Trong những năm qua công tác phòng, chống tham nhũng đã đạt đượcmột số kết quả tích cực, nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng được đưa raxét xử; nhiều vụ án phức tạp, kéo dài đã được xử l
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tham nhũng là tệ nạn mang tính toàn cầu Tuy nhiên biểu hiện, tínhchất, phạm vi của tham nhũng ở các nước khác nhau bởi đó là một hiện tượng
xã hội phản ảnh các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, tập quán của từng dântộc, từng quốc gia Hậu quả của tham nhũng gây ra không chỉ thiệt hại về vậtchất mà nguy hiểm hơn nữa là làm mất lòng tin của dân đối với chế độ chínhtrị, bộ máy nhà nước, đảo lộn giá trị xã hội…
Nhận thức đúng tác hại của tham nhũng, Đảng, Nhà nước ta đã đề ranhiều chủ trương, chính sách quan trọng về phòng, chống tham nhũng: Nghịquyết số 14-NQ/TW ngày 15/5/1996 của Bộ Chính trị khóa VII về tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, Nghị quyết
số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 của Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trungương Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí…
Trong những năm qua công tác phòng, chống tham nhũng đã đạt đượcmột số kết quả tích cực, nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng được đưa raxét xử; nhiều vụ án phức tạp, kéo dài đã được xử lý dứt điểm, nghiêm minh.Song cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng vẫn còn nhiều cam go, ngàycàng tinh vi, phức tạp, nguyên nhân là do việc lãnh đạo, chỉ đạo công tácphòng, chống tham nhũng ở một số nơi chưa thật sự sâu sát, trách nhiệm củacác cơ quan, tổ chức, người đứng đầu trong công tác phòng, chống thamnhũng còn hình thức; việc kiểm tra giám sát chưa thật chủ động, thườngxuyên; công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về phòng, chốngtham nhũng chưa đồng đều, chưa tạo được tính tự giác cao trong tổ chức thựchiện, việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu khi để xẩy ra tham nhũng chưanghiêm, không tương xứng với số vụ việc tham nhũng được phát hiện, xử lýviệc chuyển đổi vị trí công tác còn hình thức, bất cập Năm 2013 đã có 41trường hợp người đứng đầu bị xử lý do thiếu trách nhiệm để xảy ra thamnhũng (04 người bị xử lý hình sự, 33 người bị xử lý hành chính, 04 trường
Trang 2hợp khác đang được cơ quan có thâm quyền xem xét, xư lý, giảm 14% so vớicùng kỳ năm trước); trong những năm gần đây và năm 2013, xét xử 1.463 vụ
án tham nhũng, tuy nhiên chỉ có 719 người đứng đầu và cấp phó của ngườiđứng đầu bị xử lý do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng
Do vậy, để thực hiện tốt và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phòng,chống tham nhũng, thì vấn đề xử lý trách nhiệm người đứng đầu trong các cơquan hành chính nhà nước khi để xảy ra tham nhũng được coi là một trongnhững giải pháp quan trọng để phòng ngừa tham nhũng Cùng với việc banhành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2007
và 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định 107/2006/NĐ-CP, Nghị định số211/2013/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số107/2006/NĐ-CP quy định xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổchức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mìnhquản lý, phụ trách với những quy định chi tiết, cụ thể về nguyên tắc xử lý, cáchình thức xử lý, cách thức áp dụng từng hình thức xử lý, các trường hợp miễngiảm trách nhiệm, thẩm quyền, quy trình, thủ tục xử lý đã tạo ra cơ sở pháp lýquan trọng để cơ quan, cá nhân có thẩm quyền, có cơ sở pháp lý, chế tài cụthể để áp dụng Và tiếp sau đó, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số08/2007/TT-BNV hướng dẫn việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi
để xảy ra tham nhũng đối với các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước,
tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có sử dụng ngân sách của Nhànước Thông tư hướng dẫn cụ thể việc xác định người đứng đầu bao gồmnhững đối tượng nào, xác định cụ thể các doanh nghiệp nhà nước quy định tạiNghị định 107/2006/NĐ-CP là những doanh nghiệp nào, các nguyên tắc, hìnhthức xử lý kỷ luật áp dụng cho người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp, doanhnghiệp của Nhà nước, người đứng đầu các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội -nghề nghiệp có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước Do đơn vị sựnghiệp, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
có đặc thù riêng trong quản lý và hoạt động so với các cơ quan hành chính
Trang 3nhà nước nên việc ban hành Thông tư với những hướng dẫn cụ thể đã giúpcho các cơ quan, đơn vị này dễ dàng trong việc vận dụng trực tiếp các quyđịnh về xử lý trách nhiệm người đứng đầu vào hoạt động phòng, chống thamnhũng của cơ quan, đơn vị mình.
Tuy nhiên, nhiều quy định về xử lý trách nhiệm người đứng đầu còn mâuthuẫn, bất hợp lý và thiếu tính khả thi Do đó, việc nghiên cứu để khẳng địnhtrách nhiệm của người đứng đầu trong các cơ quan hành chính nhà nước khi
để xẩy ra tham nhũng là hết sức cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ trước tới nay có rất nhiều đề tài khoa học, luận văn nghiên cứu, đánhgiá ở nhiều góc độ khác nhau về công tác phòng, chống tham nhũng; nghiêncứu những quy định pháp luật về xử lý các hành vi tham nhũng
- Các đề tài có liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng:
+ Trần Quốc Trượng (1994), Thanh tra với cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện na, Đề tài cấp bộ, Hà Nội.
+ Phạm Văn Khanh (2004), Thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước về giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, Đề tài cấp bộ, Hà Nội.
+ Mai Quốc Bình (2007), Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược phòng ngừa và nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam đến năm 2020, Đề tài trọng điểm cấp bộ, Hà Nội
+ Trần Ngọc Liêm (2007), Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác chống tham nhũng của các cơ quan Thanh tra Nhà nước theo Luật Phòng, chống tham nhũng, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội.
+ Nguyễn Thế Huệ (2007), Vai trò của Hội người cao tuổi và Hội cựu chiến binh tham gia vào phòng, chống tham nhũng ở cơ sở, Đề tài cấp bộ, Hà Nội.
- Các đề tài, bài viết có liên quan đến trách nhiệm người đứng đầu trong các cơ quan hành chính nhà nước khi để xẩy ra tham nhũng:
+ ‘‘Trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xẩy ra tham nhũng”, Đề tài khoa học cấp cơ sở - ThS Trần Văn Long, (Viện Khoa
Trang 4học Thanh tra làm chủ nhiệm đề tài, năm 2013) Nhóm nghiên cứu đề tài đưa
ra những cơ sở lý luận và thực tiễn các quy định của pháp luật về trách nhiệmngười đứng đầu, cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xây ra tham nhũng tại cơquan, đơn vị mình phụ trách như: xuất phát từ quan điểm, đường lối củaĐảng, quy định của pháp luật về trách nhiệm người đứng đầu khi đề xây ratham nhũng, thực trạng về quy định của pháp luật về trách nhiệm và xử lýtrách nhiệm người đứng đầu khi để xẩy ra tham nhũng trong những năm gầnđây để làm căn cứ hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệmngười đứng đầu, cơ quan, tổ chức đơn vị khi để xẩy ra tham nhũng
+ ‘‘ Bàn về trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xẩy ra tham nhũng”, (tác giả TS Đinh Văn Minh, Phó Viện trưởng Viện
Khoa học Thanh tra, Báo Dân trí, 2012) Bài báo nêu lên một số quan điểm vềtrách nhiệm người đứng đầu khi để xẩy ra tham nhũng hiện nay và đưa raquan điểm của tác giả nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc về quyđịnh trách nhiệm người đứng đầu khi để xẩy ra tham nhũng
+ ‘‘Trách nhiệm người đứng đầu”, (Tác giả Nữ Quỳnh Báo Hà Nội
mới, 2012), Bài báo đưa ra số liệu về xử lý trách nhiệm người đứng đầu trongnhững năm qua và coi việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổchức, đơn vị khi để xẩy ra tham nhũng là một trong sáu "tấm lá chắn" để ngănchặn phòng, chống tham nhũng Đồng thời, kiến nghị cơ quan nhà nước cóthẩm quyền cần phải có sự quyết liệt, nghiêm túc hơn, cần thiết có thể chọnkhâu đột phá trong PCTN là "xử lý trách nhiệm người đứng đầu" và triển khaingay trong những năm tới
Tuy nhiên, để nghiên cứu một cách cụ thể về trách nhiệm của người đứngđầu trong các cơ quan hành chính nhà nước khi để xẩy ra tham nhũng thì chưa có
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm lý giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế độ tráchnhiệm của người đứng đầu trong các cơ quan hành chính nhà nước khi để xẩy
Trang 5ra tham nhũng Từ đó đề xuất các giải pháp đề cao trách nhiệm người đứngđầu góp phần phòng ngừa tham nhũng cơ quan hành chính nhà nước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu những nộidung sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về phòng, chống tham nhũng và trách nhiệm củangười đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước khi để xẩy ra tham nhũng
- Đánh giá thực trạng về quy định và xử lý trách nhiệm của người đứngđầu cơ quan hành chính nhà nước khi để xẩy ra tham nhũng
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị đề cao vai trò trách nhiệm của ngườiđứng đầu cơ quan hành chính nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả phòng,chống tham nhũng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu vai trò, trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính nhànước khi để xẩy ra tham
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về trách nhiệm của người đứng đầu trongcác cơ quan hành chính nhà nước khi để xẩy ra tham nhũng trong những nămgần đây, đặc biệt từ năm 2007 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duyvật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin Đồng thời, dựa trên các quan điểm củaĐảng và Nhà nước ta về chế độ trách nhiệm xử lý người đứng đầu cơ quanhành chính nhà nước khi để xẩy ra tham nhũng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học,báo cáo, tổng kết thực tiễn để xem xét, giải quyết các vấn đề cụ thể về lý luận
và thực tiễn
Trang 66 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Qua nghiên cứu này, luận văn không những góp phần bổ sung thêmnguồn tài liệu có giá trị tham khảo cho các nhà nghiên cứu, các nhà làm luật,các nhà quản lý…để xây dựng chiến lược phòng, chống tham nhũng; mà còn
là nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo thuộc các lĩnh vực thanh tra,kiểm tra, điều tra, kiểm toán…trong vấn đề xử lý trách nhiệm người đứng đầutrong các cơ quan hành chính nhà nước khi để xẩy ra tham nhũng
Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho các cấp lãnh đạo, người đứngđầu trong các cơ quan hành chính nhà nước, nhằm góp phần hoàn thiện chínhsách, kiện toàn tổ chức, cơ chế quản lý phát hiện các hành vi tham nhũng cóhiệu quả Từ đó, đề xuất những kiến nghị nhằm khẳng định và nâng cao tráchnhiệm của người đứng đầu trong các cơ quan hành chính nhà nước trong côngtác phòng, chống tham nhũng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phòng, chống tham nhũng và trách nhiệm
của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước khi để xẩy ra tham nhũng
Chương 2: Thực trạng về quy định và xử lý trách nhiệm của người đứng
đầu cơ quan hành chính nhà nước khi để xẩy ra tham nhũng
Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị tăng cường trách nhiệm của người
đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước trong phòng, chống tham nhũng
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CƠ QUAN HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC KHI ĐỂ XẨY RA THAM NHŨNG
1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THAM NHŨNG VÀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
1.1.1 Quan niệm về nguồn gốc và đặc điểm của tham nhũng
1.1.1.1 Khái niệm tham nhũng
Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về tham nhũng Theo nghĩarộng, tham nhũng được hiểu là hành vi của bất kỳ người nào có chức vụ,quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền
hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi Từ điển Tiếng việt định Nghĩa: Tham nhũng là lợi dụng quyền hành nhũng nhiễu nhân dân và lấy củatài liệu hướngdẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống tham nhũng (năm
1969) quan niệm tham nhũng là “Sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng” [39, tr.13].
