới cơ chế
và chính sách viện phí; có chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người
Trang 3nghèo, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân Nhà nước ban hành chính sách quốcgia về y học cổ truyền Kết hợp chặt chẽ y học hiện đại với y học cổ truyền
từ khâu đào tạo đến khâu khám và điều trị [38, tr.107]
Phát triển thêm một bước quan điểm về công tác chăm sóc sức khỏenhân dân, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006) chỉ rõ: Pháttriển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tếtoàn dân Phát triển hệ thống y tế công bằng và hiệu quả, bảo đảm mọi ngườidân được chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư đểnâng cấp các cơ sở y tế, y tế dự phòng, xây dựng và hoàn thiện chính sách trợcấp và bảo hiểm y tế cho người hưởng chính sách xã hội và người nghèotrong khám, chữa bệnh Phát triển các dịch vụ y tế công nghệ cao và ngoàicông lập
Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế Có chiếnlược, quy hoạch và cơ chế, chính sách hợp lý để phát triển hệ thống sản xuất,lưu thông, phân phối thuốc chữa bệnh; phát triển mạnh các ngành côngnghiệp dược, thiết bị y tế đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Kết hợp yhọc hiện đại với y học cổ truyền
Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ, tầm vóc con ngườiViệt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi [40, tr.101-102]
Đặc biệt, ngày 23 - 2- 2005, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghịquyết số 46-NQ/TW về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhândân trong tình hình mới Nghị quyết nêu rõ: Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗicon người và của toàn xã hội Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhândân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầucủa Đảng và Nhà nước Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư phát triển, thể hiệnbản chất tốt đẹp của chế độ [49, tr.1]
Trang 4Thực hiện chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước, trongnhững năm (2000 - 2010) công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ở nước ta
đã đạt được kết quả quan trọng Tuổi thọ của người dân ngày một tăng, hệthống cơ sở khám chữa bệnh từ tuyến cơ sở đến tuyến Trung ương được nângcấp và đầu tư xây dựng mới Nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền,các đoàn thể và toàn dân về vai trò, tầm quan trọng của công tác chăm sóc sứckhỏe nhân dân được nâng lên, nhiều phong trào thực tiễn nhằm tuyên truyền,giáo dục toàn dân nâng cao thể lực, giữ gìn vệ sinh môi trường sống đượcphát động, bước đầu được kết quả tốt Bên cạnh kết quả đạt được, trong tìnhhình hiện nay, sự nghiệp y tế, chăm sóc sức khỏe cho người dân vẫn cònnhiều yếu kém và bất cập: tình trạng quá tải trong điều trị bệnh của các cơ sởkhám chữa bệnh ở tuyến Trung ương; cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế củamạng lưới y tế cơ sở còn nhiều thiếu thốn; vấn đề xuống cấp về y đức của một
bộ phận không nhỏ cán bộ y tế; sự buông lỏng quản lý đối với thị trườngthuốc tân dược
Hà Giang là một tỉnh miền núi thuộc điểm cực Bắc của Tổ quốc Thựchiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh HàGiang đã nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu về phát triển kinh tế, vănhóa, xã hội, quốc phòng, an ninh Đời sống vật chất và tinh thần của các tầnglớp nhân dân không ngừng được cải thiện Công tác chăm sóc sức khỏe nhândân được các cấp ủy đảng, chính quyền đặc biệt quan tâm Nhờ vậy, mạnglưới y tế từ tuyến cơ sở đến tuyến tỉnh không ngừng được mở rộng, chấtlượng khám chữa bệnh được nâng lên; sức khỏe thể lực của các tầng lớp nhândân được nâng lên một bước, góp phần quan trọng vào quá trình phát triểnkinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, so với yêu cầu của thực tiễn, sựnghiệp y tế nói chung, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân ở tỉnh Hà Giangcòn nhiều hạn chế về quy mô các bệnh viện, chất lượng và đội ngũ cán bộ y,bác sĩ Thực tế đó đòi hỏi phải nhận thức đúng và tổ chức chỉ đạo thực hiện
Trang 5có hiệu quả hơn nữa chủ trương của Đảng về công tác y tế, CSSKND, vậndụng phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương Với ý nghĩa ấy, việcnghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác chăm sóc sứckhỏe nhân dân từ năm 2000 đến năm 2010 nhằm đánh giá đúng những thànhtựu và hạn chế, đồng thời đúc rút ra những kinh nghiệm làm cơ sở cho việclãnh đạo, chỉ đạo phát triển sự nghiệp y tế nói chung, CSSKND của tỉnh trong
những năm tiếp theo là một việc cần thiết Do đó, tôi chọn vấn đề: “Đảng bộ
tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân từ năm
2000 đến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phát triển sự nghiệp y tế nói chung, chăm sóc sức khỏe nhân dân đượcĐảng xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp đổimới hiện nay Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị vềvấn đề này Đã có nhiều công trình khoa học, các tổ chức và cá nhânnghiên cứu về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân như:
Nhóm các tổ chức quốc tế và các nhà nghiên cứu nước ngoài nghiên cứu về y học bao gồm các tổ chức:
Tổ chức UNICEF: Giám sát đánh giá hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, xuất bản năm 2010 đã đề cập
đến các kỹ năng chăm sóc sức khỏe, trẻ em, trong đó nhấn mạnh những kỹnăng để phát triển các thói quen và các chuẩn mực tăng cường sức khỏe;
Những điều cần cho cuộc sống, do tổ chức UNICEF xuất bản lần thứ 3 năm
2002 Cuốn sách chỉ rõ vấn đề sức khỏe là tài sản quý giá của mỗi người vàcủa quốc gia Có nhiều nhân tố liên quan mật thiết với nhau tác động ảnhhưởng đến sức khỏe con người Mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng và quốcgia ngày càng có vai trò quan trọng trong việc cùng tham gia vào công tácchăm sóc và nâng cao sức khỏe Hành động vì sức khỏe có thể bắt đầu từ
Trang 6những ngày tháng đầu tiên của cuộc sống và có tác động ảnh hưởng đếnsuốt cả cuộc đời.
Tập tài liệu giáo dục sức khỏe, của Tổ chức Y tế thế giới xuất bản năm
2006 đã cho rằng: chăm sóc sức khỏe ban đầu đòi hỏi các nhân viên y tế phải
có quan niệm về một cách nhìn mới, không những phải quan tâm đến việc dựphòng, khống chế bệnh, mà còn phải quan tâm đến việc nâng cao và chăm sócsức khỏe mọi người Các công nghệ về y tế của chúng ta phải dựa trên những
gì mà chính người dạy muốn và cần nó Nói cách khác, nhân viên y tế trướchết cần học và trên tất cả phải hành động như một người “tạo thuận lợi” chocác hoạt động của cá nhân, gia đình và cộng đồng
EWLES và SIMNETT với cuốn sách, Nâng cao sức khỏe, nhà xuất bản Y
học, Hà Nội, xuất bản năm 1998 Hai tác giả cho rằng: theo công chúng một conngười khỏe mạnh chỉ là con người không ốm đau Sức khỏe là điều tất nhiên chỉđược coi như ốm đau hay có vấn đề về sức khỏe can thiệp đến cuộc sống của conngười Các tác giả cho rằng “Anh thường không nghĩ tới sức khỏe của anh cho tớikhi anh không còn khỏe”
Nhóm những công trình, bài viết khoa học của tập thể và cá nhân đã công bố liên quan tiêu biểu:
Cuốn sách Cần làm gì để sống khỏe mạnh của Bộ Y tế, xuất bản năm
1996 Cuốn sách đã bàn đến sự hiểu biết dân gian về bệnh tật, phòng bệnh vàđiều trị cũng có thể là thế mạnh trong việc định hướng quan điểm về sức khỏecủa nhân dân
Cuốn Thực hành truyền thông giáo dục sức khỏe về chăm sóc sức khỏe
bà mẹ và trẻ em tại cộng đồng do Bộ Y tế, xuất bản năm 2000 Cuốn sách cho
rằng chăm sóc tốt trẻ em, các bậc cha mẹ sẽ rất có lợi: khi bọn trẻ khỏe mạnhlớn lên, chúng có thể chăm nom cha mẹ lúc về già
Cuốn sách Nghiên cứu hệ thống Y tế phương pháp nghiên cứu Y học
của tập thể tác giả GS Phạm Song, GS Đào Ngọc Phong, Ths Ngô Văn
Trang 7Toàn, nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2001 Các tác giả cho rằng: nghiên cứu hệthống y tế không chỉ là nghiên cứu hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe mànghiên cứu hệ thống y tế theo tổ chức Y tế thế giới có một phạm vi rất rộng.Tất cả những nghiên cứu không thuộc phạm vi nghiên cứu cơ bản như pháthiện ra những bệnh mới, những loại vắcxin mới, các loại vi sinh vật mới hoặccác men, các chất mới trong cơ thể đều được coi như là nghiên cứu hệ thống
y tế Đây còn là vấn đề mà nhiều nhà khoa học thường cho rằng nghiên cứu
hệ thống y tế chỉ là nghiên cứu hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe, là côngviệc của các nhà tổ chức y tế
Cuốn Tâm lý học Y học của tác giả Nguyễn Văn Nhận, nhà xuất bản
Y học, Hà Nội, 2001 Tác giả viết: từ xa xưa người ta đã quan tâm đến vấn
đề tâm lý người bệnh và tâm lý người thầy thuốc Những năm gần đây, nhờ
sự phát triển của tâm lý học và y học hiện đại mà nhiều ngành khoa họcmới đã ra đời để nghiên cứu sâu thêm vấn đề này trong số những khoa học
đó có tâm lý y học
Cuốn Y học cổ truyền phục vụ y tế cộng đồng của các tác giả GS Trần
Thúy, TS Đỗ Thị Phương, Ths Trần Quốc Hùng, nhà xuất bản Y học, HàNội 2002 Các tác giả chỉ ra rằng: nền y học cổ truyền dân tộc gồm nhữngkiến thức tư duy tổng hợp và nhiều kinh nghiệm phòng chữa bệnh của chaông ta với nguồn dược liệu phong phú và phương pháp không dùng thuốc dàydạn kết hợp với những kinh nghiệm chữa bệnh của nền y học cổ truyền củanhân dân các nước (Campuchia, Lào, Trung Quốc ) được áp dụng sáng tạovào các điều kiện sức khỏe bệnh tật của nhân dân ta
Cuốn sách Đáp ứng Y tế khẩn cấp trong thảm họa thiên tai của GS,
TSKH Lê Thế Trung, nhà xuất bản Y học, Hà Nội 2003 Tác giả đề cập đếnviệc xây dựng mạng lưới y tế thường xuyên đáp ứng yêu cầu nếu có thảm họaxảy ra Theo dõi, giám sát, dự báo, triển khai tổ chức, huy động lực lượng, tổchức cứu nạn cứu trợ, phân loại chọn lọc, xử trí khẩn cấp nguy kịch chuyển
Trang 8thương, chi viện, phòng chống dịch bệnh thực hiện chính sách xã hội, huy độngviện trợ và sử dụng phân phối viện trợ đến tận đối tượng bị nạn.
