1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Giáo trình Kiểm toán (Nghề: Kế toán tin học - Trung cấp) - Trường Cao đẳng Cơ điện Xây dựng Việt Xô

44 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN (7)
    • 1. Khái niệm kiểm toán (7)
      • 1.1. Các quan điểm kiểm toán (7)
      • 1.2. Khái niệm về kiểm toán (9)
    • 2. Các chức năng của kiểm toán (9)
      • 2.1. Chức năng xác minh (9)
      • 2.2 Chức năng bày tỏ ý kiến (9)
    • 3. Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán (10)
      • 3.1. Kiểm toán góp phần tạo niềm tin cho những người quan tâm (10)
      • 3.2. Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ (10)
      • 3.3. Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu năng quản lý (10)
    • 4. Mục đích và phạm vi của kiểm toán (11)
      • 4.1. Mục đích của kiểm toán (11)
      • 4.2. Phạm vi của kiểm toán (11)
    • 5. Các loại kiểm toán (11)
      • 5.1. Phân loại kiểm toán theo chức năng (11)
      • 5.2. Phân loại kiểm toán theo chủ đề kiểm toán (12)
    • 6. Kiểm toán viên (13)
      • 6.1. Khái niệm và phân loại kiểm toán viên (13)
      • 6.2. Trách nhiệm và quyền hạn của kiểm toán viên độc lập (14)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN SỬ DỤNG (16)
    • 1. Đối tƣợng kiểm toán (16)
      • 1.1. Khái quát chung về đối tượng và khách thể (0)
      • 1.2. Thực trạng hoạt động tài chính - đối tượng chung của kiểm toán (0)
      • 1.3. Tài liệu kế toán - Đối tượng cụ thể của kiểm toán (0)
      • 1.4. Thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính - Đối tượng cụ thể của kiểm toán (0)
      • 1.5. Hiệu quả, hiệu năng - đối tượng cụ thể của kiểm toán (0)
    • 2. Cơ sở dẫn liệu, bằng chứng kiểm toán và hồ sơ kiểm toán (19)
      • 2.1. Cơ sở dẫn liệu (19)
      • 2.2. Bằng chứng kiểm toán (21)
      • 2.3. Hồ sơ kiểm toán (23)
    • 3. Gian lận và sai sót (26)
      • 3.1. Khái niệm gian lận và sai sót, mối quan hệ giữa gian lận và sai sót (26)
      • 3.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ gian lận và sai sót (27)
      • 3.3. Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận và sai sót (28)
    • 4. Trọng yếu và rủi ro (29)
      • 4.1. Trọng yếu (29)
      • 4.2. Rủi ro kiểm toán (34)
      • 4.3. Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro (36)
    • 5. Khái nệm về hoạt động liên tục (37)
      • 5.1. Khái niệm (37)
      • 5.2. Trách nhiệm của kiểm toán viên (38)
    • 6. Hệ thống kiểm soát nội bộ (38)
      • 6.1. Khái niệm (38)
      • 6.2. Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ (39)
    • 7. Chuẩn mực kiểm toán (41)
      • 7.1. Khái niệm (41)
      • 7.2. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (41)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (44)

Nội dung

Giáo trình Kiểm toán (Nghề: Kế toán tin học - Trung cấp) không chỉ cung cấp cho sinh viên chuyên ngành Kế toán tin học những kiến thức cơ bản mang tính lý luận mà còn giúp sinh viên nắm được những phương pháp, trình tự, thủ tục của kiểm toán. Mời các bạn cùng tham khảo!

TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN

Khái niệm kiểm toán

1.1 Các quan điểm kiểm toán

Thuật ngữ kiểm toán mới xuất hiện ở Việt Nam vào những năm 90, nên cách dùng và hiểu khái niệm này chưa được thống nhất Vì vậy có ba quan điểm chính về kiểm toán được nêu ra: quan điểm thứ nhất xem kiểm toán như quá trình kiểm tra tuân thủ và xác nhận tính đúng đắn của thông tin tài chính; quan điểm thứ hai coi kiểm toán như công cụ quản trị rủi ro và nâng cao tính minh bạch của doanh nghiệp; quan điểm thứ ba nhìn nhận kiểm toán như một hoạt động độc lập, có tính định lượng và đánh giá tính tin cậy của báo cáo tài chính để người dùng có thể ra quyết định Mỗi quan điểm tập trung vào khía cạnh khác nhau của kiểm toán và sự hiểu biết về khái niệm này có thể thay đổi tùy ngữ cảnh nghề nghiệp và mục tiêu sử dụng.

1.1.1 Quan điểm về kiểm toán theo thời điểm phát sinh

Kiểm toán là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về báo cáo tài chính của các thực thể kinh tế, được thực hiện bởi các kiểm toán viên độc lập và dựa trên các quy định pháp luật hiện hành Quá trình này nhằm đảm bảo tính trung thực, hợp lý và đầy đủ của thông tin tài chính, từ đó tăng cường độ tin cậy cho người sử dụng báo cáo và phục vụ cho quyết định của các bên liên quan.

- Khái niệm này bao hàm 5 yếu tố cơ bản sau:

+ Chức năng của kiểm toán: Xác minh và bày tỏ ý kiến

Đối tượng trực tiếp của kiểm toán là các bảng khai tài chính, hay bảng tổng hợp kế toán của đơn vị, bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động và báo cáo lưu chuyển tiền tệ Những tài liệu này phản ánh tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và luồng tiền, giúp người đọc hiểu rõ vị thế tài chính của doanh nghiệp Khi được kiểm toán, các bảng khai này sẽ được rà soát để xác nhận tính trung thực và hợp lý của số liệu kế toán, từ đó cung cấp thông tin tin cậy cho chủ sở hữu, nhà đầu tư và cơ quan quản lý.

Khách thể kiểm toán là thực thể kinh tế hoặc một tổ chức, có thể là một công ty, một đơn vị, một chủ sở hữu, một bộ phận hoặc một cá nhân Đây là đối tượng mà đoàn kiểm toán tiếp cận để đánh giá tính đầy đủ, trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính và các thông tin liên quan, nhằm đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ các chuẩn mực kế toán Việc xác định khách thể kiểm toán giúp nhận diện phạm vi kiểm toán, nhận diện rủi ro và thiết lập kế hoạch kiểm toán phù hợp, từ đó tăng cường độ tin cậy của thông tin tài chính đối với nhà quản trị, nhà đầu tư và các bên liên quan.

+ Chủ thể kiểm toán: Là những kiểm toán viên độc lập có nghiệp vụ

Chuyên môn: Chứng chỉ CPA (Certified Public Accountant) Đăng ký hành nghề

Đạo đức: Trung thực, khách quan, không có tiền án, tiền sự Tính độc lập: Về quan hệ kinh tế, tình cảm

+ Cơ sở thực hiện kiểm toán: Những luật định, tiêu chuẩn hay chuẩn mực chung

1.1.2 Quan điểm đồng nhất kiểm toán với kiểm tra kế toán

Quan điểm này mang tính truyền thống, thể hiện trong điều kiện kiểm tra chưa phát triển và trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung Trong khuôn khổ đó, Nhà nước vừa là chủ sở hữu vừa thực hiện lãnh đạo trực tiếp nền kinh tế, nên chức năng kiểm tra của Nhà nước được thực hiện trực tiếp với mọi thực thể kinh tế – xã hội qua nhiều khâu, bao gồm kiểm tra kế hoạch, kiểm tra thực hiện kế hoạch và xét duyệt hoàn thành kế hoạch.

Khi chuyển đổi cơ chế kinh tế, Nhà nước không còn là chủ sở hữu duy nhất, do đó sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh không thể thực hiện được Đồng thời có nhiều người quan tâm đến thông tin kế toán, vì vậy công tác kiểm tra phải được tiến hành rộng rãi nhưng vẫn đảm bảo trung thực và tạo niềm tin cho những người quan tâm Lúc này kiểm toán tách khỏi hoạt động kế toán và được coi là một hoạt động độc lập, trong khi kiểm tra kế toán vẫn nằm trong hoạt động kế toán và không phải là hoạt động độc lập.

Theo quan điểm này, phạm vi kiểm toán gồm 4 lĩnh vực sau:

Kiểm toán thông tin là quá trình đánh giá tính trung thực và tính hợp pháp của tài liệu và thông tin làm cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các mối quan hệ kinh tế và tạo niềm tin cho những người quan tâm đến tài liệu kế toán Quá trình này đảm bảo thông tin kế toán được trình bày đúng sự thật, đầy đủ và xác thực, từ đó tăng cường tính minh bạch và tin cậy của hệ thống kế toán đối với các bên liên quan Nhờ kiểm toán thông tin, các tổ chức và người dùng có căn cứ pháp lý vững chắc để đưa ra quyết định kinh tế đúng đắn và bảo đảm sự công bằng trong quá trình giao dịch Vì vậy, kiểm toán thông tin đóng vai trò thiết yếu trong xây dựng niềm tin, ổn định các quan hệ kinh tế và nâng cao chất lượng của tài liệu kế toán.

Kiểm toán tính quy tắc là quá trình đánh giá mức độ thực hiện các chế độ, thể lệ và luật pháp của đơn vị được kiểm tra trong quá trình hoạt động Quá trình này tập trung vào việc xác nhận sự tuân thủ và tính phù hợp của các quy trình quản lý với các chuẩn mực pháp lý hiện hành, từ đó phát hiện bất cập và đề xuất biện pháp khắc phục Thông qua việc thu thập chứng cứ, so sánh với yêu cầu pháp lý và theo dõi thực thi, kiểm toán tính quy tắc giúp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro, tăng cường kiểm soát nội bộ và bảo đảm tính minh bạch của hoạt động Kết quả kiểm toán cung cấp cơ sở cho người quản lý và cổ đông trong việc quyết định và cải thiện quy trình quản lý, đồng thời đảm bảo các nguyên tắc quản trị được duy trì liên tục trong quá trình hoạt động.

Kiểm toán hiệu quả (Efficiency Audit) đánh giá mức sinh lời của DN bằng cách xem xét hiệu quả sử dụng các nguồn lực và yếu tố đầu vào trong từng loại nghiệp vụ kinh doanh: mua bán, sản xuất – kinh doanh (SXKD) và dịch vụ (DV) Đối tượng trực tiếp của kiểm toán là các nguồn lực và yếu tố tham gia vào các hoạt động này, từ đó xác định mức độ tối ưu hóa lợi nhuận và chi phí Kết quả kiểm toán giúp định hướng cải thiện hiệu quả hoạt động và tăng cường sức cạnh tranh cho DN.

Kiểm toán hiệu năng (Effectiveness Audit) là quá trình đánh giá các lợi ích kinh tế và xã hội của các chương trình và dự án cụ thể nhằm đo lường mức độ hiệu quả và tác động thực tế Quá trình này làm rõ giá trị của các khoản đầu tư công và mức độ phù hợp giữa mục tiêu và kết quả đạt được Đặc biệt ở khu vực công, nơi lợi ích và hiệu quả có thể không giữ nguyên ý nghĩa ban đầu vì các yếu tố mục tiêu công và giới hạn nguồn lực, kiểm toán hiệu năng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá đúng giá trị và hiệu quả của các chương trình, từ đó hỗ trợ quyết định phân bổ nguồn lực và cải tiến chính sách.

8 như trong doanh nghiệp và năng lực quản lý cần được đánh giá toàn diện và bồi dưỡng thường xuyên nhằm nâng cao năng lực quản lý

1.2 Khái niệm về kiểm toán

Kiểm toán là quá trình xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động, được thực hiện bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ bởi các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng, trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực.