Pháp luật Việt Nam quy định “tham nhũng là hành vi của người có chức
vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ đó vì vụ lợi” Người có chức vụ, quyền
hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vịthuộc hệ thống chính trị; nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sửdụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước Việc giới hạn như vậy nhằm tậptrung đấu tranh những hành vi tham nhũng ở khu vực diễn ra phổ biến nhất,thích hợp với việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng Với quanđiểm đó, công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay chủ yếu tậptrung vào khu vực công, đặc biệt là tập trung vào các cơ quan HCNN, gắnliền với con người, tài sản, vốn của Nhà nước Như vậy, tham nhũng cónhững dấu hiệu cơ bản là: phải là người có chức vụ và quyền hạn trong hệthống các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức chính trị - xã hội, phải lợi dụng
Trang 8những quyền hạn hoặc nhiệm vụ đã được giao hoặc ủy quyền; và đặc biệt vớimục đích là vụ lợi Đây cũng là dấu hiệu cơ bản để phân biệt với các hành vi
cố ý làm trái gây hậu quả thiệt hại tài sản của Nhà nước Với các đặc điểmnày thì khái niệm tham nhũng ở nước ta có thể hẹp hơn so với các nước khácnhưng vẫn bao hàm được các dấu hiệu cơ bản và sát hơn với thực tế thamnhũng và đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta [39, tr.13-14]
1.1.1.2 Quan niệm về nguồn gốc tham nhũng
Khi nghiên cứu bản chất của tham nhũng chúng ta thấy rằng, thamnhũng gắn liền với vấn đề quyền lực và lợi ích cá nhân, nguồn gốc của thamnhũng cũng xuất phát từ những yếu tố này
Trước hết, tham nhũng là một hiện tượng tiêu cực của xã hội gắn liềnvới quyền lực, việc tổ chức sử dụng quyền lực Chỉ khi có quyền lực, thamgia vào quá trình QLNN thì tham nhũng mới có thể nảy sinh Chúng ta thấyhình thái kinh tế - xã hội đầu tiên trong lịch sử loài người là xã hội cộngsản nguyên thủy, ở đó chưa có giai cấp, chưa có nhà nước và pháp luật.Trong xã hội, đã có quyền lực và hệ thống quản lý các công việc của xãhội, nhưng đây mới chỉ là quyền lực xã hội, hòa nhập với xã hội Cơ sởkinh tế của xã hội cộng sản nguyên thủy là chế độ sở hữu chung về tư liệusản xuất và sản phẩm lao động Mọi người đều bình đẳng trong lao động vàhưởng thụ, không có tài sản riêng, không có tình trạng chiếm đoạt tài sản
và xã hội không phân chia thành giai cấp, do đó, trong xã hội chưa có tìnhtrạng tham nhũng Xã hội phát triển cao hơn làm nảy sinh chế độ sở hữu.Khi đó, xã hội phân chia thành giàu, nghèo; phân chia giai cấp có lợi íchkhác nhau, Nhà nước xuất hiện với tư các là cơ quan quyền lực nhằm điềuhành những lợi ích đối lập nhau trong xã hội Ở đó, quyền lực nằm trongtay giai cấp thống trị và việc thực hiện quyền lực thông qua giai cấp cầmquyền Từ đó xuất hiện việc sử dụng quyền lực được giao vì các lợi ích cánhân hoặc của những người có liên quan đến họ thì hành vi đó chính làhành vi tham nhũng [39, tr.17]
Trang 9Qua đó có thể thấy, không phải mọi loại quyền lực ở mọi loại hình tháikinh tế - xã hội đều là nguồn gốc làm phát sinh tham nhũng Hay nói cáchkhác, tham nhũng xuất hiện khi quyền lực được tổ chức, sử dụng bởi mộtnhóm người, một giai cấp nhất định, quyền lực ấy bị những người này lợidụng để chiếm đoạt lợi ích, tài sản cho bản thân hoặc cho những người liênquan Như vậy, không phải chỉ riêng có quyền lực nhà nước (quyền lực được
tổ chức sử dụng bởi Nhà nước) mới làm phát sinh tham nhũng mà cả các loạikhác như quyền lực của một tổ chức nhất định, của một tập thể… cũng có thểlàm phát sinh tham nhũng Do đó, tham nhũng chính là hiện tượng xã hội gắnvới sự xuất hiện chế độ tư hưu, sự hình thành giai cấp và sự ra đời phát triểncủa bộ máy nhà nước, quyền lực nhà nước và quyền lực khác [39, tr.17-18].Nguồn gốc thứ hai của tham nhũng chính là sự theo đuổi lợi ích cá nhâncủa người có chức vụ, quyền hạn Tham nhũng nói cách khác, chính là sựtham lam, vụ lợi, nhũng nhiễu, là chiếm đoạt lợi ích, tài sản của công thànhcủa riêng Con người sống và luôn hành động theo nhu cầu vật chất, tinhthần của mình, sống và hành động theo lợi ích Lợi ích là động lực cơ bản,
là mục tiêu của mọi hoạt động và là nguồn gốc cho sự phát triển của xã hội.Bởi vì, muốn tồn tại và phát triển con người cần thỏa mãn các nhu cầu về
ăn, mặc, ở, đi lại, vui chơi, học tập, giải trí,… Cùng với sự phát triển của
xã hội thì những nhu cầu đó cũng tăng lên và con người tìm mọi cách đểthỏa mãn chúng Lợi ích của từng cá nhân và lợi ích của tập thể có thểthống nhất với nhau hoặc không Có khi muốn đạt lợi ích cá nhân người taphải thông qua lợi ích tập thể, vì lợi ích tập thể; nhưng có khi vì lợi ích cánhân người ta phai phải làm phương hại lợi ích tập thể Do đó, khi mọi cánhân, nhóm người năm giữ quyền lực, được trao quyền lực để quản lý, điềuhành một cơ quan, đơn vị, họ có xu hướng lợi dụng quyền lực đó vì lợi íchvật chất, tinh thần của bản thân hoặc những người thân quen của mình.Hành vi này chỉ đem lại cho một hoặc một số cá nhân nhưng sẽ làmphương hại đến đến lợi ích của xã hội, gây thiệt hai to lớn cho sự phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước [25, tr.18-20]
Trang 10Tóm lại, quyền lực, việc tổ chức sử dụng quyền lực và lợi ích cá nhânchính nguồn gốc sâu xa của tham nhũng Xuất phát từ nguồn gốc này, thamnhũng có thể nảy sinh bất cứ khi nào nếu quy định của pháp luật, cơ chế kiểmsoát quyền lực không hiệu quả, nếu người năm giữ quyền lực không bản lĩnh,phẩm chất, tha hóa về đạo đức, trách nhiệm người đứng đầu không cao thì sẽ
là mầm mống phát sinh tham nhũng
1.1.1.3 Đặc điểm tham nhũng ở Việt Nam
Sau gần 30 năm đổi mới, mặc dù đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựuquan trọng trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, nhưng trình độ quản lý vẫn cònlạc hậu, nên kinh tế phát triển chậm, còn dấu ấn một xã hội nông nghiệp, mứcsống chưa cao Cùng với những hạn chế yếu kém trong quá trình quản lý nhànước là điều kiện thuận lợi cho tham nhũng xuất hiện Bên cạnh đó, hệ thốngchính sách, pháp luật chưa đẩy đủ, hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán, xử
lý các hành vi tham nhũng chưa nghiêm, chưa đáp ứng được nhu cầu, chưa phảnảnh và điều chỉnh kịp thời những vẫn đề đặt ra trong quá trình phát triển
Ở Việt Nam, các nhà khoa học pháp lý nhìn nhận tham nhũng trên cácbình diện: chính trị, kinh tế, pháp lý, đạo đức, truyền thống và đặc biệt làbằng công cụ của tội phạm học để ghi nhận tính chất, đặc điểm và mức độ củatham nhũng Trên quan điểm tổng thể đó đã nêu ra những đặc trưng cơ bảncủa tham nhũng như sau:
Thứ nhất, chủ thể của tham nhũng phải là những người có chức vụ quyền
hạn làm việc trong bộ máy nhà nước ở các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp
từ trung ương đến địa phương, trong các cơ quan Đảng và các đoàn thể…
Thứ hai, hành vi tham nhũng được thực hiện trên cơ sở lợi dụng chức vụ,
quyền hạn được giao Đây là yếu tố thứ hai của tham nhũng và cũng là yếu tố
cơ bản để xác định hành vi tham nhũng
Thứ ba, mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi Vụ lợi là vì lợi ích vật
chất cho bản thân mình, cho người khác hoặc một nhóm người mà mình quan tâm.Qua nghiên cứu công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trongnhững năm qua, tham nhũng ở Việt Nam hiện nay có những đặc điểm sau:
Trang 11- Thứ nhất, do thói quen, tập quán xen lẫn hành vi vi phạm pháp luật
Trong quá trình chuyển đổi, cơ chế cũ đang dần bị thay thế những nếpnghĩ, nhưng thói quen, tập quán thì vẫn còn Trong khi đó, cơ chế mới hìnhthành còn nhiều bất cập, quá trình thực hiện không tránh khỏi lúng túng, cácchuẩn mực đánh giá chưa rõ ràng Trong bối cảnh đó, không ít đối tượngđược giao nhiệm vụ quản lý lợi dụng những kẽ hở để chiếm đoạt tài sản củaNhà nước, thu lợi cho cá nhân hoặc một nhóm người, hoặc có thể là một cơquan, đơn vị, hay một địa phương
- Thứ hai, tham nhũng ở Việt Nam từ nhỏ nhặt, vụn vặt đến lớn
Do những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, đạo đức truyền thống,phương thức quản lý… nạn tham nhũng ở Việt Nam trong những năm trở lạiđây từ nhỏ nhặt, vụn vặt, hay còn gọi là tham nhũng vặt cho đến các vụ thamnhũng lớn Những vụ tham nhũng nhỏ nhặt tới mức tiền hoặc tài sản củangười đưa hối lộ cho các quan chức chỉ trên mức quà biếu thông thường mộtchút mà xã hội có thể chấp nhận được Không ít cán bộ, công chức và ngườidân coi việc hối lộ cho công chức và việc công chức nhận hối lộ khi giảiquyết công việc là chuyện bình thường Tình trạng tham nhũng “vặt” và thamnhũng “nhỏ, lẻ”, mà nhiều người gọi là “nhũng nhiễu” hay “chi phí khôngchính thức” tuy thiệt hại không lớn, có khi chỉ vài chục nghìn đồng mỗi vụ,nhưng diễn ra một cách tràn lan ở nhiều nơi, khiến người dân vô cùng bứcxúc VD: muốn khám bệnh nhanh cần có vai chục ngàn đồng có thể đượckhám ngay mà không cần phải xếp hàng… Tuy nhiên gần đây, qua công tácthanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, xét xử các vụ án tham nhũng có xuhướng tăng về quy mô, thể hiện ở số lượng tài sản của Nhà nước bị chiếmđoạt, lãng phí thất thoát, như : Vụ Lã Thị Kim Oanh, Giám đốc Công ty Tiếpthị và đầu tư nông nghiệp và phát triển nông thôn,; Vụ Huỳnh Ngọc Sỹ, Giámđốc sở GTVT TPHCM, liên quan đến dự án Đại lộ Đông tây; Vụ NguyễnThanh Bình, Chủ tịch Hội đồng Thành viên của tập đoàn Vinashin; Vụ
Trang 12Dương Chí Dũng, Cục trưởng Cục Hàng hải vừa đem ra xét xử về tội thamnhũng…
- Thứ ba, tham nhũng xẩy ra phổ biến ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội.