Bộ Y tế với cuốn sách Các chính sách và giải pháp thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu, xuất bản năm 2002 Cuốn sách đề cập đến những quan điểm
chỉ đạo cơ bản xuyên suốt quá trình phát triển của nền y tế Việt Nam
Cuốn sách các kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe, do Bộ Y tế
-Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe xuất bản năm 2007 Cuốn sách đãchỉ rõ những kỹ năng giúp cho cán bộ y tế trong việc tuyên truyền giáo dụcsức khỏe
Tác giả GS, TSKH Phạm Mạnh Hùng có bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
chăm sóc sức khỏe nhân dân” đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 6 -
3-2012 Tác giả đã đề cập những luận điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề chăm sóc sức khỏe nhân dân; mối quan hệ giữa y lý, y thuật và y
đạo trong tư tưởng của Người; vị trí của công tác CSSKND; mối quan hệ giữa
cá nhân và cộng đồng trong việc chăm sóc sức khỏe
Nhóm những công trình khoa học, bài viết về chăm sóc sức khỏe tỉnh
dục sức khỏe của nhân viên y tế thôn bản về công tác vệ sinh môi trường,công tác trồng và sử dụng cây thuốc nam, công tác sơ cấp cứu ban đầu
Trịnh Thúy Nga, Kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh trung học cơ sở người Mông huyện Đồng Văn - Hà Giang, luận án chuyên khoa cấp II Tác giả đề cập đến các yếu tố liên quan đến
Trang 9hành vi sức khỏe sinh sản của vị thành niên và các phong tục tập quán của ngườiMông có liên quan đến sức khỏe sinh sản.
Tổng hợp các công trình đã công bố nói trên cho thấy: Phần lớn các
công trình nghiên cứu đường lối, chính sách CSSKND hoặc đã đề cập đếnmột khía cạnh nào đó trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu của nhândân Qua nghiên cứu, cho thấy, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứumột cách có hệ thống về quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Giang trongcông tác chăm sóc sức khỏe nhân dân
Những kết quả nghiên cứu trên có giá trị tham khảo tốt và là nguồn tàiliệu tham khảo quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài luận văn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Đánh giá những kết quả và hạn chế, từ đó đúc rút những kinh nghiệmtrong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Giang đối với công tác chăm sócsức khỏe nhân dân trong thời gian tiếp theo
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng
Trang 10Luận văn nghiên cứu về quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Giang lãnh đạo sựnghiệp phát triển y tế, trọng tâm là công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân từnăm 2000 đến năm 2010.
4.2 Phạm vi
- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình lãnh đạo, chỉ
đạo thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng bộ tỉnh HàGiang từ năm 2000 đến năm 2010
- Không gian: trên địa bàn tỉnh Hà Giang
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, đường lối củaĐảng, Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang về chăm sóc sức khỏenhân dân
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủyếu; đồng thời kết hợp phương pháp khác như: phân tích, so sánh, thống kê,tổng hợp để hoàn thành luận văn
5.3 Nguồn tư liệu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở tham khảo, sử dụng các nguồn tưliệu chủ yếu sau:
- Các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI của Đảng,các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Bộ Chính trị về lĩnh vực y tế, chăm sócsức khỏe nhân dân
- Các chỉ thị, nghị quyết, nghị định của Chính phủ về lĩnh vực y tế, CSSKND
- Các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang; các nghị quyết, chỉ thịcủa Tỉnh ủy Hà Giang về phát triển sự nghiệp y tế; các văn bản của Hội đồngnhân dân, Ủy ban nhân dân, Sở Y tế Hà Giang; sách chuyên khảo có liên quanđến đề tài luận văn
Trang 116 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ và cung cấp thêm những luận cứ quantrọng trong việc thực hiện chủ trương CSSKND ở tỉnh Hà Giang, qua đó gópphần khẳng định tính đúng đắn của đường lối, chủ trương CSSKND của Đảng
và Nhà nước trong tình hình hiện nay
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệutham khảo trong việc nghiên cứu và tuyên truyền giáo dục chăm sóc sức khỏeban đầu của nhân dân trong toàn tỉnh
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Nghiên cứu vấn đề chăm sóc sức khỏe nhân dân ở tỉnh Hà Giang có ýnghĩa hết sức sâu sắc trong giai đoạn hiện nay Qua việc thực hiện đề tài này
sẽ cho chúng ta cái nhìn toàn diện, tổng thể về thực trạng công tác chăm sócsức khỏe nhân dân cả nước nói chung, tỉnh Hà Giang nói riêng Từ đó rút ranhững kinh nghiệm, đề ra nhiệm vụ và giải pháp nhằm nâng cao việc thựchiện chăm sóc sức khỏe nhân dân ở tỉnh Hà Giang trong thời gian tới
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung luận văn được chia làm 3 chương, 7 tiết
Trang 12Chương 1 QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC CHĂM SÓC SỨC KHỎE NHÂN DÂN CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ GIANG
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005
1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC CHĂM SÓC SỨC KHỎE NHÂN DÂN CỦA TỈNH HÀ GIANG TRƯỚC NĂM 2000
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến việc thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân
- Về vị trí địa lý:
Hà Giang là tỉnh miền núi cao nằm ở cực Bắc Tổ quốc, phía Bắc giápcác tỉnh Vân Nam và Quảng Tây - Trung Quốc, phía Nam giáp tỉnh TuyênQuang, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và LàoCai Diện tích tự nhiên là 7.884,37 km² Về tổ chức hành chính, hiện nay tỉnh
Hà Giang có 1 thành phố tỉnh lỵ (Hà Giang) và 10 huyện với 195 xã, phường,thị trấn [78, tr.26]
- Về điều kiện tự nhiên:
Hà Giang với dải núi cao Tây Côn Lĩnh và cao nguyên Đồng Văn đãtạo nên địa hình cao dần về phía Tây Bắc, thấp dần về phía Đông Nam Địahình chia cắt thành các tiểu vùng mang đặc điểm khác nhau về độ cao, thờitiết khí hậu Có thể chia thành 3 vùng lớn:
Vùng I là vùng cao núi đá gồm các huyện: Mèo Vạc, Đồng Văn, YênMinh, Quản Bạ và một số xã phía bắc huyện Vị Xuyên Độ cao trung bình từ1.000 - 1.600 m, gồm nhiều khu vực núi đá vôi nằm sát với chí tuyến bắc có
độ dốc khá lớn, thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều Vùng này có vùngtrũng Yên Minh, chủ yếu là đồi núi thấp có độ cao trung bình 500 - 700 m
Vùng II là vùng cao núi đất phía tây thuộc khối núi thượng nguồn sôngChảy, gồm các huyện: Xín Mần, Hoàng Su Phì, và một số xã của huyện Vị
Trang 13Xuyên và Bắc Quang, thuộc dãy Tây Côn Lĩnh Độ cao trung bình của vùng
từ 900 - 1.000 m, sườn núi dốc, đèo cao, thung lũng và sông suối hẹp
Vùng III là vùng núi thấp, vùng đồi núi, thung lũng sông Lô gồm thànhphố Hà Giang, huyện Bắc Mê và một số xã của huyện Vị Xuyên và huyệnBắc Quang Độ cao trung bình từ 50 - 100 m Địa hình ở đây là đồi núi thấp,thung lũng sông Lô càng xuống phía Nam càng được mở rộng
Hà Giang mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởngcủa khí hậu lục địa Bắc Á Trung Hoa, có hai mùa rõ rệt, mùa hè nóng ẩm,mưa nhiều và mùa đông lạnh, khô hạn Tuy nhiên, do địa hình chia cắt thành
3 vùng nên khí hậu Hà Giang cũng hình thành 3 tiểu vùng khí hậu Vùng caonúi đá và vùng cao núi đất mang nhiều sắc thái của khí hậu ôn đới [78, tr.28]
- Về đặc điểm văn hóa, dân cư, dân tộc:
Với 23 tộc người cư trú, có những dân tộc ít người chỉ ở Hà Giang mới
có hoặc có nhiều hơn các tỉnh khác như dân tộc Pà Thẻn, Lô Lô, La Chí, PuPéo, Bố Y, Phù Lá các dân tộc đều có nét văn hoá truyền thống hết sức độcđáo, vừa có bản sắc riêng nhưng lại có cái chung của cộng đồng các dân tộc
Hà Giang là mảnh đất có truyền thống văn hoá lâu đời, nơi giao thoa và cũng
là nơi hội tụ, kết tinh bản sắc văn hoá của các dân tộc tạo nên sắc thái văn hoáriêng của Hà Giang - một bộ phận cấu thành bản sắc văn hoá Việt Nam đadạng mà thống nhất Qua các cứ liệu khảo cổ học, các nhà khoa học đã xácđịnh Hà Giang là một trong những địa điểm lưu giữ những dấu vết văn hoáthời tiền sử Cho đến nay, trên địa bàn tỉnh Hà Giang đã phát hiện 5 di chỉ códấu vết của người nguyên thuỷ thuộc thời đại Đá cũ, đó là các địa điểm: ĐồiThông, Lò Gạch II (thành phố Hà Giang), Cán Tỷ (Quản Bạ), Bó Khiếu vàPhó Bảng (Đồng Văn) Đặc biệt tại Hà Giang đã phát hiện 2 di tích hang động
