MỞ ĐẦU 102 MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Văn hoá dân tộc là một vấn đề rộng lớn, phong phú, phức tạp có tác động to lớn đến sự trường tồn của dân tộc Văn hóa vốn gắn liền với toàn bộ cuộc sống và với sự phát triển của xã hội Con người ra đời, trưởng thành nhờ văn hóa, hướng tới tương lai cũng từ văn hóa Văn hóa của một dân tộc trước hết thể hiện ở bản sắc của dân tộc ấy Bản sắc dân tộc thể hiện trong hệ giá trị của văn hóa dân tộc, nó biểu hiện và định hướng cho sự lựa chọn trong hành động.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hoá dân tộc là một vấn đề rộng lớn, phong phú, phức tạp có tácđộng to lớn đến sự trường tồn của dân tộc Văn hóa vốn gắn liền với toàn
bộ cuộc sống và với sự phát triển của xã hội Con người ra đời, trưởngthành nhờ văn hóa, hướng tới tương lai cũng từ văn hóa Văn hóa của mộtdân tộc trước hết thể hiện ở bản sắc của dân tộc ấy Bản sắc dân tộc thểhiện trong hệ giá trị của văn hóa dân tộc, nó biểu hiện và định hướng cho
sự lựa chọn trong hành động của con người Những giá trị văn hóa là thước
đo trình độ phát triển và đặc tính riêng của mỗi dân tộc: “Một dân tộc thiếuvăn hóa chưa phải là một dân tộc thật sự hình thành, một nền văn hóakhông có bản sắc dân tộc thì nền văn hóa ấy không có sức sống thật sự củanó” [14, tr.16]
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, bao gồm 54 dân tộc anh em, 54 sắcmàu văn hóa, tạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc Việt Nam Do đặc điểm vềđiều kiện địa lý, kinh tế - xã hội và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, đãhình thành nên các vùng văn hóa khác nhau, từ đó văn hóa của các dân tộccũng có những điểm khác biệt và mang tính đặc thù Trong nền văn hóa đa sắccủa đất nước Việt Nam có một vùng văn hóa khá lớn, rất đặc sắc và nổi tiếngtrong khu vực Đông Nam Á - đó là vùng văn hóa của người Chăm Vùng vănhóa ấy được sáng tạo, bồi đắp, phát triển bởi nhiều thế hệ người Chăm Đồngthời chịu ảnh hưởng đậm nét của văn hóa Ấn Độ, một nền văn hóa đã sớm đúckết được những thành tựu về chính trị, văn hóa, nghệ thuật và tôn giáo đượctruyền lưu và ảnh hưởng một cách sâu đậm đến ngày nay
Tiến trình phát triển lịch sử dân tộc Chăm là tiến trình phát triển của mộtnền văn hóa rực rỡ liên tục trong nhiều thế kỷ, sánh vai với các vương quốctrong khu vực cùng thời Nền văn hóa ấy đã tỏa sáng và để lại nhiều di sảnvăn hóa lớn trên mọi phương diện Trong đó di sản văn hóa vật thể bao gồm
Trang 2cả nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và văn hóa phi vật thể là hai mảng đề tàilớn, có nhiều giá trị còn lưu truyền bền vững đến ngày nay Hiện nay, văn hóacủa người Chăm đã, đang và sẽ đóng góp xứng đáng tạo nên sự phong phú vànhững giá trị độc đáo cho nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong sự đa dạng.Những năm gần đây, tình hình thế giới có nhiều biến đổi Xu thế toàncầu hóa đang diễn ra như một cơn lốc cuốn hút tất cả các nước trên thế giới.Việt Nam cũng như tất cả các quốc gia khác không thể đứng ngoài dòng chảynày Kinh tế thị trường với những ưu điểm và mặt trái của nó, có ảnh hưởngkhông nhỏ đến nền văn hóa truyền thống của các dân tộc trong cộng đồngcác dân tộc Việt Nam, trong đó có văn hóa của dân tộc Chăm Bên cạnhnhững giá trị tốt đẹp trong văn hóa truyền thống của người Chăm, còn cónhững yếu tố không còn phù hợp với sự phát triển của thời đại Trước sựtác động của cơ chế thị trường, của mở rộng hội nhập quốc tế và giao lưuvăn hóa hiện nay, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người Chăm nóichung và người Chăm ở Bình Thuận nói riêng đang bị mai một Vấn đềkhác quan trọng hơn cả, đó là chúng ta đang phấn đấu để có được sự bìnhđẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, các vùng miền trên cả nước Để đạtđược điều này phải kết hợp nhiều yếu tố, trong đó văn hóa chiếm vai trò, vịtrí hết sức quan trọng, không thể có bình đẳng dân tộc nếu như không giữgìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta, bởi lẽ:
"Vấn đề dân tộc là vấn đề văn hóa" [14, tr.10].
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sáchnhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóacác dân tộc, tạo điều kiện để các dân tộc phát triển đồng đều và vững chắc,đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu chung của đất nước trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trước tình hình đó thì việc giữ gìn, kếthừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm là vấn đề mang tính thời sự,cấp bách trong giai đoạn hiện nay
Trang 3Nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, để đóng góp phầncông sức nhỏ bé vào mục tiêu của cả nước nói chung, tỉnh Bình Thuận nói riêng,
tôi chọn “Vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Chăm ở Bình Thuận hiện nay" làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề này đã được nhiều người nghiên cứu ở những phạm vi và góc độkhác nhau
Nghiên cứu dưới góc độ bản sắc văn hóa có những tác phẩm tiêu biểu như:
"Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc", Huy Cận, Nxb Chính trị Quốc gia, 1994 "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam", PGS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 "Bản sắc văn hóa Việt Nam", Phan Ngọc, Nxb Văn học, 2002 "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc", Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) "Bản sắc văn hóa dân tộc", Hồ Bá Thâm, Nxb Văn hóa Thông tin, 2003.
Những tác phẩm trên nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến bảnsắc văn hóa dân tộc ở Việt Nam, nghiên cứu đặc điểm, vai trò, bản sắc vănhóa Việt Nam trong đời sống hiện nay, đặc biệt là đời sống văn hóa khi đấtnước đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hộinhập kinh tế quốc tế
Nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số:
"Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số" của Lò Giàng Páo, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997 "Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam", Ngô Văn Lệ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998 Đề tài: "Văn hóa truyền thống của các dân tộc Jrai và Bahnar ở tỉnh Gia Lai hiện nay - Thực trạng và giải pháp", Luận văn thạc sĩ Triết học của Lê Thị Mỹ Vân, 1999, Đại học KHXH
& NV - ĐHQG Hà Nội."Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong cuộc sống hôm nay", Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 7/2000 Đề tài: "Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu
Trang 4số ở Gia Lai trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay", Luận văn thạc sĩ
Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003 của Đỗ Văn Hòa
Đề tài: “Vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở tây Bắc hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2006 của Phạm Thị Thảo Đề tài: “Vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Giáy ở tỉnh Lào Cai hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2008 của Lương Thị Thu Hương
Đề tài:“Vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mông ở tỉnh Hà Giang hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, 2009 của Đỗ Thị Hằng Nga
Các công trình nghiên cứu trên đã góp phần làm rõ văn hóa dân tộc, bảnsắc văn hóa dân tộc của một số dân tộc thiểu số như dân tộc Thái, dân tộcGiáy; đề xuất được một số giải pháp giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc vănhóa dân tộc của những dân tộc neue trên Những kết quả này sẽ được tác giả
kế thừa có chọn lọc trong luận văn
Nghiên cứu văn hóa dân tộc Chăm có các công trình tiêu biểu:
“Người Chăm ở Thuận Hải”, Viện Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh và UBND tỉnh Thuận Hải, Thuận Hải, 1989.“Văn hóa Chăm”, Viện
Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh 1991, Phan Xuân Biên làm chủ
biên.“Lễ hội Rija Nuwgar của Người Chăm”, của Ngô văn Doanh, 1998.“Lễ hội của Người Chăm”, của Sakaya, NXB Văn hóa dân tộc, 2003.“Người Chăm”, Nhà xuất bản Thông Tấn, Hà Nội - 2009 Đề tài:“Ảnh hưởng của tín ngưỡng tôn giáo đối với đời sống tinh thần người Chăm Ninh Thuận hiện nay
- Thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005 của Đổng Văn Dinh Đề tài: “Tôn giáo của người Chăm ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ lịch sử, Thành phố Hồ Chí Minh,
1993 của Phan Văn Dốp Đề tài: “Nghi lễ vòng đời của người Chăm Bàlamôn”, Luận án Tiến sĩ lịch sử, Hà Nội, 2004 của Phan Quốc Anh Đề tài:
Trang 5“Ảnh hưởng của tôn giáo đối với tín ngưỡng của người Chăm ở Việt Nam”,
Luận án Tiến sĩ lịch sử, Thành phố Hồ Chí Minh 2002 của Nguyễn ĐứcToàn
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến văn hóaChăm được đăng tải trên các tạp chí Xã hội học, Khảo cổ học, Dân tộc học,Văn hóa dân gian, Đông Nam Á, Xưa và Nay của các nhà nghiên cứu: NgôVăn Doanh, Nguyễn Hồng Kiên, Lê Đình Phụng, Thành Phần, Phan XuânBiên, Phan Văn Dốp, Nguyễn Xuân Lý, SaKaYa, Phan Quốc Anh… Một sốbáo cáo nghiên cứu khoa học, các bài tham luận, những dự án nghiên cứu vềvăn hóa phi vật thể đề cập đến các lĩnh vực lễ nghi, lễ hội, phong tục tậpquán, tôn giáo tín ngưỡng của người Chăm…
Nhìn chung, các tác phẩm, công trình, đều đã đi vào khai thác những đặcđiểm chung về bản sắc văn hóa; văn hóa các dân tộc thiểu số; văn hóa của dântộc Chăm ở nước ta Tuy nhiên, những nghiên cứu này phần nhiều tập trungvào việc tìm hiểu những giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người Chămnhằm giới thiệu về người Chăm; những nét đặc sắc - cái hay, cái đẹp của vănhóa dân tộc Chăm Một số đề tài, công trình cũng đề cập tới vấn đề bảo tồn,giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm nhưng mới chỉ đề cập mộtcách chung chung hoặc đi sâu tìm hiểu một số nét văn hóa cụ thể chưa cócông trình khoa học nào đề cập đến vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc vănhóa dân tộc Chăm một cách có hệ thống dưới góc độ triết học Mặc dù vậynhững kết quả nghiên cứu trên đây là nguồn tư liệu quan trọng, là cơ sở đểhọc viên tiếp thu, nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận văn này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ bản sắc văn hóa dân tộc Chăm, thực trạng kế thừa vàphát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm, đề xuất các nguyên tắc, giải phápchủ yếu nhằm kế thừa, phát huy có hiệu quả bản sắc văn hóa của dân tộc
Trang 6Chăm ở Bình Thuận hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ
Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau:
Một là, làm rõ bản sắc văn hóa của dân tộc Chăm, tầm quan trọng của
việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Chăm
Hai là, đánh giá thực trạng việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc Chăm ở Bình Thuận hiện nay
Ba là, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp chủ yếu nhằm kế thừa và
phát huy có hiệu quả bản sắc dân tộc Chăm ở Bình Thuận hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn xácđịnh đối tượng nghiên cứu là kế thừa và phát huy bản sắc dân tộc Chăm ởBình Thuận trên góc độ triết học
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Văn hóa là một vấn đề rất rộng, văn hóa các dân tộc cũng rất đa dạng vàphong phú Luận văn không trình bày toàn bộ các vấn đề thuộc về văn hóacủa dân tộc Chăm mà chủ yếu khai thác một cách có hệ thống, ở khía cạnhtriết học những giá trị văn hóa tạo nên "Bản sắc văn hóa" của dân tộc Chăm ởBình Thuận nhằm kế thừa và phát huy những giá trị của nó trong giai đoạnhiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trang 7nội dung được đề cập trong luận văn.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; quy nạp
và diễn dịch, điều tra, so sánh nhằm thực hiện mục đích mà đề tài đặt ra
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ thêm những nét đặc sắc của văn hóa dân tộcChăm ở Bình Thuận; phân tích và hệ thống hóa các giá trị văn hóa của dântộc Chăm dưới góc độ triết học Qua đó, đưa ra những giải pháp cơ bản vàthiết thực nhằm kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm ở BìnhThuận trong giai đoạn hiện nay
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung và làm sáng tỏ vềbản sắc văn hóa và vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm
ở Bình Thuận hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu vàgiảng dạy các bộ môn: Triết học, Văn hóa, Dân tộc học ở các nhà trường,làm tài liệu tham khảo cho cán bộ hoạch định chính sách và quản lý văn hóa ởtỉnh Bình Thuận
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 2 chương, 4 tiết
Trang 8Chương 1 BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHĂM VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA
DÂN TỘC CHĂM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHĂM
1.1.1 Văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.1.1 Văn hóa
Văn hóa là sản phẩm của con người, là kết quả của sự phát triển củanhân loại Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinhvật và khác biệt so với những sinh vật khác Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm
“văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, bởi lẽ, có nhiều địnhnghĩa khác nhau về văn hóa
Năm 1871, E.B Tylor (1832 - 1917) nhà nhân chủng học người Anh đãđưa ra định nghĩa: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học,nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tậpquán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tưcách một thành viên của xã hội” [55, tr.13] Theo định nghĩa này thì văn hóa
và văn minh là một, nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sốngcon người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Cóngười ví “định nghĩa này mang tính “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi
lĩnh vực sáng tạo của con người” [8, tr.39]
F Boas (1858 - 1942) nhà nhân chủng học người Mỹ định nghĩa:
Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và nhữnghoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên mộtnhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mốiquan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người
Trang 9khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thànhviên này với nhau [5, tr.149].
Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường làquan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người
Quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về văn hóa thể hiện mối quan hệbiện chứng giữa con người và xã hội C.Mác gọi hoạt động sống của conngười là những hoạt động thể hiện quan hệ giữa con người với con người, conngười với xã hội C.Mác vạch rõ nguồn gốc của văn hóa gắn liền với nhữngnăng lực sáng tạo của con người, sự sáng tạo đó bắt nguồn từ lao động Vănhóa là sự “thăng hoa” của sản xuất vật chất Ông cho rằng người ta có thể căn
cứ vào mức độ tự nhiên được con người khai thác như thế nào để đánh giátrình độ văn hóa C.Mác viết “Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo vànhu cầu của giống loài nó, con người chỉ có thể áp dụng thước đo thích dụngcho đối tượng Do đó, con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật của cáiđẹp” [30, tr.10] C.Mác cho rằng việc con người tạo ra “thiên nhiên thứ hai”theo quy luật của cái đẹp là thuộc tính bản chất, chính đó là cái văn hóa tronghoạt động của con người Như vậy, theo C.Mác hoạt động của con ngườikhông chỉ thỏa mãn nhu cầu ăn, ở, mặc, … mà còn là kết tinh năng lực sángtạo, là cách sống, phương thức sống, phương thức bộc lộ nhân tính, biểu hiện
ra trong toàn bộ sản phẩm vật chất, tinh thần do chính con người sáng tạo ratrong quá trình thực tiễn lịch sử - xã hội của mình Con người là thước đo củamỗi giá trị, còn văn hóa là thước đo nhân tính sự sáng tạo và thái độ của conngười trước hiện thực Vì vậy Ph.Ăng ghen đã nói: “Mỗi bước tiến lên trêncon đường văn hóa lại là một bước tiến tới tự do” [30, tr.116]
Khi bàn về văn hóa, V.I.Lênin cho rằng, trong xã hội có giai cấp, luônluôn tồn tại hai nền văn hóa, nền văn hóa của giai cấp thống trị và nền vănhóa của nhân dân lao động Ông khẳng định tính tất yếu của cách mạng vănhóa, cuộc cách mạng này hết sức khó khăn vì trình độ dân trí và cơ sở hạ tầng
Trang 10lạc hậu, song không phải ngồi chờ lực lượng sản xuất phát triển rồi mới làmcách mạng văn hóa, mà phải chủ động tạo ra các tiền đề căn bản của nền vănhóa cách mạng, là yếu tố rất quan trọng để xây dựng xã hội mới V.I.Lênin đãgắn văn hóa với phát triển, chỉ ra mục tiêu quan trọng nhất của văn hóa làhoàn thiện con người về mọi mặt.
Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau Hồ Chí Minhcho rằng:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mớisáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinhhoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộnhững sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa [31, tr.431]
Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con ngườisáng tạo và phát minh ra
Phạm Văn Đồng cho rằng:
Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộnglớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liênquan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trìnhcon người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị:
tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sựnhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản
và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấubảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh [60, tr.22]
Theo định nghĩa này thì văn hóa là những gì không phải là thiên nhiên và
do con người sáng tạo nên từ tư tưởng, tình cảm đến ý thức và sức đề khángcủa mỗi người, mỗi dân tộc
Nguyễn Đức Từ Chi xem văn hóa từ hai góc độ Góc độ thứ nhất là góc
độ hẹp, mà ông gọi là “góc nhìn báo chí” Theo góc nhìn này, văn hóa sẽ là
Trang 11kiến thức của con người và xã hội Nhưng ông không mặn mà với cách hiểunày vì hiểu như thế thì người nông dân cày ruộng giỏi nhưng không biết chữvẫn bị xem là “không có văn hóa” do tiêu chuẩn văn hóa ở đây là tiêu chuẩnkiến thức sách vở Còn góc nhìn thứ hai là “góc nhìn dân tộc học” Với gócnhìn này, văn hóa được xem là toàn bộ cuộc sống - cả vật chất, xã hội, tinhthần - của từng cộng đồng [9, tr.565 - 570]; và văn hóa của từng cộng đồngtộc người sẽ khác nhau nếu nó được hình thành ở những tộc người khác nhautrong những môi trường sống khác nhau Văn hóa bị chi phối mạnh mẽ bởi sựkiểm soát của xã hội, gia đình và các tổ chức xã hội, trong đó có tôn giáo.Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể
cả ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩavăn hóa do UNESCO đưa ra vào năm 1994 Theo UNESCO, văn hóa đượchiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng:
Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo vềtinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắccủa một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xãhội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương màcòn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệthống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng… [29, tr.313].Còn hiểu theo nghĩa hẹp: “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểutrưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiếncộng đồng đó có đặc thù riêng…” [29, tr.314]
Nhìn chung, định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng Mỗi định nghĩa
đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa.Nhưng khái quát lại: Văn hóa là sản phẩm của con người được tạo ra trongquá trình lao động (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phốibởi môi trường (môi trường tự nhiên và xã hội) xung quanh và tính cách củatừng tộc người Nhờ có văn hóa mà con người trở nên khác biệt so với các
Trang 12loài động vật khác; và do được chi phối bởi môi trường xung quanh và tínhcách tộc người nên văn hóa ở mỗi tộc người sẽ có những đặc trưng riêng.Như vậy, nói đến văn hóa là nói đến con người Lịch sử văn hóa là lịch sửcủa con người và loài người Con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho conngười trở thành người Điều đó có nghĩa là tất cả những gì liên quan đến conngười, đến mọi cách thức tồn tại của con người đều mang trong nó cái gọi làvăn hóa Có thể nói, văn hóa là sự phát triển lực lượng vật chất và tinh thần, là
sự thể hiện những lực lượng đó trong lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực sảnxuất tinh thần của con người Từ đó, văn hóa được chia làm hai lĩnh vực cơbản: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ cótính chất tương đối, bởi “văn hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ là sự “vật chấthóa” các giá trị tinh thần và các giá trị văn hóa tinh thần không phải bao giờcũng tồn tại một cách thuần túy tinh thần, mà thường được “vật thể hóa” trongcác dạng tồn tại vật chất Ngoài ra, còn có các giá trị tinh thần tồn tại dưới dạngphi vật thể, nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chất khách quan, như văn hóatrong các lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục tập quán…
1.1.1.2 Bản sắc văn hóa dân tộc
Theo nghĩa Hán Việt, “Bản” có nghĩa là cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi, còn “Sắc” là cái biểu hiện ra bên ngoài của sự vật.
Theo từ điển Tiếng Việt, “Bản sắc là chỉ tính chất, mầu sắc riêng, tạo
thành phẩm cách đặc biệt của một vật” [53, tr.52]
Bản sắc văn hóa có thể hiểu là cái cốt lõi, nội dung, bản chất của một nền
văn hóa cụ thể nào đó, là những nét văn hóa riêng có của nền văn hóa Nhữngnét riêng ấy thường được biểu hiện qua các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần,vật thể và phi vật thể Các giá trị văn hóa này ra đời gắn với chính điều kiện màdân tộc ấy thích nghi và phát triển qua các giai đoạn phát triển khác nhau
Khái niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa chính là dân tộc quốc gia và tộc người
Trang 13Dân tộc quốc gia là “Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một
nước, có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chínhtrị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung” [53, tr.427]
Ví dụ như, dân tộc Việt Nam, dân tộc Anh, dân tộc Đức… Tộc người là “Cộng
đồng người có tên gọi, địa vực cư trú, ngôn ngữ, đặc điểm sinh hoạt và văn hóariêng” [53, tr.1008] Ví dụ như, tộc người Mông, tộc người Chăm,
Bản sắc văn hóa dân tộc trong luận văn đề cập là bản sắc văn hóa của tộcngười trong cộng đồng dân tộc Việt Nam Nó được hình thành và phát triểnphụ thuộc vào đặc điểm tộc người, điều kiện lịch sử, tự nhiên, môi trường cưtrú, thể chế chính trị cũng như sự giao lưu với nền văn hóa khác
Bản sắc văn hóa có tính dân tộc vì nó được tạo ra, được lưu truyền trongcộng đồng dân tộc với một sắc thái thiên nhiên, điều kiện xã hội, lịch sử riêng,qua quá trình phát triển lâu dài, những đặc điểm dân tộc in dấu ấn vào cácsáng tạo văn hóa Trải qua nhiều thử nghiệm, thách thức của thời gian dần dầnlắng đọng, định hình tạo thành bản sắc dân tộc của văn hóa Nó tạo nên cốtcách, bản lĩnh, sức sống nội sinh của dân tộc, trên cơ sở đó nảy sinh và hoànthiện ý thức dân tộc, tạo nên lực hút, quy tụ, gắn kết với các thành viên cộngđồng, bản sắc văn hóa dân tộc là gương mặt tinh thần, là tiêu chí để nhận biếtđược các giá trị phẩm chất của một dân tộc Yếu tố dân tộc là yếu tố quyếtđịnh nhất của một nền văn hóa, bởi: “Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc; mộtdân tộc đánh mất truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy sẽmất tất cả” [60, tr.13] Chính vì vậy, việc kế thừa và phát huy các giá trị vănhóa tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc là vấn đề có ý nghĩa to lớn đối với sựtồn vong của mỗi dân tộc
Khi nói tới bản sắc văn hóa của một dân tộc, cũng có nghĩa là nói tới bảnsắc riêng của dân tộc ấy, hay nói cách khác bản sắc văn hóa là cái cốt lõi củabản sắc dân tộc Bởi, bản sắc dân tộc là tổng thể những tính chất, tính cách,đường nét, màu sắc, kiểu lựa chọn… giúp cho mỗi dân tộc giữ vững được tính
Trang 14duy nhất, tính thống nhất, tính nhất quán của dân tộc mình trong quá trìnhphát triển Vì vậy, bản sắc của dân tộc không thể biểu hiện ở đâu đầy đủ và rõnét hơn ở văn hóa Sức sống trường tồn của một nền văn hóa khẳng định sựtồn tại của một dân tộc, khẳng định bản sắc và bản lĩnh của dân tộc ấy Do đó,
có thể hiểu:
Bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị vật chất, tinh thần cô đọng nhất, bền vững nhất, tinh túy nhất, là sắc thái gốc, riêng biệt của mỗi dân tộc, làm cho văn hóa dân tộc này không thể lẫn với văn hóa dân tộc khác.