Các chức năng của kiểm toán

- Nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu, tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các bảng khai tài chính

- Việc xác minh bảng khai tài chính có hai mặt:

+ Tính trung thực của con số

+ Tính hợp thức của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính

Theo thông lệ quốc tế, chức năng xác minh được xác định cụ thể thành các mục tiêu riêng biệt Các mục tiêu này khác nhau tùy thuộc vào đối tượng kiểm toán hoặc loại hình kiểm toán được áp dụng Vì vậy, tính cụ thể của từng mục tiêu phản ánh đặc thù của phạm vi kiểm toán và mục tiêu chung của quá trình xác minh.

2.2 Chức năng bày tỏ ý kiến

Đây là kết luận về chất lượng thông tin và tư vấn qua xác minh Chức năng này được thể hiện khác nhau tùy thuộc vào khách thể kiểm toán và cơ sở pháp lý của mỗi nước, vì vậy cần điều chỉnh phương pháp xác minh và tiêu chuẩn áp dụng theo ngữ cảnh pháp lý và thực tiễn kiểm toán của từng quốc gia.

Trong khu vực công, mọi hoạt động đều được đặt dưới sự kiểm toán của Nhà nước Chức năng xác minh và kết luận về chất lượng thông tin của kiểm toán được thực hiện một cách tương tự, nhưng chức năng bày tỏ ý kiến về pháp lý và tư vấn kiểm toán lại khác nhau Ở mức độ cao nhất, kết quả kiểm toán có thể mang tính phán quyết như của các quan tòa.

+ Ở CH Pháp và các nước Tây Âu: Chức năng này là sự phán quyết như các quan toà

Ở Bắc Mỹ và nhiều nước ở khu vực Châu Á, chức năng này được thực hiện qua tư vấn bằng thư quản lý, trong đó kiểm toán viên đưa ra lời khuyên về thực hiện chuẩn mực kế toán, hoạch định chính sách, nâng cao hiệu quả kinh tế và quản lý, tư vấn đầu tư, thuế và tư vấn quản lý.

Ở khu vực kinh doanh và các dự án ngoài ngân sách Nhà nước, chức năng bày tỏ ý kiến của các bên liên quan được thực hiện thông qua phương thức tư vấn Cách tiếp cận này cho phép khách thể tham gia đóng góp ý kiến một cách có hệ thống, đồng thời tăng tính minh bạch và sự đồng thuận trong quá trình ra quyết định liên quan đến dự án.

Chức năng này chủ yếu dành cho các doanh nghiệp và được biểu hiện rõ nhất ở hai hình thức: lời khuyên chuyên môn và các đề án tư vấn Sản phẩm được thể hiện dưới dạng thư quản lý, nhằm truyền tải thông tin một cách hệ thống, hỗ trợ quyết định và triển khai một cách hiệu quả Việc trình bày theo cách này giúp tăng tính thuyết phục của đề xuất, tối ưu hóa quá trình ra quyết định và dễ dàng áp dụng trong hoạt động quản trị doanh nghiệp.

Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán

3.1 Kiểm toán góp phần tạo niềm tin cho những người quan tâm

Các cơ quan Nhà nước cần có thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế nói chung, nhằm điều phối mọi hoạt động xã hội và các thành phần kinh tế một cách hiệu quả, minh bạch và bền vững.

Các nhà đầu tư cần có tài liệu tin cậy để xác định hướng đầu tư đúng đắn, quản lý hiệu quả nguồn vốn và đảm bảo tính minh bạch trong việc ăn chia, phân phối kết quả đầu tư Việc có tài liệu trung thực về cơ chế phân phối lợi nhuận và rủi ro giúp nhà đầu tư ra quyết định sáng suốt và tăng cường niềm tin trong quá trình đầu tư Vì vậy, xây dựng và cung cấp đầy đủ các báo cáo tài chính, biên bản họp và tài liệu quản trị liên quan là nền tảng để đảm bảo sự minh bạch, trách nhiệm và hiệu quả trong hoạt động đầu tư.

Các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lý khác cần thông tin trung thực không chỉ từ các bảng khai tài chính mà còn từ dữ liệu về tài chính, hiệu quả và hiệu năng của từng bộ phận để có quyết định đúng đắn ở mọi giai đoạn quản lý Những thông tin này giúp đánh giá hiệu suất, nhận diện rủi ro và tối ưu hóa nguồn lực, đồng thời hỗ trợ quá trình lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động doanh nghiệp Vì vậy, hệ thống báo cáo cần cung cấp dữ liệu đầy đủ, chính xác và kịp thời, đảm bảo từ tài chính tổng thể đến từng bộ phận đều được theo dõi chặt chẽ.

- Người lao động: Cần có thông tin đáng tin cậy về kết quả kinh doanh, về ăn chia phân phối, về thực hiện chính sách tiền lương, bảo hiểm

Khách hàng, nhà cung cấp và các bên quan tâm khác cần hiểu rõ thực chất kinh doanh và tình hình tài chính của các đơn vị được kiểm toán, bao gồm số lượng và chất lượng sản phẩm, hàng hóa, cơ cấu tài sản và khả năng thanh toán Họ cũng nên đánh giá hiệu năng và hiệu quả của các bộ phận cung ứng, tiêu thụ hoặc sản xuất tại đơn vị được kiểm toán để có cái nhìn toàn diện và đưa ra quyết định tin cậy.

3.2 Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ

Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp hoạt động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động của quản lý nói chung

3.3 Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu năng quản lý

Kiểm toán không chỉ xác minh độ tin cậy của thông tin mà còn tư vấn quản lý trong bối cảnh điều kiện mới của chuyển đổi cơ chế kinh tế Khi kinh nghiệm và đội ngũ chuyên gia quản lý còn hạn chế, kiểm toán phải được thực hiện trên mọi lĩnh vực nhằm cung cấp tư vấn quản lý cho mọi hoạt động và giúp duy trì kỷ cương, bảo đảm phát triển đúng hướng.

“Kiểm toán là quan toà công minh của quá khứ, người dẫn dắt cho hiện tại và người cố vấn sáng suốt cho tương lai”

Mục đích và phạm vi của kiểm toán

4.1 Mục đích của kiểm toán

Quá trình kiểm tra, xem xét và kết luận về báo cáo tài chính nhằm xác định xem báo cáo có được lập đúng theo các nguyên tắc, chuẩn mực và phương pháp kế toán hiện hành hay không và có phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính của doanh nghiệp hay không Quá trình này bao gồm rà soát sự phù hợp của các nguyên tắc kế toán với chuẩn mực, đánh giá tính đầy đủ và chính xác của thông tin tài chính, cũng như đánh giá độ tin cậy của các ước tính và thông tin trình bày Kết quả cuối cùng cho biết mức độ tuân thủ chuẩn mực kế toán và mức độ phản ánh trung thực của báo cáo tài chính, từ đó đảm bảo người đọc có được cái nhìn đúng đắn về tình hình tài chính, kết quả hoạt động và dòng tiền của doanh nghiệp.

Kiểm toán đóng vai trò chủ chốt trong quản lý tài chính, giúp các đơn vị kế toán phát hiện và kịp thời chấn chỉnh các sai sót do vô tình hay cố ý, từ đó tăng tính minh bạch cho báo cáo tài chính và sự tin cậy của ban lãnh đạo Đồng thời, kiểm toán phòng ngừa các vi phạm và thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình kinh doanh và sử dụng ngân sách, bảo đảm tuân thủ quy định và tối ưu hóa nguồn lực của doanh nghiệp.

4.2 Phạm vi của kiểm toán

- Xuyên suốt mọi khía cạnh của doanh nghiệp

- Tuy nhiên trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên có thể bị hạn chế phạm vi kiểm toán

+ Do đơn vị được kiểm toán áp đặt

+ Do đơn vị được kiểm toán né tránh trách nhiệm cung cấp các bằng chứng kiểm toán cho kiểm toán viên

+ Do hoàn cảnh tạo nên: do hạn chế về thời gian

+ Do ghi chép kế toán của doanh nghiệp không đầy đủ

Các loại kiểm toán

5.1 Phân loại kiểm toán theo chức năng

Theo chức năng kiểm toán bao gồm 3 loại kiểm toán sau:

- Khái niệm: Là kiểm toán để xem xét và đánh giá tính hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động của đơn vị

+ Tính hiệu lực: Là khả năng hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu của một đơn vị

+ Tính hiệu quả: Là việc đạt được hiệu quả cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất

Kiểm toán hoạt động tạo ra một bản báo cáo dành cho người quản lý, trình bày kết quả kiểm toán và các ý kiến đề xuất nhằm cải thiện hoạt động của tổ chức Bản báo cáo tóm tắt các phát hiện chính, đánh giá hiệu quả của các quy trình hiện có và nêu rõ các biện pháp cải tiến cụ thể để nâng cao hiệu suất, chất lượng và tính cạnh tranh của doanh nghiệp.

5.1.2 Kiểm toán tuân thủ (tính quy tắc)

Khái niệm: Đây là một loại kiểm toán nhằm xem xét bên được kiểm toán có tuân thủ đầy đủ các thủ tục, nguyên tắc và quy chế do cơ quan có thẩm quyền cấp trên hoặc các cơ quan chức năng của Nhà nước ban hành hay không Mục tiêu của kiểm toán tuân thủ là đánh giá mức độ tuân thủ, phát hiện sai sót hoặc bất cập và đảm bảo hoạt động được thực hiện đúng quy định nhằm tăng tính minh bạch và hiệu quả quản lý.

- Tính độc lập và có thẩm quyền của kiểm toán viên thể hiện rất rõ trong kiểm toán độc lập

5.1.3 Kiểm toán báo cáo tài chính

Kiểm toán tài chính là quá trình kiểm tra và xác nhận tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính đồng thời đánh giá xem báo cáo có tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và các yêu cầu của pháp luật hay không Qua đó, quá trình này đảm bảo tính minh bạch, tin cậy của báo cáo tài chính đối với nhà đầu tư và các bên liên quan, đồng thời phản ánh chính xác tình hình tài sản, nguồn vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

5.2 Phân loại kiểm toán theo chủ đề kiểm toán

- Khái niệm: là loại kiểm toán do các kiểm toán viên nội bộ của đơn vị tiến hành

- Lĩnh vực hoạt động: kiểm toán hoạt động để đánh giá tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động trong đơn vị

Ngoài ra, kiểm toán viên nội bộ tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ nhằm xem xét và đánh giá việc chấp hành các quy chế, chính sách nội bộ của đơn vị Quá trình này đảm bảo tính nhất quán của các quy trình làm việc, phát hiện các thiếu sót, sai lệch và rủi ro, từ đó đề xuất biện pháp khắc phục, tăng cường kiểm soát nội bộ và sự tuân thủ của tổ chức.

- Về mặt tổ chức: Bộ phận kiểm toán nội bộ thường trực thuộc giám đốc và báo cáo trực tiếp cho giám đốc

- Về mặt pháp lý: Báo cáo của kiểm toán nội bộ được chủ doanh nghiệp rất tin tưởng nhưng ít có giá trị pháp lý

Kiểm toán nhà nước là công việc kiểm toán được tiến hành bởi các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước (ví dụ tài chính, thuế) và bởi cơ quan kiểm toán nhà nước, nhằm đánh giá tính đầy đủ và trung thực của báo cáo tài chính, sự tuân thủ các quy định pháp lý và hiệu quả trong quản lý, sử dụng nguồn lực và tài sản nhà nước.