là nơi cư trú của người Việt cổ, phát hiện răng của người vượn ở Đán Cúm và
Nà Chảo (huyện Bắc Mê) Trên những nét cơ bản của các di chỉ này có thểkhẳng định nơi đây chính là những điểm cư trú của người xưa Những cư dân
Trang 14cổ xưa ấy đã cư trú cả trên 2 loại địa hình khác nhau, điều kiện khác nhau: địahình đồi gò, thềm sông, ngoài trời và địa hình núi đá vôi, hang động, mái đá
Hà Giang được thiên nhiên ưu đãi với nền văn hoá lâu đời thuộc niênđại đồ đồng Đông Sơn, có các di tích người tiền sử ở Bắc Mê, Mèo Vạc Đâycũng là tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thuộc vùng Đông Bắc sinh sống, cónhiều phong tục tập quán, văn hoá truyền thống và những lễ hội rất sinhđộng cho phép Hà Giang trở thành nơi hấp dẫn du khách đến tham quan.Bên cạnh đó, Hà Giang có cảnh quan môi trường độc đáo của một tỉnh miềnnúi với những dãy núi cao đá tai mèo ở phía Bắc và những cánh rừng bạtngàn ở phía Nam Mạng lưới sông suối luồn lách qua những đồi núi thấphình thành những hồ lớn vào mùa mưa tạo ra những điểm du lịch hấp dẫnnhư hồ Noong Do có nhiều núi đá vôi, nên ở đây có nhiều suối nước nóng
là những địa điểm lý tưởng cho khách du lịch đến tham quan Hà Giang cónhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh mà ít nơi có được như Suối tiên,Cổng trời, thác nước Quảng Ngần, khu Nậm má, khu Chum vàng, Chum bạc
và di tích nhà họ Vương…[79, tr.64-65]
- Về kinh tế - xã hội:
Thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, cùng với sự đổi mới của đấtnước, nền kinh tế của tỉnh Hà Giang đã đạt kết quả quan trọng Kinh tế tăngtrưởng với tốc độ cao Trong 5 năm (2005 - 2010), tốc độ tăng trưởng (GDP)bình quân đạt 12,7% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, đếnnăm 2010, dịch vụ chiếm 39%; công nghiệp - xây dựng 29%; nông lâmnghiệp 32% Tiềm năng, lợi thế của từng vùng được khai thác hiệu quả, từngbước gắn kết được sản xuất với chế biến, xây dựng thương hiệu sản phẩm vàthị trường tiêu thụ [79, tr.66]
Sản xuất công nghiệp bước đầu đã phát huy được một số tiềm năng Nhiều
dự án thủy điện đã hoàn thành và phát điện lên lưới điện quốc gia như: thủy điệnNho Quế 3; thủy điện Sông Chảy 5; thủy điện Sông Miện…
Trang 15Cùng với công nghiệp, sản xuất nông nghiệp ở Hà Giang cũng cóchuyển biến Tính đến năm 2010, tổng diện tích gieo trồng đạt 169.023,5 ha,tổng sản lượng lương thực đạt 386,02 nghìn tấn Chăn nuôi là một trongnhững ngành sản xuất chính trong nông nghiệp, đàn gia súc, gia cầm pháttriển Việc quản lý con giống để nâng cao chất lượng và cải tạo cơ cấu đàn giasúc, gia cầm được chú trọng [79, tr.75]
Lĩnh vực tài chính, thương mại - dịch vụ được đầu tư phát triển Cácchợ biên giới từng bước được đầu tư xây dựng, do đó việc trao đổi hàng hóacủa dân cư vùng biên được thuận lợi hơn Tỉnh Hà Giang đã quan tâm chỉ đạothực hiện chính sách khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, hàng hóa xuất nhậpkhẩu qua các cửa khẩu đều tăng qua các năm
Tài chính - tín dụng đã có bước chuyển biến mạnh mẽ, đảm bảo huyđộng các nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và giải quyết tốt cácvấn đề an sinh xã hội
Văn hóa - xã hội có bước phát triển Hệ thống văn hóa thông tin ngàycàng được đầu tư phát triển Đã có 11/11 huyện, thành phố của tỉnh có trạmthu phát lại truyền hình và đài truyền thanh FM Tỷ lệ phủ sóng phát thanh đạt98%, truyền hình đạt 92%, tỷ lệ được xem truyền hình đạt 84%, tỷ lệ số hộ có
ti vi đạt 62% [79, tr.93]
Sự nghiệp giáo dục đạt kết quả đáng kể Năm 2010, Hà Giang đãhoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học Công tác xây dựng trường chuẩnquốc gia được quan tâm chỉ đạo Toàn tỉnh có 78 trường đạt chuẩn quốc gia(trong đó: mầm non 26 trường, tiểu học 33 trường, trung học cơ sở 19trường) [79, tr.97]
Cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng, 100% số xã có đường nhựa hoặcđường bê tông đến trung tâm, trụ sở xã và trạm xá xã Nhiều nơi đã xây dựngnhiều bể treo chứa nước và bể nước gia đình phục vụ sinh hoạt cho đồng bào
ở các huyện vùng cao
Trang 16Tỷ lệ hộ đói nghèo trong toàn tỉnh giảm rõ rệt: nếu năm 1996, tỷ lệ số
hộ nghèo đói chiếm 35%, năm 2000, giảm xuống còn 30% và đến năm 2011còn 27,3% [79, tr.102]
Đó là những yếu tố thuận lợi góp phần vào những thành tựu to lớn vềmọi mặt của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang
1.1.2 Tình hình thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng bộ Hà Giang trước năm 2000
Thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, trong lĩnh vực y tế, CSSNNDcủa tỉnh Hà Giang bước đầu đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Vớiphương châm “đưa giường bệnh xuống cơ sở”, Tỉnh ủy chỉ đạo ngành Y tế HàGiang thực hiện tốt hơn việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của nhân dân Tỉnh chỉđạo ngành Y tế tổ chức sản xuất thuốc và mở rộng mạng lưới bán thuốc chữabệnh tại địa phương; đồng thời tích cực thực hiện tốt công tác y tế dự phòng.Đến tháng 10/1990, toàn tỉnh có 71,5% số trẻ nhỏ trong độ tuổi được tiêm phòng
đủ 6 loại vắcxin phòng bệnh; đã tổ chức phun thuốc DDT phòng chống sốt rét ở
16 huyện, thị, điều trị sốt rét cho 3.973 người [78, tr.226]
Cùng với việc CSSKND, ngành Y tế Hà Giang cũng thực hiện tốtchương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình
Ngày 12/8/1991, tỉnh Hà Giang được tái lập sau 15 năm hợp nhất vớitỉnh Tuyên Quang thành tỉnh Hà Tuyên từ năm 1976 đến năm 1991 Sau khitái lập, Tỉnh ủy quan tâm chỉ đạo đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bịphục vụ tốt hơn nữa việc CSSKND Mạng lưới y tế từ tỉnh đến xã được củng
cố một bước, các cơ sở khám chữa bệnh từ bệnh viện tỉnh đến huyện đượcxây dựng và trang cấp các trang thiết bị y tế
Từ năm 1996 đến năm 2000, hệ thống tổ chức y tế của tỉnh Hà Giang
đã cơ bản được kiện toàn từ tỉnh đến thôn bản Toàn tỉnh có 10 trung tâm y
tế huyện, thị xã, 9 bệnh viện huyện, 1 bệnh viện tỉnh, 21 phòng khám đakhoa khu vực, 171 trạm y tế xã Đội ngũ cán bộ - công chức y tế là 1.600
Trang 17người trong đó có 227 bác sĩ Các trạm y tế xã đều có nữ hộ sinh trung cấphoặc y sĩ sản nhi, 100% thôn bản có nhân viên y tế cộng đồng, 17 trạm y tế
xã có bác sĩ
Mạng lưới khám chữa bệnh được triển khai ở cả ba tuyến (tỉnh, huyện,xã) với 199 cơ sở, bao gồm 1.761 giường bệnh Ngoài ra, tỉnh còn có 70 cơ sởhành nghề y dược tư nhân, 17 cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền, 24nhà thuốc
Ngành Y tế đã tổ chức được các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên mônnghiệp vụ cho cán bộ ở 130 xã và 20 phòng khám bệnh Triển khai thực hiện
10 nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân và các chương trình y
tế quốc gia Hơn 90% trẻ em trong độ tuổi được tiêm chủng Các dịch bệnhsốt rét, bướu cổ được khống chế Dịch não mô cầu xảy ra tại 11/16 xã củahuyện Mèo Vạc được dập tắt kịp thời [78, tr.383]
Cán bộ ngành Y tế chủ động kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyềndân tộc để khám và chữa bệnh, tuyên truyền vệ sinh ăn, ở, phòng bệnh trongnhân dân Từ năm 1996 đến năm 2000, hệ thống tổ chức y tế của tỉnh HàGiang đã cơ bản được kiện toàn từ tỉnh đến thôn bản
Để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, các cơ sở y tế từ tuyến tỉnhđến các trung tâm y tế huyện, thị xã được xây dựng khang trang, sạch đẹp.Các bệnh viện tỉnh, huyện đều được trang bị dụng, các thiết bị y tế kỹ thuậtcao như máy chụp chiếu X-Quang, máy siêu âm, điện tim, điện não đồ
Lĩnh vực bảo hiểm y tế hoạt động ngày càng có hiệu quả Việc khaithác, phát hành thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT) đã hỗ trợ được một phần kinh phícho hoạt động khám chữa bệnh của nhân dân
Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình được đặc biệt quan tâm Hoạt
động của mạng lưới dịch vụ kế hoạch hóa gia đình ngày càng phát triển Đến
cuối năm 1995, tỉnh Hà Giang đã có 100% số xã, phường có Ban chỉ đạo thựchiện công tác dân số kế hoạch hóa gia đình Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ
Trang 18tuổi sinh đẻ thực hiện kế hoạch hóa gia đình ngày càng tăng, góp phần hạ tỷ lệtăng dân số từ 2,5% (1995) xuống còn 1,92% (2000) [78, tr.384].