Bản sắc văn hóa dân tộc có hai mặt giá trị Mặt giá trị tinh thần bên trong
và mặt giá trị biểu hiện bên ngoài Hai mặt của bản sắc văn hóa dân tộc cómối quan hệ khăng khít, củng cố, thúc đẩy nhau phát triển Văn hóa khôngđược rèn đúc trong lòng dân tộc để có bản lĩnh, trở thành sức mạnh tiềm tàngbền vững thì bản sắc dân tộc của văn hóa sẽ mờ phai Ngược lại, nếu văn hóa
tự mình làm mất đi những màu sắc riêng biệt, độc đáo của mình, sẽ làm vơichất keo gắn kết tạo thành sức mạnh bản lĩnh của văn hóa dân tộc
Nguồn gốc tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc có thể do nhiều yếu tốnhư: hoàn cảnh địa lý, nguồn gốc chủng tộc, đặc trưng tâm lý, phương thứchoạt động kinh tế,v.v Nhưng bản sắc văn hóa dân tộc, không thể không xuấtphát từ những yếu tố tạo thành dân tộc Vì thế hiểu khái niệm bản sắc vănhóa dân tộc phải hiểu một cách phát triển, mở Nó không chỉ là hình thức màcòn là nội dung đời sống cộng đồng, gắn với bản lĩnh các thế hệ các dân tộcViệt Nam Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ươngkhóa VIII của Đảng đã chỉ rõ:
Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoacủa cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sửhàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêunước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thứccộng đồng gắn kết cá nhân- gia đình - làng xã - Tổ quốc… Bản sắc
Trang 15văn hóa dân tộc còn đậm nét trong cả hình thức biểu hiện mang tínhdân tộc độc đáo [15, tr.56].
Bản sắc văn hóa dân tộc là các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sứcsống của từng dân tộc, nó thể hiện tập trung ở truyền thống văn hóa Truyềnthống văn hóa là các giá trị lịch sử được thế hệ sau tiếp nối, khai thác và pháthuy trong thời đại của họ để tạo nên dòng chảy liên tục của lịch sử văn hóadân tộc Khi đã được hình thành, truyền thống mang tính bền vững và có chứcnăng định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành vi của cá nhân và cộng đồng Tuynhiên, bản sắc văn hóa không phải là sự bất biến, cố định hoặc khép kín mà
nó luôn vận động mang tính lịch sử cụ thể Trong quá trình này nó luôn đàothải những yếu tố bảo thủ, lạc hậu và tạo lập những yếu tố mới để thích nghivới đòi hỏi của thời đại Truyền thống cũng không phải chỉ bao hàm các giátrị do dân tộc sáng tạo nên, mà còn bao hàm cả các giá trị từ bên ngoài đượctiếp nhận một cách sáng tạo, trở thành năng lực nội sinh của dân tộc
Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số gồm nhiều loại hình, nhiềutầng, nhiều lớp, nhiều sắc màu, nhiều mức độ và quy mô khác nhau, tạo nêngiá trị to lớn là nền tảng bền vững của bản sắc dân tộc Nguồn nuôi dưỡng vôtận tâm hồn và đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc Đây là kho củacải vô giá, di sản vô cùng quý báu của văn hóa Việt Nam
1.1.2 Lịch sử hình thành, phát triển văn hóa Chăm và một số nét đặc trưng bản sắc văn hóa dân tộc Chăm
1.1.2.1 Đôi nét về quá trình hình thành, hưng thịnh và suy vong của vương quốc Chămpa
Người Chăm là một tộc người thuộc nhóm Mã Lai - Đa Đảo đã có mặt từsớm trên dải đất miền Trung Việt Nam Lịch sử vương quốc Chămpa có lúcthịnh, lúc suy, lúc phân liệt, lúc thống nhất, lúc độc lập, lúc bị chiếm Học giảPháp Maspero trong tác phẩm Le Royaume de Champa căn cứ vào các dòngvua xác định lịch sử Chămpa trải qua tất cả 14 triều đại (tính tới năm 1471),
Trang 16còn Giáo sư Lương Ninh và Tiến sĩ Huỳnh Công Bá thì chia ra làm 4 vươngtriều tương ứng với 4 thời kỳ phát triển của vương quốc này
Trong quá trình tụ cư sinh sống người Chăm đã tiến dần từng bước đếnviệc lập nên 2 tiểu quốc ban đầu: Tiểu quốc Panrãn (tên Chăm cổ) hayPanđuranga (tên chữ Phạn - Sanskrit) của bộ lạc Cau (tên chữ Phạn trong bi
ký của bộ lạc này là Kramuka vams’a) ở phía nam, và tiểu quốc Lâm Ấp (theocách gọi của người Trung Quốc) của bộ lạc Dừa (Narikela vam’sa) Hiệnchúng ta chưa có nhiều sử liệu về tiểu quốc Panrãn, chỉ biết vị vua đầu tiêncủa tiểu quốc này là Cri Mara, nhưng với tiểu quốc Lâm Ấp thì sử liệu TrungQuốc cho biết vào đầu thế kỷ II Tr.CN, sau khi thay thế nhà Triệu xâm lược
và thống trị Âu Lạc, ngoài hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, nhà Hán còn lậpthêm quận Nhật Nam bao gồm vùng đất từ đèo Ngang vào đến Bình Địnhhiện nay Trong đó, huyện Tượng Lâm là vùng đất xa nhất của Nhật Nam.Đến cuối thế kỷ II, nhân nhà Đông Hán sụp đổ, nhân dân Tượng Lâm doKhu Liên lãnh đạo nổi dậy giết huyện lệnh nhà Hán, giành lấy quyền tựchủ, lập nên tiểu quốc mà sử sách Trung Quốc gọi là Lâm Ấp Đến giữa thế
kỷ IV diễn ra quá trình thống nhất giữa Bắc Chăm và Nam Chăm thànhmột vương quốc chung với tên gọi chính thức của nó đọc được trên văn biacủa Sambhuvarman vào giữa thế kỷ VI là Chămpa (Campa) Trong các thưtịch cổ của Trung Quốc thì vương quốc này lại được gọi với những tênkhác nhau Từ năm 192 đến năm 756 người Trung Quốc vẫn gọi là Lâm
Ấp, từ năm 757 đến nửa cuối thế kỷ IX gọi là Hoàn Vương Nửa sau thế kỷ
IX mới gọi là Chiêm Thành (đô thị của Chămpa, chữ Chăm cổ làCampapura) Qua nội dung bi ký chúng ta biết được một gia hệ triều vua
mà các nhà sử học gọi là Vương triều Gangaraja
Trong các thế kỷ VII - VIII quân Chămpa đã có lúc chiếm toàn bộ vùngđất Bắc Trung bộ, kéo dài lãnh thổ từ lưu vực sông Đồng Nai thuộc tỉnh BìnhThuận ra đến phía nam đèo Ngang thuộc tỉnh Quảng Bình ngày nay, và đánh
Trang 17lui được cuộc tấn công của quân Chân Lạp và của quân Giava, lại hai lần tấncông sang tận Chân Lạp Sau đó bị nhà Đường đánh bại.