Thực tế, tham nhũng đang diễn ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp,nhiều lĩnh vực Trong quá trình chuyển đổi, cơ chế cũ đang dần bị thay thế,nhưng thói quen thì vẫn còn Trong khi đó, cơ chế mới hình thành còn nhiềubất cập, quá trình thực hiện không tránh khỏi lúng túng, các chuẩn mực đánhgiá không rõ ràng, do đó, tham nhũng mang tính phổ biến ở nhiều cấp, nhiềungành, nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong hệ thống các cơ HCNN, vì đây lànhững cơ quan được trao nhiều quyền lực nhất và nhiều tiền nhất Và điềunguy hại nhất của tệ nạn tham nhũng ở nước ta lại nằm ở chính đặc điểm này,
nó cũng chính là nguyên nhân của việc đấu tranh chống tham nhũng của các
cơ quan chức năng kém hiệu quả, làm cho thói quen nhận hối lộ của quanchức và việc đưa hối lộ của người dân khi có việc trở thành bình thường trongđời sống hằng ngày, thậm chí còn coi là văn hoá ứng xử khi đến làm việc tại cơquan công quyền và chính việc nhận và đưa hối lộ trở thành bình thường đã dẫnđến việc tham nhũng ở nước ta mang tính phổ biến Vì vậy, không có giải pháptích cực, không có sử quản lý của nhà nước chặt chẽ, trách nhiệm người đứngđầu không cao, nó sẽ phát triển trở thành một quy luật trong hoạt động côngquyền thì hậu quả sẽ khó lường cho sự phát triển của đất nước, của dân tộc
- Thứ tư, tham nhũng ở Việt Nam ngày càng tinh vi và phức tạp
Trong những năm trở lại đây tình hình tham nhũng ở Việt Nam lànghiêm trọng, với những biểu hiện vừa tinh vi, phức tạp, thậm trí lộ liễu, xảy
ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành Trước đây, tham nhũng chủyếu xảy ra trong các lĩnh vực kinh tế, nhưng ngày nay đã lan sang các lĩnh vựcvốn được coi trọng về đạo lý như giáo dục, y tế, thực hiện chính sách xã hội,nhân đạo, từ thiện, phòng, chống dịch bệnh, ngay trong các cơ quan bảo vệ phápluật, là những cơ quan cầm cân, nảy mực, đại diện cho công lý và công bằng xã
Trang 13hội, như công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Thanh tra, kiểm tra…Những trườnghợp thanh tra viên, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán tòa án nhận hối lộ đãxuất hiện ở nhiều nơi Số người tham nhũng là cán bộ, công chức, viên chức cóchức vụ thấp hoặc không có chức vụ lãnh đạo, quản lý, như nhân viên cảnh sát,thuế vụ, bác sỹ, y tá chiếm tỷ lệ khá cao Trong những năm gần đây đã xuất hiệnmột số vụ tham nhũng liên quan đến yếu tố nước ngoài.
Tình trạng lạm dụng quy định về bí mật nhà nước để không công khai,minh bạch còn khá phổ biến Quyền tiếp cận thông tin của người dân, doanhnghiệp chưa được bảo đảm Nhiều quy định của Luật phòng chống thamnhũng về công khai, minh bạch chưa được thực hiện đầy đủ như: công khaiquy hoạch sử dụng đất, công khai giá đất; công khai dự phòng ngân sách;công khai đầu tư, mua sắm công; công khai công tác cán bộ; công khai hoạtđộng thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kết luận thanh tra; công khai,minh bạch các quyết định trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
Một số biện pháp phòng ngừa tham nhũng còn mang tính hình thức, hiệuquả thấp, nhất là việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viênchức (lý do cơ bản là chưa công khai kết quả kê khai, Nhà nước chưa kiểmsoát được tài sản trong xã hội, việc kiểm tra, xác minh để bảo đảm tính trungthực của việc kê khai còn ít); việc trả lương qua tài khoản; việc chuyển đổi vịtrí công tác của cán bộ, công chức, viên chức
Trên đây là một số đặc điểm chủ yếu của tham nhũng Việt Nam trongnhững năm gần đây, những đặc điểm này có ý nghĩa quyết định cho việc lựachọn giải pháp phòng chống tham nhũng có hiệu quả
1.1.2 Nguyên nhân, tác hại của tham nhũng ở Việt Nam
1.1.2.1 Nguyên nhân của tham nhũng
Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tham nhũng, bao gồm cảnguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân trực tiếp vànguyên nhân gián tiếp Ở mỗi quốc gia, tùy thuộc vào mỗi chế độ chính trị,trình độ phát triển kinh tế xã hội thì nguyên nhân của tham nhũng cũng có
Trang 14những điểm khác nhau Qua nghiên cứu ở Việt Nam, có thể nêu lên nhữngnguyên nhân chủ yếu dẫn đến tham nhũng như sau:
- Cơ chế quản lý và hệ thống chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện được biểu hiện ở những mặt sau:
Thứ nhất, hoạt động quản lý nhà nước chưa hiệu quả, pháp luật chưa hoàn thiện: đây là một trong những nguyên nhân gây nên sự yếu kém và bất
cập trong quá trình đổi mới đất nước, trong đó có tham nhũng Ở nước ta sựquản lý, lãnh đạo, điều hành đất nước là sự thống nhất và phối hợp giữa vaitrò lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm quản lý của Nhà nước và sự tham gia tíchcực, có hiệu quả của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức đoàn thể quầnchúng Tuy nhiên sự chưa rõ ràng trong phân cấp, phân công vai trò, chứcnăng hoạt động giữa các yếu tố trong hệ thống chính trị đã phần nào làm giảmhiệu quả lãnh đạo, quản lý, quản lý điều hành xã hội Một số nơi, tổ chứcđảng đã ít nhiều can thiệp vào hoạt động quản lý, cơ quan nhà nước còn ỷ lại,trách nhiệm người đứng đầu chưa cao, chưa làm hết trách nhiệm của mình
Về nguyên tắc, Đảng lãnh đạo thông qua chủ chương, đường lối và công táccán bộ, Nhà nước quản lý bằng chính sách pháp luật, còn các tổ chức đoàn thểphải động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội thông quatuyên truyền, phổ biến, giáo dục thuyết phục, động viên Tuy nhiên vẫn còntồn tại hiện tượng chồng chéo, lẫn lộn về tổ chức và hoạt động của các yếu tốtrong hệ thống chính trị [39, tr.27-28]
Thứ hai, cải cách hành chính vẫn còn chậm và lũng túng, thủ tục hành chính phiền hà, bất hợp lý: cơ chế “xin - cho” được nhìn nhận là một trong
những nguy cơ của tệ tham nhũng, hối lộ mà cho đến nay vẫn chưa có cáchkhắc phục Chế độ công vụ của cán bộ, công chức mới bắt đầu được quan tâmxây dựng, hiện tại còn thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát có hiệu quả Chế độ,trách nhiệm của cán bộ, công chức chưa rõ ràng, cụ thể, đặc biệt là tráchnhiệm của cán bộ lãnh đạo đối với những sai phạm, tiêu cực xảy ra trong cơquan, đơn vị mình Chế độ tiền lương đối với đội ngũ cán bộ, công chức còn
Trang 15bất hợp lý, chậm được cải cách Lương không đủ đảm bảo nhu cầu của cuộcsống cho cán bộ, công chức dẫn đến tình trạng vì cuộc sống của bản thân vàgia đình, cán bộ, công chức thực hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực khi cóđiều kiện, cơ hội Công tác quản lý đất đai còn nhiều yếu kém, việc đăng kýquyền sử dụng đất, cấp đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển giao quyền sử dụngđất, v.v., còn nhiều kẽ hở, tạo điều kiện cho tiêu cực, sai phạm nảy sinh
Cơ chế quản lý tài chính công, mua sắm công, quản lý đầu tư xây dựng
cơ bản phải trải qua nhiều khâu, nhiều “cửa” Trình tự, thủ tục này tưởng nhưchặt chẽ nhưng trên thực tế, cơ chế kiểm soát lại rất lỏng lẻo, tạo điều kiệncho tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, thất thoát Việc đổi mới phương thứcthanh toán còn chậm làm cho việc kiểm soát và phát hiện được các giao dịchphi pháp gặp nhiều khó khăn
Thủ tục hành chính trong các lĩnh vực tuy đã được cải thiện nhiều songvẫn còn rườm rà, khó theo rõi và thực hiện, tạo kẽ hở cho cán bộ, công chức,viên chức lợi dụng để gây khó rễ cho người dân, hiện tượng cán bộ công chức,viên chức lợi dụng để vòi vĩnh, nhận tiền từ người dân, doanh nghiệp trong quátrình giải quyết các thủ tục hành chính vẫn còn tồn tại [39, tr.29-30]
Thứ ba, thiếu công khai, minh bạch trong giải trình quản lý: công khai,
minh bạch là điều kiện cần có để bộ máy nhà nước tiếp thu trí tuệ của ngườidân trong thực hiện nhiệm vụ, công khai minh bạch là để người dân giám sáthoạt động của bộ máy nhà nước Các quy định của pháp luật về công khai,minh bạch hiện nay đã có nhiều tiến bộ, nhưng chưa thực sự tạo ra được bướcngoặt để công khai, minh bạch chưa được thực hiện đầy đủ trên các lĩnh vựcquản lý, chưa thực sự tạo điều kiện cho người dân giám sát hoạt động quản lý
Cơ chế quản lý tài sản công, mua sắm công, quản lý đầu tư xây dựng cơbản phải trải qua nhiều khâu, nhiều “cửa” Nhiều lĩnh vực khác như y tế, vănhóa, giáo dục, chính sách xã hội, đất đai…, vẫn đề công khai, minh bạch cũngchưa được thực hiện tốt Do cơ chế quản lý, kiểm soát còn lỏng lẻo nên đã tạođiều kiện nay sinh tiêu cực, tham nhũng, lãng phí thất thoát
Trang 16Trách nhiệm giải trình là một cơ chế quan trọng bảo đảm minh bạchthông tin trong quản lý, bảo đảm người dân được tiếp cận thông tin, là cơ sở
để phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, tổ chức, đoàn thể và nhândân đối với hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và đội ngũ cán bộ,công chức nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi chức trách, nhiệm vụđược giao Thực hiện tốt trách nhiệm giải trình sẽ góp phần to lớn vào côngtác PCTN Tuy nhiên, vấn đề này mới được quy định trong hệ thống pháp luậtViệt Nam, chưa phát huy tác dụng trong thực tế công tác phòng, chống thamnhũng ở Việt Nam [39, tr.31-32]
- Phẩm chất, đạo đức của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức bị suy thoái
Suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống của một phận cán bộ,công chức, viên chức, công tác quản lý, giáo dục cán bộ, viên chức chưa theokịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội là một nguyên nhân chủ yếu của vấnnạn tham nhũng Khi đã có chức vụ, quyền hạn, nguy cơ tham nhũng luôntiềm tàng trong họ, nếu họ không có đủ bản lĩnh, có đủ phẩm chất để thắngđược cám dỗ của những lợi ích và kèm theo đó là sự quản lý lỏng lẻo củaquản lý nhà nước, sự yếu kém người đứng đầu thì họ dễ ràng lợi dụng chức
vụ, quyền hạn để giành lấy lợi ích cho riêng mình