Trong lĩnh vực hoạt động, đơn vị thường tiến hành kiểm toán tuân thủ nhằm xem xét việc chấp hành các chính sách, luật lệ và chế độ của Nhà nước tại các đơn vị có sử dụng vốn Nhà nước Quá trình kiểm toán tập trung đánh giá mức độ tuân thủ, phát hiện sai lệch và rủi ro liên quan, từ đó đề xuất biện pháp cải thiện nhằm tăng cường tính minh bạch và hiệu quả sử dụng vốn Nhà nước.

Ngoài ra, kiểm toán Nhà nước còn tiến hành kiểm toán hoạt động để đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của các đơn vị nói trên Kết quả của kiểm toán hoạt động giúp nhận diện các bất cập, rút ra các khuyến nghị nhằm cải thiện quản trị và sử dụng nguồn lực công Những thông tin này đồng thời tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, cung cấp cơ sở cho các quyết định quản trị và nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị được nêu ở trên.

Trên thế giới, cơ quan kiểm toán nhà nước có thể trực thuộc Chính phủ (hành pháp), Quốc hội (cơ quan lập pháp) hoặc Tòa án (cơ quan tư pháp) Mô hình này phản ánh mức độ độc lập, cơ chế giám sát và phạm vi quyền lực khác nhau tùy hệ thống pháp lý, từ đó ảnh hưởng đến quy trình kiểm toán và tính minh bạch của ngân sách nhà nước Mục tiêu chung là đảm bảo sử dụng ngân sách hiệu quả, ngăn ngừa tham nhũng và công khai kết quả đánh giá, dù cơ quan này nằm dưới Chính phủ, Quốc hội hay Tòa án.

+ Ở Việt nam: Cơ quan kiểm toán Nhà nước trực thuộc Chính phủ

- Về mặt pháp lý: Báo cáo của kiểm toán Nhà nước mang tính pháp lý rất cao

- Khái niệm: là loại kiểm toán do các kiểm toán viên độc lập thuộc các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp tiến hành

Chúng tôi hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài chính, đáp ứng mọi mục tiêu của khách hàng dựa trên yêu cầu thực tế Bên cạnh kiểm toán báo cáo tài chính, chúng tôi có thể thực hiện kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ hoặc cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính kế toán khác nhằm tối ưu hóa hệ thống kiểm soát và tuân thủ pháp lý Đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm đảm bảo sự khách quan, độ chính xác cao và tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp, mang lại giá trị gia tăng cho khách hàng ở mọi quy mô doanh nghiệp.

- Về mặt tổ chức: Bộ phận kiểm toán độc lập thường trực thuộc tổ chức kiểm toán độc lập

Về mặt pháp lý, báo cáo kiểm toán độc lập có tính pháp lý rất cao vì được pháp luật thừa nhận, bảo hộ và hoạt động theo một quy chế chặt chẽ Quy định này đảm bảo tính hợp lệ và minh bạch của báo cáo, qua đó tăng độ tin cậy cho người dùng và các bên liên quan.

Kiểm toán viên

6.1 Khái niệm và phân loại kiểm toán viên

Là khái niệm chung chỉ những người làm công tác kiểm toán cụ thể có trình độ nghiệp vụ tương xứng với công việc đó

6.1.2.1.Kiểm toán viên nội bộ

Những người làm nghề kiểm toán không chuyên có thể là kế toán viên giỏi, nhà quản lý có kinh nghiệm hoặc kỹ thuật viên có hiểu biết về các lĩnh vực liên quan đến kiểm toán Họ mang đến sự đa dạng về kỹ năng và góc nhìn thực tiễn cho quá trình kiểm toán, từ xử lý số liệu và phân tích tài chính đến đánh giá rủi ro và tuân thủ quy định Sự kết hợp này giúp nâng cao chất lượng kiểm toán và báo cáo tài chính, đồng thời mở rộng phạm vi áp dụng các chuẩn mực kiểm toán trong thực tế.

6.1.2.2.Kiểm toán viên độc lập

Là những người hành nghề kiểm toán

- Về nghiệp vụ chuyên môn: Phải có chứng chỉ kế toán viên công chứng CPA

- Về phẩm hạnh: Phải là người không có tiền án, tiền sự

- Về pháp lý: Phải đăng ký hành nghề tại BTC (trên thế giới tại Bộ tư pháp)

- Về xã hội: Không có chung lợi ích, không có quan hệ ruột thịt với khách thể kiểm toán

Kiểm toán viên là chuyên gia tài chính có bằng đại học và tối thiểu 4 năm kinh nghiệm làm thư ký kiểm toán Để trở thành kiểm toán viên, cần hoàn thành kỳ thi tuyển kiểm toán viên ở cấp quốc gia hoặc quốc tế và được cấp chứng chỉ kiểm toán viên, từ đó đảm bảo năng lực và chuẩn hóa trình độ cho công việc kiểm toán.

Kiểm toán viên chính là những người có kinh nghiệm kiểm toán từ 3–5 năm và đã vượt qua kỳ thi nâng bậc, có khả năng lãnh đạo và tổ chức một nhóm kiểm toán viên nhằm tiến hành các cuộc kiểm toán có quy mô lớn Với nền tảng kiến thức vững chắc và kỹ năng quản lý nhóm được rèn luyện qua nhiều năm công tác, Kiểm toán viên chính đảm trách vai trò chủ chốt trong việc lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ, giám sát tiến độ và đảm bảo chất lượng của các dự án kiểm toán ở cấp độ tổ chức.

6.1.2.3.Kiểm toán viên Nhà nước

Là công chức, viên chức Nhà nước làm nghề kiểm toán, họ được tuyển chọn và phân công công tác bởi Tổ chức kiểm toán Nhà nước, và được xếp vào ngành bậc chung của công chức với các cấp bậc Kiểm toán viên, Kiểm toán viên chính và Kiểm toán viên cao cấp.

6.2 Trách nhiệm và quyền hạn của kiểm toán viên độc lập

Thực hiện nghiêm ngặt các nguyên tắc kiểm toán được quy định, tuân thủ đúng các điều khoản của hợp đồng kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán đầy đủ; người thực hiện ký tên vào báo cáo kiểm toán và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước tổ chức kiểm toán độc lập và trước khách hàng về sự trung thực, khách quan của kết quả kiểm toán cũng như ý kiến nhận xét được nêu trong báo cáo.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, kiểm toán viên không được gây trở ngại hoặc can thiệp vào công việc điều hành của đơn vị đang kiểm toán và không được nhận bất cứ khoản tiền nào ngoài phí kiểm toán đã thỏa thuận trong hợp đồng kiểm toán, nhằm bảo đảm tính độc lập, khách quan và tin cậy của quá trình kiểm toán.

Kiểm toán viên vi phạm quy chế kiểm toán hoặc vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý tùy theo mức độ nghiêm trọng và có thể bị thu hồi chứng chỉ kiểm toán viên, đồng thời bị xử lý theo pháp luật hiện hành Nếu hành vi vi phạm gây thiệt hại vật chất cho khách hàng, kiểm toán viên phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

6.2.2 Quyền hạn của kiểm toán viên

- Độc lập về chuyên môn nghiệp vụ (tuân theo pháp luật, các chuẩn mực và phương pháp nghiệp vụ chuyên môn)

- Yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu về kế toán, tài chính và các tài liệu khác có liên quan đến nội dung kiểm toán

- Đối chiếu, xác minh các thông tin có liên quan tới đơn vị được kiểm toán ở trong và ngoài đơn vị

- Trong quá trình kiểm toán, khi phát hiện đơn vị được kiểm toán có hiện tượng vi phạm pháp luật thì kiểm toán viên được quyền thông báo và kiến nghị đơn vị có biện pháp sửa chữa sai phạm và có quyền ghi ý kiến của mình vào báo cáo kiểm toán

- Kiểm toán viên có quyền khước từ làm kiểm toán cho khách hàng nếu xét thấy không đủ điều kiện hoặc không đủ khả năng để kiểm toán

ĐỐI TƯỢNG VÀ CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN SỬ DỤNG

Đối tƣợng kiểm toán

1.1 Khái quát chung về đối tƣợng và khách thể

- Là các tài liệu kế toán

- Thực trạng tài chính cùng hiệu quả, hiệu năng của các nghiệp vụ hay dự án cụ thể

1.1.2 Khách thể của kiểm toán

1.1.2.1 Khách thể của kiểm toán NN

Bao gồm tất cả các đơn vị, cá nhân có sử dụng ngân sách Nhà nước như:

- Các dự án, công trình do ngân sách đầu tư

- Các doanh nghiệp nhà nước: 100% vốn ngân sách nhà nước

- Các xí nghiệp công cộng thuộc sở hữu nhà nước (100% vốn ngân sách nhà nước)

- Các cơ quan kinh tế, quản lý của nhà nước và các đoàn thể xã hội

- Các cá nhân có nguồn từ ngân sách nhà nước

1.1.2.2 Khách thể của kiểm toán độc lập

- Các doanh nghiệp và xí nghiệp tư (kể cả công ty trách nhiệm hữu hạn)

- Các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài

- Các liên doanh giữa các tổ chứcc trong và ngoài nước

- Các hợp tác xã và doanh nghiệp cổ phần

- Các chương trình, dự án có nguồn kinh phí từ bên ngoài ngân sách nhà nước

1.1.2.3 Khách thể của kiểm toán nội bộ

- Các bộ phận cấu thành trong đơn vị

- Các hoạt động, các chương trình, dự án cụ thể trong đơn vị

- Các cá nhân trong đơn vị

1.2 Thực trạng hoạt động tài chính - đối tƣợng chung của kiểm toán

Hoạt động tài chính là quá trình sử dụng tiền để giải quyết các mối quan hệ kinh tế trong đầu tư, kinh doanh, phân phối và thanh toán nhằm đạt được lợi ích kinh tế xác định.

- Hoạt động tài chính phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau:

+ Hoạt động tài chính phải có kế hoạch: Phải có định hướng cho từng thời kỳ cụ thể

Trong quản trị tài chính, cần đảm bảo tiết kiệm và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Việc tiết kiệm nên được áp dụng trên từng công việc và từng khoản chi, từ quan điểm tối ưu hóa lợi ích cuối cùng và hiệu quả chi phí, nhằm nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

+ Hoạt động tài chính phải đảm bảo tuân thủ pháp luật và thể lệ tài chính

Đặc điểm thực trạng hoạt động tài chính hiện nay được phản ánh một phần trên tài liệu kế toán và có phần chưa được phản ánh đầy đủ; với phần đã được phản ánh, kiểm toán sử dụng các phương pháp cân đối và đối chiếu, gọi là phương pháp kiểm toán chứng từ, nhằm đảm bảo tính hợp lệ và đầy đủ của chứng từ kế toán; với phần chưa được phản ánh trên tài liệu kế toán, kiểm toán tiến hành xác minh, điều tra và kiểm kê vật chất, được gọi là kiểm toán ngoài chứng từ, nhằm làm rõ sự tồn tại và tính xác thực của các khoản mục và giao dịch ngoài sổ sách.

Hoạt động tài chính ngày nay thường rất phức tạp, bao gồm nhiều lĩnh vực và nhiều loại tài sản hình thành từ các nguồn khác nhau Do đó, khi tiến hành kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định rõ trọng điểm kiểm toán và áp dụng các phương pháp đánh giá, kiểm tra phù hợp nhằm đảm bảo tính đầy đủ, trung thực và tin cậy của báo cáo tài chính.