Từ thế kỷ II đến giữa thế kỷ VIII, vị trí chủ đạo trong lịch sử Chămpa làLâm Ấp ở phía Bắc, với kinh đô mang tên Sinhapura (tại Trà Kiệu, huyệnDuy Xuyên, tỉnh Quảng Nam hiện nay) Từ giữa thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ
IX ưu thế của vương quốc chuyển về phía nam, kinh đô đặt ở Panduranga(Phan Rang), cũng có khi đặt ở Vihapura (ở Nha Trang) Sau khi vua cuốicùng ở vương triều Gangaraja là Vikrantavarman mất, Triều đình Chămpachọn Indravarman (II) lên kế vị, mở ra thời kỳ của Vương triều Indrapura ởphía Bắc Sau khi lên ngôi, Indravarman cho xây dựng kinh đô lộng lẫy ởĐồng Dương (Thăng Bình, Quảng Nam) Vương triều này tồn tại từ năm 875đến năm 982 Trước sự lớn mạnh của nhà nước Đại Cồ Việt ở phía bắc và sựthống nhất của nhà nước Chân Lạp ở phía nam, các vua của vương triều nàykhôi phục lại quan hệ với Trung Quốc và tìm cách quấy phá Đại Cồ Việt.Như thế, thời gian tồn tại của các vương triều Gangaraja (cuối thế kỷ IIđến đầu thế kỷ VIII), vương triều Pandurranga (giữa thế kỷ VIII đến giữa thế
kỷ IX) và Vương triều Indrapura (giữa thế kỷ IX đến cuối thế kỷ X) là thời kỳhình thành và cực thịnh của nhà nước Chămpa, của nền văn minh Chămpa (từkhi lập quốc đến cuối thế kỷ X)
Từ thế kỷ X trở đi là thời kỳ của Vương triều Vijaya (hay còn gọi làvương triều Phật Thế)
Ngay từ cuối thế kỷ X đến thể kỷ XII nội bộ Chămpa đã rơi vào rối ren.Văn bia Chămpa cho biết người Chăm ở Panduranga luôn luôn nổi dậy chốnglại vua Chămpa Trong cuộc nam chinh của vua Lê Đại Hành vào tận kinhthành Đồng Dương năm 982, vua Chămpa bỏ chạy, một quản giáp của vua Lêtên là Lưu Kế Tông trốn ở lại, lên làm vua Chămpa cho đến năm 989 Trước
đó, năm 988 người Chiêm tôn một một vua mới là Harivarman II lên ngôi, vàdời đô về Vijaya (tức thành Đồ Bàn ở tỉnh Bình Định hiện nay) vào năm
Trang 181000 Nhưng khi đã phục hưng lại đất nước, các vua Chămpa lại đem quânđánh Đại Việt, khiến triều đình Đại Việt phải đem quân đánh lại Năm 1044vua Lý Thái Tôn thân chinh cầm quân tấn công vào tận kinh đô Vijaya, vàđến lần nam chinh của vua Lý Thánh Tôn vào năm 1069 thì biên giới ĐạiViệt đã vào tới tận vùng đất tỉnh Quảng Trị ngày nay Phía nam thì Chămpa
bị Chân Lạp tấn công, và cũng đã có lần bị Chân Lạp chiếm toàn bộ đấtnước Từ đây Chămpa thần phục Đại Việt nhưng lại gây chiến tranh kéodài nhiều năm với Chân Lạp và Campuchia Nửa đầu thế kỷ XIII Chămpađánh bại được cuộc tấn công xâm lược của quân Mông Cổ Trong thế kỷXIV, sau khi vua Jaya Sinhavarman II (tức Chế Mân theo cách gọi củangười Việt) chết, quân Chămpa nhiều lần đem quân đánh nhau với ĐạiViệt, có đến 3 lần quân Chămpa do vua Chế Bồng Nga trực tiếp chỉ huyđánh đến tận Thăng Long Sau khi Chế Bồng Nga tử trận (1390) quốc giaChămpa suy yếu, đến mức không còn đủ sức để bảo vệ đất nước và phải luidần biên giới về phía nam: Một năm sau đám cưới Chế Mân - Huyền Trân(1306), biên giới Chămpa lui sang bờ nam sông Thu Bồn; với hai cuộc thânchinh của Hồ Hán Chương năm 1402 và 1403 biên giới Chămpa lùi về phíanam tỉnh Quảng Ngãi hiện nay; với cuộc thân chinh của Lê Thánh Tôngnăm 1471 Chămpa coi như đã bị mất hẳn với tư cách là một quốc gia,người Chămpa chỉ còn lại hai phần năm lãnh thổ, lại bị phân chia làm 3nước nhỏ thần phục Đại Việt và 3 người đứng đầu chỉ được phong vương
là Chiêm Thành vương, Hoa Anh vương và Nam Bàn vương Đến đầu thế
kỷ XVII thì cả 3 nước này cũng bị mất hẳn
1.1.2.2 Khái lược về văn hóa Chăm
Tiến trình phát triển của dân tộc Chăm liên tục bị những ảnh hưởng củacác nền văn hóa từ bên ngoài vào ngày càng nhiều cộng với giá trị chung vềvăn hóa bản địa đã hình thành trong nền văn hóa cổ Sa Huỳnh trước đó rấtlâu, đã thúc đẩy văn hóa của người Chăm bước đầu đi vào quỹ đạo của một
Trang 19nền văn minh hải dương Nền văn minh hải dương Nam Á của người Chăm
có những đặc trưng như sau:
Về văn hóa vật chất Người Chăm là cư dân nông nghiệp của nền văn
minh lúa nước, trước công nguyên họ đã là chủ nhân của việc trồng lúa nước vớinhững giống lúa nổi tiếng, là việc thuần dưỡng trâu, bò, sử dụng công cụ bằngkim loại, các nghề thủ công truyền thống, là sự thành thạo trong nghề đóng tàubiển và đi biển…
Một trong những giá trị lớn, nổi bật nhất về văn hóa vật chất của ngườiChăm là những di tích vật chất như đền tháp, thành quách, các tác phẩm điêukhắc đá, các tấm bia đá cổ, đền thờ…
Về văn hóa tinh thần Hơn hai thiên niên kỷ kế thừa các giá trị của văn
hóa Sa Huỳnh để hình thành và phát triển nền văn hóa Chăm với nhiều nét đặctrưng riêng biệt và độc đáo Ngoài các loại hình di tích vật chất còn in dấu trênđịa bàn cư trú xưa, trong văn hóa của mình, người Chăm còn có các loại hình
di sản văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú và đa đạng Đó là ngôn ngữ, chữviết, tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội, các làn điệu dân ca, múa dân gian, múa cungđình, âm nhạc …
Ngôn ngữ: Ngôn ngữ Chăm là ngôn ngữ Nam đảo Tiếng Chăm cùng với
các ngôn ngữ của các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam đảo ở Việt Nam tạo thànhmột nhánh ngôn ngữ chung
Chữ viết: Riêng về phương diện chữ viết, trong quá trình lịch sử của
mình, người Chăm đã dùng một số kiểu chữ, như chữ Phạn (Sanskrit), Akharrik, Akhar tapuk, Akhar jok…Các kiểu chữ nói trên đều có nguồn gốc từnhững loại văn tự cổ ở miền Nam Ấn Độ, Ảrập Trong những kiểu chữ trên,thông dụng nhất là Akhar thrah Akhar thrah được giới thiệu một cách có hệthống và dùng trong từ điển Chăm - Pháp của Aymonier E và Cabaton A.Chữ Phạn được dùng chủ yếu từ thế kỷ II đến thế kỷ VIII thường dùng để viết
và khắc trên bia, ca tụng công đức của các vị vua, các văn bản về tôn giáo,
Trang 20viết trên lá buông, trên giấy Chữ Ảrập người Chăm sử dụng sao chép kinhCoran, trong lễ nghi Hồi giáo, ngoài ra còn dùng làm ký âm tiếng nói (chủyếu là người Chăm Nam Bộ) Ngoài các kiểu chữ nói trên, cộng đồng ngườiChăm ở Việt Nam còn sử dụng chữ viết La tinh để phiên âm hoặc phiên chữ.
Do đó, cho đến nay chưa có một sự thống nhất nào về hệ thống phiên âm hayphiên chữ Để thống nhất cách phiên âm theo hệ thống La tinh, trong báo cáo
có đưa ra một hệ thống phiên chữ theo E.F.E.O (Eùcole Francaise d’ExtrêmeOrient - Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp) hiện nay đang sử dụng phổ biến ởtrên thế giới
Về tín ngưỡng Tín ngưỡng dân gian Chăm chính là tín ngưỡng nguyên
thủy Chăm trước khi chịu ảnh hưởng của các tôn giáo Vì vậy, việc tìm hiểu
về tín ngưỡng nguyên thủy Chăm rất đáng được lưu ý vì nó cho biết nhữnggiá trị nguyên gốc của tín ngưỡng Chăm khi chưa có những tác động của tôngiáo Tín ngưỡng dân gian của người Chăm bắt nguồn từ tín ngưỡng nguyênthủy Chăm, trải qua quá trình vận động, giao lưu văn hóa, chịu ảnh hưởng củatôn giáo, tín ngưỡng dân gian Chăm đã có những biến đổi theo từng cộngđồng tôn giáo Xuất phát từ khu vực nhiệt đới gió mùa, tín ngưỡng nguyên thủycủa người Chăm mang những dấu ấn đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp lúanước như: tôn thờ thần linh và ma quỷ, thờ bà Chúa xứ, thờ vật tổ, thờ cúng tổtiên, thờ đá, thờ cây, lên đồng, tế trâu, ma thuật… Bao gồm các loại hình như:Tục thờ cúng tổ tiên: là một hình thái tín ngưỡng nguyên thủy được bảolưu đến ngày nay ở nhiều dân tộc trên thế giới, trong đó có người Chăm Tụcthờ cúng tổ tiên của người Chăm ngày nay do ảnh hưởng của tôn giáo nên đã
có sự khác biệt theo từng nhóm dân tộc theo từng tôn giáo riêng Đó là tục thờcúng tổ tiên ông bà vào dịp Katê và Chabun, tục lập Kut và Chiết Atau ởngười Chăm Ahiér; là tục dãy mả (nao ghur), tục đọc kinh cầu nguyện choông bà, cúng ông bà (ngak mukei) vào dịp Ramưwan hàng năm ở ngườiChăm Awal
Trang 21Tín ngưỡng đa thần là nét phổ biến của xã hội loài người thuở ban sơ Ởngười chăm, tín ngưỡng đa thần thể hiện qua sự tôn thờ nhiều thần linh như:
Po Yang Amâ (Thần Cha), Pô Ina Nagar (Thần Mẹ xứ sở), Pô Yang Cek(Thần Núi), Pô Yang Tathik (Thần biển), Pô Riyak (Thần Sóng Biển), PôBhum (Thần Ruộng), Pô Yang Sri (Thần Lúa)… vẫn còn lưu truyền đến ngàynay trong cộng đồng người Chăm Bàlamôn Các loài thủy tộc như cá sấu, rắnnước cũng được thờ mà biến dạng của nó về sau là con Inâgarai (một loạirồng giun) và con vật tưởng tượng này đã in dấu trong nghệ thuật kiến trúc,điêu khắc ở dân tộc Chăm
Tục thờ đá, thờ cây - hình thức tín ngưỡng sơ khai có ở nhiều dân tộc.Người Chăm quan niệm có thần linh ngự trị trong các tảng đá lạ và thờ cáctảng đá này với tên gọi là Yang Tục thờ đá để lại các tàn tích qua các Lingabằng đá, các trụ đá Kut (Patau Kut) trong khuôn viên Kut (nghĩa địa theodòng họ bên mẹ của người Chăm Ahiér), qua hình thức hai viên đá chặn ở haiđầu huyệt mộ của người Chăm Awal Tục thờ thường gắn liền với các tôtem,với tín ngưỡng đa thần, tín ngưỡng vạn vật hữu linh và tín ngưỡng phồn thực.Tục thờ cây ở người Chăm bắt đầu nguồn từ tín ngưỡng vạn vật hữu linh, dấuvết còn lại của tục thờ cây được tìm thấy qua tô tem của bộ lạc Cau và bộ lạcDừa, qua biểu tượng cây Kraik thần trong truyền thuyết Pô Rômê - biểu trưngcho linh hồn và sự sống còn của vương quốc Chămpa
Về tôn giáo Vương quốc Chămpa xưa là một vương quốc đa tôn giáo.
Tôn giáo đầu tiên được kể đến là Phật giáo, đến Ấn Độ giáo và vào những thế
kỷ tồn tại cuối cùng của người Chăm với tư cách nhà nước độc lập, ngườiChăm du nhập thêm Hồi giáo Tuy có cùng lúc nhiều tôn giáo như vậy, nhưng
ở Chămpa không có kỳ thị tôn giáo, mà ngược lại, bao trùm lên toàn bộ lịch
sử Chămpa là sự hỗn dung giữa tất cả các tôn giáo và giáo phái của Ấn Độ.Người dân Chămpa tiếp nhận tất cả: đức hiếu sinh, từ bi của Phật giáo, tìnhthương của Visnu giáo và cả quyền lực của Shiva giáo Nội dung của sự tiếp
Trang 22nhận này biểu hiện qua những tác phẩm điêu khắc nghệ thuật, trong vănchương, trong lễ nghi, trong bia ký… Với người Chăm, tôn giáo đóng vai tròquan trọng trong đời sống, nó được vật chất hóa qua điêu khắc và kiến trúccũng như tinh thần hóa bằng hành động hàng ngày và nhu cầu không thể thiếutrong cuộc đời của mỗi người Chăm, từ khi sinh ra cho đến lúc qua đời.