Công tác tuyển dụng, quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ của chúng tatrong nhiều trường hợp không đúng với năng lực, phẩm chất và chưa đị đôivới bồi dưỡng, đào tạo, nên không ít cán bộ yếu kém cả về trình độ, chuyênmôn,nghiệp vụ và phẩm chất chính trị Công tác quản lý, giáo dục, kiểm tracán bộ, công chức, viên chức đôi khi buông lỏng Cơ chế thị trường bên cạnhnhững mặt tích cực cũng bộc lộ những điểm tiêu cực, nếu công tác giáo dụcchính trị tư tưởng không tốt, quản lý không nghiêm chẽ, nếu cán bộ, côngchức, viên chức không không tự giác rèn luyện, tu dưỡng mà chạy theo lợi íchvật chất thì dễ bị đồng tiền cám dỗ, dẫn đến vị phạm pháp luật, lợi dụng khe
hở của pháp luật để tham nhũng
Trang 17Tháng 1-1999, Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khoá VIII nhận định: “Sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, tình trạngtham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiềuhướng phát triển nghiêm trọng hơn” Ngày 21-8-2006, Nghị quyết Hội nghịlần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X nhận định: “Công táccán bộ nói chung và việc quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức nóiriêng còn nhiều yếu kém Một bộ phận không nhỏ đảng viên, cán bộ, côngchức suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống Không ítcán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành, kể cả cán bộ lãnh đạo cao cấp,còn thiếu gương mẫu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức; chưa đi đầu trongcuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm”.
Khi đánh giá nguyên nhân về mặt quản lý, pháp luật và đạo đức, phẩmchất của cán bộ, công chức, viên chức có thể thấy rằng, nếu chúng ta có một
cơ chế quản lý chặt chẽ, công khai, minh bạch, pháp luật hoàn thiện, sự quản
lý, giám sát của người đứng đầu thì kể cả những người có động cơ thamnhũng, tha hóa về phẩm chất đạo đức, bản chất tham nhũng cũng không giámtham nhũng Thực tế cho thấy, nhiều cán bộ, công chức, viên chức có phẩmchất đạo đức tốt trong các cuộc kháng chiến, nhưng trong cơ chế thị trường,được giao nhiệm vụ quản lý ở vị trí nhất định lại không giữ được phẩm chất
và bị cám dỗ đã có những hành vi tham nhũng, vi phạm pháp luật nghiêmtrọng [39, tr.32-35]
- Do ảnh hưởng của tập quán văn hóa
Khi nghiên cứu về văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt làvăn hóa trong quản lý, điều hành, các nhà nghiên cứu đã phát hiện và nêu lênmột số vấn đề có liên quan đến việc hình thành và phát triển của tham nhũng
Thứ nhất, chủ nghĩa “thân quen” (giải quyết các vấn đề phát sinh trong
công việc dựa trên mối quan hệ riêng của cá nhân
Thứ hai, văn hóa “quà biếu", Từ trước tới nay, tặng quà vốn là một nét
đẹp trong truyền thống của người phương đông nói chung và người Việt Nam
Trang 18nói riêng Qua những món quà, con người thể hiện sự quan tâm, trân trọng vàgửi gắm những tình cảm tốt đẹp, đặc biệt là trong dịp lễ, tết, cưới, hỏi… Tuynhiên dưới sự tác động mặt trái của cơ chế thị trường, nét đẹp này đã bị nhiềungười lợi dụng và trở thành một hình thức trá hình để thực hiện hành vi đưa
và nhận hối lộ, Cơ quan, tổ chức cá nhân khi muốn giải quyết công việc vớinhà chức trách thường tìm cách biếu xén để được tạo điều kiện thuôn lợi hơn,còn những người có chức vụ, quyền hạn thì giải quyết công việc theo hướng
có lợi cho đối tượng biếu quà Và khi đã quen với việc nhận quà, tinh thần,thái độ sẽ được cân, đo, đong, đếm bằng chất lượng quà biếu, thậm chí nhiềungười còn gây khó khăn để được nhận quà biếu Cùng với hiện tượng “vănhóa quà biếu” còn có “văn hóa phong bì” Để giải quyết công việc nhanhchóng, doanh nghiệp, cá nhân đưa hối lộ cho người có thẩm quyền giải quyết
đã trở nên phổ biến Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nhiều đặc điểm vềvăn hóa, nhiều vấn đề trong đời sống văn hóa đã trở thành nguyên nhân củatham nhũng Xem xét vấn đề này rất có ý nghĩa trong việc nhận diện và tìm ranguyên nhân của tham nhũng [39, tr.35-37]
- Công tác phòng, chống tham nhũng chưa hiệu quả
Thứ nhất, sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác phòng, chống tham nhũng trong một số trường hợp chưa chặt chẽ, sâu sát, thường xuyên: xử lý
chưa nghiêm đối với hành vi tham nhũng: Những năm qua, Đảng và Nhànước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật vềđấu tranh chống tham nhũng Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện trên thực tếcòn nhiều hạn chế Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng và cơ quan nhà nước, đơn vị
sự nghiệp chưa đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, chưa có kế hoạch,giải pháp để tích cực phòng, chống tham nhũng trong cơ quan, ngành mình.Công tác ngăn ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng tuy đã đạt được một số kếtquả nhất định nhưng chưa đáp ứng yêu cầu Một số vụ án tham nhũng lớn đãđược phát hiện và đưa ra xét xử nghiêm minh, tạo nên sự tin tưởng của nhândân Tuy nhiên, dư luận vẫn băn khoăn đối với việc xử lý một số vụ án Đây
Trang 19là những vấn đề làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, hiệu lực của cuộcđấu tranh chống tham nhũng những năm qua.
Thứ hai, thiếu các công cụ phát hiện và xử lý tham nhũng hữu hiệu: các
vụ việc tham nhũng được phát hiện chủ yếu thông qua các hoạt động điều tra,thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát và giải quyết tố cáo Tuy nhiên, cơchế phối hợp của các cơ quan nói trên còn có những hạn chế; nhiệm vụ,quyền hạn và trách nhiệm của từng cơ quan chưa bảo đảm phát huy hết vai tròcủa từng cơ quan trong phát hiện và xử lý tham nhũng
Về pháp luật, chúng ta chưa có những quy định cho phép các cơ quanchức năng áp dụng các biện pháp đặc biệt để có thể phát hiện các hành vitham nhũng nên hiệu quả phát hiện tham nhũng chưa cao Tham nhũng là mộtloại tội phạm đặc biệt, chủ thể của nó là những người có chức vụ, quyền hạn,
có trình độ, thực hiện hành vi tham nhũng rất tinh vi, khó phát hiện và trongnhiều trường hợp kẻ vi phạm dùng nhiều thủ đoạn, kể cả dưới danh nghĩa nhànước để cản trở việc điều tra và truy cứu trách nhiệm Đặc biệt, việc thu thậpchứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội tham nhũng là cực kỳ khó khăn,nhất là đối với hành vi nhận hối lộ
Việc kiểm soát và minh bạch hóa thu nhập, tài sản của cán bộ công chức,viên chức còn gặp nhiều khó khăn và chưa đạt kết quả như mong muốn Chếđịnh kê khai tài sản đã có quy định nhưng còn mang tính hình thức Bên cạnh
đó, việc không có cơ quan chủ trì, tổng hợp, kiểm tra, xử lý và việc thực hiệnkhông nghiêm của cán bộ, công chức kể cả người đứng đầu trong vấn đề kê khaitài sản đã dẫn đến sự thực thi không triệt để các quy định về kê khai tài sản, mặc
dù đây là một chủ chương đúng đắn, tích cực được xã hội đồng tình, ủng hộ
Thứ ba, các tổ chức xã hội chưa thực sự tham gia tích cực vào công tác phòng, chống tham nhũng: các tổ chức xã hội đã có những đóng góp nhất
định trong công tác PCTN Tuy nhiên, sự tham gia đó chưa đáp ứng được yêucầu đặt ra
Trang 20Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên chưa phát huy hết vai trògiám sát, phản biện xã hội Các doanh nghiệp và hiệp hội doanh nghiệp chưathực sự quan tâm đến môi trường kinh doanh phi tham nhũng Báo chí nước
ta đã phát huy hết vai trò nhất định của mình trong đấu tranh PCTN, nhữngnhìn chung, sự đóng góp của báo chí đối với cuộc đấu tranh PCTN vẫn cònhạn chế, mới chỉ dừng lại ở mức phê phán hình vi tham nhũng mà chưa coitrọng việc truyền đạt kịp thời những đường lối, chủ chương của Đảng và phápluật của Nhà nước, những sáng kiên hay, những hoạt động lành mạnh, nhữngthông tin tích cực, biểu dương và cổ vũ, động viên đến toàn xã hội
Phía người dân, mặc dù đã có những cá nhân điển hình, dám đứng ra tốcáo những hành vi tham nhũng, nhưng trên thực tế còn không ít người lo ngai,chưa giám lên án mạnh mẽ hành vi tham nhũng [39, tr.37-40]
Thứ tư, trách nhiệm của người đứng đầu chưa cao: thực tế cho thấy
nguyên nhân của tham nhũng ở Việt Nam trong những năm qua cũng xuấtphát từ trình độ, chuyên môn, bản lĩnh, dũng khí và phương pháp quản lý củangười đứng đầu trong việc phát hiện và kiểm tra khi có dấu hiệu tham nhũngxẩy ra tại cơ quan, đơn vị mình quản lý Người đứng đầu còn e ngại, nể nang,thậm chí còn bao che cho các hành vi tham nhũng, bệnh thành tích dẫn đếnchưa thể phát hiện được tham nhũng hoặc có phát hiện được tham nhũng cũngchưa chắc đã giám xư lý do sợ liên đới trách nhiệm
1.1.2.2 Tác hại của tham nhũng
Tham nhũng có thể gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng trên tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội Ngày nay, tác hại của tham nhũng đã trở thànhmối lo ngại có tính toàn cầu Đối với nước ta, trong nhiều văn kiện của Đảng
và nhà nước, tác hại của tham nhũng cũng được nhiều lần đề cập như là mộttrong những nguy cơ gây mất ổn định về chính trị, thiệt hại lớn cho sự nghiệpphát triển kinh tế và làm xói mòn niềm tin, đạo đức xã hội, làm đảo lộn trật tựquản lý nhà nước Có thể khái quát những tác hại chủ yếu của tham nhũng ởnhững điểm chính sau:
Trang 21- Tác hại về chính trị
Tác hại về chính trị là nguy cơ hàng đầu mà tham nhũng có thể gây ra.Trong công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, ngay từ câu đầutiên, cộng đồng quôc tế bày tỏ sự lo ngại về tính nghiêm trọng của các vấn đềcũng như những mối đe dọa do tham nhũng gây ra đối với sự ổn định và anninh xã hội, xói mòn các thể chế và các giá trị dân chủ, các giá trị đạo đức,công lý và gây tổn hại đến sự phát triển bền vững và chế độ