1.3 Tài liệu kế toán - Đối tƣợng cụ thể của kiểm toán

Các bảng khai tài chính là tài liệu kế toán chủ yếu, trực tiếp và thường xuyên được xem xét trong mọi cuộc kiểm toán Vì thế, công tác kiểm toán phải tạo niềm tin cho người quan tâm, thường xuyên hướng dẫn nghiệp vụ, củng cố nề nếp làm việc và thúc đẩy cải tiến tổ chức nhằm nâng cao chất lượng kế toán.

- Để đáp ứng yêu cầu trên, đối tượng cụ thể của kiểm toán thuộc phạm vi tài liệu kế toán bao gồm:

+ Tính hiện thực của các thông tin kế toán

+ Tính hợp pháp của các biễu mẫu, trình tự lập và luân chuyển các tài liệu này

+ Tính hợp lý của các đối tượng kế toán phù hợp với nội dung của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh

+ Tính pháp lý trong việc thực hiện các luật pháp, chuẩn mực và chế độ kinh tế tài chính

1.4 Thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính - Đối tƣợng cụ thể của kiểm toán

Trong kinh doanh và các lĩnh vực khác, tài sản luôn vận động và được cấu thành từ các nghiệp vụ cụ thể, vì vậy công tác kiểm toán các nghiệp vụ này phải được chia thành các phần hành kiểm toán khác nhau Trên cơ sở đó, đối tượng kiểm toán được phân thành các phần hành kiểm toán cơ bản.

+ Các nghiệp vụ về tiền mặt (thu, chi và tồn quỹ)

+ Các nghiệp vụ về thanh toán

+ Các nghiệp vụ về TSCĐ (đầu tư, xây dựng và mua sắm)

+ Các nghiệp vụ về hàng hoá

+ Các nghiệp vụ về kinh doanh (mua, bán, SX, dịch vụ hoặc các nghiệp vụ mang tính sự nghiệp, xã hội đối với các đơn vị phi kinh doanh)

+ Các nghiệp vụ về tài chính (tạo vốn, phân phối kết quả kinh doanh)

1.5 Hiệu quả, hiệu năng - đối tƣợng cụ thể của kiểm toán

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh nghiệp cần tập trung tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả để duy trì lợi thế cạnh tranh Để đạt được hiệu quả và hiệu năng thực sự, từng nghiệp vụ hoặc hoạt động cụ thể phải được đặt ra mục tiêu, tiêu chí đo lường và biện pháp tối ưu hóa phù hợp, từ đó tối ưu hóa quy trình, phân bổ nguồn lực và nâng cao giá trị mang lại cho khách hàng.

Cơ sở dẫn liệu, bằng chứng kiểm toán và hồ sơ kiểm toán

Các sự kiện kinh tế khi đã được công nhận và chứng minh là thật sẽ được xử lý, cho ra một tập hợp các thông tin cuối cùng phản ánh thành các khoản mục và bộ phận cấu thành báo cáo tài chính Để đạt được mục tiêu kiểm toán toàn diện hoặc cho từng bộ phận, kiểm toán viên phải kiểm tra và xác nhận mức độ trung thực, hợp lý và phù hợp của mỗi khoản mục dựa vào cơ sở dẫn liệu.

Cơ sở dẫn liệu là tổng hợp toàn bộ nguồn tài liệu dùng để thu thập bằng chứng kiểm toán bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó có các giải trình của quản lý về các khía cạnh của các bộ phận cấu thành trong báo cáo tài chính mà kiểm toán viên phải tìm kiếm bằng chứng nhằm làm cơ sở cho ý kiến nhận xét về từng bộ phận Đây là căn cứ để xây dựng kế hoạch kiểm toán, xác định mục tiêu, đưa ra nhận xét và kết luận, đồng thời là nguồn gốc của bằng chứng kiểm toán.

2.1.2 Các yếu tố của cơ sở dẫn liệu

* Nếu thu thập bằng chứng kiểm toán theo phương pháp tuân thủ, cơ sở dẫn liệu bao gồm 3 nhóm sau:

- Có thật: Biểu hiện về sự có thật của cơ sở dẫn liệu là:

+ Sự tồn tại: Tài sản và công nợ, vốn chủ sở hữu được phản ánh trên báo cáo tài chính thì thật sự tồn tại

+ Sự phát sinh: Các nghiệp vụ ghi chép thì thực sự xảy ra

Quyền lợi và nghĩa vụ được thể hiện rõ trên bảng cân đối kế toán: tài sản phải thuộc quyền sở hữu của đơn vị, đảm bảo tính hợp pháp và quyền sử dụng tài sản; đồng thời các khoản công nợ hiện có cho thấy tồn tại nghĩa vụ phải thanh toán theo cam kết, phản ánh đúng tình hình tài chính và khả năng thanh toán của đơn vị.

Trong hệ thống kế toán và quản trị tài chính, các nghiệp vụ kinh tế, tài sản, công nợ và vốn chủ sở hữu được đo lường, tính toán và đánh giá dựa trên các nguyên tắc và quy định hiện hành, đảm bảo tính trung thực, minh bạch và tin cậy của báo cáo tài chính đồng thời hỗ trợ quản lý và ra quyết định hiệu quả.

+ Đo lường: Các nghiệp vụ được ghi chép theo đúng số lượng và số tiền

+ Đánh giá: Tài sản, công nợ, vốn chủ sở hữu, thu nhập, chi phí phải được đánh giá theo đúng các nguyên tắc kế toán

- Đã ghi chép, đã cộng dồn:

Để đảm bảo tính đầy đủ, kịp thời và đúng loại trên báo cáo tài chính, cơ sở dẫn liệu phải chứng minh rằng mọi nghiệp vụ kinh tế, tài sản và công nợ đều được ghi chép đầy đủ, phản ánh kịp thời và đúng loại Việc này dựa trên sự kết hợp của nhiều thủ tục, bao gồm các thử nghiệm tuân thủ về tính thích hợp và hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm tra các khoản mục liên quan và các hoạt động quan sát, phân tích và đánh giá tổng quát.

+ Đúng kỳ: Doanh thu và chi phí được xác định đúng kỳ

+ Đã cộng dồn: Số dư các khoản mục đã được xác định đúng trên số liệu các nghiệp vụ đã ghi chép

* Nếu thu thập bằng chứng kiểm toán theo phương pháp cơ bản, cơ sở dẫn liệu bao gồm 5 nhóm sau:

Trong kiểm toán và kế toán, sự hiện diện hoặc phát sinh được xem là căn cứ để thu thập bằng chứng nhằm xác nhận tính tồn tại của tài sản, công nợ và vốn chủ sở hữu, cũng như tính đúng đắn của các nghiệp vụ doanh thu và chi phí đã phát sinh Bằng chứng thu thập được từ chứng từ gốc, sổ sách và đối chiếu với các bên liên quan giúp khẳng định tài sản và công nợ thực sự tồn tại, vốn chủ sở hữu được ghi nhận đầy đủ, và các giao dịch doanh thu, chi phí đã diễn ra đúng thực tế và thời điểm kế toán Quá trình này đảm bảo tính toàn diện và độ tin cậy của báo cáo tài chính bằng cách xác nhận sự hiện diện và phát sinh của các thành phần tài chính và các nghiệp vụ liên quan.

Tính trọn vẹn (đầy đủ) là quá trình thu thập bằng chứng nhằm khẳng định mọi nghiệp vụ và các khoản mục được trình bày trên báo cáo tài chính đã được ghi nhận đầy đủ Một hệ thống kiểm soát hiệu quả giúp đảm bảo không bỏ sót bất kỳ giao dịch nào, phản ánh đúng thực tế kinh doanh và đảm bảo tính toàn diện của báo cáo Mục tiêu là xác minh sự đầy đủ của các chứng từ, sổ sách kế toán và số liệu trên báo cáo tài chính để người đọc có thể tin tưởng vào tính chính xác và đầy đủ của thông tin tài chính.

Quyền và nghĩa vụ trong báo cáo tài chính nhấn mạnh mối liên hệ giữa số liệu tài sản và số liệu công nợ của công ty Những con số được ghi nhận ở mục tài sản phải đại diện cho quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản thuộc về công ty, trong khi những con số trình bày ở mục công nợ thể hiện nghĩa vụ của công ty đối với bên ngoài, tức là các nghĩa vụ nợ phải thanh toán hoặc trả nợ Việc phân định rõ ràng này góp phần tăng tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính, đồng thời giúp người đọc dễ dàng hiểu được trạng thái tài sản và cam kết tài chính của doanh nghiệp.

Quá trình tính giá và đo lường nhằm xác định đúng giá trị của tài sản, công nợ, vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí; các dữ liệu kế toán được tập hợp, cộng dồn và ghi sổ đúng số tiền thực tế, từ đó đảm bảo báo cáo tài chính phản ánh trung thực và tuân thủ chuẩn mực kế toán.

Trình bày và khai báo nhằm xác định các chính sách tài chính kế toán và các nguyên tắc kế toán được lựa chọn và áp dụng một cách hợp lý Các thông tin cần khai báo phải đầy đủ và thích đáng để người đọc nắm được bức tranh tài chính của doanh nghiệp Việc sắp xếp, phân loại, tổng hợp và trình bày các khoản mục trên báo cáo tài chính cần đảm bảo sự phù hợp với chuẩn mực kế toán và nguyên tắc kế toán được áp dụng.

Ví dụ: Xem xét khoản mục sau trên Bảng cân đối kế toán

Khi báo cáo khoản mục này trên BCĐKT thì ban quản lý đã:

- Khẳng định 1 cách rõ ràng các cơ sở dẫn liệu sau:

+ Sự hiện hữu: Tiền mặt đang hiện hữu

+ Đo lường: Số tiền chính xác là 150.000$

- Khẳng định 1 cách ngầm định các cơ sở dẫn liệu sau:

Đảm bảo tính đầy đủ trong báo cáo tiền mặt: mọi khoản tiền mặt cần được báo cáo đều đã được ghi nhận đầy đủ và đúng đắn Đồng thời, quyền và nghĩa vụ liên quan được xác định rõ: mọi số tiền được báo cáo là tiền của đơn vị, thuộc quyền quản lý và chịu trách nhiệm của đơn vị.

+ Trình bày và khai báo: Không có sự cấm đoán nào trong việc sử dụng số tiền đó

Cơ sở dẫn liệu có vai trò thiết yếu trong các giai đoạn của quá trình kiểm toán Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, cơ sở dẫn liệu xác định nguồn tài liệu và các biện pháp kiểm toán cụ thể cần thiết để thu thập bằng chứng kiểm toán Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, nó là nguồn tài liệu phục vụ cho việc thu thập bằng chứng nhằm trình bày ý kiến của kiểm toán viên về báo cáo tài chính Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, cơ sở dẫn liệu giúp kiểm toán viên đánh giá mức độ thỏa mãn về kiểm toán.