Về lễ hội Có thể nói một trong những di sản văn hóa dân gian đặc sắc
nhất của người Chăm là những lễ hội truyền thống Nhưng lễ hội này chủ yếuphổ biến và thịnh hành ở người Chăm Nam Trung Bộ (gồm người ChămBàlamôn và người Chăm Bàni)
Như các dân tộc khác ở Việt Nam, người Chăm Nam Trung Bộ tiến hànhrất nhiều lễ hội lớn nhỏ trong năm Có những lễ hội mang tính định kỳ thườngniên như lễ Pơh Mbăng Yang và Rija Nưgar vào tháng Giêng (lịch Chăm), lễcầu đảo tại các tháp (Yôr Yang) và lễ cầu đảo tại các cử biển (Plao Pasah) vàotháng 2, lễ Mbăng Katê tưởng nhớ các vị anh hùng và ông bà tổ tiên vàotháng 7, lễ chặn nguồn nước (Kap hlâu krong) vào tháng 8, lễ MbăngChambur vào tháng 9 Ngoài các lễ hội lớn mang tính cộng đồng, ngườiChăm còn thực hành một loạt nghi lễ cho cây lúa, như: lễ dựng chòi cày, lễcúng thần ruộng lúc lúa đẻ nhánh, lễ cúng lúa làm đồng và lễ mừng lúa vềnhà Mỗi khi cần giải hạn hay cầu mong điều gì đó, các gia đình và các dòng
họ còn tổ chức các lễ múa khác nhau, như lễ múa lớn, lễ múa ngày và lễ múađêm Có những lễ hội lớn chỉ được tổ chức mấy năm một lần, như lễ chémtrâu tế thần ở núi Đá Trắng
Không chỉ có số lượng nhiều và diễn ra quanh năm, các lễ hội của ngườiChăm còn có những sắc thái rất Chăm và rất khác so với các lễ hội của nhiềudân tộc ở Việt Nam Cái dễ nhận thấy nhất trong bản sắc Chăm của các lễ hộiChăm là chất “lễ” hay chất linh thiêng của tôn giáo và tín ngưỡng thường trộihơn, thậm chí còn át hẳn chất “hội” của các lễ hội Một nguyên nhân quantrọng tạo ra bản sắc này của các lễ hội chăm là do người Chăm, từ xưa tới nay
Trang 23luôn luôn là những tín đồ nhiệt thành của một tôn giáo lớn như Bàlamôn giáohay Hồi giáo Chính vì vậy, mà nhiều lễ hội lớn nhỏ của người Chăm chủ yếu
là một lễ dâng cúng (truyền thống quy thuận Thượng đế của đạo Hồi) Do đó,không thể thiếu được trong các lệ hội Chăm là các chức sắc của các tôn giáo -những người điều hành và thực hiện các lễ thức, các đồ dâng cúng và các nghi
lễ Do vậy, cũng dễ nhận thấy những nét tương đồng giữa các lễ hội Chăm vớicác lễ hội của các dân tộc khác trên thế giới Ví dụ, lễ hội Rija Nưgar đầu nămcủa người Chăm rất gần với tết năm mới của người Khơme, người Lào, ngườiThái, người Mianm, Lễ hội Katê có hình thức và nội dung như các lễ cầu thầncủa những dân tộc thao đạo Hinđu, còn lễ hội Ramưwan của người Chăm (đặcbiệt là người Chăm ở An Giang) thì là tháng chay của người Hồi giáo
Thế nhưng, dù dưới hình thức tôn giáo nào đi nữa, người Chăm vẫn đưanhững sắc thái văn hóa riêng của dân tộc mình vào từng lễ hội Dù mục đíchchính là tạ ơn các anh hùng và tổ tiên thần linh bằng cúng tế như các lễ tế thầncủa Bàlamôn giáo, nhưng nghi thức rước y của các thần lên các tháp và các
vũ điệu dâng hoa lên các thần linh tại các tháp và đền… trong lễ hội Katêđược tổ chức, trình diễn thật hoành tráng, sống động và đẹp Trong các lễ Rijalớn nhỏ, những điệu múa đầy biểu cảm, mạnh mẽ, sôi động của những ôngbóng, bà bóng và những bài tụng ca các thần linh, những bài nhạc làm nềncho ca múa của các nhạc công đã trở thành linh hồn và tâm điểm của lễ hội
Sự hòa nhập một cách hữu cơ của các yếu tố văn hóa dân gian vào cácnghi thức và lễ hội có nguồn gốc từ các tôn giáo cũng là một trong những sắcthái riêng của các lễ hội Chăm Điều đặc biệt là những vũ công (cả nam vànữ), những ca công và nhạc công trong các lễ hội Chăm không chỉ là nhữngnghệ nhân mà còn là những người hành nghề (phục vụ các lễ hội tôn giáo)chuyên nghiệp Do vậy, các lễ hội của người Chăm bao giờ cũng được tổchức một cách rất bài bản, trật tự, hình thức và luôn có những người hành lễriêng cho từng loại lễ hội
Trang 24Về phong tục, tập quán Khác với nhiều dân tộc ít người khác của Việt
Nam, phong tục tập quán của người Chăm rất đậm những nét của Bàlamôngiáo và Hồi giáo Hiện nay, phần lớn các phong tục tập quán của người ChămBàlamôn vẫn ít nhiều còn giống xưa: cưới xin có các lễ thức tôn giáo; ngườichết thì đem thiêu; cầu cúng các thần linh của Chămpa xưa trên các tháp… Tấtnhiên, do hoàn cảnh lịch sử, nhiều tập tục gắn với đời sống cung đình Chămpaxưa kia hoặc đã mất, hoặc đã được dân gian hóa Ngược lại, cũng do hoàn cảnhlịch sử đã thay đổi từ lâu, nên không ít những phong tục, tập quán dân giantruyền thống của người Chăm đã hồi sinh và hòa nhập vào các tập tục vốn cótruyền thống Bàlamôn giáo từ thời xa xưa Một trong những biểu hiện mangtính mẫu hệ bản địa Chăm đó được phục hồi và phát triển là lễ thức nhập Kút -đưa xương cốt của những người cùng họ mẹ về một nơi tại nghĩa trang quê mẹ.Nếu như người Chăm ở Nam Trung Bộ còn theo và giữ lại được nhiềuphong tục, tập quán xưa của tiền nhân, thì do quy theo đạo Hồi, nên cácphong tục, tập quán của người Chăm An Giang đã gần như hoàn toàn thấmđượm chất Hồi giáo Như những tín đồ Hồi giáo thực thụ khác trên thế giới,mỗi người Chăm An Giang đều làm theo năm bổn phận: tuyên xưng đức tinchỉ có một Thượng đế duy nhất; cầu nguyện mỗi ngày năm lần; bố thí chongười nghèo; nhịn ăn trong tháng chay Ramưwan và hành hương về Mecca.Ngoài những bổn phận trên, gần như mọi phong tục tập quán của người Chăm
An Giang từ lễ trưởng thành đến lễ cưới, từ đám tang cho đến việc cầu cúngđều ít nhiều mang sắc màu hay hình thức của Hồi giáo
Mặc dù cũng theo đạo Hồi, nhưng vì theo đã lâu và đã hòa được nhữngtruyền thống bản địa vào tôn giáo, nên người Chăm Bàni ở Nam Trung Bộ cónhững phong tục, tập quán khá đặc biệt Người Chăm Bàni tin rằng, thực hiệnnăm bổn phận là việc của các tu sĩ Do vậy, vào tháng chay, chỉ các tu sĩ là phảivào thánh đường để làm bổn phận và chỉ ăn chay trong một số ngày, còn tất cảcác tín đồ chỉ thỉnh thoảng lên dâng lễ mà thôi Dù theo đạo Hồi, nhưng người
Trang 25Chăm Bàni đâu có đọc được và hiểu biết rõ thánh kinh Coran Trong năm,như những người Chăm Bàlamôn, những người Chăm Bàni vẫn cử hành cácnghi lễ và lễ hội nông nghiệp dân gian như người Chăm Bàlamôn Các thầy củađạo Bàni cùng các tu sĩ Bàlamôn tiến hành chung một số lễ cúng của cả ngườiChăm Bàni và người Chăm Bàlamôn Ngoài ra, dù vẫn coi Thượng đế là duynhất, nhưng qua việc thực hiện các lễ thức và phong tục dân gian Chăm, có thểthấy người Chăm Bàni vẫn tin vào thần Mưa, thần Biển, thần Núi Ngay cả ở một
số phong tục có nguồn gốc Hồi giáo, như lễ cắt da quy đầu và lễ tang đã đượcChăm hóa rất nhiều Đối với người Chăm Bàni, lễ đánh dấu giai đoạn hôn nhâncho các cô gái (Karok) đã lấn át lễ cắt da quy đầu dành cho con trai Còn khi làmđám ma, ngoài lễ thức đơn giản của đạo Hồi, người Chăm Bàni vẫn làm phépngăn sự quấy phá của vong hồn mang theo các nghi thức truyền thống dân gian
Tóm lại, theo tư liệu khảo cổ học và cổ sử thì địa bàn cư trú của người
Chăm xưa kia về phía Bắc từ vùng Quảng Bình, Quảng Trị đến Bình Thuận làbiên giới phía Nam, là vùng lãnh thổ của vương quốc cổ Chămpa Với một vịtrí địa lý như vậy, dân tộc Chămpa có điều kiện thuận lợi để tiếp nhận các nềnvăn minh lớn của phương Đông là văn minh Ấn Độ, văn minh Trung Quốc vàsau nữa là văn minh Ả Rập
Sự tiếp nhận các nền văn minh này, đặc biệt là văn minh Ấn Độ đã để lạidấu ấn sâu sắc trong văn hóa truyền thống của người Chăm với sự hiện diệncủa các tôn giáo và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hóa - xãhội, trong đó biểu hiện mạnh mẽ và cụ thể, sinh động trên các di tích lịch sửvăn hóa Chăm qua mọi thời kỳ Tác động của các quá trình giao lưu văn hóanày đã góp thêm sự đa dạng cho nền văn hóa Chăm truyền thống mà đến nayvẫn còn để lại những ảnh hưởng sâu đậm trong xã hội
1.1.2.3 Một số nét đặc trưng bản sắc văn hóa dân tộc Chăm
Các nhà nghiên văn hóa Chăm đã rút ra một số đặc điểm mang tính đadạng độc đáo của văn hóa Chăm như sau:
Trang 26Thứ nhất, tính bản địa của văn hóa Chăm.