Cùng với những kết quả đạt được, công tác CSSKND của Đảng bộ HàGiang trước năm 2000 vẫn còn một số hạn chế, yếu kém
Công tác phòng, chống dịch bệnh chưa đáp ứng được yêu cầu, do nhậnthức của đồng bào còn hạn chế bởi phong tục, tập quán lạc hậu Đội ngũ làmcông tác y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu còn mỏng, vẫn tậptrung ưu tiên cho dự phòng bệnh truyền nhiễm và dịch bệnh nguy hiểm, chưachú trọng nhiều đến việc dự phòng các bệnh không lây nhiễm
Hà Giang là một tỉnh miền núi, địa hình hiểm trở và có nhiều dịch bệnhlưu hành như: sốt rét; bướu cổ, phong, lao, não mô cầu, suy dinh dưỡng vàcác bệnh dịch theo mùa Đặc biệt là tỷ lệ mắc các bệnh không lây nhiễm lạigia tăng như: bệnh lý tim mạch, đột qụy, ung thư, đái tháo đường, bệnh phổimạn tính Với diễn biến phức tạp của mô hình bệnh tật, đã làm gia tăng đáng
kể nhu cầu chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế mà đặc biệt
là tại các bệnh viện nên đã dẫn đến tình trạng quá tải tại các bệnh viện Việckhám chữa, bệnh vượt tuyến vẫn ở mức độ cao do tâm lý của người bệnh luôncoi trọng uy tín, chuyên môn, kỹ thuật của tuyến, chưa tin tưởng vào chuyênmôn, kỹ thuật của các y, bác sĩ tuyến cơ sở
Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế còn thiếu và chưa đồng bộ, điển hình
là trang thiết bị một số bệnh viện không đầy đủ, hoặc chưa được thay thế, bổsung kịp thời, nên chưa đáp ứng được yêu cầu của tuyến điều trị
Đội ngũ cán bộ y tế tuyến cơ sở, đặc biệt là tuyến huyện, số cán bộ cótrình độ chuyên sâu là người địa phương còn thiếu trầm trọng Việc đào tạo,phát triển nguồn nhân lực y tế gặp nhiều bất cập, thậm chí có huyện không cóbác sĩ (huyện Xín Mần) Đời sống, thu nhập của bác sĩ tuyến cơ sở còn nhiềukhó khăn; chế độ chính sách đối với cán bộ y tế tuyến cơ sở còn chưa hợp lý
Do đó nhiều cán bộ y tế tuyến cơ sở xin chuyển côn tác lên tuyến trên hoặc bỏ
ra khu vực bệnh viện tư nhân làm việc
Trang 19Việc khám, chữa bệnh bằng BHYT còn nhiều yếu kém, đáng chú ý, dothiếu thông tin về chính sách Bảo hiểm y tế, nên tần suất khám, chữa bệnh bằngBảo hiểm y tế của người dân vùng cao, vùng sâu của Hà Giang còn thấp
1.2 ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ GIANG VẬN DỤNG SÁNG TẠO QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC CHĂM SÓC SỨC KHỎE NHÂN DÂN (2000 - 2005)
1.2.1 Quan điểm của Đảng về chăm sóc sức khỏe nhân dân
Trong quá trình đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, Đảng ta luôn quan tâm đến chăm sóc sức khỏe nhân dân và gắn vớiphát triển kinh tế với phát triển con người Để nâng cao thể lực, sức khỏecon người, tiếp tục thực hiện chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhândân, nhằm giảm tỷ mắc bệnh Đại hội lần thứ IX của Đảng (2001) xác định:
Thực hiện đồng bộ chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhândân, nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ vàphát triển giống nòi Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế, đặc biệt
là mạng lưới y tế cơ sở Xây dựng một số trung tâm y tế chuyên sâu.Đẩy mạnh sản xuất dược phẩm, bảo đảm các loại thuốc thiết yếu đếnmọi địa bàn dân cư Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sứckhoẻ; đổi mới cơ chế và chính sách viện phí; có chính sách trợ cấp vàbảo hiểm y tế cho người nghèo, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân Nhànước ban hành chính sách quốc gia về y học cổ truyền Kết hợp chặtchẽ y học hiện đại với y học cổ truyền từ khâu đào tạo đến khâu khámbệnh và điều trị Phát động phong trào toàn dân tập luyện thể dục, thểthao, nâng cao sức khoẻ và tầm vóc người Việt Nam; phổ biến rộngrãi kiến thức về tự bảo vệ sức khoẻ [38, tr.107]
Thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, ngày 19/6/2001, Thủ tướngChính phủ ban hành Quyết định số 35-TTg phê duyệt chiến lược chăm sóc sứckhỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010, trong đó nêu rõ mục tiêu: Phấn đấu để mọingười dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có điều kiệntiếp cận và sử đụng các dịch vụ y tế có chất lượng Mọi người đều được sống
Trang 20trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần Giảm tỷ lệmắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi Chiến lược
đề ra mục tiêu cụ thể: đến năm 2010 tuổi thọ trung bình là 71 tuổi; giảm tỷsuất chết mẹ xuống còn 70/100.000 trẻ đẻ sống; tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi
hạ xuống dưới 25% trẻ đẻ sống; tỷ lệ chết trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 32%;
tỷ lệ trẻ mới đẻ có trọng lượng dưới 2.500g giảm xuống dưới 6%; tỷ lệ trẻ emdưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 20%; có 4,5 bác sĩ và 1 dược
sĩ đại học/10.000 dân [68, tr.2]
Giảm tỷ lệ mắc và tử vong các bệnh truyền nhiễm gây dịch Không
để dịch lớn xảy ra Khống chế tới mức thấp nhất tỷ lệ mắc và chết của cácbệnh tả, thương hàn, sốt xuất huyết, sốt rét, dịch hạch, viêm gan B và viêmnão Nhật Bản, các bệnh lây truyền qua đường tình dục bệnh bại liệt tiếptục được thanh toán, bệnh uốn ván sơ sinh được loại trừ Tốc độ gia tăng tỷ
lệ nhiễm bệnh Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (HIV/AIDS) đượchạn chế
Phòng chống và quản lý các bệnh không nhiễm trùng như bệnh timmạch, ung thư, tai nạn và thương tích, đái tháo đường, bệnh tâm thần, ngộđộc, các bệnh do lối sống không lành mạnh mang lại (nghiện ma tuý, nghiệnrượu, béo phì ) Nâng cao tính công bằng trong việc tiếp cận và sử dụng cácdịch vụ chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt là các dịch vụ khám chữa bệnh Nâng caochất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở tất cả các tuyến y tế, trong các lĩnhvực phòng bệnh, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng và nâng cao sức khoẻ.Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để ngành y tế nước ta phát triển kịptrình độ các nước tiên tiến trong khu vực
Tiếp theo, ngày 07/12/2001, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số186/QĐ-TTg về phát triển kinh tế xã hội ở sáu tỉnh đặc biệt khó khăn miềnnúi phía Bắc giai đoạn 2001-2005 Quyết định nêu rõ: Tiếp tục nâng cấp, cảitạo và xây dựng các bệnh viện tuyến tỉnh như: Bắc Kạn, Lai Châu, Sơn La,
Trang 21Hà Giang, nâng cấp bệnh viện tuyến huyện, các phòng khám đa khoa khuvực, xây dựng trung tâm y tế vùng Tây Bắc; bổ sung thiết bị cho một số bệnhviện, kiên cố hoá và chuẩn hoá 100% trạm y tế xã, cơ sở y tế ở Trung tâmcụm xã và phòng khám đa khoa khu vực Nhà nước đầu tư ngân sách thựchiện miễn phí toàn bộ tiền khám, chữa bệnh tại các trạm y tế, trung tâm y tế,bệnh viện cho đồng bào dân tộc thiểu số Đối với các hộ đói nghèo là đồngbào dân tộc ở các xã vùng III, từ năm 2002 được khám, chữa bệnh miễn phí;các cơ sở y tế sẽ thực thanh thực chi từ nguồn quỹ khám chữa bệnh cho ngườinghèo do các tỉnh thành lập và Sở Y tế quản lý thực hiện Mở lớp đào tạo bác
sĩ hệ chính quy cho đối tượng là người dân tộc thiếu số vùng II, vùng III Cóchế độ phụ cấp phù hợp và thực hiện chính sách nhà ở cho cán bộ y tế côngtác tại các xã đặc biệt khó khăn trong vùng [69, tr.9]
Tiếp đó ngày 15/10/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
số 139/QĐ-TTg về khám chữa bệnh cho người nghèo: Theo quyết định nàycác cơ sở khám, chữa bệnh nhà nước từ trạm y tế xã đến bệnh viện và viện cógiường bệnh tuyến Trung ương thực hiện chế độ khám, chữa bệnh cho ngườinghèo Đối tượng được hưởng chế độ khám, chữa bệnh gồm: người nghèotheo quy định hiện hành về chuẩn hộ nghèo quy định tại Quyết định số1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 01/11/2000 của Bộ trưởng Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội Trong đó có nhân dân các xã có điều kiện kinh tế - xãhội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998của Thủ tướng Chính phủ Và nhân dân các dân tộc thiểu số tại 6 tỉnh đặc biệtkhó khăn của miền núi phía Bắc theo Quyết định số 186/2001/QĐ-TTg ngày07/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ [70, tr.4]
Để hoàn thiện mạng lưới y tế đến cơ sở phục vụ công tác CSSKND ngày22-1-2002, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 06-CT/TƯ về củng cố và hoànthiện mạng lưới y tế cơ sở Chỉ thị nêu rõ những thành tựu và hạn chế của côngtác CSSKND từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII): Mạng lưới y
Trang 22tế cơ sở từng bước được củng cố và phát triển 100% số xã trong toàn quốc đã cócán bộ y tế hoạt động; trên 50% trạm y tế xã có bác sĩ; trên 70% thôn, bản cónhân viên y tế Tuy nhiên, trước yêu cầu của tình hình mới, mạng lưới y tế cơ sở,nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều hạn chế: cơ sở vật chất thiếuthốn, việc chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho nhân dân hết sức khókhăn Nhiều cấp ủy Đảng, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ vai trò và tầmquan trọng của y tế cơ sở, chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đúng mức và đầu tưchưa thỏa đáng để củng cố và phát triển mạng lưới y tế cơ sở [1, tr.1].