Ở Việt Nam, công cuộc xây dựng và phát triển đất nước đòi hỏi phải tạolập được môi trường chính trị ổn định Nhưng thực tế, tham nhũng đang làmột trong những nguy cơ lớn gây mất ổn định chính trị, đe dọa sự tồn vongcủa chế độ Tham nhũng đang làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với sựlãnh đạo của Đảng, làm giảm hiệu lực quản lý của nhà nước và làm cản trở sựnghiệp xây dựng đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội, tham nhũng ở Việt Namđang ngày có những diễn biến phức tạp Điều này đã được nhiều văn kiện củaĐảng, chính sách của nhà nước khái quát từ thực tiễn phát triển đất nướctrong nhiều năm qua
Tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Đảngcộng sản Việt Nam đã nhận định: “Tệ tham nhũng, hối lộ, ăn chơi phung phítài sản của nhân dân rất nghiêm trọng và kéo dài Những hiện tượng đó gâytác hại rất lớn, làm tổn hại danh tiếng của Đảng”
Hội nghị lần thứ Chín Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Đảng cộngsản Việt Nam chỉ rõ: “ Điều làm cho nhân dân còn nhiều bất bình, lo lắng,bức xúc nhất hiện nay là tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, suy thoái
về tư tưởng, chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ,đảng viên vẫn còn rất nghiêm trọng…”
Tháng 1 năm 1994, Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VIIđánh giá lại: “Tệ quan lieu, tham nhũng và suy thoái đạo đức của một bộ phậncán bộ, đảng viên làm cho bộ máy của Đảng và Nhà nước suy yếu, lòng tincủa nhân dân đới với Đảng, đối với chế độ bị xói mòn”
Trang 22Nghị quyết số 14 ngày 15-5-1996 của Bộ chính trị về lãnh đạo cuôc đấutranh chống tham nhũng đã nêu khái quát tác hại của tệ tham nhũng như sau:Tình trạng tham nhũng đã và đang gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng, làm
xó mòn bản chất của Đảng và nhà nước, làm tha hóa đội ngũ cán bộ, đảngviên, tiếp tay cho các thế lực thù địch lựi dụng chống phá ta, uy hiếp sự tồnvọng của chế độ
Tháng 4 năm 2001, Đại hội Đảng IX lại tiếp tục khẳng định: “Nạn thamnhũng diễn ra nghiêm trọng kéo dài, gây bất bình trong nhân dân và là mộtnguy cơ lớn đe dọa sự sống của chế độ ta”
Nghị quyết số 04/2006/NQ-TW ngày 21 tháng 8 năm 2006 của Hội nghịlần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa X về tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí tiếp tục nhấnmạnh: “Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiềucấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu vềnhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng vànhà nước, tiềm ẩn các xung đột lợi ích, phản kháng về xã hội, làm tăng thêmkhoảng cách giầu, nghèo Tham nhũng trở thành vật cản lớn cho thành côngcủa công cuộc đổi mới , cho sức chiến đấu của Đảng , đe dọa sự tồn vong củachế độ [39, tr.41-44]
- Tác hại về kinh tế
Ở Việt Nam, nhiều vụ việc tham nhũng lớn được phát hiện trong thờigian qua chủ yếu liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanhnghiệp và gây thiệt hại về kinh tế với giá trị rất lớn, ví dụ như: vụ hối lộ trongđường dây “quota” dệt may tại bộ Thương mại (trong khoảng thơi gian 2003-2004), một người Nguyên Thứ trưởng bộ Thương mại đã bị kết án 12 năm tù
vì nhận hối lộ; vụ Lã Thị Kim Oanh, nguyên Giám đốc Công ty tiếp thị vàThương mại Nông nghiệp thuộc bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đãthực hiện hành vi tham ô tài sản, cố ý làm trái quy định quản lý kinh tế củanhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng (Lã Thị Kim Oanh bị kết án tử hình, sau
Trang 23đó được Chủ tịch nước ân giảm và phải chịu án tù chung than); vụ thamnhũng tại Tổng công ty hàng hải Việt Nam (vinalines) liên quan đến bị cáoDương Chí Dũng nguyên là Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam, nguyên Chủtịch Hội đồng thành viên Vinashin liên quan đến bị cáo Nguyễn Thanh Bìnhnguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Vinashin,… Quacác vụ án này cho thấy, thiệt hại về kinh tế của tham nhũng không chỉ lớn bởi
số tiền, tài sản mà đối tượng tham nhũng đã chiếm đoạt được mà lớn hơn nữa,
đó là thiệt hại cho cả một ngành kinh tế, thậm chí là cả nền kinh tế Việc cácđối tượng tham nhũng thực hiện các hành vi tham nhũng không chỉ làm thấtthoát tiền, tài sản của nhà nước mà nó gây ra tác hại lớn hơn bởi chính cáchành vi tham nhũng được thực hiện đã tác động tiêu cực đến môi trường kinhdoanh, làm thất thoát, lãng phí tiền, tài sản và các nguồn khác của nhà nước,kìm hãm sự phát triển kinh tế
Tác hại về kinh tế của tham nhũng còn được phản ánh qua tổng số tiền,tài sản mà doanh nghiệp, người dân phải trả các chi phí ngoài quy định khigiao dịch với các cơ quan nhà nước, đó là khoản chi phí không chính thức.Trong kháo sát xã hội học: “Tham nhũng, từ goc độ nhìn của người dân,doanh nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức” cho thấy 60% số doanh nghiệpđược hỏi tin rằng chi phí không chính đáng khá tốn kém và 28% nghĩ rằng chiphí không chính đáng đang gây trở ngại khi giải quyết công việc Khảo sátnày cũng cho thấy, người dân khi đến gặp hoặc giao dịch với một số cơ quannhà nước để xin việc, có 12% nói họ phải trả khoản tiền ngoài quy định “lớn”.Các ngành khác có sắc suất phải trả những khoản tiền lớn ngoài quy định làgiáo dục và trường học, cảnh sát giao thông và cấp sổ đỏ [39, tr.44-47]
- Tác hại về xã hội
Thứ nhất, tham nhũng làm suy thoái về tư tưởng, chính trị và phẩm chấtđạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên:các hành vi tham nhũng được thể hiện với thủ đoạn ngày càng tinh vi, phứctạp, khó phát hiện, liên quan đến trách nhiệm của nhiều cấp quản lý Hành vi
Trang 24tham nhũng biểu hiện trên thực tế rất đa dạng, từ hành vi nhận hối lộ, cố ýlàm trái đến việc cản trở, can thiệp vào các hoạt động điều tra, thanh tra, kiểmtoán, xét xử,…Thực tế lợi ích bất chính về vật chất có thể đạt được nếu thựchiện hành vi tham nhũng, một số cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên đãkhông giữ được phẩm chất đạo đức của người cán bộ cách mạng Trên thực
tế, tham nhũng đã làm xấu hình ảnh của đội ngũ cán bộ, đảng viên
Thứ hai, tham nhũng làm xói mòn các giá trị đạo đức xã hội: Thamnhũng ở Việt Nam nay đang xảy ra ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực.Tham nhũng không chỉ xảy ra trong các lĩnh vực liên quan đến quản lý tiền,tài sản của nhà nước mà còn xảy ra trong lĩnh vức được coi là cần phải tróngsạch và liêm chính nhất, ví dụ như: lĩnh vực tư pháp, lĩnh vực giáo dục, y tế,văn hóa, chính sách an sinh xã hội… Sự hiện diện của tham nhũng làm chonhiều truyền thống, phong tục tốt đẹp của dân tộc (ví dụ như: truyền thốngtặng quà và nhận quà, truyền thống “Tôn sư trọng đạo” đáng lẽ cần phải đượcphát huy thì lại bị lợi dụng để thực hiện hành vi tham nhũng Mức độ tràn lancủa tham nhũng trong các lĩnh vực này phản ảnh các giá trị đạo đức xã hội đãphần nào bị xói mòn bởi tham nhũng, nhiều mối quan hệ trong xã hội vốn tôtđẹp lại thiếu đi sự lành mạnh Những nghề đáng lẽ cần phải được cả xã hộikính trọng như ý tế, giáo dục,… thì tham nhũng đã làm phai nhạt những hìnhảnh tốt đẹp đó
Thứ ba, tham nhũng gây ra các xung đột lợi ích, phản kháng xã hội, làm
tăng khoảng cách giầu, ngheo, bất công trong xã hội: Thực hiện hành vi tham
nhũng là thực hiện hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi nên tham nhũng gắnliền với yếu tó lợi ích Người thực hiện hành vi tham nhũng sẽ đạt đượcnhững lợi ích không phải có được từ công sức lao động của mình, vì vậy, gây
ra xung đột về lợi ích Trong nhiều trường hợp, các hành vi tham nhũng xâmphạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân Do tìnhtrạng tham nhũng ngày càng gia tăng, các doanh nghiệp không có được môitrường kinh doanh cạnh tranh, bình đẳng, công dân bị tổn hại về thời gian,
Trang 25tiền bạc và các nguôn lực khác khi giao dịch với các cơ quan công quyền.Điều này gây ra sự phản kháng trong xã hội Thực trạng giải quyết khiếu nại,
tố cáo cho thấy nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp, keo dàitrong thời gian qua xẩy ra là do người dân bức xúc trong những hiện tượngtham nhũng, tiêu cực xảy ra trong quản lý nhà nước, đặc biệt là tham nhũng,tiêu cực xẩy ra trong lĩnh vực đất đai
Đối với một số vị trí công tác, việc thực hành vi tham nhũng có thể manglại những lợi ích vất chất to lớn và người thực hiện hành vi tham nhũng sẽ trởnên giầu có Ngược lại, khi có tham nhũng thì một bộ phận doanh nghiệp,người dân sẽ phải tiêu tốn thêm nhiều thời gian và chi trả thêm nhiều khoảnchi phí không chính thức cho các giao dịch với các cơ quan nhà nước, ảnhhưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế của doanh nghiệp, người dân sẽ phải tiêutốn thêm nhiều thời gian và chi trả thêm khoản chi phí không chính thức chocác giao dịch với các cơ quan nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sốngkinh tế của doanh nghiệp và các hộ gia đình, công dân Do đó, tham nhũnglàm tăng thêm khoảng cách giầu nghèo và bất công xã hội [39, tr.47-50]
1.1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phòng, chống tham nhũng
Từ trước đến nay, Đảng ta đã ban hành rất nhiều chỉ thị, nghị quyết vềphòng, chống tham nhũng Nghị quyết số 14/NQ/TW ngày 15-5-1996 về quanđiểm chỉ đạo và một số giải pháp để đấu tranh chống tham nhũng của BộChính trị khóa VII đã chỉ rõ: Đấu tranh chống tham nhũng là một bộ phận cấuthành quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng vànhân dân ta hiện nay Nó góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tăngcường hiệu quả quản lý nhà nước, xây dựng Đảng và kiện toàn bộ máy nhànước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền dân chủ của nhân dân… Đấutranh chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới kinh tế - xãhội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, thực hiện
Trang 26thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [39, tr.51].