Quá trình khai thác vùng đồng bằng ven biển và các thung lũng vùngchân núi miền Trung của người Chăm đã tạo nên những yếu tố văn hóa bảnđịa của họ Trước hết, những yếu tố đó được thể hiện trong hoạt động nôngnghiệp trồng lúa nước, vốn là nền tảng của xã hội Chăm, với một hệ thốngthủy lợi cổ truyền khá tinh xảo và bao gồm các quy mô đa dạng
Cho đến nay ở người Chăm còn tồn tại nhiều nghi lễ liên quan đến hoạtđộng thủy lợi như lễ khai mương đắp đập, lễ chặn đầu nguồn sông và trong xãhội Chăm còn có mặt những vị như Cai Mương, Cai Đập Trong sản xuấtnông nghiệp còn tồn tại nhiều nghi lễ như lễ cầu đảo, tống đưa, lễ liên quanđến chu kỳ sinh trưởng của cây lúa… Đó là sản phẩm của sự thích nghi đốivới môi trường sinh thái vùng miền Trung nước ta
Định cư ở vùng chân núi, yếu tố núi cũng được thể hiện khá rõ nét trongvăn hóa Chăm Người Chăm dựa vào núi, nhưng không quay lưng với núi, họbiết khai thác các sản vật của núi rừng để phục vụ cho đời sống của họ Nghềlàm củi, tìm trầm hương, kỳ nam, ngà voi… mà xưa kia người Chăm gọi lànghề “buôn núi” còn tồn tại cho đến ngày nay Về tinh thần, tâm linh của họcòn gửi gắm và gắn liền với núi Đại bộ phận người Chăm còn thờ tổ tiêndòng Núi (atâu Chơk) là dòng cổ xưa nhất của người Chăm “Anh em” của họ
là những dân tộc thuộc cùng ngữ hệ mà gần gũi nhất là người Raglai vẫn còn
“ở trên núi” và vào dịp lễ Katê (Tết của người Chăm Bà la môn) đều trở vềdâng lễ lên các vị thần chung của họ
Họ là cư dân định cư lâu đời vùng duyên hải miền Trung, yếu tố biểnđược in dấu khác đậm nét trong văn hóa Chăm Rõ ràng, người Chăm cư trúbên bờ biển nhưng không “đứng trước biển” mà họ đã “hòa vào biển” cảtrong hoạt động thực tiễn lẫn tâm linh Nghề đánh bắt hải sản, những đội thủybinh khá hùng hậu từng chinh chiến nhiều lần với các quốc gia lân cận đượcghi trong sử sách xưa, những cuộc đụng độ trên mặt biển được truyền tụng
Trang 27trong văn học dân gian, một số mô típ hình thuyền còn nhìn thấy trên nhà mồ,trong một số kiến trúc… chính là những dạng thức sinh hoạt văn hóa của một
cư dân gắn liền với biển cả, dù rằng hiện nay đại bộ phận người Chăm ở miềnTrung đã “lùi” vào đất liền (hầu hết các làng Chăm đều ở phía tây Quốc lộ 1),sống xa biển, nhưng dấu ấn của nghề đánh cá nổi tiếng thưở xưa vẫn còn nhìnthấy khá rõ nét Người Chăm ở An Giang, Campuchia vẫn còn thủy chung vớithuyền bè, với nghề đánh bắt cá Hàng năm, ở người Chăm Ninh Thuận, BìnhThuận vẫn còn tiến hành một số lễ nghi ở cửa biển, cửa sông và một bộ phậnthờ tổ tiên theo dòng Biển (atâu Thik) Trong đám cưới của người Chăm, dùtheo tôn giáo đi nữa đều phải ăn cá trong một ngày Có nhiều người khi nóiđến yếu tố biển trong văn hóa Chăm thường nghĩ tới hoặc nhấn mạnh đến vănhóa của cư dân vùng hải đảo xa xôi nào đó mà quên mất rằng dãi đất miềnTrung Việt Nam tiếp giáp với biển Đông bằng một độ dài đáng kể Trên bờbiển đó, người Chăm đã cư trú và sinh sống lâu đời, đã tiếp nối và phát triểncuộc sống của những người Sa Huỳnh, của thị tộc Dừa và thị tộc Cau là tổtiên xưa của họ
Như vậy tính bản địa của văn hóa Chăm được thể hiện ở nhiều dạng thức
và được tựu trung lại trong 3 yếu tố: văn hóa đồng bằng, văn hóa biển và vănhóa miền núi Ai đã từng đi qua “khúc ruột miền Trung” đều cảm nhận được
3 yếu tố “đồng bằng, núi, biển” luôn chen lẫn với nhau, thoát ẩn thoát hiệntrước mắt nhìn của người quan sát Vốn là chủ nhân lâu đời của vùng đất ấy,trong quá trình khai thác và thích ứng với môi trường sinh thái hỗn hợp đó,người Chăm đã sản sinh ra nền văn hóa gốc của mình hàm chứa trọn vẹn bayếu tố của môi trường sinh thái đó là: núi, đồng bằng, biển
Thứ hai, văn hóa Chăm là văn hóa của cư dân mẫu hệ.
Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, người Chăm là dân tộc có trình
độ phát triển kinh tế - xã hội khá cao, nhưng còn lưu giữ rất đậm nét yếu tốmẫu hệ được phản ánh rõ nét trong sinh hoạt, lối sống, ứng xử, lễ nghi cộng
Trang 28đồng, xã hội, gia đình, trong tập tục cưới xin, tang ma, trong tín ngưỡng dângian, thờ cúng tổ tiên và các thánh thần Người Chăm tôn xưng Pô Inư Nưgar
là “Thần mẹ xứ sở” người đã sáng lập dựng xây nên non sông Chămpa Theoquan niệm của người Chăm, Pô Inư Nưgar đã dạy cho người Chăm biết trồnglúa nước, làm thủy lợi, dệt vải, thỏa mãn lời cầu xin của kẻ hiếm muộn concái Hiện nay còn rất nhiều tháp, miếu thờ Bà, trong đó tháp Pô Inư Nưgar ởNha Trang (thường gọi là Tháp Bà) là nổi tiếng nhất
Trong đời sống gia đình và xã hội Chăm ở miền Trung người phụ nữđóng vai trò vô cùng quan trọng Người con gái Chăm luôn chủ động trongviệc hôn nhân, họ hỏi chồng và cưới chồng về nhà mình Con cái sinh ra đềutheo họ mẹ và thuộc về gia đình bên vợ Người phụ nữ luôn được làm chủ giađình, dù rằng trong thực tế người chồng đóng vai trò quan trọng bậc nhấttrong việc sản xuất ra của cải vật chất trong gia đình, nhưng ông ta chỉ làthành viên của gia đình vợ trong thời gian “làm chồng” Khi ông chết, người
ta lại đưa ông về với tổ tiên dòng họ của mẹ ông ta Chính vì vậy, ông khôngđược quyền điều hành những việc liên quan đến lễ nghi thờ cúng tổ tiên tronggia đình vợ vì ông là “người ngoài họ” Phụ nữ là “chủ tài khoản” là ngườinắm “tay hòm chìa khóa”, lúa gạo, tiền bạc đều do bà chủ nhà nắm giữ vàquyết định trong mọi việc
Việc “chia con”, “chia của” trong trường hợp ly hôn hầu như không dặt
ra trong xã hội Chăm Con cái đều thuộc về gia đình vợ, tài sản được truyền
kế cho con gái Trong các sinh hoạt có liên quan đến phong tục, tập quán đều
do phụ nữ chi phối Tiến hành lễ gì trong năm và làm như thế nào, gả conhoặc cưới chồng cho con đều do phụ nữ định đoạt
Thứ ba, văn hóa Chăm đậm nét sắc thái tôn giáo - tín ngưỡng.
Người Chăm có hai tôn giáo chính rất độc đáo là Bàlamôn giáo và Hồigiáo Đây là nét độc đáo vì trên thế giới không nơi đâu có hình thức tôn giáonhư cộng đồng người Chăm Việt Nam
Trang 29Bàlamôn giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ, du nhập vào Chămpa vào cuốithế kỷ thứ IV Đặc điểm của Bàlamôn giáo là thờ nhiều thần, nhưng ở đâyBàlamôn của dân tộc Chăm lại thờ cả thánh Allah Hồi giáo có nguồn gốc từ
Ả Rập, truyền qua Mã Lai, du nhập vào Chămpa vào thế kỷ thứ X Đặc điểmcủa hồi giáo thế giới là độc thần, chỉ thờ độc nhất là đấng Allah, nhưng Hồigiáo của dân tộc Chăm (được gọi là Bàni) lại thờ luôn các thần của Bàlamôngiáo Sở dĩ có hiện tượng lạ trên là do quá trình lịch sử Chămpa phức tạp, haitôn giáo trên đã chống chọi nhau gây chia rẽ trầm trọng, nên các vua chúaChămpa thời đó phải đưa ra thuyết dung hòa tôn giáo kiểu “tuy hai mà một,tuy một mà hai”
Mỗi một tôn giáo có những điều kiêng kỵ khác nhau: Người Chăm Hồigiáo (tức Bàni) kiêng thịt heo và thịt dông; vì vậy khi vào plây Chăm Bàni,khách không nên mang theo thịt heo hay thịt dông để tỏ “phép lịch sự tốithiểu” Ngược lại khi vào plây Chăm Bàlamôn, khách kiêng mang theo thịt bò
Từ những lễ nghi tôn giáo Chăm, khi vào thánh đường Bàni hay vàonhững tháp Chăm, khách nên tìm cái chăn trắng để mang cho “phải phép”.Ngoài ra trong thánh đường, khách chỉ được ngồi dự lễ trong vòng hai hàngcột ngoài chứ không được ngồi cao hơn Khi chụp ảnh quay phim lại càngphải dè dặt hơn, phải do các thầy hay các vị có trách nhiệm hướng dẫn
Lúc sống, khi chết, người Chăm bị ràng buộc chặt chẽ vào lễ nghi tôngiáo và phong tục tập quán của mình Đặc biệt người Chăm Bàni có những lễnghi rất cụ thể để tuân theo từ khi lọt lòng đến lúc mất; con trai khi lên 14-15tuổi, phải qua lễ “Katat” (lễ nhập đạo), đến trưởng thành, cưới gả thì phải qua
lễ “likhah” (còn Bàlamôn giáo thì phải qua lễ “Bbơng pađih”) Con trai cóqua lễ Katat, sau này mới tiến hành đám Likhah được; và có đám Likhah rồi,khi cha mẹ mất con trai mới được dự lễ “tẩy thể” (tắm gội thể xác trước khichôn cất) và lễ “âuwa” (lễ trả hiếu cho cha mẹ) Ngay cả bản thân mình, nếukhông được qua các lễ nghi tôn giáo “Katat” và “likhah” thì lễ chôn cất sẽ
Trang 30được thực hiện rất đơn giản chứ không theo lễ nghi bình thường Đó là điềubất hạnh lớn đối với người Chăm Bàni.