Là những chứng minh cụ thể cho những kết luận kiểm toán, là cơ sở tạo niềm tin cho những người quan tâm

2.2.2 Phân loại bằng chứng kiểm toán

- Bằng chứng kiểm toán do kiểm toán viên khai thác và phát hiện

+ Kiểm kê tài sản thực tế

+ Tính toán lại các biểu tính của doanh nghiệp

+ Quan sát thực tế hệ thống kiểm soát nội bộ

+ Thẩm tra và phỏng vấn

- Bằng chứng kiểm toán do khách hàng cung cấp (đơn vị được kiểm toán)

+ Các chứng từ, hoá đơn…

+ Các ghi chép kế toán, các báo cáo kế toán

+ Giải trình bằng lời, bằng văn bản của cán bộ nghiệp vụ và cán bộ quản lý…

- Bằng chứng kiểm toán do bên thứ ba cung cấp

+ Các số liệu thống kê chuyên ngành

+ Các chứng từ, hoá đơn bên ngoài: Hóa đơn bán hang, Giấy báo nợ, báo có của ngân hàng

+ Các tài liệu, biên bản làm việc của cơ quan tài chính, thuế, hải quan

+ Xác nhận của bên thứ ba

+ Các tài liệu, bằng chứng do chuyên gia cung cấp

+ Các chứng từ kế toán

+ Các ghi chép kế toán và ghi chép khác của doanh nghiệp

+ Các tài liệu kiểm kê thực tế

+ Các văn bản báo cáo của bên thứ ba có liên quan

+ Các biên bản làm việc có liên quan (cơ quan tài chính, thuế, hải quan ) + Các báo cáo tài chính và báo cáo kế toán nội bộ

+ Giải trình của các nhà quản lý và cán bộ nghiệp vụ trong đơn vị

+ Các tài liệu thống kê chuyên nghành

+ Các kế hoạch, dự toán đã được duyệt, các hợp đồng hợp tác kinh doanh + Các tài liệu tính toán lại

2.2.3 Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán

2.2.3.1 Yêu cầu về tính đầy đủ

- Số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập phải đủ để đưa ra kết luận bằng chứng kiểm toán

Yêu cầu đầy đủ này không đặt ra một số lượng cụ thể mà đòi hỏi sự xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên trong mối quan hệ với các nhân tố quyết định số lượng bằng chứng kiểm toán Các nhân tố đó bao gồm mức độ rủi ro được đánh giá, tính chất và phức tạp của các giao dịch, hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ, tính tin cậy và nguồn gốc của bằng chứng, mức độ không chắc chắn liên quan và phạm vi thông tin có sẵn, cũng như mục tiêu và phạm vi của cuộc kiểm toán Trên cơ sở những yếu tố này, kiểm toán viên xác định khối lượng và phạm vi bằng chứng cần thiết để đảm bảo kết luận kiểm toán có căn cứ và phù hợp với chuẩn mực nghề nghiệp.

+ Tính trọng yếu: Số lượng bằng chứng kiểm toán sẽ phải nhiều lên khi kiểm toán các khoản mục có tính trọng yếu cao

+ Mức độ rủi ro: Số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập sẽ tăng lên trong những trường hợp mà có nhiều khả năng xảy ra sai phạm

+ Tính thuyết phục của bằng chứng kiểm toán: bằng chứng kiểm toán thu được càng có sức thuyết phục cao thì số lượng cần thu thập càng thấp

+ Tính kinh tế: kiểm toán viên phải cân nhắc giữa lợi ích thu được với chi phí bỏ ra trong quá trình thu thập bằng chứng kiểm toán

2.2.3.2 Yêu cầu về tính hiệu lực bằng chứng kiểm toán có hiệu lực thì nó phải đáng tin cậy và có liên quan tới mục tiêu kiểm toán

- Tính liên đới: Tức là bằng chứng kiểm toán phải liên quan tới mục tiêu kiểm toán

- Tính đáng tin cậy: Chịu ảnh hưởng bới các yếu tố sau

+ Nguồn và bản chất của thông tin được thu thập

Bằng chứng kiểm toán thu được từ bên ngoài có độ tin cậy hơn so với các bằng chứng thu được từ nguồn bên trong nội bộ

Bằng chứng kiểm toán thu thập từ nguồn nội bộ sẽ có độ tin cậy cao khi hệ thống KSNB liên quan có hiệu lực

Bằng chứng kiểm toán thu thập trực tiếp bởi KTV sẽ đáng tin cậy hơn so với bằng chứng cung cấp bởi đơn vị

Bằng chứng bằng tài liệu, văn bản sẽ tin cậy hơn so với bằng chứng trình bày bằng miệng

Thời điểm thu thập bằng chứng kiểm toán ảnh hưởng trực tiếp đến tính đáng tin cậy của thông tin kiểm toán Tính thời điểm của bằng chứng kiểm toán đặc biệt quan trọng trong việc xác minh các tài sản lưu động và nợ ngắn hạn, giúp đánh giá tính hợp lý và độ chính xác của báo cáo tài chính Vì vậy, quá trình kiểm toán cần lên kế hoạch cẩn thận về thời điểm thu thập bằng chứng để đảm bảo tính khách quan và đầy đủ của bằng chứng trong phạm vi kiểm toán.

+ Tính khách quan của bằng chứng kiểm toán: Bằng chứng kiểm toán càng khách quan thì càng được xem là có độ tin cậy cao

Hồ sơ kiểm toán là các tài liệu do kiểm toán viên lập, thu thập, phân loại, sử dụng và lưu trữ

2.3.2 Mục đích của hồ sơ kiểm toán

- Lưu giữ những bằng chứng kiểm toán thu được trong quá trình thực hiện kiểm toán, làm cơ sở cho việc đưa ra ý kiến của kiểm toán viên

- Trợ giúp cho việc lập kế hoạch và thực hiện công việc kiểm toán

- Trợ giúp cho kiểm tra, soát xét và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán

- Trợ giúp cho việc xử lý các phát sinh sau cuộc kiểm toán

- Làm tài liệu tham khảo cho các cuộc kiểm toán sau

2.3.3 Phân loại hồ sơ kiểm toán

Hồ sơ kiểm toán phân làm 2 loại:

Hồ sơ kiểm toán chung là hồ sơ chứa thông tin chung về khách thể kiểm toán liên quan đến hai hay nhiều cuộc kiểm toán trong nhiều năm với cùng một khách thể kiểm toán Vì vậy, hồ sơ kiểm toán chung thường lưu giữ các dữ kiện có tính lịch sử hoặc mang tính liên tục qua các năm tài chính, đồng thời được cập nhật hàng năm khi có sự thay đổi liên quan đến nội dung lưu trữ Hồ sơ này phục vụ như cơ sở so sánh kết quả kiểm toán giữa các năm, giúp đảm bảo tính nhất quán và đầy đủ của quá trình kiểm toán Thông tin trong hồ sơ kiểm toán chung phản ánh sự biến động của khách thể kiểm toán và các yếu tố liên quan theo thời gian, từ đó hỗ trợ quản lý rủi ro và quyết định cải thiện quy trình kiểm toán.

Hồ sơ kiểm toán chung thường có những nội dung cơ bản sau:

+ Tên và số liệu hồ sơ: Ngày tháng năm lập và ngày tháng năm lưu trữ

Gian lận và sai sót

3.1 Khái niệm gian lận và sai sót, mối quan hệ giữa gian lận và sai sót

Gian lận là các hành vi cố ý làm sai lệch hoặc bỏ sót thông tin kinh tế - tài chính do một hoặc nhiều người thuộc ban quản trị, hội đồng quản trị, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, nhằm làm sai lệch Báo cáo tài chính và được quy định trong Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240.

Gian lận có thể biểu hiện dưới các dạng tổng quát sau:

Xuyên tạc và làm giả chứng từ, tài liệu liên quan đến báo cáo tài chính là hành vi gian lận nghiêm trọng nhằm đánh lừa thông tin tài chính và người dùng báo cáo Sửa đổi chứng từ, tài liệu kế toán để làm sai lệch báo cáo tài chính là hình thức gian lận nhằm thao túng số liệu tài chính, gây thiệt hại cho doanh nghiệp, nhà đầu tư và hệ thống quản trị Những hành động này làm mất niềm tin, gia tăng rủi ro pháp lý và có thể dẫn tới xử phạt cùng hậu quả nghiêm trọng về tài chính và danh tiếng của tổ chức.

+ Che giấu hoặc cố ý bỏ sót các thông tin, tài liệu hoặc nghiệp vụ kinh tế làm sai lệch Báo cáo tài chính

+ Ghi chép các nghiệp vụ kinh tế không đúng sự thật

+ Cố ý áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán, chính sách tài chính

+ Cố ý tính toán sai về mặt số học

- Sai sót: Là những lỗi không cố ý có ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính như:

+ Lỗi về tính toán số học hoặc ghi chép sai

+ Bỏ sót hoặc hiểu sai, làm sai các khoản mục, các nghiệp vụ kinh tế

+ Áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán, chính sách tài chính nhưng không cố ý

Gian lận và sai sót trong lĩnh vực tài chính kế toán đều là hành vi vi phạm, gây lệch lạc thông tin và phản ánh sai thực tế Những sai lệch này làm ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính, quyết định của ban quản trị và niềm tin của các bên liên quan, đồng thời gắn liền với trách nhiệm của các nhà quản lý tài chính – kế toán nói riêng cũng như của người quản lý nói chung.

3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ gian lận và sai sót

3.2.1 Các vấn đề về tính chính trực, năng lực và trình độ của các nhà quản lý đơn vị

Quản lý bị chi phối bởi một người hoặc một nhóm độc quyền, thiếu sự giám sát hiệu quả từ các uỷ ban và hội đồng, dẫn đến thiếu minh bạch và trách nhiệm giải trình Sự tập trung quyền lực như vậy làm giảm tính khách quan trong quyết định và gia tăng rủi ro lạm dụng quyền lực trong quản trị tổ chức Để khắc phục, cần củng cố cơ chế giám sát, thiết lập quy trình kiểm soát và báo cáo định kỳ từ hội đồng và ủy ban; đồng thời tăng cường sự tham gia của các bên liên quan nhằm đảm bảo quản trị công khai và hiệu quả Việc thiết lập cân bằng quyền lực và minh bạch trong quản lý giúp tổ chức vận hành ổn định, tăng niềm tin của thành viên và đối tác, đồng thời đáp ứng các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp và tuân thủ pháp lý.

- Có sự thay đổi thường xuyên kế toán hoặc người có trách nhiệm ở bộ phận tài chính kế toán

- Nhân sự của phòng kế toán bị thiếu nhiều trong thời gian dài

- Cơ cấu tổ chức của khách hàng phức tạp 1 cách cố ý và khó hiểu

Những yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống kế toán thường bị bỏ qua hoặc xem nhẹ, khiến rủi ro tài chính và sai sót báo cáo gia tăng Tuy nhiên, thực tế cho thấy những lỗ hổng này hoàn toàn có thể được khắc phục khi doanh nghiệp đầu tư vào cải thiện quy trình kiểm soát, tăng cường phân quyền và nâng cấp hệ thống kế toán bằng công nghệ hiện đại Việc chuẩn hóa quy trình, thiết lập kiểm tra độc lập định kỳ và đào tạo nhân sự giúp giảm thiểu sai sót, ngăn chặn gian lận và nâng cao tính chính xác của báo cáo tài chính Do đó, cải thiện kiểm soát nội bộ và hệ thống kế toán không chỉ bảo vệ tài sản mà còn tăng hiệu quả quản trị doanh nghiệp và niềm tin của nhà đầu tư.