Chống tham nhũng là cuộc đấu tranh hết sức phức tạp, đòi hỏi có sự lãnhđạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng, quan điểm, nguyên tắc xây dựng LuậtPCTN chủ yếu dựa trên các quan điểm lớn đã được chỉ ra tại Nghị quyết số14-NQ/TW ngày 15-5-1996 và trong một số văn kiện khác của Đảng như sau:
- Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn chặt với đổi mới kinh tế - xã hội,nâng cao đời sống của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đạiđoàn kết toàn dân;
- Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới hệthống chính trị, xây dựng Đảng và kiện toàn, tăng cường đoàn kết nội bộ;
- Chống tham nhũng phải gắn liền với chống quan liêu, lãng phí;
- Đấu tranh chống tham nhũng phải kết hợp giữa xây, phòng và chống.Vừa tích cực phòng ngừa, vừa xử lý nghiêm mọi hành vi tham nhũng;
- Đẩy mạnh PCTN một cách chủ động, huy động và phối hợp chặt chẽmọi lực lượng đấu tranh chống tham nhũng, thực hiện chống tham nhũng ởmọi cấp, mọi ngành;
- Đấu tranh chống tham nhũng là nhiệm vụ lâu dài, phải tiến hành kiênquyết, kiên trì và thận trọng, không nóng vội, không chủ quan; phải có kếhoạch cụ thể, có bước đi vững chắc; sử dụng nhiều biện pháp, trong đó lấygiáo dục làm cơ sở, lấy pháp chế làm đảm bảo
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra nhiều chủtrương, giải pháp nhằm đẩy mạnh cuộc đấu tranh PCTN, trong đó xác định:
“Đấu tranh PCTN, lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựngĐảng, nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xãhội” Đại hội yêu cầu: “Thành lập các ban chỉ đạo PCTN trung ương và địaphương đủ mạnh, có thực quyền, hoạt động có hiệu quả”2
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Hội nghị lần
thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ra Nghị quyết về tăng
Trang 27cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí Đây là Nghị
quyết đầu tiên của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề cập một cách toàndiện, tập trung về công tác PCTT, lãng phí Nghị quyết Trung ương 3 khóa X
đã đưa ra những nhận định, đánh giá về công tác PCTN, lãng phí; chỉ ranhững nguyên nhân chủ yếu của những thiếu sót, khuyết điểm trong PCTN,lãng phí; đề ra những mục tiêu, quan điểm chỉ đạo công tác PCTN, lãng phí Mục tiêu của công tác PCTN, lãng phí được nêu trong Nghị quyết Trungương 3 khóa X là: “Ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạobước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xãhội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch,vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính”
Để đạt được mục tiêu nêu trên, Nghị quyết đã đề ra 10 chủ trương, giảipháp như sau:
Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức
trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức và nhân dân về công tác PCTN.Đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, phải nêu gương về đạo đức, lối sống vàkiên quyết chống tham nhũng
Hai là, nâng cao tính tiên phong, gương mẫu của tổ chức đảng và đảng
viên, tăng cường vai trò của chi bộ đảng trong quản lý, giáo dục đảng viên
Ba là, tiếp tục hoàn thiện công tác cán bộ phục vụ công tác PCTN.
Bốn là, bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan,
tổ chức, đơn vị
Năm là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế-xã hội Sáu là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm
toán, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng
Bảy là, thực hiện tốt công tác truyền thông về PCTN.
Tám là, xây dựng, kiện toàn các cơ quan, đơn vị chuyên trách về PCTN
được thành lập theo Luật PCTN
Chín là, tăng cường giám sát của nhân dân và cơ quan dân cử.
Mười là, tăng cường hợp tác quốc tế về PCTN.
Trang 28Cụ thể hoá Nghị quyết của Đảng, Chiến lược quốc gia về PCTN đếnnăm 2020 đã đề ra quan điểm về PCTN như sau:
- PCTN là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo củaĐảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấn mạnh tráchnhiệm người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội,các tổ chức, đoàn thể và quần chúng nhân dân
- PCTN là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài, xuyên suốtquá trình phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa trong thời kỳ mới
- Sử dụng tổng thể các giải pháp PCTN; vừa tích cực, chủ động trongphòng ngừa, vừa kiên quyết trong phát hiện, xử lý với những bước đi vữngchắc, có trọng tâm, trọng điểm, trong đó phòng ngừa là cơ bản, lâu dài; gắnPCTN với thực hành tiết kiệm, chống quan liêu, lãng phí
- Xây dựng lực lượng chuyên trách đủ mạnh, có phẩm chất chính trị, bảnlĩnh, đạo đức nghề nghiệp làm nòng cốt trong công tác phòng ngừa, phát hiện,
xử lý tham nhũng theo hướng chuyên môn hóa với các phương tiện, công cụ,
kỹ năng phù hợp, bảo đảm vừa chuyên sâu, vừa bao quát các lĩnh vực, cácmặt của đời sống kinh tế - xã hội
- Đặt quá trình PCTN trong điều kiện hội nhập, chủ động hợp tác hiệu quảvới các quốc gia, các tổ chức quốc tế; chú trọng tổng kết thực tiễn và tiếp thu cóchọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài trong công tác PCTN [43, tr.81-84]
Chiến lược PCTN đến năm 2020 cũng xác định mục tiêu chung và nămnhóm mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu chung:
Ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, loại bỏ dần các cơ hội, điềukiện phát sinh tham nhũng, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch,vững mạnh, hoạt động hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính; lànhmạnh hóa các quan hệ xã hội thông qua việc thực hiện đồng bộ các giải phápphòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng; củng cố lòng tin của nhân dân vàcộng đồng quốc tế, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển [43, tr.84]
Trang 29- Mục tiêu cụ thể:
+ Ngăn chặn, làm triệt tiêu các điều kiện và cơ hội phát sinh tham nhũngtrong việc hoạch định chính sách, xây dựng và thực hiện pháp luật, nhất làtrong quá trình ban hành và tổ chức thi hành các văn bản áp dụng pháp luật.+ Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước, ngănngừa việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi trên cơ sở xây dựng nềncông vụ hiệu quả, minh bạch, phục vụ nhân dân và xã hội, với đội ngũ cán bộ,công chức trung trực, công tâm, liêm khiết, tận tụy, chuyên nghiệp và đượctrả lương hợp lý; các chuẩn mực đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp đượccủng cố và phát triển
+ Hoàn thiện thể chế, tạo lập môi trường kinh doanh cạnh tranh bìnhđẳng, công bằng, minh bạch nhằm thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài,góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật củadoanh nghiệp; từng bước xóa bỏ tệ hối lộ trong quan hệ giữa doanh nghiệpvới cơ quan nhà nước và trong giao dịch thương mại
+ Tính trách nhiệm, tính chuyên nghiệp, sức chiến đấu và hiệu quả hoạt độngcủa các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan, đơn vị chuyên trách chống thamnhũng được nâng cao, giữ vai trò nòng cốt trong phát hiện và xử lý tham nhũng.Chính sách xử lý đối với tham nhũng, đặc biệt là chính sách hình sự,chính sách tố tụng hình sự tiếp tục được hoàn thiện; hệ thống đo lường, giámsát tham nhũng được thiết lập
+ Nâng cao nhận thức, vai trò của xã hội về tham nhũng, về chủ trương,chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong PCTN; thúc đẩy sự tham giachủ động của các tổ chức, đoàn thể xã hội, các phương tiện truyền thông và mọicông dân trong nỗ lực PCTN; xây dựng văn hóa và tạo ra thói quen PCTN trongđời sống của cán bộ, công chức và trong các tầng lớp nhân dân [43, tr.84-86]
1.2 KHÁI NIỆM TRÁCH NHIỆM VÀ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Trang 301.2.1 Trách nhiệm và các hình thức trách nhiệm trong quản lý nhà nước ở Việt Nam
1.2.1.1 Khái niệm về trách nhiệm
Thuật ngữ “trách nhiệm” thường được hiểu theo hai nghĩa: (i) tráchnhiệm là phần việc được giao cho một người đòi hỏi người đó phải thực hiện;nếu không thực hiện thì sẽ phải gánh chịu phần hậu quả; (ii) sự ràng buộc đốivới lời nói hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải chịu mộtphần hậu quả (ví dụ như chịu trách nhiệm về lời khai) [42, tr.1020] Được gọi làtrách nhiệm pháp lý khi nó được quy định trong các văn bản pháp luật Thuậtngữ “trách nhiệm” (hay “trách nhiệm pháp lý”) có thể được hiểu theo hai nghĩa:
- Theo nghĩa tích cực, trách nhiệm được hiểu là nghĩa vụ (gắn với các
quyền cụ thể) được pháp luật quy định buộc các chủ thể phải thực hiện Theo đó,trách nhiệm pháp lý là việc mà các chủ thể phải làm, đó là cơ sở để đánh giámức độ hoàn thành nghĩa vụ của các chủ thể Đối với cán bộ, công chức nóichung và người đứng đầu cơ quan nói riêng, trách nhiệm theo nghĩa tích cựcchính là “bảng kê” chức trách, nhiệm vụ được giao, buộc phải thực hiện Đó làtiêu chí đánh giá năng lực cá nhân và mức độ hoàn thành nhiệm vụ cụ thể củacác chủ thể Trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tích cực luôn gắn với thẩm quyền
- Theo nghĩa tiêu cực: trách nhiệm là hậu quả bất lợi (sự phản ứng mang tính chất trừng phạt của nhà nước) mà các chủ thể phải chịu khi đã thực hiện
hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến các khách thể được pháp luật bảo vệ
- vi phạm "trách nhiệm" theo nghĩa tích cực
Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý, trách nhiệm pháp lý thường đượchiểu theo nghĩa tiêu cực (là hậu quả bất lợi mà các chủ thể phải gánh chịu khikhông thực hiện đúng nghĩa vụ của mình) Do đó, có thể quan niệm rằng
“trách nhiệm là hậu quả pháp lý mà chủ thể này phải gánh chịu nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình”
1.2.1.2 Các hình thức trách nhiệm trong quản lý nhà nước
- Trách nhiệm hành chính
Trang 31TNHC là hình thức trách nhiệm pháp lý áp dụng trong hoạt động quản lýtheo quy định luật hành chính Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao,người có chức vụ, quyền hạn có thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính, do
đó phải chịu TNHC theo quy định của pháp luật Cơ sở của TNHC là vi phạmpháp luật hành chính Không có vi phạm hành chính thì không có TNHC.Cũng như TNHS, TNHC là hình thức cưỡng chế bên ngoài, nghĩa là áp dụngtrách nhiệm với những người vi phạm mà những người này không ở trongcùng quan hệ tổ chức với các cơ quan ấn định hình thức trách nhiệm
- Trách nhiệm kỷ luật
TNKL là hình thức trách nhiệm pháp lý được áp dụng đối với cán bộ, côngchức, viên chức, người lao động khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
Thứ nhất, đối với cán bộ, công chức, viên chức thì TNPL được xác định
trên cơ sở các quy định về tiêu chuẩn, thẩm quyền và nghĩa vụ của cán bộ,công chức, viên chức Đây thực chất là một dạng trách TNHC Hiện nay, cơ
sở để xác định TNPL của cán bộ, công chức, viên chức là Luật Cán bộ côngchức năm 2008 và Luật Viên chức có hiệu lực năm 2012
Thứ hai, đối với người lao động thì TNPL được xác định trên cơ sở các
quy định về kỷ luật lao động (vi phạm nội quy lao động - thời giờ làm việc, antoàn, vệ sinh lao động…) Người lao động vi phạm kỷ luật lao động, tùy theomức độ phạm lỗi thì bị xử lý theo các hình thức: Khiển trách; kéo dài thời hạnnâng lương; sa thải [31] Việc xác định TNKL đối với người lao động thựchiện theo trình tự được pháp luật lao động quy định Thẩm quyền xác địnhTNKL đối với người lao động là người sử dụng lao động
- Trách nhiệm hình sự
TNHS là sự phản ứng của Nhà nước đối với người phạm tội, tức làngười thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự và có lỗi.TNHS là loại TNPL nghiêm khắc nhất, tính nghiêm khắc của TNHS thể hiện ởchỗ người phải chịu TNHS là người bị kết án, bị coi là có tội và có thể bị hạnchế hoặc tước bỏ một số quyền cơ bản của con người như quyền chính trị, quyền
Trang 32tài sản, thậm chí cả quyền được sống Việc xác định TNHS được thực hiện theotrình tự tố tụng hình sự Thẩm quyền xác định TNHS thuộc về tòa án Ngườichịu TNHS ngoài chịu hình phạt chính còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung.Riêng đối với cán bộ, công chức, việc xác định trách nhiệm pháp lý có sựliên quan chặt chẽ giữa trách nhiệm kỷ luật và TNHS tùy theo mức độ nghiêmtrọng của hành vi vi phạm pháp luật Việc xác định TNHS đối với người có chức
vụ, quyền hạn dựa trên cơ sở mức độ xâm phạm đến hoạt động công vụ
Cùng một hành vi vi phạm chế độ công vụ, cán bộ công chức có thể bị
xử lý kỷ luật hoặc bị xử lý hình sự Có một số trường hợp, việc xử lý kỷ luậttrở thành căn cứ để xem xét xử lý hình sự Có trường hợp người có chức vụ,quyền hạn vi phạm hình sự đồng thời vừa phải chịu TNHS còn bị cơ quanquản lý thi hành kỷ luật (Ví dụ Điều 69 Luật Phòng, chống tham nhũng 2005:
“Người có hành vi tham nhũng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị
xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự; trong trường hợp bị kết án vềhành vi tham nhũng và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải bịbuộc thôi việc”) Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quyđịnh 25 tội có dấu hiệu đã bị xử lý kỷ luật là căn cứ để truy cứu TNHS đối vớingười có chức vụ, quyền hạn Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sungnăm 2009) cũng dành một chương riêng quy định các tội phạm về chức vụ(Chương XXI)
- Trách nhiệm vật chất
TNVC là một hình thức TNPL được áp dụng khi các chủ thể thực hiệncác hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự,nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâmphạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác Việc xácđịnh trách nhiệm bồi thường được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận hoặc theophán quyết của tòa án
Trong hoạt động công vụ, TNVC còn tồn tại dưới dạng trách nhiệm “hoàntrả” Trách nhiệm hoàn trả được đặt ra trong trường hợp khi cơ quan nhà nước
Trang 33phải bồi thường thiệt hại do hành vi của cán bộ, công chức, viên chức, người cóthẩm quyền của mình gây ra Người gây ra thiệt hại phải hoàn trả lại khoản tiền(toàn bộ hoặc một phần) mà cơ quan nhà nước đã bồi thường Nội dung nàyđược quy định tại các điều 623, 624 Bộ luật dân sự năm 2005 và được cụ thểhoá tại Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2010.
1.2.2 Người đứng đầu và trách nhiệm người đứng đầu trong quản lý nhà nước
1.2.2.1 Khái niệm người đứng đầu
Trong mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị đều tồn tại một ‘‘người đứng đầu”.Đây là những người được pháp luật (hay điều lệ của tổ chức) xác lập về thẩmquyền, trách nhiệm và tính đại diện cho cơ quan, tổ chức, đơn vị Người đứngđầu cơ quan, tổ chức, đơn vị là người lãnh đạo, quản lý và chịu trách nhiệmchính, trách nhiệm pháp lý cao nhất về tổ chức, hoạt động của cơ quan, tổchức, đơn vị đó
Trong hệ thống chính trị của nước ta, có tổ chức được lãnh đạo theo chế
độ thủ trưởng, có tổ chức được lãnh đạo theo chế độ tập thể, nhưng dù ở chế
độ nào thì người đứng đầu (là người lãnh đạo, quản lý) đều rất quan trọng.Gắn liền với "người đứng đầu” trong cơ quan, tổ chức, đơn vị bao giờ cũng làthẩm quyền và trách nhiệm Thẩm quyền là quyền lực của người đứng đầu doluật pháp, cấp trên hoặc tổ chức giao để họ được quyền quyết định các côngviệc lớn và lãnh đạo tổ chức thực hiện các công việc đó trong cơ quan, tổchức, đơn vị, đồng thời họ cũng phải chịu trách nhiệm về những vấn đề mà họ
đã quyết định và tổ chức thực hiện
Ở Việt Nam, danh xưng “người đứng đầu” được dùng khá phổ biếntrong đời sống xã hội và trong một số văn kiện, văn bản chính thức, để chỉngười có thẩm quyền, vị trí, trách nhiệm, tính đại diện… rõ hơn các thànhviên khác trong tập thể Với quan niệm ít nhiều “nôm na” như vậy, xã hộidường như mặc nhiên thừa nhận rằng mọi tổ chức chính trị-xã hội, kinh tế,văn hóa, dân sự… đều có “người đứng đầu”, dù rằng tư cách đó không hề
Trang 34được thừa nhận, xác lập bằng luật pháp nhà nước hay điều lệ của tổ chức Ví
dụ, trong mọi tổ chức làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa sốnhư Quốc hội, hội đồng nhân dân, các tổ chức đảng, mặt trận, các tổ chứcchính trị-xã hội, các hội đoàn… về nguyên tắc không có người đứng đầu đúngnghĩa như phân tích ở trên, nhưng vẫn có một chức danh (chủ tịch, bí thư,tổng thư ký…), tuy không có quyền hạn cao hơn theo quy định chính thức,nhưng trên thực tế lại có vị thế lớn hơn các thành viên còn lại trong tập thể
Có thể coi họ là “những người đứng đầu không đầy đủ” Họ không có vàkhông thể có thẩm quyền và trách nhiệm tương tự như đối với người đứngđấu đúng nghĩa
Như vậy, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị là người lãnh đạo, quản lý, chịu trách nhiệm chính, chịu trách nhiệm cao nhất của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.
1.2.2.2 Trách nhiệm người đứng đầu trong quản lý nhà nước
Xác định rõ trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn
vị là vấn đề quan trọng trong lãnh đạo, quản lý Về mặt Đảng, người đứng đầu
có vị trí rất quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo Về chính quyền, người đứngđầu thường là thủ trưởng, hoặc phó thủ trưởng - vừa có quyền hành, vừa giữvai trò quyết định liên quan đến hoạt động và phát triển của cơ quan, tổ chức,đơn vị Tinh thần trách nhiệm, ý thức trước nhiệm vụ được giao của ngườiđứng đầu có tác dụng thúc đẩy và tạo lực cho những bước tiến hoặc lùi của cơquan, đơn vị Là nhân vật chủ chốt nhất, người đứng đầu không chỉ giữ vai tròquan trọng đối nội mà còn giữ vai trò đối ngoại nhằm mở rộng mối quan hệvới các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác, các mối liên hệ trong cộng đồng và xãhội, tạo điều kiện cho cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ Người đứng đầu còn làđầu mối tổ chức triển khai mọi hoạt động của cơ quan đơn vị Phát hiện, xử lýnhanh hay chậm, bỏ qua hay kịp thời khắc phục những mặt yếu kém, nhữngnảy sinh mới, đều do người đứng đầu Cho nên, trách nhiệm cá nhân của
Trang 35người đứng đầu là rất lớn, có tác dụng quyết định mọi thành, bại trong quátrình hoạt động, phát triển của cơ quan, đơn vị.
Nghị quyết Hội nghị số 12-NQ/TW Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hànhTrung ương Đảng (khóa XI) về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảnghiện nay đã nêu ra ba vấn đề cấp bách cần làm, trong đó vấn đề cấp bách thứ
ba là xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chínhquyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị Trong nhóm giảipháp về cơ chế, chính sách để thực hiện Nghị quyết có đưa ra việc “sửa đổi,
bổ sung hoặc ban hành mới các quy định của Đảng và Nhà nước theo hướng
đề cao hơn trách nhiệm và quyền hạn của người đứng đầu trong mối quan hệgiữa tập thể và cá nhân, vừa phải tôn trọng nguyên tắc tập thể, vừa phải pháthuy vai trò cá nhân người đứng đầu; khuyến khích, bảo vệ người dám nghĩ,dám làm, dám chịu trách nhiệm, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng.”
Như vậy, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cấp
ủy, chính quyền là một trong ba trọng tâm công tác cấp bách về xây dựngĐảng hiện nay Công tác xây dựng Đảng có nội dung rộng lớn, phong phú,toàn diện, song lần này việc đề cao trách nhiệm người đứng đầu là một nộidung quan trọng, cấp bách bởi những lý do của nó Sự lãnh đạo của Đảng,chính quyền, đoàn thể đều thông qua những cán bộ đảng viên cụ thể do Đảng
và nhân dân cử ra Họ đại diện cho Đảng trực tiếp đảm đương công việc lãnhđạo, quản lý, điều hành ở đơn vị, tổ chức, địa phương trong phạm vi nhấtđịnh Chất lượng công tác của người đứng đầu thể hiện chất lượng lãnh đạo
cụ thể của Đảng, chính quyền, đoàn thể ở đơn vị mà người đứng đầu đại diện
Nó bộc lộ toàn bộ khả năng, phẩm chất người cán bộ, đồng thời cũng thể hiệnchất lượng lãnh đạo cụ thể của Đảng ở lĩnh vực mà cá nhân người đứng đầuđược Đảng trao quyền đại diện Bác Hồ từng chỉ rõ, cán bộ là gốc của mọicông việc Người đứng đầu lại càng là "gốc" quyết định sự bền vững của đơn
vị, địa phương, tổ chức cụ thể Nếu người đứng đầu tổ chức hết lòng vì dân,
vì nước, vì Đảng, thực hiện cần kiệm, liêm chính theo gương Chủ tịch Hồ Chí
Trang 36Minh, không sa vào ích kỷ, cơ hội, thực dụng, vụ lợi, ham danh, tham nhũng,hết lòng gắn bó với nhân dân, sống giản dị không phô trương lãng phí thì sẽlàm gương cho cả đơn vị Người đứng đầu trong sạch thì có điều kiện kiểmtra nghiêm túc cán bộ, nhân viên trong đơn vị, sẽ có điều kiện công tâm, côngbằng trong đánh giá, bổ nhiệm cán bộ, là điều kiện để đoàn kết cơ quan, tổchức Ngược lại, người đứng đầu nào tư túi, vụ lợi thì không bảo được aitrong tổ chức Nếu họ lợi dụng quyền lực để thu vén lợi quyền cho vợ con, họhàng, người thân thì chắc chắn không thể công tâm trong việc xem xét cácquyết sách cũng như bổ nhiệm cán bộ, dễ sa vào phe nhóm lợi ích, gây họalớn cho Đảng và xã hội.
1.2.3 Trách nhiệm người đứng đầu trong công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
1.2.3.1 Các hình thức trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm pháp lý
về hành vi mà mình thực hiện hoặc liên đới chịu trách nhiệm đối với hành vi
do người trực tiếp chịu sự quản lý của mình gây ra trong một số trường hợp.Bên cạnh đó, người đứng đầu có thể còn phải gánh chịu các trách nhiệm khácnhư trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm xã hội hay trách nhiệm chính trị Đây
là những loại trách nhiệm không được luật hóa, không có quy định bắt buộc
để điều chỉnh hành vi của chủ thể Các trách nhiệm này được thực hiện do tựthân người đứng đầu thực hiện khi cảm thấy hoặc chịu sức ép trước dư luận,
xã hội trong việc để xảy ra những vấn đề thuộc quyền quản lý của mình Việcthực hiện loại trách nhiệm này thường thấy ở các quốc gia có nền quản trị tốt,hình thành nên văn hóa quản trị mà biểu hiện của nó là “văn hóa từ chức”,văn hóa chịu trách nhiệm trước cử tri, trước nhân dân và xã hội mà không cầnphải qua một thủ tục mang tính pháp lý nào như thủ tục xem xét kỷ luật haythủ tục tố tụng tư pháp Và hình thức trách nhiệm này mới chỉ được bàn mangtính học thuật ở nước ta
Trang 37Theo quy định của pháp luật, hình thức trách nhiệm đối với người đứngđầu có sự khác nhau tùy vào từng trường hợp Một số nội dung liên quan đếncác hình thức trách nhiệm của người đứng đầu theo quy định của pháp luật vềPCTN bao gồm:
- Hình thức trách nhiệm trực tiếp
Hình thức trách nhiệm trực tiếp là hình thức được áp dụng đối với ngườiđứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị về việc để xảy ra hành vi tham nhũng củangười do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ; Cấp phó của người đứng đầu
cơ quan, tổ chức, đơn vị về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vựccông tác và trong đơn vị do mình trực tiếp phụ trách; người đứng đầu đơn vịtrực thuộc cơ quan, tổ chức phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy rahành vi tham nhũng trong đơn vị do mình quản lý
- Hình thức trách nhiệm liên đới
Hình thức trách nhiệm liên đới là hình thức được áp dụng đối với ngườiđứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị về việc để xảy ra hành vi tham nhũng tronglĩnh vực công tác và trong đơn vị do cấp phó của mình trực tiếp phụ trách Như vậy, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị tùy vào từng trườnghợp chịu trách nhiệm trực tiếp hay liên đới sẽ bị xem xét xử lý kỷ luật hoặctruy cứu trách nhiệm hình sự khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan,
tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách Đối với trường hợp phải chịu tráchnhiệm trực tiếp thì có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, đốivới trường hợp phải chịu trách nhiệm liên đới thì chỉ bị xử lý kỷ luật
1.2.3.2 Trách nhiệm người đứng đầu trong công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
Người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị (hay còn gọi là thủ trưởng)
là người được nhà nước giao cho trách nhiệm (thường thông qua hình thức bổnhiệm) đứng đầu một cơ quan, tổ chức, đơn vị Mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị
có chức năng, nhiệm vụ được pháp luật xác định trong các văn bản pháp luật
Trang 38Người đứng đầu có trách nhiệm chỉ đạo điều hành cơ quan đó nhằm thực hiệnchức năng nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị này
Thông thường mỗi cơ quan chịu trách nhiệm quản lý hay thực hiện dịch
vụ công trong một hay một vài lĩnh vực (có thể quản lý một hay một số lĩnhvực kinh tế- xã hội hay một lĩnh vực công tác nhất định) Phạm vi quản lý haydịch vụ công mà nó đảm nhiệm cũng rất khác nhau tùy thuộc vào cấp độ củatừng cơ quan, tổ chức, đơn vị (trung ương hay địa phương; ngành hay lĩnhvực) Chẳng hạn Bộ giáo dục quản lý lĩnh vực giáo dục và đào tạo trên toànquốc trong khi Sở giáo dục và đào tạo chi có trách nhiệm quản lý hoạt độnggiáo dục trên phạm vi địa bàn một tỉnh, thành phố TTCP quản lý nhà nước vềcông tác thanh tra, giải quyết khiếu nại và PCTN trên phạm vi toàn quốc… PCTN là một lĩnh vực công tác đặc biệt Mặc dù TTCp được giao tráchnhiệm quản lý nhà nước về công tác thanh tra nhưng trách nhiệm PCTN đượcxác định là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng.Chiến lược quốc gia về PCTN đến năm 2020 được ban hành theo Nghị quyết
số 21/NQ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ xác định: “PCTN là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội, các tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân”
Chống tham nhũng là một nhiệm vụ phức tạp và lâu dài, đòi hỏi sự nỗlực và trách nhiệm của tất cả các cơ quan, tổ chức Để ngăn chặn và đẩy lùitừng bước tệ tham nhũng và lãng phí, cần tiến hành các giải pháp một cáchđông bộ và liên tục Các giải pháp đó bao gồm việc tuyên truyền, nâng caonhân thức của người dân và cán bộ, công chức về công tác PCTN; việc tăngcường quản lý các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội; tăng cường công khaiminh bạch trong hoạt động công quyền… Như vậy nó đòi hỏi phải được triểnkhai thực hiện ở mọi cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vi Người đứng đầu cơquan nhà nước chính là người chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo, triển khai
Trang 39thực hiện các giải pháp phòng ngừa phát hiện và xử lý tham nhũng trongphạm vi cơ quan tổ, chức, đơn vị mình
Luật PCTN đã có những quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơquan nhà nước trong PCTN
Điều 5 của luật quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị vàngười đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vi như sau
1 Cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm sau đây:
a) Tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về PCTN;
b) Tiếp nhận, xử lý kịp thời báo cáo, tố giác, tố cáo và thông tin khác vềhành vi tham nhũng;
c) Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phát hiện, báo cáo, tốgiác, tố cáo hành vi tham nhũng;
d) Chủ động phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng; kịp thời cungcấp thông tin, tài liệu và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân cóthẩm quyền trong quá trình phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng
2 Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ,quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây:
a) Chỉ đạo việc thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Gương mẫu, liêm khiết; định kỳ kiểm điểm việc thực hiện chức trách,nhiệm vụ và trách nhiệm của mình trong việc phòng ngừa, phát hiện hành vitham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng;
c) Chịu trách nhiệm khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổchức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách
Thủ trưởng cơ quan nhà nước cũng có trách nhiệm tiến hành tự kiểm trathường xuyên nhằm phát hiện tham nhũng trong phạm vi minh phụ trách.Điều 59 của Luật quy định trách nhiệm của người đứng đầu trong việckiểm tra để phát hiện tham nhũng như sau
Trang 401 Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm thường xuyên tổchức kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhânthuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng.
2 Khi phát hiện có hành vi tham nhũng, thủ trưởng cơ quan quản lý nhànước phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho cơ quan thanhtra, điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền
Điều 60 của Luật PCTN quy định
1 Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm chủ động tổchức kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viênchức thường xuyên, trực tiếp giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn
vị, cá nhân và cán bộ, công chức, viên chức khác do mình quản lý nhằm kịpthời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi tham nhũng
2 Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thườngxuyên đôn đốc người đứng đầu đơn vị trực thuộc kiểm tra việc thực hiệnnhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do mình quản lý
3 Khi phát hiện hành vi tham nhũng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức,đơn vị phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho cơ quan thanhtra, điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền
Đặc biệt luật cũng có quy định trực tiếp việc xử lý người đứng đầu cơquan, tổ chức, đơn vi khi để xảy ra tham nhũng Đây chính là trách nhiệm
“tiêu cực” mà người đứng đầu phải gánh chịu do đã không thực hiện đầy đủtrách nhiệm của minh để xảy ra tham nhũng
Điều 54 của Luật quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổchức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị
do mình quản lý, phụ trách
1 Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm vềviệc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mìnhquản lý, phụ trách