Do lễ nghi tôn giáo ràng buộc như trên, người Chăm cảm thấy rất khókhăn khi phải lấy người ngoại đạo, hay phải sống xa quê hương vì ngại thiếuthủ tục và lễ nghi tôn giáo nghiêm túc lúc lìa đời Theo trào lưu đổi mới hômnay, sự giao lưu giữa người Chăm trong cộng đồng cũng như những ngườikhông cùng cộng đồng dân tộc được đặt ra khá gay gắt Chính vì vậy màngười Chăm phải tìm cách giải quyết vấn đề hôn nhân không cùng tôn giáobằng cách làm thủ tục nhập đạo cho người bạn đời của mình để không còngây khó khăn trở ngại (thủ tục này trước đây khó thể hiện vì các chức sắckhông chấp nhận)
Ngoài lễ nghi tôn giáo ra, sinh hoạt thông thường cũng có những đặctrưng của nó mà người khách có quan hệ làm ăn với người Chăm cũng cầnbiết như: Ngày Chủ nhật và ngày thứ Năm người Chăm kiêng xuất của (nhưxuất lúa, hay xuất những vật quí trong gia đình Ngày nay, tập quán này đãđược cải tiến nhiều, nhất là ở các giới trẻ)
Ngoài ra một bộ phận thiểu số người Chăm theo Hồi giáo thì vấn đề sinhhoạt hàng ngày càng bị tôn giáo chi phối nặng nề hơn nữa vì phải tuân theođúng lễ nghi và tập quán của Hồi giáo quốc tế
Chính các lễ nghi tôn giáo như nói trên đã chi phối sinh hoạt của dân tộcChăm, định hình cho những nếp suy nghĩ và hoạt động của cộng đồng, lâungày hình thành những tập quán ăn sâu vào lòng dân tộc và trở thành nhữngnét đặc trưng của bản sắc văn hóa dân tộc Chăm
Thứ tư, văn hóa Chăm từ lâu có mối quan hệ giao lưu rộng rãi với văn
hóa Việt
Vốn có quan hệ gần gũi về nguồn gốc ngôn ngữ và lịch sử với các dântộc Tây Nguyên, văn hóa Chăm và văn hóa của các dân tộc này đã có một quátrình đan xen lâu dài và rõ rệt Không những vậy, trong lịch sử, văn hóa Chăm
Trang 31và Việt đã có những quan hệ giao lưu lâu đời, gắn bó và hòa hợp sâu xa, mậtthiết Trên địa bàn miền Trung, nơi phổ biến các di chỉ khảo cổ thuộc nền vănhóa Sa Huỳnh mà chủ nhân của nó được đoán định là tổ tiên của người Chăm,người ta đã tìm thấy dấu vết của văn hóa Đông Sơn mà chủ nhân là ngườiViệt cổ Điều đó chứng tỏ đã từ lâu đời cư dân Việt cổ và Chăm cổ đã từngsống xen nhau trên dãi đất miền Trung nước Việt Trong những thời kỳ lịch
sử sau này, nhân dân lao động của hai dân tộc Việt - Chăm luôn có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau trong cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chốngngoại xâm Trong bối cảnh lịch sử đó, quan hệ văn hóa Chăm - Việt đã diễn
ra trên nhiều lĩnh vực Trong các dạng thức văn hóa vật chất, từ nhà ở, công
cụ sản xuất (nhất là chiếc cày) đến thức ăn (nổi bật là các loại bánh tét, bánhchưng, bánh nổ, các loại canh rau) đều có sự vay mượn ảnh hưởng lẫn nhaugiữa hai dân tộc Trong lĩnh vực sinh hoạt văn hóa tinh thần, nhất là âm nhạctruyền thống và văn hóa dân gian, mối quan hệ Việt - Chăm thể hiện khá rõ
Có nhiều nhạc cụ của hai dân tộc giống nhau như: trống, kèn, đàn… nhữngbài hát giao duyên của người Chăm với giai điệu mềm mại thiết tha, tiết tấuthư thái, rất gần gũi với những điệu lý hoài nam, lý con sáo, lý ta lý củangười Việt miền Bình Trị Thiên, với lý con ngựa, lý thiên thai, xuân nữ bàichòi ở Nam Trung Bộ Đặc biệt những bài dân ca u hoài sâu lắng của ngườiChăm rất gần với điệu hát vọng cổ Nam Bộ hay hò mái đẩy, hò mái chèo củangười Việt sông Hương núi ngự Chuyện kể dân gian của người Việt và ngườiChăm có những điểm giống nhau về chủ đề, cấu trúc, hình tượng và ý nghĩa.Người Việt và Người Chăm đều có chuyện Sọ dừa với nội dung gần nhưthống nhất, người Chăm có chuyện Ramayana, người Việt có Dạ ThoaVương, người Chăm kể về sự tích Pô Inư Nưgar, người Việt có chuyện BàThiên yana… Đó là kết quả của sự giao lưu, trao đổi, bồi đắp và hòa hợp vănhóa giữa hai dân tộc Việt - Chăm được tiến hành bền bỉ và lâu dài qua hàngnghìn năm lịch sử
Trang 32Thứ năm, tinh thần hiếu khách của người Chăm.
Trong các dịp lễ hội hay ngày thường, những khách thập phương đến vớiplây Chăm đều cảm thấy có sự tiếp đón và đối xử khá nồng hậu Tinh thầnhiếu khách là một trong những đặc trưng của sinh hoạt xã hội người Chăm.Trong cuộc sống hàng ngày, người Chăm hay cúng bái (cúng tổ tiên, cúngthần linh); sự cúng bái đó hàm ý rộng rãi là “pakhat” - có ý nghĩa từ thiện Vìthế, thỉnh thoảng gia đình Chăm (Bàni và Bàlamôn) lại mời thầy Chan (chứcsắc Bàni) đến cúng “pakhat” mỗi khi gặp dịp làm ăn may mắn, được lộc, haythuận lợi Người Chăm hiểu rằng có “pakhat” như vậy thần thánh mới phù hộcho mình làm ăn phát đạt và tai qua nạn khỏi Năm nào gia đình có nhiềukhách thì năm đó sẽ có nhiều thuận lợi, phát đạt trong việc làm ăn Chính vìvậy, mỗi khi được đãi đằng, không phải khách mà là chủ nhà có nhã ý “cámơn” Sau bữa ăn thịnh soạn, khi khách xin cáo từ, hai vợ chồng chủ nhà ngườiChăm đứng lên, vòng tay trước ngực, nói một cách trịnh trọng: “Vợ chồngchúng tôi xin cảm ơn quí anh đã đến dùng bữa cơm với gia đình chúng tôi”
Và khi khách ra về rồi, hai vợ chồng này lấy làm thanh thản và sung sướng vì
đã làm một việc tốt và sẽ được “quả phúc” đúng như câu tục ngữ Chăm:
“Twai tamư paga yuw ba mưda tamư sang”
(Khách bước qua rào như mang sự giàu có vô nhà)
Ngoài ra sự hiếu khách của người Chăm còn mang ý nghĩa giao tiếp vàthể diện Thành ngữ “lithei paywa” (cơm gởi) của người Chăm trong trườnghợp này hàm ý “có qua có lại”, đầy tính lịch thiệp và nhân văn Họ còn hiểurộng hơn vấn đề xử thế này như một ý nghĩa đạo đức: “caik phwơr ka anưk”(để đức cho con), nghĩa là hôm nay ta đối xử tốt với khách thì ngày mai, tahay con ta sẽ được đối xử tương tự
Sự giao tiếp của người Chăm không những mang nặng tình nghĩa và đạođức, mà còn chứa đựng cả một triết lý nhân - quả Mặt khác, vấn đề thể diệncũng giữ phần khá đặc trưng trong sự hiếu khách của người Chăm: gia đình
Trang 33nào có nhiều khách, đặc biệt là khách quý, thì gia đình đó sẽ được nhữngngười xung quanh quí trọng và kính nể Vấn đề hiếu khách cũng là một nétđẹp của bản sắc văn hóa dân tộc Chăm.
Thứ sáu, những nếp sống khá đặc biệt của người Chăm.
Sinh hoạt của xã hội Chăm có những đặc điểm đáng lưu ý như: Sự ônhòa, sự tôn trọng lời hứa, lòng trung thành, sự trung thực, tính tôn ti trật tự,tính hiếu học Dĩ nhiên, mỗi dân tộc đều có nết sống đặc trưng của mình, phùhợp với bản sắc văn hóa riêng biệt Dân tộc Chăm cũng thế, những nét vănhóa đặc trưng của họ làm cho họ có một sắc thái riêng không giống bất cứ dântộc nào khác; đó là những nét đẹp đáng được bảo tồn và phát huy
- Tính ôn hòa và không thù dai.
Sự sinh hoạt miền nông thôn cũng như miền núi không mang tính cáchcạnh tranh như ở thị thành Chính vì vậy, ở vùng dân tộc Chăm, cuộc sốngkhá thanh thản, không sống xô bồ, nhếch nhác Có lẽ do chịu ảnh hưởng phầnnào nếp sống êm xuôi này mà tính cách ôn hòa hình thành được trong lòngcộng đồng người Chăm Trong sinh hoạt hàng ngày, chắc chắn phải có những
va chạm, xích mích, bất đồng ý kiến, đưa đến việc cãi vã lẫn nhau, nhưngkhông bao giờ (hoặc rất ít khi) dẫn đến việc đánh cãi nhau hay đâm chémnhau như đã từng xảy ra thường xuyên ở các thị thành văn minh Trongnhững trường hợp xích mích gay gắt, không thể tự giải quyết được thì hai bênđưa nhau đến chính quyền cơ sở để nhờ giải quyết Tính khí Chăm khôngthâm độc, dễ tha thứ, vì thế mà trong xã hội Chăm không có mối thù nào lâudài hay truyền kiếp Họ dễ dàng làm lành với nhau, phần nào cũng do mốigiao hảo chằng chịt của các hôn nhân
- Tôn trọng lời hứa.
Người Chăm rất dị ứng với sự dối trá và rất trọng sự ngay thẳng, thật thà
Vì trước đây, xã hội Chăm sống gần như khép kín giống như xã hội miền núinên những thói hư tật xấu của chốn phồn vinh đô thị như: lừa đảo, lật lọng,
Trang 34cướp giật, không chen chân được trong cộng đồng người Chăm Mỗi khi hứamột việc gì với nhau, người Chăm rất tôn trọng, kể cả vợ chồng ly dị nhau,chỉ cần mời một người già làm chứng để hai vợ chồng “chẻ đôi chiếc đũa” vàtrao cho nhau mỗi người một nửa, thế là xong Vì họ hiểu rất đơn giản là lòng
ta đã hứa và đã hứa như vậy thì thần linh cũng đã chứng giám Rõ là một việclàm đúng theo lương tâm của mình lại được củng cố thêm yếu tố thần linh, thìviệc hứa đó vững chắc như đinh đóng cột Trong liên hệ làm ăn với nhau hayvới dân tộc khác, ít khi phải tốn nhiều giấy tờ: cam kết, hợp đồng, biên bản,
mà họ chỉ cần nhắc lại tất cả sự cam kết đó một lần nữa cho rõ ràng là xong
- Sự trung thành.
Người Chăm cũng như đa số các dân tộc thiểu số khác, sống rất đơngiản, chất phác, rất trung thành với người mà mình phục vụ, không sống theokiểu “lá mặt, lá trái” Đối với những người Chăm giúp việc trong gia đình, dù
là việc lặt vặt trong gia đình hay việc đồng, chăn nuôi, quản lý nông trại,người chủ có thể đặt tin tưởng hoàn toàn Chủ sai bảo như thế nào, chủ căndặn việc gì thì chắc chắn những việc đó sẽ được hoàn thành và bảo vệ đúngtheo ý muốn của chủ
ra, những gì “tai nghe mắt thấy”, chứ ít khi thêm thắt hay suy diễn Chính bảnchất trung trực này làm cho người Chăm trở thành những đối tượng khó muachuộc được Trong sinh hoạt đời thường, người Chăm cũng rất ít tham lam,bòn rút của thiên hạ Thông thường họ phân biệt khá rành mạch của mình, củangười, chứ không “đánh lận con đen”
Trang 35- Truyền thống hiếu học.
Tính hiếu học là một đức tính rất đáng được trân trọng trong những đứctính tốt của người Chăm Chính tính hiếu học đã giúp cho người Chăm luônluôn tiến bộ và cộng đồng dân tộc có sự thăng tiến và phát triển Ai cũng phảilấy làm ngạc nhiên khi thấy một người nông dân Chăm luôn luôn tranh thủnhững thời gian rảnh rỗi giữa các mùa lúa, mùa bắp để ngâm nga các quyểnAriya, tìm hiểu các Damnưy, hay trau dồi tiếng mẹ đẻ Trong những đêm cóđám đình trong làng, bà con Chăm thường hay tụ tập nhau để giúp làm bánhtrái, chuẩn bị công việc cho ngày mai Lúc đó, những bà mẹ muốn nghe các
lão ông đọc các Ariya tình tứ như: Xah Pakei, Cam - Bini, Bini - Cam, (Nai mai mưng Makah), Um Mưrup, Dewa Mưno v.v… Các bà nải nỉ cho bằng
được các ông có giọng truyền cảm đọc Ariya mà mình thích Chính nhữngcuộc sinh hoạt như thế này đã khắc sâu sự đam mê văn chương trong giới trẻChăm tư lúc còn niên thiếu
Trong xã hội Chăm, hầu hết các gia đình đều phấn đấu để cho các conđược cắp sách đến trường Vì nghèo khó mà phải để cho các con mù chữ là cảmột sự nhục nhã Có gia đình phải cho mấy đứa con nhỏ đi ở đợ (làm mướnnhiều năm liền và nhận tiền trước) để cho đứa lớn được học lên cao Khi đứalớn tốt nghiệp và có công ăn việc làm rồi thì lại giúp cho đứa nhỏ học hệ bổtúc văn hóa Trong lúc đó, cha mẹ không từ nan bất cứ công việc nặng nhọcnào như: rũ rơm, lượm phân bò, nhổ cỏ mướn, chăn cừu, chăn bò thuê Vì thếcác đứa trẻ Chăm luôn luôn được đi đến trường…
- Tôn ti trật tự.