- Bố trí người làm kế toán không đúng chuyên môn hoặc người bị pháp luật nghiêm cấm

- Có sự thay đổi thường xuyên về chuyên gia tư vấn pháp luật hoặc kiểm toán viên

3.2.2 Các sức ép bất thường trong đơn vị

- Ngành nghề kinh doanh đang tàn lụi, số đơn vị kinh doanh cùng ngành phá sản ngày càng tăng

- Thiếu vốn kinh doanh do lỗ hoặc do mở rộng quy mô hoạt động của doanh nghiệp quá nhanh

- Mức thu nhập bị giảm sút

- Doanh nghiệp cố ý hạch toán tăng lợi nhuận nhằm khuyếch trương hoạt động

- Đầu tư quá nhanh vào ngành nghề mới hoặc loại sản phẩm mới làm mất cân đối tài chính

- DN bị lệ thuộc quá nhiều vào 1 số sản phẩm hoặc 1 số khách hàng

- Sức ép về tài chính từ những nhà đầu tư hoặc cấp quản lý đơn vị

- Sức ép đối với nhân viên kế toán phải hoàn tất báo cáo tài chính trong thời gian quá ngắn

3.2.3 Các nghiệp vụ bất thường

- Các nghiệp vụ đột xuất đặc biệt xảy ra vào cuối niên độ có tác động lớn đến tổng thu nhập, chi phí và kết quả

- Các nghiệp vụ hoặc phương pháp xử lý kế toán phức tạp

- Các nghiệp vụ với các bên hữu quan như mua đắt, bán rẻ hoặc quan hệ với những khách hàng có nhiều tiêu cực, không minh bạch…

- Các khoản chi phí quá cao so với những dịch vụ được cung cấp

3.2.4 Các vấn đề có liên quan đến thu thập bằng chứng kiểm toán

- Tài liệu kế toán không đầy đủ hoặc không được cung cấp kịp thời

- Lưu trữ tài liệu không đầy đủ về các sự kiện và nghiệp vụ kinh tế

- Có chênh lệch lớn giữa sổ kế toán của đơn vị với xác nhận của bên thứ

3, mâu thuẫn giữa các bằng chứng kiểm toán, không giải thích được sự thay đổi của các chỉ số hoạt động

- Ban giám đốc từ chối cung cấp giải trình hoặc giải trình không thỏa mãn các yêu cầu của kiểm toán viên

3.2.5 Các yếu tố từ môi trường tin học

- Không lấy được thông tin từ máy vi tính

- Có thay đổi trong chương trình vi tính nhưng không lưu tài liệu, không được phê duyệt và không được kiểm tra

- Thông tin, tài liệu in từ máy vi tính không phù hợp với báo cáo tài chính

- Các thông tin in ra từ máy vi tính khác nhau qua mỗi lần

3.3 Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận và sai sót

- Kiểm toán viên không có trách nhiệm ngăn chặn và xử lý các gian lận, sai sót trong doanh nghiệp

- Kiểm toán viên có nhiệm vụ phát hiện ra các gian lận, sai sót để có ý kiến nhận xét thích hợp trong báo cáo kiểm toán

Kiểm toán viên khi phát hiện nghi ngờ về gian lận và sai sót trong một doanh nghiệp phải tiến hành tìm kiếm bằng chứng để chứng minh hoặc xoá tan những nghi ngờ ấy Quá trình này bao gồm thu thập và đánh giá chứng từ, phân tích dữ liệu và phỏng vấn nhân sự nhằm làm rõ tính hợp lệ của các giao dịch cũng như hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ Mục tiêu là xác định phạm vi vi phạm (nếu có) và cung cấp căn cứ cho các biện pháp xử lý phù hợp, từ đó bảo đảm tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính Việc này không chỉ bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp mà còn tăng niềm tin của cổ đông và các bên liên quan về tính xác thực của thông tin kế toán.

Kiểm toán viên phát hiện gian lận hoặc sai sót có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính phải báo cáo ngay cho lãnh đạo cấp cao và phối hợp với doanh nghiệp để thỏa thuận về biện pháp xử lý Việc này giúp đảm bảo tính chính xác và minh bạch của báo cáo tài chính, đồng thời duy trì sự tin cậy với các bên liên quan.

- Nếu kiểm toán viên phát hiện các thành viên của lãnh đạo doanh nghiệp gian lận thì phải tìm kiếm đại diện khác để thay thế

- Trường hợp lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp gian lận thì kiểm toán có thể:

+ Khước từ nhận hợp đồng của đơn vị này

+ Nếu đã ký hợp đồng thì lập báo cáo kiểm toán “từ bỏ” nếu không thu được các bằng chứng cần thiết

Kiểm toán viên có trách nhiệm và quyền lực khi phát hiện các hành vi gian lận nghiêm trọng hoặc vi phạm pháp luật Trong trường hợp này, họ có quyền kiến nghị với đơn vị cần sửa chữa những sai phạm và có quyền diễn đạt đầy đủ trong báo cáo kiểm toán Việc ghi nhận các sai phạm một cách rõ ràng trong báo cáo giúp đảm bảo tính minh bạch, tăng cường tuân thủ pháp luật và củng cố hiệu quả quản trị nội bộ.

Trọng yếu và rủi ro

Khái niệm: Là khái niệm chung chỉ rõ tầm cỡ và tính hệ trọng của các sai phạm

Xem xét tính trọng yếu là quá trình nhận diện hai mặt liên quan đến nhận thức đối tượng: quy mô hay tầm cỡ (mặt lượng) và vị trí hay tính hệ trọng (mặt chất) của phần nội dung cơ bản Trọng yếu không chỉ đánh giá kích thước hay phạm vi của nội dung mà còn xếp hạng mức độ quan trọng của nó đối với toàn bộ thông tin Việc nhận diện hai khía cạnh này giúp tối ưu hóa cấu trúc nội dung và cải thiện hiệu quả SEO bằng cách ưu tiên những phần thông tin phù hợp với mục tiêu người đọc và mức độ hệ trọng của nội dung.

- Về quy mô (định lượng):

Trong quá trình kiểm toán, việc ấn định một con số cụ thể cho tầm quan trọng của các điểm cốt lõi là khó khăn Do đó, ranh giới của quy mô đối tượng kiểm toán thường được xem xét dựa trên mức độ ảnh hưởng của các khoản mục và nghiệp vụ đến kết luận kiểm toán, từ đó hỗ trợ người dùng thông tin đã được kiểm toán trong quyết định của họ Đôi khi kiểm toán viên cũng sử dụng con số tuyệt đối để đánh giá tính trọng yếu, tức là một con số thể hiện mức độ quan trọng mà không cần cân nhắc thêm bất kỳ yếu tố nào khác.

Trong kiểm toán, một số kiểm toán viên cho rằng 1 triệu USD hoặc một con số lớn tương đương luôn là yếu tố trọng yếu và không cần xem xét tới các vấn đề khác Tuy nhiên, rất ít kiểm toán viên áp dụng tiêu chuẩn tuyệt đối làm căn cứ đánh giá tính trọng yếu; với một con số cụ thể, như 500.000 USD, mức độ trọng yếu có thể là quan trọng đối với một công ty nhưng lại quá nhỏ đối với công ty khác Vì vậy, việc xác định tính trọng yếu nên dựa vào ngữ cảnh doanh nghiệp, quy mô và mức độ ảnh hưởng của từng giao dịch để đảm bảo phù hợp với báo cáo tài chính và kiểm toán.

Do đó, khi kiểm toán viên xem xét quy mô của đối tượng kiểm toán, họ thường quan tâm đến quy mô tương đối, tức là mối quan hệ tương quan giữa đối tượng cần đánh giá với các gốc căn cứ khác nhau tùy từng tình huống Vì các gốc này thường khác nhau giữa các tình huống kiểm toán, việc nhận diện đúng các gốc và đo lường quy mô tương đối giúp xác định phạm vi kiểm toán, dẫn tới phân bổ nguồn lực và thời gian phù hợp, đồng thời đảm bảo đánh giá phù hợp với đặc điểm của từng tình huống.

Ví dụ: Với Báo cáo kết quả kinh doanh, số gốc có thể là thu nhập ròng hoặc bình quân thu nhập của các năm gần đây; phần đông kiểm toán viên đồng ý rằng nếu tổng hợp các sai phạm có tỷ lệ dưới 5% so với giá trị thu nhập ròng thì được xem là không trọng yếu, nhưng nếu lớn hơn 10% thì chắc chắn trọng yếu Với Bảng cân đối kế toán, số gốc có thể là tài sản lưu động hay tổng tài sản Với Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, số gốc là doanh thu thuần.

Kiểm toán viên cần chú ý tới sự ảnh hưởng lũy kế của đối tượng xem xét Khi xem xét các sai phạm ở góc độ cô lập, nhiều trường hợp có quy mô nhỏ có thể được coi là không đáng kể, nhưng khi gộp lại toàn bộ sai phạm sẽ làm nổi lên sự liên quan và tính hệ thống giữa chúng, từ đó phát hiện tính trọng yếu một cách chính xác hơn và nâng cao độ tin cậy của báo cáo tài chính.

+ Khi xác định tính trọng yếu của quy mô cần quán triệt các nguyên tắc cơ bản sau:

Quy mô trọng yếu phải được xác định dựa trên đối tượng kiểm toán và khách thể kiểm toán cụ thể Tùy thuộc vào phạm vi (báo cáo tài chính hay toàn bộ tài liệu kế toán) và loại hình khách thể kiểm toán (đơn vị kinh doanh công nghiệp, thương mại, xây lắp), quá trình xác định quy mô trọng yếu đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về tài chính kế toán của khách thể kiểm toán.

Quy mô của các khoản mục và nghiệp vụ trong kiểm toán không chỉ được đánh giá theo quy mô tuyệt đối mà còn căn cứ vào quy mô tương đối so với đối tượng kiểm toán Định lượng quy mô thể hiện ở các tỷ lệ giữa các khoản mục, nghiệp vụ với một cơ sở tính toán chung như tổng tài sản hoặc tổng lợi tức chưa tính thuế, nhằm phản ánh mức độ ảnh hưởng của từng mục đến bức tranh tài chính Tùy thuộc vào mối quan hệ cụ thể giữa đối tượng kiểm toán và các nghiệp vụ hay khoản mục liên quan, ta có thể tính toán riêng biệt hoặc cộng dồn các nghiệp vụ, các khoản mục và những sai sót có liên quan để đánh giá toàn diện.

Quy mô trọng yếu phụ thuộc vào từng cuộc kiểm toán, vì mỗi cuộc kiểm toán có đối tượng và mục tiêu khác nhau Ví dụ, kiểm toán tài chính tập trung vào xác minh tính đúng đắn của báo cáo tài chính, trong khi kiểm toán hiệu quả nhấn mạnh đánh giá hiệu quả hoạt động và quản lý nguồn lực Dù là chức năng xác minh hay tư vấn, quy mô trọng yếu được xác định dựa trên phạm vi đối tượng kiểm toán và mục tiêu đặt ra, nhằm đảm bảo đánh giá phù hợp và có tính ứng dụng cao cho tổ chức.

- Về mặt chất (định tính):

Khái niệm trọng yếu gắn với tính hệ trọng của vấn đề xem xét, vì mức độ hệ trọng xác định tầm quan trọng của từng khoản mục hoặc giao dịch đối với báo cáo tài chính và quyết định của người dùng Một yếu tố định tính quan trọng cần xem xét là bản chất của khoản mục hoặc vấn đề đang được đánh giá, bởi nó có thể ảnh hưởng đến cách trình bày và diễn giải thông tin Liên quan đến vấn đề này, tất cả các nghiệp vụ và khoản mục được xem là trọng yếu bao gồm những giao dịch có ảnh hưởng đáng kể tới kết quả hoạt động và tình hình tài chính, cũng như các giả định kế toán liên quan.