Trước tình hình đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng yêu cầu các cấp ủyĐảng, các ngành, các đoàn thể quán triệt và thực hiện tốt những việc sau đây:
Một là, nhận thức đầy đủ về vai trò của y tế cơ sở và trách nhiệm lãnh
đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền
Mạng lưới y tế cơ sở (gồm y tế thôn, bản, xã, phường, quận, huyện, thịxã) là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, bảo đảm cho mọi người dân đượcchăm sóc sức khoẻ cơ bản với chi phí thấp, góp phần thực hiện công bằng xãhội, xoá đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn hoá, trật tự an toàn xã hội,tạo niềm tin của nhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa
Các cấp uỷ đảng và chính quyền cần quán triệt, nhận thức rõ tầm quantrọng đặc biệt của mạng lưới y tế cơ sở; có kế hoạch thiết thực để tăng cường lãnhđạo, chỉ đạo việc củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở tại địa phương mình
Hai là, củng cố tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao chất
lượng và hiệu quả của mạng lưới y tế cơ sở
Củng cố tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động của ban chămsóc sức khoẻ nhân dân ở cơ sở; tăng cường phối hợp liên ngành, lồng ghépcác chương trình, mục tiêu, đẩy mạnh các hoạt động truyền thông - giáodục sức khoẻ; huy động cộng đồng tích cực tham gia các hoạt động vệ sinh,phòng bệnh, chăm sóc sức khoẻ, rèn luyện thân thể, tạo ra phong trào toàndân vì sức khoẻ
Trang 23Xây dựng và ban hành chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ nhân dânmiền núi, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt quan tâm tới đồng bào các dân tộc thiểu
số, nhằm cải thiện rõ rệt chất lượng chăm sóc sức khoẻ, góp phần nâng caođời sống nhân dân trong vùng
Ngành Y tế có trách nhiệm phối hợp với các ngành liên quan xây dựngchuẩn quốc gia về y tế cơ sở; nâng cao năng lực chuyên môn và y đức của cáccán bộ y tế; tăng cường các hoạt động giám sát và hỗ trợ kỹ thuật của y tếtuyến trên đối với tuyến cơ sở, bảo đảm cho trung tâm y tế huyện, trạm y tế
xã, phường có đủ khả năng phát hiện và điều trị kịp thời các bệnh theo tuyến
kỹ thuật, góp phần giảm tình trạng quá tải của các bệnh viện tuyến trên; pháthuy khả năng của y tế các lực lượng vũ trang trong việc kết hợp quân - dân y
để chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở cơ sở, đặc biệt là khu vực miền núi, vùngsâu, vùng xa, hải đảo; tổ chức tốt việc quản lý và phát huy vai trò của lựclượng y tế ngoài công lập
Ba là, tăng cường cán bộ và trang bị kỹ thuật cho mạng lưới y tế cơ sở.
Mở rộng các hình thức đào tạo và bồi dưỡng để phát triển đội ngũ cán
bộ y tế cơ sở, ưu tiên đào tạo cán bộ người dân tộc tại chỗ Bảo đảm đủ chứcdanh cán bộ cho trạm y tế, chú trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ y -dược học cổ truyền Phấn đấu đến năm 2010, 80% trạm y tế xã có bác sĩ,100% thôn, bản có nhân viên y tế với trình độ sơ học trở lên Có chính sáchđãi ngộ thích hợp để khuyến khích cán bộ y tế làm việc tại trạm y tế xã,phường, đặc biệt là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa; tăng cường trang thiết bị y
Trang 24cấp y tế cơ sở ở các vùng khó khăn, nhất là các vùng trước đây là căn cứ cáchmạng Tiến hành tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để đề ra các chính sách hỗtrợ tài chính nhằm phát triển bảo hiểm y tế ở nông thôn, đặc biệt là bảo hiểm
y tế cho người nghèo, những người thuộc diện chính sách, trợ cấp xã hội vànông dân
Năm là, nâng cao trách nhiệm của các ngành, đoàn thể trong việc củng
cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở
Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành phối hợp với Mặt trận Tổ quốc ViệtNam, các đoàn thể nhân dân xây dựng và thực hiện kế hoạch củng cố mạnglưới y tế cơ sở trong toàn quốc; xây dựng các văn bản pháp luật và chính sáchliên quan trình các cấp có thẩm quyền quyết định; có chính sách và biện pháp
cụ thể để hỗ trợ các địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn,đồng bào các dân tộc thiểu số; tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện vàgiải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện, nâng caohiệu quả đầu tư [1, tr.1-3]
Tiếp đó tại Hội nghị lần thứ chín BCH Trung ương khóa IX (1/2004),Đảng chủ trương làm tốt hơn nữa việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhândân Nghị quyết chỉ rõ:
Nhiệm vụ trọng tâm là đẩy mạnh việc phòng chống dịch bệnh, đặcbiệt là các dịch bệnh mới phát sinh; tiếp tục phát triển và hoàn thiện
hệ thống khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân (các
cơ sở y tế của Nhà nước và ngoài nhà nước), hệ thống bảo hiểm ytế; hoàn thiện cơ chế, chính sách khám, chữa bệnh cho các đốitượng, đặc biệt là đối tượng chính sách và bệnh nhân nghèo Tăngcường đầu tư để bảo đảm tự sản xuất được thuốc thiết yếu chophòng, chữa bệnh Nâng cao chất lượng phục vụ của các cơ sởkhám, chữa bệnh và y đức của các y, bác sĩ và nhân viên y tế Đẩymạnh thực hiện xã hội hóa các hoạt động y tế [4, tr.203]
Trang 25Tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của công tác CSSKND, ngày
23-2-2005, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 46-NQ/TƯ về công tác bảo vệ chăm sóc
và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới Nghị quyết nêu rõ 5 quanđiểm chỉ đạo đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân:
Một là, sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội.
Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo, trựctiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là mộttrong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước Đầu tư cholĩnh vực này là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ
Hai là, đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu
quả và phát triển, nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ,chăm sóc và nâng cao sức khoẻ với chất lượng ngày càng cao, phù hợp với sựphát triển kinh tế xã hội của đất nước
Phát triển bảo hiểm y tế toàn dân, nhằm từng bước đạt tới công bằng trongchăm sóc sức khỏe, thực hiện sự chia sẻ giữa người khỏe với người ốm, ngườigiầu với người nghèo, người trong độ tuổi lao động với trẻ em, người già; côngbằng trong đãi ngộ đối với cán bộ y tế
Ba là, thực hiện CSSK toàn diện: gắn phòng bệnh với chữa bệnh, phục
hồi chức năng và tập luyện thể dục thể thao nâng cao sức khoẻ Phát triển y tếphổ cập và y tế chuyên sâu; kết hợp đông y và tây y
Bốn là, xã hội hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe gắn với tăng cường
đầu tư của Nhà nước; thực hiện tốt việc trợ giúp cho các đối tượng chính sách vàngười nghèo trong chăm sóc và nâng cao sức khỏe
Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân,mỗi gia đình và cộng đồng, là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền,Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, trong đó ngành y
tế giữ vai trò nòng cốt về chuyên môn và kỹ thuật Khuyến khích các thành phầnkinh tế đầu tư phát triển các dịch vụ chăm sóc và nâng cao sức khỏe
Trang 26Năm là, nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử
dụng và đãi ngộ đặc biệt Mỗi cán bộ, nhân viên y tế phải không ngừng nângcao đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn, xứng đáng với sự tin cậy
và tôn vinh của xã hội, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngườithầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền” Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và
tử vong, nâng cao sức khoẻ, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi, gópphần nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực, hình thành
hệ thống chăm sóc sức khỏe đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở và thói quengiữ gìn sức khỏe của nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đạihoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [9, tr.2-3]
Nghị quyết nêu rõ những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm pháttriển và hoàn thiện hệ thống chăm sóc sức khỏe nhân dân: tiếp tục pháttriển và hoàn thiện hệ thống y tế dự phòng Củng cố và hoàn thiện mạnglưới y tế cơ sở cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và cán bộ Phát triểnnguồn nhân lực Kiện toàn đội ngũ cán bộ y tế cả về số lượng, chất lượng
và cơ cấu Nâng cao nhận thức, vai trò và trách nhiệm của các cấp uỷ đảng,chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức xã hội, cộng đồng vàmỗi người dân trong việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Các mụctiêu, nhiệm vụ về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân phảiđược đưa vào các chiến lược, chính sách phát triển kinh tế xã hội của cảnước và ở từng địa phương Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, đẩy mạnhcải cách hành chính, hoàn thiện hệ thống pháp luật về y tế phù hợp với tìnhhình kinh tế, xã hội của đất nước, với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam
đã ký kết Đẩy mạnh xã hội hoá công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sứckhoẻ nhân dân
Như vậy, cùng với Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng, Nghị quyết
số 46-NQ/TƯ của Bộ Chính trị đã thể hiện rõ các quan điểm chỉ đạo củaĐảng và đề xuất các mục tiêu, nhiệm vụ cũng như các giải pháp chủ yếu đối
Trang 27với công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong giai đoạnmới và Chỉ thị số 06-CT/TƯ của Ban Bí thư, đây là những văn kiện quantrọng định hướng cho công tác bảo vệ, CSSKND của Chính phủ, các ban,ngành Trung ương và các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương
1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Giang
Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX và các Nghịquyết, chỉ thị của Đảng về CSSKND, Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứXIII (12/2000) đã đề ra chủ trương CSSKND và xác định mục tiêu, nhiệm vụcủa ngành Y tế là:
Thực hiện tốt các mục tiêu chương trình y tế quốc gia, phòng chốngdịch bệnh, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân đểnâng cao thể lực, tăng sức khỏe và tuổi thọ của người dân Phấn đấu
đủ cán bộ y tế theo yêu cầu, 50% số xã có bác sĩ, các thôn bản cócán bộ y tế, giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng từ 41,4%xuống còn 25% Thực hiện xã hội hóa công tác dân số - kế hoạchhóa gia đình, tăng cường giáo dục truyền thống và các hoạt độngdịch vụ kế hoạch hóa gia đình Đến năm 2005, hạ tỷ lệ tăng dân số
tự nhiên xuống còn 1,7% Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở vật chất,trang thiết bị khám chữa bệnh; phát triển các cây dược liệu; kết hợp
y học hiện đại với y học cổ truyền dân tộc để khám chữa bệnh chonhân dân [33, tr.40]
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh HàGiang lần thứ XIII Tỉnh ủy Hà Giang ban hành Hướng dẫn số 02-HD/TUngày 13/9/2002 về thực hiện Chỉ thị số 06 của Ban Bí thư về củng cố và hoànthiện mạng lưới y tế cơ sở Tỉnh ủy chỉ đạo các huyện, thị đẩy mạnh công táctuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong nhân dân chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước đối với công tác bảo vệ, CSSKND trong tình hình mới Cùngvới việc tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Tỉnh ủy chỉ
Trang 28đạo ngành Y tế quán triệt sâu rộng Chỉ thị số 06 của Ban Bí thư và Nghị quyết
46 của Bộ Chính trị đến tất cả cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trongtoàn ngành; xây dựng kế hoạch hành động tổ chức thực hiện nhằm cụ thể hóanhững nội dung của nghị quyết phù hợp với tình hình y tế ở địa phương
Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy Hà Giang, ngày 24/6/2003 UBND tỉnhban hành Quyết định số 1205 quy định về trình tự, thủ tục và mức hỗ trợ chiphí khám, chữa bệnh cho người nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Giang TheoQuyết định, đối tượng được hưởng khám, chữa bệnh là hộ nghèo theo quyđịnh hiện hành của Thủ tướng Chính phủ; đồng bào dân tộc thiểu số đang sinhsống tại các xã, phường, thị trấn thuộc vùng khó khăn; người được hưởng trợcấp hàng tháng theo quy định của pháp luật, người được nuôi dưỡng tại các
cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước [86, tr.1]
1.3 QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ GIANG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC CHĂM SÓC SỨC KHỎE NHÂN DÂN (2000 - 2005)
1.3.1 Thực hiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống bệnh dịch
An toàn thực phẩm giữ vị trí rất quan trọng trong bảo vệ sức khoẻ conngười nhằm nâng cao đời sống lợi ích và hạnh phúc của cộng đồng Bảo vệ và
an toàn vệ sinh thực phẩm không chỉ làm giảm bệnh tật, tăng cường sức laođộng mà còn nâng cao sự phát triển kinh tế, văn hoá và thể hiện nếp sống vănminh của dân tộc Đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm có tác độngtrực tiếp, thường xuyên đối với sức khoẻ của mỗi người dân, ảnh hưởng lâudài đến nòi giống dân tộc
Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm hiện đang được rất nhiều nước kể cảnhững nước đã và đang phát triển quan tâm đặc biệt là các nước ở khu vựcchâu Á, nơi đang tập trung sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, xã hội Sự tậptrung ngày càng nhiều các khu vực dân cư tại các đô thị, thành phố côngnghiệp đang được hiện đại hoá cũng như sự mở rộng giao lưu quốc tế, đã đòi
Trang 29hỏi từng nước không những phải tăng số lượng lương thực thực phẩm sảnxuất mà còn phải đảm bảo chất lượng an toàn và có giá trị dinh dưỡng cao đốivới thực phẩm tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Ở nước ta, trong những nămgần đây ngộ độc thức ăn cũng thường xuyên xảy ra, có những vụ nghiêmtrọng làm hàng trăm người mắc trong các bữa ăn cỗ bàn, liên hoan tiệc cưới,
lễ hội…Theo Cục Quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm - Bộ Y tế,hàng năm đã có 1,5 triệu người bị mắc bệnh truyền nhiễm qua thực phẩm, chiphí cho các thiệt hại lên tới hơn 100 tỷ đồng Vì vậy, bảo đảm vệ sinh an toànthực phẩm đã và đang là vấn đề rất bức xúc trong xã hội [20, tr.39]
Thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị vềcông tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hìnhmới Tỉnh ủy chủ trương triển khai mạnh mẽ các biện pháp kiểm soát vệ sinh,
an toàn thực phẩm, nhằm ngăn ngừa để hạn chế tối đa những tác động tiêucực đối với sức khoẻ của người dân
Tỉnh ủy đã chỉ đạo kiện toàn Ban Chỉ đạo vệ sinh an toàn thực phẩmtỉnh theo đúng hướng dẫn của Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về vệsinh an toàn thực phẩm; ban hành quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo củatỉnh Tất cả các huyện, thị xã, thành phố, các xã, phường, thị trấn trên địabàn tỉnh đều thành lập Ban Chỉ đạo vệ sinh an toàn thực phẩm (ATTP) củađịa phương Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ giúp chính quyền các cấp chỉ đạo,điều phối các hoạt động bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm của các ngành,đoàn thể, địa phương trong toàn tỉnh; trong các hoạt động truyền thônggiáo dục, quản lý ATTP; thanh tra, kiểm tra, giám sát, phòng chống ônhiễm thực phẩm, ngộ độc thực phẩm và xử lý các vấn đề nảy sinh tronghoạt động bảo đảm vệ sinh ATTP tại các địa phương
Các hoạt động truyền thông giáo dục về bảo đảm chất lượng vệ sinhATTP được tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng từ tỉnh đếnhuyện, xã và đến từng hộ gia đình Các ban, ngành, đoàn thể đã phối hợp tổ
Trang 30chức nhiều hình thức truyền thông trực tiếp như nói chuyện chuyên đề, sinhhoạt câu lạc bộ, hội thảo cho nhiều đối tượng khác nhau; tập huấn kiến thức
an toàn vệ sinh thực phẩm cho người trực tiếp sản xuất, chế biến; kinh doanhthực phẩm, phục vụ ăn uống tại các địa phương trong toàn tỉnh
Công tác thanh tra, kiểm tra được tiến hành thường xuyên, xử lý nghiêmminh các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm, vừa đểgiám sát giáo dục và nâng cao hiểu biết của các cơ sở sản xuất kinh doanh,chế biến thực phẩm Ngoài ra, trong các dịp lễ, tết, công tác truyền thôngcũng được tăng cường, nhằm tạo sự thay đổi nhận thức của người dân về vệsinh ATTP
Hoạt động thống kê, phân loại, cập nhật thông tin cơ sở thực phẩm trênđịa bàn theo phân cấp quản lý để cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệsinh ATTP đã được triển khai đạt kết quả tốt Đến cuối năm 2005, toàn tỉnh
đã cấp 468 giấy Chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh ATTP trong đó tuyến tỉnh là
169 hộ cá nhân và đơn vị sản xuất kinh doanh, tuyến huyện cấp 299 giấyChứng nhận Công tác tổ chức, quản lý công bố tiêu chuẩn chất lượng vệ sinhATTP thực hiện theo Quyết định số 42/2005/QĐ-BYT ngày 08/12/2005 của
Bộ Y tế về việc ban hành quy chế về công bố tiêu chuẩn sản phẩm thực phẩm.Tính đến năm 2005, có 104 sản phẩm đã được cấp chứng nhận tiêu chuẩn sảnphẩm thực phẩm, chủ yếu là các mặt hàng rượu các loại, chè, bánh cácloại Số vụ ngộ độc thực phẩm lớn (trên 30 người) hàng năm đã giảm rõrệt Từ năm 2001 đến năm 2005 trên địa bàn tỉnh chỉ còn những vụ ngộ độcthực phẩm nhỏ với số lượng từ 1 đến 2 người mắc là do ăn rau rừng, bánhtrôi ngô mốc [59, tr.3]
Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề dânsinh vô cùng quan trọng, không chỉ với sức khoẻ, phát triển nòi giống mà cònliên quan đến phát triển kinh tế, văn hoá và an ninh của mỗi địa phương Vệsinh an toàn thực phẩm là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản
Trang 31xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảođảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạngngười tiêu dùng Vì vậy, vệ sinh an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sựtham gia của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nôngnghiệp, thú y, cơ sở chế biến thực phẩm, y tế và người tiêu dùng.
1.3.2 Phát triển hệ thống y tế dự phòng
Công tác phòng, chống dịch bệnh là phòng các loại dịch bệnh lây lantrong cộng đồng do virus, ký sinh trùng gây ra vì vậy để đảm bảo an toàn chocộng đồng Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến chính sách y tế, lấy y tếnông thôn, lấy phòng bệnh chủ động, tích cực làm trọng tâm: đã xây dựngmột hệ thống y tế rộng khắp và một loạt các chủ trương, chính sách lớn nhằmthực hiện công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân
Thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng
bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XIII, công tác y tế dự phòng đã từng bước đượcnâng cao Với quan điểm dự phòng tích cực và chủ động, công tác giám sátdịch tễ và các chương trình phòng chống dịch đã triển khai có hiệu quả Nhiềubệnh dịch nguy hiểm đã được khống chế và đẩy lùi như dịch tả, sốt rét, não
mô cầu, than, bại liệt, sởi Tình hình dịch bệnh trên địa bàn toàn tỉnh ổnđịnh, không xẩy ra các vụ dịch bệnh lớn Đặc biệt dịch sát (SARS) đã đượckhống chế Ngành Y tế đã phối hợp chặt chẽ với các ban ngành và địa phươngkiểm soát dịch cúm gia cầm lây sang người (H5N1) Ngành Y tế cũng đã tíchcực triển khai các biện pháp dự phòng tích cực, không để đại dịch xảy ra, bảođảm dự trữ đủ thuốc, vật tư, hệ thống cảnh báo sớm và xử lý kịp thời; tăngcường giám sát phát hiện sớm ca bệnh đầu tiên để khoanh vùng và xử lý ổ dịch
Các dự án của chương trình mục tiêu y tế quốc gia triển khai có hiệuquả cao Các dịch bệnh phổ biến trên địa bàn như sốt rét, viêm não Nhật Bản,bại liệt, sởi đã được theo dõi, giám sát và điều trị tích cực từ đó số mắc vàchết do các bệnh truyền nhiễm gây dịch như sốt rét, sởi, viêm não Nhật Bản
Trang 32từng bước được khống chế và đẩy lùi Công tác vệ sinh phòng dịch bệnh, vệsinh an toàn thực phẩm, nhiều bệnh dịch đã đựơc khống chế, các bệnh đượcphòng chống bằng vắcxin trong chương trình dự án tiêm chủng mở rộng(TCMR) đã giảm nhiều.
Công tác TCMR được triển khai đầy đủ và thường xuyên đến tận thônbản, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm và uống đầy đủ 6 loại vắcxin hàngnăm đạt 85-90%, đặc biệt là kết quả chiến dịch tiêm nhắc vắcxin sởi mũi IIcho trẻ em từ 9 tháng đến 10 tuổi đạt 97% Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinhdưỡng hàng năm giảm từ 2,5 % đến 3% [59, tr.4]
Công tác phòng chống sốt rét đạt kết quả tốt, từ năm 2000 đến năm
2005 toàn tỉnh, không xảy ra dịch bệnh, không có tử vong do sốt rét, tỷ lệngười mắc sốt rét năm sau giảm hơn năm trước (từ 8.014 ca mắc năm 2000đến năm 2005 còn 422 ca mắc) [59, tr.4]
Công tác phòng chống bệnh phong được tiến hành thường xuyên, côngtác khám điều trị hàng năm đều vượt chỉ tiêu kế hoạch Bệnh nhân được khámphát hiện sớm, do đó đã hạn chế tỷ lệ tàn tật, bệnh nhân được sống hoà nhậpvới cộng đồng Mạng lưới phòng chống phong được củng cố từ tuyến cơ sởđến tuyến tỉnh
Việc phát hiện, quản lý điều trị bệnh nhân lao được thực hiện tốt Năm
2005 ngành Y tế của tỉnh đã khám phát hiện thêm 510 bệnh nhân mắc lao, sốbệnh nhân lao được chữa khỏi đạt 80% [59, tr.4]
Việc phòng chống thiếu hụt iốt được triển khai thường xuyên đúng kếhoạch; Tỷ lệ trẻ em từ 8 đến 10 tuổi mắc bướu cổ đã giảm từ 5,57% năm 2003xuống còn 4,68% năm 2005 [59, tr.4]
Công tác chăm sóc sức khoẻ tâm thần được quan tâm thực hiện Tỉnh
ủy chỉ đạo từng bước xây dựng, mạng lưới chăm sóc bảo vệ sức khoẻ tâmthần cộng đồng tại các xã có dự án Các bệnh nhân tâm thần phân liệt đượcquản lý và phục hồi chức năng ở cơ sở được thực hiện tốt
Trang 33Công tác phòng chống HIV/AIDS được triển khai và duy trì thườngxuyên, đặc biệt việc tuyên truyền, giáo dục, khám, điều tra tư vấn và quản lýngười bệnh đã trở thành một hoạt động thường xuyên của toàn xã hội.
Với những bước tiến khá vững chắc trong công tác y tế dự phòng Tạođược sự chuyển biến tích cực về nhận thức, nâng cao trách nhiệm lãnh đạocủa các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, đã góp phần thay đổi về nhận thức
và hành vi của đông đảo các tầng lớp xã hội về vấn đề phòng chống dịchbệnh, bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân
1.3.3 Nâng cao quy mô và chất lượng khám chữa bệnh ở tuyến cơ sở
Khám chữa bệnh là một khâu quan trọng và chủ yếu trong công tác củabác sĩ điều trị vì nó quyết định khá nhiều đến sự thành công hay thất bại củacông tác điều trị Do đó, làm tốt công tác khám bệnh mới phát hiện đúng vàđầy đủ các triệu chứng bệnh để chẩn đoán thật chính xác và đầy đủ, rồi từ đómới định được tiên lượng, cách điều trị và phòng bệnh cho đúng đắn Vì vậy,công tác khám, chữa bệnh ở tuyến cơ sở luôn được coi là một mắt khâu quantrọng trong công tác CSSKND của cả nước nói chung và của tỉnh Hà Giangnói riêng Y tế cơ sở là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, bảo đảm cho mọingười dân được chăm sóc sức khoẻ cơ bản với chi phí thấp, góp phần thựchiện công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn hoá, trật
tự an toàn xã hội, tạo niềm tin của nhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh HàGiang, Tỉnh ủy chỉ đạo từng bước nâng cao quy mô và chất lượng khám chữabệnh cho nhân dân Công tác khám, chữa bệnh trong các tuyến toàn tỉnh đượcnâng lên rõ rệt Hệ thống các bệnh viện tuyến tỉnh được đầu tư xây dựng vànâng cấp, trong đó có 03 bệnh viện tuyến tỉnh: bệnh viện đa khoa tỉnh với quy
mô 300 giường bệnh; bệnh viện Lao và bệnh Phổi với quy mô 100 giườngbệnh và bệnh viện Y dược học cổ truyền với quy mô 100 giường bệnh Hệ
Trang 34thống các bệnh viện tuyến khu vực và huyện cũng được đầu tư xây mới vànâng cấp, trong đó có 03 bệnh viện đa khoa khu vực: bệnh viện đa khoa khuvực huyện Bắc Quang với quy mô 150 giường bệnh nằm ở trung tâm phíaNam của tỉnh; bệnh viện đa khoa khu vực huyện Hoàng Su Phì quy mô 100giường bệnh nằm ở trung tâm phía Tây của tỉnh; bệnh viện đa khoa khu vựchuyện Yên Minh quy mô 100 giường bệnh nằm ở trung tâm phía Bắc củatỉnh Ngoài các bệnh viện đa khoa khu vực các huyện, còn có bệnh việnhuyện và trung tâm y tế huyện Tuyến xã có các trạm y tế xã và phòng khám
đa khoa khu vực Tính đến năm 2005, toàn tỉnh có 136/195 Trạm y tế xã vàphòng khám đa khoa khu vực được xây nhà hai tầng kiên cố và trang bị đầy
đủ dụng cụ y tế thông thường, đã góp phần thực hiện tốt công tác bảo vệ,chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong địa bàn tỉnh [76, tr.2]
Để thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao chấtlượng khám, chữa bệnh ở tuyến cơ sở, ngành Y tế thường xuyên chú trọngnâng cao trình độ năng lực cho đội ngũ y, bác sĩ Đội ngũ thầy thuốc khôngngừng được bổ sung về số lượng và nâng cao về chất lượng Tính đến năm
2005, toàn tỉnh trung bình có 4,76 bác sĩ /10.000 dân và có 4,97 cán bộ/xã Hầuhết các thôn bản đều có nhân viên y tế đạt 95,4% số xã có bác sĩ là 46,7%; có80/195 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế chiếm 41% [76, tr.4]
Thực hiện chủ chương nâng cao chất lượng khám và điều trị bệnh, đã
có nhiều kỹ thuật chuẩn đoán hiện đại của y học được ứng dụng đem lạihiệu quả cao như: xét nghiệm sinh hóa huyết học; siêu âm ổ bụng, siêu âmthai 2D; chụp X-Quang thường quy tim - phổi - xương - ổ bụng khôngchuẩn bị; chụp chức năng thận; xét nghiệm soi cấy máu làm kháng sinh đồ
- tủy đồ; chụp buồng tử cung; nội soi dạ dày Nhiều cơ sở y tế đã ứng dụngmột số kỹ thuật tiên tiến trong điều trị như: ứng dụng kháng sinh dự phòngtrong phẫu thuật; phẫu thuật đường ngang; kỹ thuật cắt tử cung toàn phần
và bán phần; kỹ thuật nối ruột theo phương pháp Rouecly; phẫu thuật u phì
Trang 35đại tuyến tiền liệt; phẫu thuật mở, cắt 2/3 và 3/4 dạ dày; viêm ruột thừacấp; mổ nối gãy xương đùi đã góp phần nâng cao công tác khám chữabệnh cho nhân dân trong toàn tỉnh
Ngoài những ứng dụng khoa học, kỹ thuật hiện đại, những kết quảnghiên cứu của các đề tài khoa học cấp tỉnh và cấp cơ sở cũng được ứng dụng
có hiệu quả trong trong hoạt động chuyên môn: thực hiện chỉ đạo tuyến, hỗtrợ chuyên môn kỹ thuật cho các đơn vị y tế trong toàn tỉnh để làm tốt côngtác chăm sóc sức khỏe nhân dân
1.3.4 Phát triển mạng lưới y - dược học cổ truyền trong việc khám chữa bệnh ở tuyến cơ sở
Y dược học cổ truyền dân tộc là vốn quý, là tài sản văn hóa dân tộc màngành Y tế và Hội Y học cổ truyền đều có trách nhiệm kế thừa, phát huy vàphát triển, kết hợp với y học hiện đại để xây dựng nền y học và ngành Y tếViệt Nam đáp ứng yêu cầu thời kỳ phát triển mới của đất nước Đó là đườnglối chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta đối với nền y học cổtruyền dân tộc nước nhà
Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng và Nghị quyết Đạihội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XIII, mạng lưới y học cổ truyền của HàGiang từng bước được củng cố và sắp xếp cho phù hợp với cơ chế quản lýcủa Nhà nước Tại tuyến tỉnh, Hội Đông Y tỉnh, Bệnh viện Y dược học cổtruyền, Bệnh viện đa khoa, Bệnh xá Công an tỉnh, Bệnh xá Bộ đội biên phòngtỉnh, Bệnh xá D40 - Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh được củng cố và đi vào hoạtđộng Tại tuyến huyện, thành phố, Hội Đông y cấp huyện và bệnh viện đakhoa huyện được thành lập Cấp xã, phường có phòng Y học cổ truyền tại cáctrạm y tế Đội ngũ cán bộ làm công tác y học cổ truyền cũng được kiệntoàn, với 380 cán bộ, trong đó số cán bộ, nhân viên có trình độ y học cổtruyền là 247 người [76, tr.5]
Trang 36Cùng với việc kiện toàn mạng lưới Y học cổ truyền, việc trồng, khôiphục và phát triển nguồn dược liệu cũng được chú trọng Các bài thuốc giatruyền, các phương thuốc chữa bệnh bằng y học cổ truyền được kế thừa vàphát huy; nguồn dược liệu sẵn có ở địa phương được khai thác và sử dụngtriệt để
Việc khôi phục và phát triển vườn thuốc nam tại các trạm y tế xã,phường, thị trấn được thực hiện Tỉnh chỉ đạo các cơ sở đông y tập trung xâydựng tủ thuốc xanh gia đình; hướng dẫn cho người dân biết cách chế biến, sửdụng cây rau, cây ăn quả, cây cảnh để làm thuốc chữa bệnh; cách xoa bóp,day ấn các huyệt để chữa bệnh Các cơ sở đông y trong tỉnh đã xây dựng đượcdanh mục 60 loại cây thuốc nam trong danh mục thuốc thiết yếu Tại các trạm
y tế xã, phường, thị trấn của tỉnh đã trồng và sử dụng trên 40 loại cây thuốc đểchữa bệnh Tỉnh Hà Giang đã chủ trương khuyến khích nhân dân “trồng câythuốc tại vườn, tại nhà”, góp phần phát triển mạnh một số nguồn dược liệu,nhằm tăng thu nhập cho người dân; đồng thời cung cấp nguồn dược liệu quýnhư: thảo quả, quế, đương quy, đỗ trọng, đẳng sâm, hà thủ ô, củ bình vôi…những cây dược liệu quý này được trồng ở hầu hết các huyện và thành phốtrong tỉnh [76, tr.5]
Với chủ trương “không để mất đi một bài thuốc hay, một cây thuốcqúy” ngành Y của tỉnh đã tiến hành vận động các lương y giỏi, có kinhnghiệm phục vụ, chữa trị bệnh cho nhân dân Các ông Lang, bà Mế giỏi,những lương y có bài thuốc hay, cây thuốc quý của gia đình, dòng tộc đượctruyền thụ, kế nghiệp bằng nhiều hình thức cho các con, cháu có tâm huyếtvới nghề
Với phương châm kết hợp hài hòa giữa y học cổ truyền dân tộc với yhọc hiện đại trong việc khám và điều trị bệnh, công tác nghiên cứu khoahọc về y học cổ truyền của tỉnh đã có bước phát triển Kế thừa nền y dượchọc cổ truyền dân tộc, các đề tài nghiên cứu khoa học đã sưu tầm nghiên
Trang 37cứu, thừa kế được các bài thuốc chữa bệnh hay trong dân gian và ứng dụngtrong điều trị bệnh.
Hệ thống khám, chữa bệnh bằng đông y và quản lý nhà nước về đông y,đông dược từ tỉnh đến cơ sở đã được củng cố, kiện toàn và phát triển, 100%bệnh viện các huyện, thành phố đều có khoa đông y, có cán bộ kiêm nhiệm yhọc cổ truyền tại các phòng khám khu vực, các trạm y tế xã, thị trấn Chấtlượng khám và điều trị bệnh bằng phương pháp y học cổ truyền tại các cơ sở
y tế ngày càng được nâng cao và đạt kết quả tốt Đặc biệt, tuyến tỉnh có bệnhviện Y học cổ truyền trong nhiều năm qua bệnh viện y dược học cổ truyền đãphát huy hiệu quả khám, chữa bệnh cho nhân dân, với đội ngũ cán bộ có trình
độ chuyên môn cao, tận tâm, nhiệt tình với công việc, được trang bị máy móchiện đại, đã khám và điều trị cho nhiều bệnh nhân khỏi bệnh, được nhân dântin tưởng, có uy tín trong việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
Thực hiện chủ trương về phát triển và kết hợp y dược học cổ truyềntrong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, trong năm (2000 - 2005) quacông tác khám, chữa bệnh y học cổ truyền tại các bệnh viện trong tỉnh đã đạtđược những kết quả rất quan trọng; số lượng bệnh nhân điều trị bằng y học cổtruyền ngày càng tăng, các bệnh thông thường và nhiều bệnh mãn tính kháctrong nhân dân có hiệu quả như: sỏi đường tiết niệu, viêm đại tràng mãn, viêmloét dạ dày, thiểu năng sinh dục nam, gãy xương đã được chữa trị bằng phươngthức đông y đem lại hiệu quả tốt cho người bệnh Việc sử dụng các phương phápđông y ngày càng đem lại hiệu quả hơn, góp phần tích cực vào sự nghiệp chămsóc sức khoẻ của nhân dân trên địa bàn tỉnh Đội ngũ cán bộ và những người làmcông tác y dược cổ truyền từ tỉnh đến cơ sở đã làm tốt công tác tham mưu, đềxuất, chủ động xây dựng kế hoạch phát triển nền y học cổ truyền đúng với địnhhướng của Đảng, phù hợp với tình hình, điều kiện phát triển y dược học cổtruyền ở địa phương Y dược học cổ truyền Hà Giang đã phối hợp tốt với cácngành trong khám chữa bệnh và sưu tầm những kinh nghiệm quý của y dược
Trang 38học cổ truyền Số lượng đội ngũ tăng lên, ngày càng phát huy tốt vai trò của ydược học cổ truyền trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
1.3.5 Thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế trong việc khám chữa bệnh
Chăm sóc y tế được coi là một nhu cầu thiết yếu, chăm sóc sức khỏecon người theo định hướng công bằng và hiệu quả, là quan điểm chiến lượccủa Đảng và Nhà nước; đồng thời là quan điểm xuyên suốt trong quá trìnhxây dựng và phát triển nền y tế Việt Nam Để thực hiện được định hướngchiến lược cơ bản đó, Nhà nước đã có nhiều chính sách và cơ chế phù hợpnhằm củng cố và phát triển mạng lưới y tế từ Trung ương đến địa phương,cũng như đầu tư nguồn lực tài chính cung cấp cho hoạt động y tế từ ngân sáchnhà nước, từ nguồn thu viện phí, nguồn thu BHYT và các nguồn viện trợkhác Trong định hướng chiến lược cung cấp tài chính cho công tácCSSKND, ngoài nguồn ngân sách nhà nước vẫn được coi là chủ yếu, quỹBHYT được xác định là nguồn tài chính quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầuđảm bảo hoạt động của hệ thống y tế Tất cả các nước đang trong quá trìnhchuyển đổi đều áp dụng mở rộng và coi đó là nguồn tài chính mới giành chochăm sóc y tế Những kết quả đạt được trong thực tế đã chứng minh chủtrương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc đề ra và thực hiện chínhsách BHYT BHYT đã trở thành một phạm trù kinh tế tất yếu của xã hội,được hình thành và liên tục phát triển cùng với qúa trình chuyển đổi nền kinh
tế sang cơ chế thị trường BHYT là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức,quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội
để chăm lo sức khỏe cho nhân dân
Thực hiện chủ trương của Đảng từ năm 2000 đến năm 2005, Chính phủ
đã ban hành nhiều Nghị định liên quan đến công tác CSSKND, nhiều đốitượng mới mới khám chữa bệnh bằng BHYT đã được bổ sung Ngày15/10/2002, Thủ tướng Chính phủ ra định số 139/2002/QĐ-TTg về quỹ khám
Trang 39chữa bệnh cho người nghèo Năm 2003, liên Bộ Y tế, Tài chính ban hànhThông tư 77/2003/TTLB-BYT-BTC hướng dẫn thực hiện BHYT tựnguyện Các chính sách của Nhà nước đã tạo điều kiện để mở rộng BHYTlàm tăng thêm số người tham gia Trong BHYT tự nguyện có một số quyđịnh để bảo đảm quỹ theo Thông tư số 22/2005, tỷ lệ tham gia tối thiểu cho
hộ gia đình là 10% trong cộng đồng và trong học sinh, sinh viên cũng là10% trong trường; quy định cho các thành viên của các hội đoàn là 30%.Những đối tượng mới tham gia BHYT bắt buộc đã được thống nhất quyđịnh trong Điều lệ BHYT mới
Tiếp đó, ngày 16/5/2005, Chính phủ ra Nghị định số 63/2005/NĐ-CPban hành Điều lệ BHYT mới Theo đó, những đối tượng mới này bao gồm:người lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước có dưới 10 lao động;người lao động trong các hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo LuậtHợp tác xã; cán bộ, nhân viên làm việc tại các trạm y tế xã, phường, thị trấn;người lao động trong các trường giáo dục mầm non; người lao động tại các cơ
sở bán công, dân lập, tư nhân thuộc các ngành văn hoá, y tế, giáo dục, đàotạo, khoa học, thể dục thể thao và các ngành sự nghiệp khác; người lao độngtrong các tổ chức khác có sử dụng lao động; người tham gia kháng chiến vàcon đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ởViệt Nam đang hưởng trợ cấp hành tháng; cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉviệc hưởng trợ cấp Bảo hiểm xã hội hàng tháng từ nguồn ngân sách Nhànước; thân nhân sỹ quan quân đội đang tại ngũ và thân nhân sỹ quan nghiệp
vụ thuộc lực lượng công an nhân dân; người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên; ngườinghèo; lưu học sinh nước ngoài đang học tập ở Việt Nam được Chính phủViệt Nam cấp học bổng
Như vậy, việc ban hành điều lệ BHYT mới đã hướng đến mục tiêucông bằng và nhân đạo trong lĩnh vực bảo vệ và CSSKND trên cơ sở đónggóp của cộng đồng, chia sẻ nguy cơ bệnh tật, giảm bớt gánh nặng tài chính
Trang 40Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, Tỉnh ủy đã chỉđạo ngành Y thực hiện tốt chính sách BHYT Tính đến năm 2005, tổng số dântham gia các loại hình BHYT của toàn tỉnh là 464.108 người, chiếm 66,7% dânsố; tham gia BHYT bắt buộc chiếm 53,8%; tham gia BHYT tự nguyện chiếm0,40%; số người nghèo được cấp thẻ BHYT là 43,2%; học sinh, sinh viên thamgia BHYT là 2,60%; trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí.Thực hiện chính sách BHYT đã có nhiều chuyển biến tích cực, đáp ứng đượcquyền lợi của người tham gia BHYT Đến năm 2005, 100% xã có BHYT hoạtđộng, đáp ứng yêu CSSKND trong toàn tỉnh [76, tr.5].