Quan sát sự sinh hoạt một làng Chăm, chúng ta sẽ thấy họ sống rất có
“tôn ti”: kính trên nhường dưới Rõ nhất là cách mời ăn ở đám đình hay sinhhoạt nơi công cộng Không bao giờ thấy một người nhỏ tuổi ngồi phía trênngười lớn tuổi hơn mình Chính do sự tôn ti trật tự này mà trong các đámđình, lễ hội, người ta nhận thấy rằng sự mời mọc các vị khách đến ngồi ở các
Trang 36ván dài để vào tiệc là cả một việc khó khăn vì không ai muốn vào cuộc, ngườinày mời người kia, người kia lại đưa đẩy người nọ Lý do của việc này kháđặc trưng: Ai cũng chờ người khác ngồi trước để mình còn xem mình phảingồi vào chỗ nào mới đúng ý tôn ti “ăn coi nồi, ngồi xem hướng”… Khi mộtngười con trai trong tộc họ lấy vợ thì cả tộc họ được mời về bàn bạc việc cưới
gả này (mẫu hệ) Có khi ý kiến của người lớn tuổi trong tộc họ lấn át cả ý kiếncủa cha mẹ Chính tôn ti trật tự này làm cho tộc họ Chăm sinh hoạt rất gắn bó
và giữ được nề nếp gia phong khá độc đáo
Thứ bảy, những nét đẹp của phong tục tập quán Chăm.
Theo một số nhà tâm lý học thì tính khí con người được hình thành trênnhững căn nguyên nhất định: ảnh hưởng của thủy thổ, ảnh hưởng của tôn giáo
- tín ngưỡng, ảnh hưởng của sự giáo dục từng chế độ chính trị, ảnh hưởng củathời đại… Tất cả những yếu tố đó cộng với “gen” của dân tộc tạo nên tính đặcthù của dân tộc đó
- Tính cộng đồng
Sinh hoạt trong một xã hội gần như khép kín, người Chăm đã phát huytính cộng đồng đến mức độ khá cao: Trong các đám đình, đặc biệt là đámtang, người Chăm thường ngưng tất cả hoạt động của mình, dù là hoạt độngmang tính cấp bách và quan trọng như “ngày gieo lúa” chẳng hạn, để tụ tậplại hầu giúp đỡ và an ủi gia đình đương sự Tính cộng đồng này phản ảnh nềnvăn minh lúa nước và mang đậm nét tác phong nông nghiệp của các dân tộcthiểu số Việt Nam Mặt khác, những công việc thông thường nhưng vượt quásức lao động của các thành viên trong gia đình như: dỡ nhà, xây nhà, tréttường, lợp tranh, thường phải nhờ đến lao động cộng đồng Bà con láng giềngđến giúp đỡ một cách vui vẻ, các ông thì làm những công việc nặng nhọc, các
bà thì nấu nướng, phục vụ Người Chăm hưởng ứng rất nhiệt tình các đợtquyên góp mang tính cách xã hội như: góp quĩ khuyến học, góp quĩ hỗ trợ giađình nghèo, hỗ trợ bão lụt…
Trang 37- Tính tiết kiệm.
Mang tác phong nông nghiệp và sinh hoạt theo nhịp sống thanh thản êmxuôi của vùng nông thôn, người Chăm dứt khoát không phải là hạng ngườisống xa hoa, vung tiền qua cửa sổ Trong lúc thiếu thốn đã đành nhưng khi họlàm ra tiền hay được mùa họ cũng biết dành dụm, chắt chiu từng đồng lẻ Họ
ăn uống cũng như ăn mặc rất thanh đạm và khiêm tốn nếu không nói là khamkhổ Nhờ biết tiết kiệm mà người Chăm đã biết tích lũy để khắc phục đượccác nạn đói kém lúc mất mùa hay bị thiên tai địch họa trong quá khứ cũngnhư trong hiện tại
Tuy kinh tế nhìn chung chưa phát triển cao, vì sống trong vùng khí hậukhắc nghiệt, đất đai cằn cỗi, nhưng người Chăm vẫn có cuộc sống tương đối
ổn định, nhà cửa khang trang, tươm tất lại còn có thể cho các con đi đếntrường, không đứa nào phải thất học
Sở dĩ người Chăm biết dành dụm, tích lũy là do phải thích nghi với cuộcsống luôn phải đối phó với môi trường tự nhiên của miền Trung khắc nghiệt,hàng năm phải đương đầu với lũ lụt và hạn hán rất gay gắt
- Cách bố trí nhà cửa trong thôn xóm Chăm.
Khách thập phương đến các vùng dân tộc Chăm (nhất là vùng NinhThuận và Bình Thuận) sẽ ngạc nhiên không ít về cách bố trí nhà cửa ngayhàng thẳng lối của thôn xóm Mỗi ngôi nhà phải có rào dậu xung quanh Ràodậu thường làm bằng cây khô hay tre, nhưng nay được thay thế bằng loại câysống (như keo dậu, cây thuốc dấu, cây bông bụt) hoặc xây bằng táp-lô Tất cảdãy nhà này đều xếp theo chiều Bắc Nam thẳng tắp và cửa ngõ đều đồng loạttrổ về gốc Tây Nam và hướng về phương Nam Vì vậy, khách từ phương xađến, sẽ rất lấy làm lạ về cách bố trí có qui củ nhất định này và từ làng này đếnlàng khác Đường sá giữa hai dãy nhà thì khá rộng, hẹp nhất là đủ cho haichiếc xe bò đi ngược chiều di chuyển được Các con đường ngang thì hẹphơn, rộng nhất là đủ cho một chiếc xe bò đi mà thôi Chính vì thế mà đường
Trang 38xá trong các thôn ấp Chăm từ xưa đến nay vẫn theo một khuôn mẫu đúngphong tục qui định, thật nề nếp và khang trang Không một người nào dám
“xé lẻ” nghĩa là tự xây dựng một ngôi nhà riêng rẻ, không đứng vào dãy ràonào Làm như thế người Chăm tin là sẽ gặp nhiều xui xẻo: bệnh hoạn, làm ănkhông phát đạt, gặp nhiều rủi ro trong đời sống Đây cũng là ưu điểm lớn củaphong tục tập quán Chăm góp phần làm cho cuộc sống được nhiều thuận lợi,hướng đến văn minh, tiến bộ
1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHĂM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.2.1 Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm là góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, cùng với quá trình đặt trọng tâm vàođổi mới về kinh tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã xác định đường lối xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc Quan điểm này đánh dấu sự phát triển tư duy lý luận của Đảng, đồngthời cũng là kết quả tổng kết thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa ViệtNam trong suốt quá trình lãnh đạo của Đảng
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội lần thứ VII (6-1991) đã xác định nền văn hóa
tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế
độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Như vậy, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là một nhiệm vụ trọng yếu trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tư tưởng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tiếptục được bổ sung, phát triển đầy đủ và phong phú hơn trong các văn kiện củaĐảng sau này Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII
đã chỉ rõ: Nền văn hóa mà Đảng ta lãnh đạo toàn dân xây dựng là nền văn hóa
Trang 39tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khóa VIII đã ra nghị quyết riêng về xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đại hội lần thứ IX
của Đảng tiếp tục khẳng định: "Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xãhội" [16, tr.114]
Đại hội lần thứ X của Đảng (4-2006) khẳng định: “Tiếp tục phát triểnsâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm chovăn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” [17, tr.106]
Nền văn hóa tiên tiến thể hiện ở nội dung phản ánh, đó là toàn bộ sựnghiệp đổi mới vĩ đại của dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội Nền văn hóahướng tới đấu tranh để khẳng định cái đúng, cái tốt, cái đẹp, phủ nhận cái xấu,cái ác, cái giả; góp phần xây dựng con người phát triển toàn diện và tạo lậpmôi trường văn hóa lành mạnh cho quá trình phát triển bền vững của đấtnước Đây cũng là nền văn hóa có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, đáp ứngnhu cầu phát triển của nền văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa và mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế
Bản sắc văn hóa dân tộc là một khái niệm “động” và “mở”, mang tínhlịch sử cụ thể và vận động, đổi mới không ngừng trên cơ sở loại bỏ những yếu
tố bảo thủ và tiêu cực, tiếp thu và phát huy những yếu tố tích cực và tiến bộ,đồng thời tạo lập các giá trị mới để đáp ứng với yêu cầu phát triển của thờiđại Đồng thời bảo vệ và phát huy các tài sản văn hóa vật thể và phi vật thể,các giá trị tinh hoa của văn hóa dân tộc, xây dựng môi trường văn hóa lànhmạnh để làm động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới.Việt Nam có 54 dân tộc với 54 sắc màu văn hóa tạo nên nền văn hóa đadân tộc, văn hóa của từng dân tộc chia sẻ những nét chung với nền văn hóa đa
Trang 40dân tộc, kết tinh của những giá trị văn hóa của các dân tộc khác nhau trongquốc gia, đồng thời đặt nền tảng cho một sự giao lưu năng động giữa các nềnvăn hóa dân tộc tạo nên sự phong phú của nền văn hóa Việt Nam tiên tiếnđậm đà bản sắc dân tộc Vì vậy giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóacủa từng dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó có dân tộcChăm đóng vai trò quan trọng trong việc nhận thức toàn diện và sâu sắc về
phương hướng, đặc trưng, nhiệm vụ và giải pháp để xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đồng thời, đây cũng
là cơ sở để chúng ta kế thừa những quan điểm và thành tựu lý luận của Đảngnhằm xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
1.2.2 Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm là góp phần xây dựng đời sống văn hóa mới ở vùng đồng bào Chăm
Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là một trong những chủ trương lớncủa Đảng và Nhà nước đã được đặt ra từ Đại hội V của Đảng Đây là một chủtrương quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và pháttriển văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm nền tảng tinh thần của xãhội, tạo động lực để đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới của đất nước
Đại hội XI của Đảng khẳng định:
Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc, vừa kế thừa, phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹpcủa cộng đồng các dân tộc Việt Nam Tiếp tục củng cố và xâydựng môi trường văn hoá lành mạnh, đưa phong trào toàn dânđoàn kết xây dựng đời sống văn hoá đi vào chiều sâu, thiết thực,hiệu quả [18, tr.75]
Đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống xã hội phản ánh nhu cầuvăn hoá của xã hội Nhu cầu của xã hội có hai loại cơ bản: nhu cầu vật chất vànhu cầu tinh thần, đáp ứng nhu cầu đó có các sản phẩm văn hoá vật thể và phivật thể Sản phẩm văn hoá vật thể là loại sản phẩm văn hoá tồn tại hữu hình