+ Các khoản mục nghiệp vụ có gian lận hoặc chứa đựng khả năng gian lận Các nghiệp vụ đấu thầu và giao thầu, giao dịch không hợp pháp

Các nghiệp vụ thanh lý tài sản

Các nghiệp vụ về tiền mặt

Các nghiệp vụ mua bán và thanh toán

Các nghiệp vụ bất thường

Các nghiệp vụ phân chia quyền lợi

Các nghiệp vụ cố ý bỏ ngoài sổ sách

Các khoản mục chứng từ có sửa chữa

+ Các nghiệp vụ, khoản mục có sai sót hệ trọng

Các khoản mục và nghiệp vụ phát hiện có sai sót ở quy mô lớn hoặc có chênh lệch lớn so với các kỳ trước hoặc giữa các nguồn thông tin có liên quan Việc nhận diện các sai lệch này giúp nâng cao tính chính xác của báo cáo và tăng cường kiểm soát nội bộ, đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu tin cậy cho quyết định quản trị Khi phát hiện sai lệch giữa các nguồn thông tin có liên quan, cần tiến hành xác minh, điều chỉnh và báo cáo kịp thời để đảm bảo sự nhất quán giữa các kỳ và giữa các nguồn dữ liệu.

Các nghiệp vụ vi phạm quy tắc kế toán và pháp lý nói chung

Các khoản mục, nghiệp vụ có sai sót lặp lại nhiều lần

Các nghiệp vụ, khoản mục có ảnh hưởng nghiêm trọng đến kỳ sau

Các khoản mục, nghiệp vụ là đầu mối hoặc gây hậu quả liên quan đến nhiều khoản mục nghiệp vụ khác

Vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán

Bước 1: Ước lượng sơ bộ ban đầu về tính trọng yếu

Mục đích xác định ngưỡng trọng yếu là để ước lượng mức sai phạm tối đa có thể chấp nhận được mà vẫn được coi là trung thực hợp lý trong báo cáo tài chính, tức là ở mức sai phạm đó báo cáo tài chính không làm thay đổi quan điểm và quyết định của người sử dụng thông tin Mức ước lượng ban đầu thường được các công ty kiểm toán chuyên nghiệp chỉ đạo cho các kiểm toán viên, và tinh thần chỉ đạo này có thể áp dụng cho từng bộ phận, từng lĩnh vực kiểm toán Trong thực tế khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thường dự kiến và ấn định mức trọng yếu ban đầu thấp hơn mức chỉ đạo của các công ty kiểm toán Việc làm này sẽ tăng khối lượng công việc kiểm toán và chi phí kiểm toán, nhưng bù lại nó giảm rủi ro kiểm toán và tăng khả năng loại trừ những sai phạm có thể mắc phải của kiểm toán viên.

Ví dụ, mức chỉ đạo về tính trọng yếu đối với tổng tài sản do các công ty kiểm toán quốc tế áp dụng thường ở mức 3–6%, trong khi kiểm toán viên thường ấn định sai phạm trọng yếu ban đầu ở mức 2–4%.

Ví dụ: Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu của 3 tài khoản trên Bảng cân đối kế toán là 100

Trong 3 khoản mục này, với chi phí kiểm toán thấp nhất và kinh nghiệm cùng với khả năng xét đoán nghề nghiệp thực tế của kiểm toán viên cho thấy khoản mục tiền mặt ít có khả năng sai sót nên có thể chỉ phân bổ là 10, khoản mục các khoản phải thu sai sót không được quá 40 Còn khoản mục hàng tồn kho, kiểm toán viên không có cơ sở để dự đoán, hơn nữa chi phí để thu thập bằng chứng kiểm toán đối với hàng tồn kho là rất cao so với 2 khoản mục nêu trên nên sai sót của khoản mục này hoàn toàn phụ thuộc và khả năng được tạo ra từ các khoản mục khác (trong ví dụ này là 2 khoản mục tiền mặt và các khoản phải thu)

Bước 2: Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho từng bộ phận, từng khoản mục

Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu thường được thực hiện dựa trên hai trường hợp chính: sai sót trên sổ sách lớn hơn thực tế và sai sót trên sổ sách nhỏ hơn thực tế Trong trường hợp sai sót trên sổ sách lớn hơn thực tế, mức trọng yếu cần được điều chỉnh để phản ánh chênh lệch thực tế và đảm bảo đánh giá rủi ro hợp lý; ngược lại, khi sai sót trên sổ sách nhỏ hơn thực tế, mức trọng yếu có thể được xem nhẹ hơn nhưng vẫn phải duy trì biện pháp giám sát phù hợp Nhận diện hai trường hợp này giúp xác định phạm vi kiểm tra, lựa chọn các thủ tục kiểm toán tương ứng và nâng cao độ tin cậy của báo cáo tài chính, đồng thời tối ưu hóa quy trình kiểm toán.

Cơ sở để phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục là:

- Kinh nghiệm của kiểm toán viên về các sai sót của các khoản mục

Khái nệm về hoạt động liên tục

Một đơn vị được coi là duy trì hoạt động liên tục trong tương lai gần khi có thể dự đoán được ít nhất 1 năm kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán, miễn là không có ý định hoặc yêu cầu giải thể, ngừng hoạt động hoặc thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động và vẫn tìm kiếm sự bảo hộ từ các chủ nợ theo pháp luật và các quy định hiện hành.

Nguyên tắc hoạt động liên tục là nền tảng cơ bản khi lập và trình bày báo cáo tài chính Theo nguyên tắc này, tài sản và nợ phải trả được ghi nhận dựa trên giả định rằng đơn vị vẫn hoạt động và có khả năng thực hiện giá trị các tài sản cũng như thanh toán các khoản nợ trong điều kiện kinh doanh bình thường.

* Các biểu hiện hoạt động không liên tục

- Các dấu hiệu về mặt tài chính

+ Nợ phải trả > tài sản/nợ phải trả ngắn hạn > tài sản lưu động

+ Đơn vị có các khoản nợ dài hạn sắp đến hạn trả

+ Dấu hiệu việc cắt bỏ hỗ trợ tài chính của khách hàng/chủ nợ

+ Lỗ hoạt động kinh doanh lớn/có sự suy giảm lớn về giá trị tài sản

+ Nợ tồn đọng hoặc ngừng thanh toán cổ tức

+ Không có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn

+ Không có khả năng tuân thủ các điều kiện hợp đồng tín dụng

+ Chuyển đổi các giao dịch mua bán chịu sang thanh toán ngay

- Các dấu hiệu về mặt hoạt động

+ Thiếu thành phần lãnh đạo chủ chốt mà không được thay thế

+ Mất một thị trường lớn/giấy phép bản quyền/nhà cung cấp lớn

+ Đơn vị gặp khó khăn về tuyển dụng lao động/thiếu hụt

+ Không tuân thủ theo các qui định về vốn/qui định khác

+ Đơn vị đang bị kiện và các vụ kiện này chưa được xử lý, nếu thua kiện có thể dẫn đến bồi thường không có khả năng

+ Thay đổi về luật pháp hoặc chính sách của nhà nước ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động của đơn vị

5.2 Trách nhiệm của kiểm toán viên

Ban lãnh đạo doanh nghiệp phải bảo đảm các số liệu trình bày trên báo cáo tài chính được lập trên cơ sở doanh nghiệp hoạt động liên tục (going concern) Nếu giả định going concern không còn phù hợp, cần nêu rõ vấn đề này để người đọc có cái nhìn đầy đủ về tình hình tài chính và triển vọng của doanh nghiệp.

Khi lập kế hoạch, thực hiện kiểm toán và trình bày ý kiến nhận xét trong

Trong báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên phải xem xét tính phù hợp của giả định về hoạt động liên tục mà đơn vị đã sử dụng để lập và trình bày báo cáo tài chính Việc đánh giá này nhằm bảo đảm giả định hoạt động liên tục phản ánh đúng tình hình tài chính và hoạt động của đơn vị, đồng thời giúp nhận diện các rủi ro liên quan và mức độ hợp lý của các ước tính kế toán Kết quả của đánh giá sẽ cho biết mức độ tin cậy của giả định và tác động của nó tới cách trình bày báo cáo tài chính cho người dùng.

Trong trường hợp giả định về hoạt động liên tục là không phù hợp nhưng báo cáo tài chính vẫn được lập trên cơ sở hoạt động liên tục, hoặc giả định hoạt động liên tục là phù hợp nhưng có yếu tố không chắc chắn, kiểm toán viên phải nêu rõ điều này trong ý kiến kiểm toán để phản ánh đúng mức độ rủi ro và ảnh hưởng tới báo cáo tài chính.

Hệ thống kiểm soát nội bộ

Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các chính sách, quy trình và thủ tục kiểm soát được thiết kế nhằm điều hành và quản lý hiệu quả hoạt động của đơn vị Nó bao gồm các yếu tố kiểm soát từ cấp lãnh đạo đến thực thi, nhằm ngăn ngừa sai sót, gian lận và rủi ro, đồng thời đảm bảo tính chính xác của thông tin và sự tuân thủ quy định nội bộ cũng như pháp luật Việc xây dựng và duy trì hệ thống này giúp cải thiện hiệu quả hoạt động, tăng cường quản trị rủi ro và cung cấp nền tảng cho quyết định dựa trên dữ liệu tin cậy Do đó, hệ thống kiểm soát nội bộ đóng vai trò then chốt trong quản trị tổ chức, giúp đơn vị vận hành trơn tru và bền vững.

Hiện hành, Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam định nghĩa hệ thống kiểm soát nội bộ là hệ thống gồm các quy định và thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, hỗ trợ quá trình kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; từ đó giúp lập báo cáo tài chính trung thực, hợp lý và bảo vệ, quản lý, sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị.

* Mục đích của hệ thống kiểm soát nội bộ:

- Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính của công ty

- Giảm bớt rủi ro gian lận hoặc trộm cắp đối với công ty do bên thứ ba hoặc nhân viên của công ty gây ra

- Giảm bớt rủi ro sai sót không cố ý của nhân viên mà có thể gây tổn hại cho công ty

- Giảm bớt rủi ro không tuân thủ chính sách và quy trình kinh doanh của công ty

- Ngăn chặn việc tiếp xúc những rủi ro không cần thiết do quản lý rủi ro chưa đầy đủ

- Tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả về mặt điều hành và sử dụng các nguồn lực trong đơn vị

Khi quy mô công ty tăng lên, lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ cũng được mở rộng, giúp chủ doanh nghiệp giảm bớt khó khăn trong việc giám sát và quản lý rủi ro vượt quá phạm vi kinh nghiệm cá nhân Đối với các công ty có sự tách biệt lớn giữa người quản lý và cổ đông, một hệ thống kiểm soát nội bộ mạnh mẽ sẽ tăng sự tin cậy của cổ đông và có thể đẩy giá cổ phiếu lên cao Xét về quản trị doanh nghiệp, hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh là một nhân tố then chốt, đặc biệt đối với các công ty có nhà đầu tư bên ngoài Các nhà đầu tư thường đánh giá cao các doanh nghiệp có rủi ro thấp và sẵn sàng trả giá cổ phiếu cao hơn cho những công ty có hệ thống kiểm soát nội bộ tốt và quản trị doanh nghiệp minh bạch.

6.2 Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ

6.2.1 Môi trường kiểm soát chung

Môi trường kiểm soát chung là tổng hòa của các nhân tố có tính chất môi trường tác động đến thiết kế, hoạt động và hiệu quả của các chính sách và thủ tục kiểm soát của đơn vị Những yếu tố này ảnh hưởng đến cách thiết kế, vận hành và thực thi hệ thống kiểm soát, đồng thời tác động đến mức độ phòng ngừa và phát hiện sai sót Do đó, quản trị và cải thiện môi trường kiểm soát sẽ tăng cường hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ và hỗ trợ đơn vị đạt được mục tiêu quản lý.

- Các nhân tố đó chủ yếu liên quan đến thái độ, nhận thức và hành động của người quản lý đơn vị, bao gồm các nhân tố sau:

Đặc thù về quản lý được thể hiện qua sự khác biệt về quan điểm giữa các quản lý đơn vị đối với tình hình báo cáo tài chính và mức độ rủi ro trong kinh doanh; đồng thời cơ cấu quyền lực nội bộ của đơn vị là yếu tố tiêu biểu cho đặc thù này, ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định và hiệu quả quản trị.

Một cơ cấu tổ chức hợp lý đảm bảo sự thông suốt trong việc ủy quyền và phân công trách nhiệm Cấu trúc này được thiết kế để ngăn ngừa vi phạm các chính sách, thủ tục và quy chế kiểm soát, từ đó nâng cao hiệu quả quản trị và hoạt động của tổ chức Nhờ sự rõ ràng trong phân công trách nhiệm và các cơ chế kiểm soát, tổ chức có thể loại bỏ các hoạt động không phù hợp có thể dẫn đến sai lầm và gian lận.

Chính sách nhân sự là tổng thể các phương pháp quản trị nhân sự và các chế độ của đơn vị đối với tuyển dụng, huấn luyện, đánh giá, đề bạt, khen thưởng và kỷ luật nhân viên Một chính sách nhân sự hiệu quả tập trung vào tuyển dụng và phát triển nguồn lực có năng lực và đạo đức, đồng thời xác lập cơ chế sử dụng nguồn lực một cách tối ưu Chính sách này quy định rõ các tiêu chí đánh giá hiệu suất, quy trình thăng tiến và các chế độ khen thưởng, kỷ luật nhằm duy trì động lực làm việc và sự tuân thủ nội quy Việc triển khai chính sách nhân sự phù hợp sẽ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường hiệu quả quản trị và hỗ trợ mục tiêu phát triển của đơn vị.

Công tác lập kế hoạch bao gồm một hệ thống kế hoạch sản xuất, kỹ thuật và tài chính cùng với các phương án chiến lược do bộ phận quản lý cấp cao đề xuất Quá trình lập kế hoạch được tiến hành nghiêm túc và khoa học, từ đó trở thành một công cụ kiểm soát hiệu quả giúp điều hành và tối ưu hóa hoạt động của doanh nghiệp.

Bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp sự giám sát và đánh giá định kỳ về toàn bộ hoạt động của đơn vị, giúp có được thông tin kịp thời và xác thực về các hoạt động nói chung và chất lượng công tác kiểm soát nói riêng để điều chỉnh, bổ sung các quy chế kiểm soát thích hợp và có hiệu lực hơn Bộ phận kiểm toán nội bộ chỉ phát huy tác dụng tốt khi đảm bảo tính độc lập và khách quan, có đủ nguồn lực và sự ủng hộ của lãnh đạo, cùng với quy trình làm việc chuẩn hóa và minh bạch.

Về tổ chức: Phải trực thuộc một cấp đủ cao để không giới hạn phạm vi hoạt động của nó

Về nhân sự: Phải có được các nhân viên có đủ khả năng để thực hiện nhiệm vụ

Ở một số công ty lớn, Ủy ban kiểm toán thường được thành lập từ 3–5 thành viên của hội đồng quản trị Nhiệm vụ của Ủy ban là giám sát các hoạt động và xem xét báo cáo tài chính của công ty.

+ Các nhân tố bên ngoài: Các nhân tố này nằm ngoài sự kiểm soát của các nhà quản lý nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, cung cách của nhà quản lý và các quy chế , các thủ tục kiểm soát cụ thể như ảnh hưởng của các cơ quan chức năng Nhà nước, các chủ nợ và các trách nhiệm pháp lý

- Là hệ thống dùng để ghi nhận, tính toán, phân loại, kết chuyển vào sổ cái, tổng hợp và lập báo cáo các nghiệp vụ phát sinh

- Hệ thống kế toán của một đơn vị bao gồm;

+ Hệ thống chứng từ ban đầu, cách vận dụng hệ thống chứng từ ban đầu: Chứng từ phải đầy đủ, được đánh số liên tiếp, lập đúng lúc nghiệp vụ kinh tế phát sinh hoặc ngay sau đó càng sớm càng tốt, đơn giản để đảm bảo dễ hiểu, thiết kế chứng từ có nhiều công dụng và thể hiện tối đa mức độ kiểm soát nội bộ

+ Hệ thống sổ kế toán

+ Hệ thống tài khoản kế toán

+ Hệ thống báo cáo kế toán

Kiểm soát trực tiếp là tập hợp các thủ tục và quy chế kiểm soát được xây dựng trên cơ sở đánh giá các yếu tố dẫn liệu của các bộ phận cấu thành trong báo cáo tài chính Các yếu tố này giúp xác định mức độ rủi ro信息 và đảm bảo tính đầy đủ, chính xác và kịp thời của dữ liệu tài chính Vì vậy, kiểm soát trực tiếp đòi hỏi giám sát nghiêm ngặt, cập nhật liên tục các quy trình và cơ chế kiểm soát để phù hợp với sự thay đổi của nguồn dữ liệu và cấu trúc báo cáo.

Kiểm soát bảo vệ tài sản và thông tin bắt đầu bằng việc phân định rõ ràng trách nhiệm giữa các bộ phận và cá nhân, đồng thời thiết lập quy chế và biện pháp ngăn ngừa sự tiếp cận của những người không có thẩm quyền Chính sách này đảm bảo các điều kiện vật chất như kho tàng, thiết bị và các cơ sở cần thiết cho công tác bảo vệ và kiểm soát tài sản, sổ sách và thông tin được bảo vệ an toàn Cần thiết lập quy chế về kiểm kê hiện vật và lấy xác nhận của bên thứ ba để tăng tính khách quan, tin cậy và minh bạch trong quản lý tài sản và thông tin.

- Kiểm soát tổng quát: Là sự kiểm soát tổng thể đối với nhiều hệ thống, nhiều công việc khác nhau

- Các loại kiểm soát trên được xây dựng theo các nguyên tắc cơ bản sau: + Nguyên tắc phân công, phân nhiệm

+ Nguyên tắc bất kiêm nhiệm

+ Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn

Chuẩn mực kiểm toán

Những chuẩn mực này là quy phạm pháp lý và là thước đo chung cho chất lượng công việc kiểm toán Chúng được sử dụng để điều tiết hành vi của kiểm toán viên và các bên liên quan theo các nguyên tắc hướng dẫn và các mục tiêu đã được xác định.

7.2 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Chuẩn mực kiểm toán là những nguyên tắc cơ bản về nghiệp vụ và về việc xử lý các mối quan hệ phát sinh trong quá trình kiểm toán

Đây là bộ hướng dẫn và giải thích các nguyên tắc cơ bản dành cho kiểm toán viên, giúp họ áp dụng vào thực tế để đo lường và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán Những nguyên tắc này làm rõ tiêu chuẩn chất lượng trong các bước lập kế hoạch, thực hiện và báo cáo kiểm toán, từ đánh giá rủi ro đến kiểm soát hồ sơ và bằng chứng kiểm toán Việc áp dụng các nguyên tắc này giúp kiểm toán viên nhận diện thiếu sót, đảm bảo tính độc lập và khách quan, cũng như thẩm tra bằng chứng một cách đầy đủ Nội dung trình bày các phương pháp đo lường chất lượng, các tiêu chí đánh giá hiệu quả công việc kiểm toán và các kỹ thuật cải thiện quy trình dựa trên dữ liệu thực tế Mục tiêu là cung cấp khung làm việc có thể áp dụng để nâng cao chất lượng kiểm toán và tuân thủ chuẩn mực, từ đó tăng độ tin cậy cho báo cáo kiểm toán.

Trên bình diện quốc tế, IFAC => ISA

Trên bình diện quốc gia: chuẩn mực kiểm toán quốc gia-VSA

Việt Nam, đó ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán (7 đợt)

- VSA số 200 - Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán BCTC;

- VSA số 210 - Hợp đồng kiểm toán;

- VSA số 230 - Hồ sơ kiểm toán;

- VSA số 700 - Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

- VSA số 250 - Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các qui định;

- VSA số 310 - Hiểu biết về tình hình kinh doanh;

- VSA số 500 - Bằng chứng kiểm toán;

- VSA số 510 - Kiểm toán năm đầu tiên - Số dư đầu năm tài chính;

- VSA số 520 - Quy trình phân tích;

- VSA số 580 - Giải trình của Giám đốc

- VSA số 240 - Gian lận và sai sót;

- VSA số 300 - Lập kế hoạch kiểm toán;

- VSA số 400 - Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ;

- VSA số 530 - Lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác;

- VSA số 540 - Kiểm toán các ước tính kế toán;

- VSA số 610 - Sử dụng tư liệu của kiểm toán nội bộ

- VSA số 220 - Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán;

- VSA số 320 - Tính trọng yếu trong kiểm toán;

- VSA số 501 - BCKT bổ sung đối với các khoản mục/sự kiện đặc biệt;

- VSA số 560 - Sự kiện phát sinh sau ngày khóa sổ kế toán lập BCTC;

- VSA số 600 - Sử dụng tư liệu của kiểm toán viên khác

- VSA số 401 - Thực hiện kiểm toán trong môi trường tin học;

- VSA số 550 - Các bên liên quan;

- VSA số 570 - Hoạt động liên tục;

- VSA số 800 - Báo cáo kiểm toán về công việc kiểm toán đặc biệt ;

- VSA số 910 - Công tác soát xét báo cáo tài chính;

- VSA số 920 - Kiểm tra TTTC trên cơ sở thủ tục thoả thuận trước

- VSA số 402 - Các yếu tố cần xem xét đơn vị sử dụng dịch vụ bên ngoài

- VSA số 620 - Sử dụng tư liệu của chuyên gia

- VSA số 710 - Thông tin có tính so sánh

- VSA số 720 - Thông tin khác trong tài liệu có BCTC đã kiểm toán

- VSA số 930 - Dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính

- VSA số 1000 - Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành

- VSA số 260 - Trao đổi các vấn đề quan trọng phát sinh với ban lãnh đạo đơn vị;

- VSA số 330 - Thủ tục kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro;

- VSA số 505 - Thông tin xác nhận từ bên ngoài;

- VSA số 545 - Kiểm toán việc xác định và trình bày giá trị hợp lý

Ngày đăng: 19/07/2022, 14:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. GS.TS. Nguyễn Quang Quynh, 2018, Giáo trình Lý thuyết kiểm toán, NXB Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết kiểm toán
Tác giả: Nguyễn Quang Quynh
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2018
[2]. GS.TS. Vương Đình Huệ, 2004, Giáo trình Kiểm toán, NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kiểm toán
Tác giả: GS.TS. Vương Đình Huệ
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2004
[3]. ThS. Trần Long, 2005, Giáo trình Kiểm toán, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kiểm toán
Nhà XB: NXB Hà Nội
[4]. PGS.TS Nguyễn Đình Hựu, 2003, Kiểm toán căn bản, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm toán căn bản
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Đình Hựu
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
[5]. ALVIN – A.A RENS, 1997, Kiểm toán, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm toán
Nhà XB: NXB Thống kê
[6]. Các sách báo, tạp chí chuyên ngành về kế toán, kiểm toán, tài chính Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm