1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn quận hà đông hiện nay

100 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Tác Quản Lý Nhà Nước Đối Với Hoạt Động Tôn Giáo Trên Địa Bàn Quận Hà Đông Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Quản Lý Nhà Nước
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Đông
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 459,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, khối đại đoàn kết toàn dân,đoàn kết lương giáo được mở rộng và tăng cường; các tôn giáo hoạt động tự dotheo pháp luật, tín đồ các tôn giáo phấn đấu sống “tốt đời, đẹp đạo”, xây dự

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giữa nhà nước và tín ngưỡng, tôn giáo có mối quan hệ khăng khít vớinhau Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của nhân dân và các triều đạiphong kiến Việt Nam Dưới thời Bắc thuộc, Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáovới tính cách là một tôn giáo được du nhập Các tôn giáo lúc đó có quan hệvới chính trị, đó là chính trị đô hộ của người phương Bắc

Năm 1533, đạo Công giáo bắt đầu truyền bá vào nước ta Song với vaitrò của Nho giáo và hoàn cảnh thực tế của nền chính trị, về cơ bản các Nhànước chính trị không chấp nhận Công giáo bị người đương thời nhận thấy cónhiều nội dung trái với văn hoá truyền thống của dân tộc, hơn nữa, hệ tưtưởng Nho giáo khi đó mặc dù đã suy tàn nhưng vẫn được đông đảo tầng lớptrí thức, quan lại chính trị lưu giữ và tôn thờ

Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam trở thành người lãnh đạo cách mạngnước ta, mối quan hệ giữa chính trị với tôn giáo được giải quyết và tiến hànhdựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin Đó là việc tôn trọngquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; tách tôn giáo khỏi ảnh hưởng và sự lợi dụngcủa chính trị đế quốc thực dân; đoàn kết lương - giáo, đoàn kết giữa các tôngiáo khác nhau, vì nền độc lập tự do của dân tộc Mặt khác, đồng bào các tôngiáo ở nước ta cũng đã tham gia tích cực vào sự nghiệp cách mạng giành độclập dân tộc, thống nhất đất nước

Ngày nay, thời kỳ phát triển mới đã và đang mở ra đối với Việt Namthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh toàncầu hoá Đồng bào tôn giáo và giáo hội các tôn giáo ở nước ta khẳng định lậptrường đi theo định hướng phát triển đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội doĐảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Vì thế, mối quan hệ giữa tôn giáo vớichính trị có sự đồng thuận cao, đó là việc, chính trị bảo đảm quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo bằng Hiến pháp, pháp luật và bằng mọi hoạt động của bộ

Trang 2

máy chính trị trong toàn bộ hệ thống chính trị Từ đó, khối đại đoàn kết toàn dân,đoàn kết lương giáo được mở rộng và tăng cường; các tôn giáo hoạt động tự dotheo pháp luật, tín đồ các tôn giáo phấn đấu sống “tốt đời, đẹp đạo”, xây dựngquê hương, đất nước giàu mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Từ mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị ở nước ta đã và đang đặt ramột số vấn đề đối với các cơ quản quản lý nhà nước, trước hết là đối với lựclượng lãnh đạo, quản lý xã hội

Cần tăng cường công tác nghiên cứu về tôn giáo học nói chung và vềmối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị nói riêng, trên nền tảng là chủ nghĩaMác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, nhằm làm cơ sở lý luận chocông tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước

Thường xuyên tiếp cận đến vấn đề chính trị và tôn giáo ở các nướctrên thế giới hiện nay, xem đó là một tham khảo không thể thiếu và có ý nghĩakhông nhỏ đối với công tác tôn giáo ở nước ta

Chủ động tự giác trong việc làm ổn định tình hình tôn giáo, loại bỏnhững nhân tố chính trị phản động lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng.Tăng cường vai trò và trách nhiệm của từng tổ chức chính trị trong hệ thốngchính trị vào việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tínngưỡng tôn giáo của nhân dân Đồng thời thường xuyên quan tâm đến công tácvận động tín đồ, chức sắc các tôn giáo, để họ không chỉ hoàn thành nghĩa vụcông dân mà còn làm tròn bổn phận của người có đạo đối với giáo hội của mình

Luôn nâng cao cảnh giác cách mạng, kịp thời đấu tranh chống địch lợidụng tôn giáo phá hoại chế độ chính trị do Đảng lãnh đạo

Hơn hẳn các mối quan hệ của tôn giáo với các lĩnh vực khác, mối quan

hệ giữa tôn giáo với chính trị có nội dung rất đa dạng trên cả phương diệnnhận thức cũng như thực tiễn ở nước ta, phát triển nhận thức về bản chất,tính quy luật của mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị là một yêu cầu phải

có, không dừng lại đối với ngành tôn giáo học, mà rất quan trọng là đối với

Trang 3

đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo Từ đó là cơ sở cần thiết cho việc làmsâu sắc thêm chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo dưới thời kỳ phát triểnmới hiện nay, góp phần làm ổn định chính trị, xã hội, tạo tiền đề cho sự pháttriển kinh tế và các lĩnh vực xã hội khác.

Việt Nam là nước đa dân tộc, đa tôn giáo và văn hóa Lịch sử tôn giáo ởViệt nam lâu đời, phát triển đan xen, hòa đồng trên cơ sở tâm thức tôn giáo cởi

mở của dân tộc Về mặt lý thuyết, trong lịch sử Việt nam chưa bao giờ có mộttôn giáo thực sự là “quốc giáo”, kể cả phật giáo ở thế kỷ XI-XIII; sau này, dùNho giáo có là rường cột tư tưởng chính trị cho chế độ phong kiến, nhưng

nó lại không hoàn toàn là một tôn giáo Về bản chất, quan hệ giữa Nhànước- tôn giáo ở nước ta hiện nay không có mâu thuẫn đối kháng về lợi ích.Chủ thể quản lý (Nhà nước), khách thể quản lý (cá nhân và tổ chức tôn giáo)ngày càng xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ mỗi bên, hướng đến đích chung

là xây dựng “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vìdân” Hơn thế nữa, Nhà nước ta hiện nay ngày càng có khả năng sử dụng

“lực lượng tôn giáo” và phát huy những mặt tích cực của nó trong quá trìnhxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Cũng nhờ đó, xuhướng đồng hành với dân tộc đang thể hiện rõ trên lĩnh vực pháp lý và cáchoạt động tôn giáo ngày càng vận hành đúng trong khuôn khổ Hiến pháp vàpháp luật của nhà nước

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo có nhiều điểm mới,trải qua 83 năm xây dựng và trưởng thành, chưa có thời kỳ lịch sử nào màĐảng ta lại có hệ thống quan điểm, chủ trương thể hiện sự vận dụng sáng tạochủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo như thời kỳ này.Nhận thức, quan điểm và chính sách tôn giáo của Đảng, nhà nước ta về tôngiáo và công tác tôn giáo thời kỳ thời kỳ 1990-2006 có nhiều điểm mới đượcđúc rút từ những bài học ở nhiều giai đoạn lịch sử, cũng như sự biến động củathế giới đương đại

Trang 4

Văn kiện Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân ” Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác tôn giáo, những năm qua,

Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết và chính sách về tínngưỡng, tôn giáo, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của đồng bào các tôn giáo,đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, đồng bào các tôngiáo ngày càng tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng “sống tốt đời, đẹpđạo” hăng hái thi đua lao động sản xuất, xây dựng khối đại đoàn kết, góp phầnxây dựng quê hương, đất nước Để đạt được những kết quả quan trọng này,phải khẳng định rằng có sự tham gia và đóng góp tích cực của công tác tưtưởng trong vấn đề quản lý xã hội về tôn giáo

Thời gian qua, công tác tư tưởng đã bám sát yêu cầu, nhiệm vụ cáchmạng, truyền tải nhiều chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luậtcủa Nhà nước về tôn giáo đến với các tầng lớp nhân dân, nhất là những nơi cóđông đồng bào các tôn giáo Bằng nhiều hình thức hoạt động, công tác tư tưởng

đã chú trọng tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc, cổ vũ phong trào thi đua, chủ động nắm bắt tư tưởng và dư luận xãhội, kịp tham mưu với cấp ủy, chính quyền các giải pháp sát, đúng về công táctôn giáo, tích cực đấu tranh với những ý đồ lợi dụng tôn giáo của các thế lựcthù địch

Trong đó phải kể đến công tác vận động quần chúng, đồng bào có đạo,nhất là khi có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 92/2012/NĐ-CPcủa Chính phủ đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo phấn khởi, tin tưởng vào Đảng

và Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước do Mặt trận Tổquốc các cấp phát động, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giữ gìn an ninhchính trị, trật tự và an toàn xã hội

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”trong thời gian qua đã phát huy nhiều yếu tố tích cực trong đồng bào tôn giáo,

Trang 5

làm chuyển biến mạnh mẽ về mặt nhận thức trong đồng bào tôn giáo, góp phần

cổ vũ động viên các tầng lớp nhân dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân

cư, tạo thành phong trào rộng lớn trong toàn xã hội

Các hoạt động truyền đạo trái phát luật, khiếu kiện đã có chiều hướnggiảm Công tác vận động quần chúng đi vào chiều sâu đã đạt được những kếtquả đáng khích lệ Sự có mặt đông đảo cán bộ trong các cơ quan Đảng, chínhquyền là người có đạo là điều kiện thuận lợi cho công tác tư tưởng để triển khaicác chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đồngthời góp phần phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với các thế lực lợi dụng tự dotôn giáo để hoạt động chống phá cách mạng, ổn định tình hình tư tưởng trongĐảng và các tầng lớp nhân dân, củng cố niềm tin của đồng bào các tôn giáo đốivới Đảng, điều đó càng khẳng định rõ Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng tự

do tín ngưỡng, tôn giáo

Tuy nhiên, vấn đề quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo và việc pháthuy vai trò của công tác tư tưởng trong quản lý xã hội về tôn giáo thời gian quavẫn còn hạn chế, bất cập Đó là, một số cấp ủy đảng, chính quyền ở cơ sở chưanhận thức đúng vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác tư tưởng trongquản lý xã hội về tôn giáo, việc tuyên truyền về chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước ta về tôn giáo ở một số nơi còn mang tính hình thức, chưasâu rộng, chưa sát đối tượng, chưa phù hợp với đặc điểm tâm lý, trình độ đồngbào dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào có đạo

Công tác đấu tranh chống các luật tục, các hiện tượng khiếu kiện vềđất đai, các quan điểm sai trái, các luận điệu phản động chưa kịp thời, thiếusắc bén, có nơi còn chủ quan nóng vội Trình độ năng lực và sự hiểu biết vềtôn giáo của một bộ phận đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng còn yếu Sựphối hợp giữa các lực lượng làm công tác tư tưởng ở nơi có đông đồng bàotôn giáo, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số còn hạn chế, chưa đồng bộ vàthường xuyên

Trang 6

Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, các thế lực thù địch vẫn đang thực hiện

“diễn biến hòa bình” trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, nhất là trong lĩnh vựcdân tộc, tôn giáo Hoạt động tôn giáo trái phép đang diễn ra ở nhiều nơi, tồn tạiviệc truyền đạo trái pháp luật gắn với ý đồ chính trị phản động của một số phần

tử đội lốt tôn giáo, lợi dụng tự do tín ngưỡng kích động, lôi kéo một bộ phậnnhân dân sinh hoạt đạo bất hợp pháp, gây rối, chia rẽ tôn giáo này với tôn giáokhác, giữa đồng bào có tôn giáo và không tôn giáo, đặc biệt âm mưu chia rẽđồng bào tôn giáo với Đảng, Nhà nước nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dântộc, gây mất ổn định chính trị

Những vấn đề phức tạp đó đã gây không ít khó khăn trong việc quản lý

xã hội về tôn giáo và ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tư tưởng trong quầnchúng nhân dân nói chung và đồng bào các tôn giáo nói riêng

Sau gần 30 năm đổi mới, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủtrương, chính sách đối với công tác tôn giáo, nhưng thực tiễn còn nhiều bấtcập, chưa có sự thống nhất từ trung ương đến địa phương và giữa các địaphương cũng còn nhiều cách giải quyết khác nhau Điều đó đã tạo sơ hởcho các thế lực thù địch lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chínhsách của Đảng, thực tiễn đó đã đặt ra cho công tác nghiên cứu cần phảitổng kết và rút ra những kết luận bổ ích nhằm giúp cho các cấp ủy Đảng vàchính quyền nhìn nhận rõ hơn vấn đề quản lý nhà nước về hoạt động tôngiáo trong tình hình hiện nay

Mặt khác vào những năm gần đây, tình hình tôn giáo trên thế giới cónhiều diễn biến phức tạp Nằm trong dòng chảy của lịch sử nhân loại, ViệtNam là một quốc gia đa tôn giáo, bên cạnh các tôn giáo lớn có tổ chức với sốlượng tín đồ đông đảo còn có các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian truyền thống.Tôn giáo đã và đang trở thành nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,các hoạt động của tôn giáo được khôi phục và phát triển mạnh mẽ, số ngườitheo tôn giáo ngày càng tăng Hiện nay, ngoài xu hướng hành đạo đồng hành

Trang 7

cùng dân tộc, thuần túy tôn giáo, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật cũng đã xuấthiện các hoạt động tôn giáo không bình thường, có phần lấn lướt chính quyền,

vi phạm một số qui định của Nhà nước về hoạt động tôn giáo, một số chức sắctôn giáo ngấm ngầm hoạt động chống đối chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước, có tư tưởng vọng ngoại, tìm mọi cách cung cấp thông tin sai lệch

về tình hình tôn giáo ở trong nước;

Khoảng một thập kỷ trở lại đây tôn giáo đã và đang phục hồi, phát triển

ở nhiều vùng miền khác nhau của Tổ quốc Với vị trí đặc thù là một quận nằmtrong vùng trung tâm về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, quận Hà Đông có

02 tôn giáo chính là Phật giáo và Công giáo, với số lượng tín đồ chức sắc cáctôn giáo đông đảo; Bên cạnh đó đạo Tin lành đang trong quá trình hình thành

và phát triển Chịu nhiều ảnh hưởng về tình hình tôn giáo của các quận nộithành lân cận như Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa Các tôn giáo ở HàĐông đều có đường hướng tập trung củng cố đức tin, tuyên truyền phát triểnđạo Tuy nhiên tình hình hoạt động tôn giáo ở Hà Đông cũng có nhiều biểuhiện phát triển theo chiều hướng phức tạp như việc kích động giáo dân khiếukiện đòi đất trái pháp luật của Nhà thờ Hà Đông tại Số 4 Hoàng Văn Thụ hiện

là trụ sở Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân quận, xưởng in công ty cổphần Báo Hà Nội mới; việc mở lớp trẻ mầm non tại nhà thờ Nhân Huệphường Đồng Mai, các hoạt động xây dựng trái phép; lấn lướt chính quyềncủa một số chức sắc, nhà tu hành cực đoan; các thế lực thù địch cũng tăngcường lợi dụng vấn đề tôn giáo phục vụ cho ý đồ chính trị, làm ảnh hưởngđến tình hình an ninh chính trị, an toàn xã hội gây khó khăn trong công tácquản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổnđịnh an ninh chính trị

Từ những luận cứ trên đây, tác giả chọn đề tài: “Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn quận Hà Đông hiện nay” làm

luận văn tốt nghiệp

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm qua các công trình nghiên cứu về tôn giáo, tínngưỡng được quan tâm nhiều hơn và được xem xét trên nhiều bình diện khácnhau như: Tôn giáo học, khoa học xã hội, văn hoá dân gian, dân tộc học, quản

lý nhà nước Trong mỗi bình diện đó, vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng được đềcập ở những mức độ khác nhau Đáng kể là những công trình sau đây:

- Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt nam, PGS.TS

Nguyễn Đức Lữ (chủ biên), Nxb Tôn giáo (2007) Công trình đề cập đến chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng; tôn giáotrên thế giới, các tôn giáo lớn ở Việt Nam, chính sách và việc thực hiện chínhsách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

- Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, PGS.TS

Nguyễn Đức Lữ (chủ biên), Nxb Tôn giáo (2005) Công trình đề cập đếnnhững bài viết về vai trò tín ngưỡng dân gian trong đời sống tinh thần ngườidân Việt Nam; một số lễ hội điển hình trong tín ngưỡng dân gian Việt nam;thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở nước ta

- Những thay đổi của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Viện nghiên cứu tôn giáo và tín ngưỡng, Kỷ yếu hội thảo

khoa học (2006) Công trình đề cập gồm những bài viết của nhiều tác giảnghiên cứu về sự phát triển quan điểm về tôn giáo trong quá trình đổi mới đấtnước; đời sống tín ngưỡng Việt Nam trước tác động của sự biến đổi xã hội thếgiới và trong nước; đổi mới quản lý nhà nước đối với tôn giáo trong thời kỳđổi mới

- Thực trạng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Hà Nội hiện nay, Phạm Thị

Thuận, Viện nghiên cứu tôn giáo và tín ngưỡng, Kỷ yếu hội thảo khoa học(2007) Công trình đề cập đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thực trạng, xu hướngvận động và những vấn đề đặt ra, một số phương hướng và giải pháp nhằm giữgìn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 9

- Thuật ngữ tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Nguyễn Văn Đoàn, Viện

nghiên cứu tôn giáo và tín ngưỡng, Kỷ yếu hội thảo khoa học (2008)

- Mai Thanh Hải (1998), Các tôn giáo trên thế giới và Việt Nam, Nxb.CAND và TS.Nguyễn Thanh Xuân (2005), Một số tôn giáo ở Việt Nam,

Nxb.Tôn giáo, tuy là hai cuốn sách của hai tác giả khác nhau, nhưng về cơ bản

đã cung cấp cho người đọc những kiến thức cơ bản về lịch sử, giáo lý, cơ cấu

tổ chức của các tôn giáo trên thế giới và Việt Nam

- GS.Đặng Nghiêm Vạn (2012), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb.Chính trị, là cuốn sách cung cấp những kiến thức căn

bản và quan trọng về lý luận tôn giáo học mác-xít đồng thời người đọc có thểnhìn nhận được khái quát thực trạng một số tôn giáo ở Việt Nam

GS.TS Đỗ Quang Hưng (2003) với hai cuốn sách: Nhà nước và giáo hội và Bước đầu tìm hiểu mối quan hệ nhà nước và giáo hội, Nxb.Tôn giáo,

tác giả đã lý giải sâu sắc về vai trò, chức năng và mối quan hệ của nhà nướcthế tục đương đại đối với tổ chức giáo hội các tôn giáo

- PGS.TS Nguyễn Hồng Dương (2012) Công giáo thế giới những tri thức

cơ bản và Một số vấn đề cơ bản của Công giáo ở Việt Nam hiện nay, Nxb.Từ

điển Bách khoa Đây là hai cuốn sách không thể bỏ qua khi nghiên cứu về nhữngtín điều căn bản, lễ nghi, hệ thống tổ chức và những vấn đề liên quan đến Cônggiáo thế giới và Giáo hội Công giáo ở Việt Nam

Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2002), Kỷ yếu

nghiên cứu đề tài nhánh Thực trạng và xu hướng phát triển Công giáo ở nước

ta, thuộc đề tài độc lập cấp nhà nước Như tên gọi, đề tài đã luận chứng một

cách khoa học về thực trạng và dự báo rõ xu hướng phát triển của Công giáo ởnước ta trong thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập quốc tế

- PGS.TS Hoàng Minh Đô (2007), Dòng tu Công giáo ở nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý nhà nước Đề tài cấp Bộ,

Viện Nghiên cứu tôn giáo và tín ngưỡng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí

Trang 10

Minh Đề tài đã trình bày rõ thực trạng, phân tích những vấn đề đặt ra và đềxuất giải pháp giải quyết vấn đề dòng tu ở Việt Nam.

- TS.Nguyễn Hồng Dương (2000), Hoạt động tôn giáo và chính trị của Thiên Chúa giáo thời kỳ Mỹ - Ngụy (1954 - 1975), Nxb.Tp Hồ Chí Minh; Kỷ yếu hội thảo khoa học 11 - 12/3/1988, Một số vấn đề lịch sử Đạo Thiên Chúa trong lịch sử dân tộc Việt Nam, là tập kỷ yếu do Ủy ban Khoa học xã hội Việt

Nam và Ban Tôn giáo Chính phủ phối hợp tổ chức, nhân sự kiện Vatican phong

Thánh tử đạo cho 117 người tại Việt Nam; TS.Đỗ Quang Hưng (1990), Một số vấn đề lịch sử Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Những công trình nêu trên đã cung cấp những tư liệu chân thực về hoạtđộng chính trị liên quan đến Giáo hội Công giáo ở nước ta, nhất là ở miềnNam trong công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc;

- Nguyễn Đình Đầu (1993), Công giáo ở Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh, Nxb.Thành phố Hồ Chí Minh; Linh mục Cao Thế Dung - Bộ Ngoại giao Vatican (2003), Việt Nam Công giáo sử Tân Biên (1553 - 2000), gồm 3

quyển, cơ sở Truyền Thông Dân Chúa (Hoa Kỳ)

- Linh mục Trần Tam Tỉnh (1998), Thập giá và lưỡi gươm, Nxb.Trẻ; Linh mục Trương Bá Cần có các công trình sau: Lịch sử Công giáo ở Việt Nam (1998), 2 tập, Nxb.Tôn giáo; Việc thành lập Giáo phận Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh (1996), và Công giáo Việt Nam sau quá trình 50 năm 1945 -

1995, Nguyệt san Công giáo và Dân tộc (7 - 8)

- Hội đồng Giám mục Việt Nam (1983), Giáo luật Công giáo, Nxb Tôn giáo; Hội đồng Giám mục Việt Nam (2004) Niên giám Giáo hội Công giáo Việt Nam, Nxb Tôn giáo.

Tòa Giám mục Xuân Lộc (2003), Kỷ yếu Giáo phận Xuân lộc

1965-2003, Nxb Tôn giáo.

Những công trình trên là những nghiên cứu của giới Công giáo viết vềlịch sử Công giáo ở Việt Nam được trình bày theo quan điểm của Giáo hội

Trang 11

Công giáo Vì vậy, khi nghiên cứu, kế thừa những công trình ấy cần phảikhách quan, thận trọng.

- PGS.TS Nguyễn Hồng Dương có các công trình: Tổ chức xứ, họ đạo Công giáo ở Việt Nam (2011), Nxb.KHXH; Tìm hiểu tổ chức xứ, họ đạo Công giáo ở Miền Bắc từ thế kỷ thứ XVII đến đầu thế kỷ thứ XX (3/2002), Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo; Tìm hiểu tổ chức xứ, họ đạo Công giáo Nam bộ (đến đầu thế kỷ thứ XX)- (4/2002), Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo; TS Nguyễn Phú Lợi, (1/2009) Tổ chức xứ đạo trong Giáo hội Công giáo, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo

Những tác phẩm này, tuy chủ yếu nghiên cứu về tổ chức cơ sở của Giáohội Công giáo, nhưng ít nhiều có liên quan đến tổ chức hành chính đạo cấptrên của giáo xứ - tức cấp giáo phận, ở cả 02 miền Nam và Bắc Việt Nam, làm

cơ sở để người viết luận văn có thể so sánh, đối chiếu

- GS.TS Đỗ Quang Hưng (2005), Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam- lý luận và thực tiễn,Nxb Lý luận chính trị; Nguyễn Thanh Xuân (2005) Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo; Lê Hữu Nghĩa

và Nguyễn Đức Lữ (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, Nxb Tôn giáo; PGS TS Ngô Hữu Thảo- chủ nhiệm đề tài(1998), Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo trong thời kỳ mở rộng giao lưu quốc tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, đề tài khoa học cấp bộ; PGS TS Hoàng Minh Đô- Chủ nhiệm đề tài (2002), Đạo Tin lành ở Việt Nam- Thực trạng, xu hướng phát triển và những vấn đề đặt ra hiện nay trong công tác lãnh đạo, quản lý, thuộc đề tài độc lập cấp nhà nước,…

Về vấn đề liên quan trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước đối vớihoạt động tôn giáo có các đề tài sau:

Ban Tôn giáo Chính phủ (2005), Tập bài giảng tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Việt Nam; Nxb Tôn giáo;

Bùi Đức Luận (chủ biên), Tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo, Nxb Tôn giáo, 2005;

Trang 12

Hoàng Công Khôi (2001), Quản lý nhà nước đối với Đạo Thiên chúa giáo trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Ngoài ra có các công trình nghiên cứu như "Tìm hiểu mặt chính trị củavấn đề Thiên chúa giáo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay", "Công tác vậnđộng quần chúng theo đạo thiên chúa ở miền Bắc nước ta hiện nay"; " Một

số vấn đề lịch sử thiên chúa giáo ở Việt Nam" (Đỗ Quang Hưng); "Âm mưulợi dụng thiên chúa giáo của chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam";

"Đời sống đạo của người dân theo đạo Công giáo ở Thành phố Hà Nội vàThành phố Hồ Chí Minh" (Nguyễn Hồng Dương); "Vận dụng quan điểm khoahọc về tôn giáo trong công tác đối với thiên chúa giáo hiện nay ở Việt Nam"của tiến sĩ Nguyễn Văn Long và nhiều công trình của các tác giả Đỗ QuangHưng, Phong Hiền, Vũ Khiêu, Quang Huy, Nguyễn Đức Lữ, Nguyễn Hữu Vuicùng các nhà nghiên cứu ở Ban tôn giáo chính phủ, viện nghiên cứu tôn giáo,trung tâm khoa học về tín ngưỡng và tôn giáo luận văn thạc sỹ nghiên cứu

về công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo tỉnh Lạng Sơn, quậnHoàn Kiếm…

Để hoàn thành luận văn tác giả đã kế thừa có chọn lọc những thông tin

tư liệu nêu trên ở nhiều khía cạnh để làm rõ vấn đề quản lý nhà nước về hoạtđộng tôn giáo trên địa bàn quận Hà Đông hiện nay

Tính đến nay chưa có công trình khoa học nào trực tiếp nghiên cứu vềcông tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở quận Hà Đông Với

đề tài này, học viên mong muốn sẽ đóng góp một đề tài nghiên cứu khoa học

có tính khả thi, vận dụng lâu dài đối với thực tiễn công tác quản lý nhà nước

về hoạt động tôn giáo trên địa bàn quận

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

Đánh giá thực trạng tình hình tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đốivới hoạt động tôn giáo Hà Đông, từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị

Trang 13

nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địabàn quận.

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục tiêu trên luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Nhận thức chung về công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôngiáo trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

- Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trênđịa bàn quận Hà Đông và những vấn đề đặt ra

- Giải pháp tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động tôn giáo trênđịa bàn quận Hà Đông

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Là công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bànquận Hà Đông

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trên địa bàn quận Hà Đông.

Về thời gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn từ

sau khi đất nước tiến hành đổi mới (Đại hội VI năm 1986) nhưng tập trungchủ yếu từ năm 2003 đến nay, đặc biệt là từ giai đoạn hợp nhất Hà Tây và HàNội (2008-2013)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo vàquản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở quận Hà Đông

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Kết hợp các phương pháp lịch sử và lôgíc, phương pháp điều tra xã hộihọc, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, thống kê và tổng hợp, đặcbiệt chú trọng đến phương pháp tổng kết thực tiễn

Trang 14

6 Đóng góp về khoa học của luận văn

- Đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu, tổng kết đánh giá vềtình hình hoạt động của các tôn giáo trên địa bàn quận Hà Đông, cũng nhưcông tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở quận Hà Đông

- Trên cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo,bước đầu luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề cấp bách đang đặt ra trong quản

lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở quận Hà Đông

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản có tính khả thi góp phần nâng caohiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở quận Hà Đông

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để xây dựng chủ trương, biệnpháp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ởquận Hà Đông

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn được chia ra làm 3 chương, 6 tiết

Trang 15

Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN

QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TÔN GIÁO

1.1.1 Khái niệm tôn giáo

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, trong đời sống hàngngày, tôn giáo là một khái niệm dùng để khái quát toàn bộ các hình thức tôngiáo cụ thể khác nhau đang tồn tại trong xã hội như Ki tô giáo, Công giáo, Tinlành, Phật giáo, Hồi giáo, Cao đài, Hòa hảo Tôn giáo ra đời từ rất sớm cùng

sự xuất hiện của con người, điều đó chứng tỏ tôn giáo đã có một thời gianhình thành, phát triển và tồn tại hàng ngàn năm cùng với với chiều dài củalịch sử Giữa các tôn giáo cụ thể, sự sùng bái, thờ cúng, các hình thức lễ nghi,cách tổ chức có sự tương đồng rất rõ đó là sự thần bí, nghi lễ thiêng, tuynhiên cũng có sự biến thiên khác nhau, rất đa dạng, phức tạp

Ngược dòng lịch sử của tôn giáo từ khi xuất hiện đến nay có thể thấycác hình thức tôn giáo nguyên thủy tôn thờ một dạng vật chất nào đó mà conngười cảm thấy có sự thần bí, có tính siêu nhiên như: tô tem giáo, bái vậtgiáo, ma thuật giáo Cùng với lao động sản xuất, thực tiễn của quá trình laođộng sản xuất tạo ra của cải vật chất duy trì sự sống, nhận thức của con ngườingày càng được nâng cao, khi con người xuất hiện ý niệm “thế giới bên này”

và “thế giới bên kia”, tôn giáo chính thức chuyển sang “vật linh giáo”, tôn thờyếu tố linh hồn và hướng tới “thế giới bên kia” một thế giới hư ảo, thế giớisiêu linh, đã làm cơ sở cho nhiều tôn giáo tiếp sau xuất hiện Một số tôn giáo

có ý niệm, niềm tin, dẫn đến tôn thờ “Chúa trời”, “Đấng cứu thế”, thượng đế,thánh thần như đạo Công giáo, Tin lành Có tôn giáo lại tôn thờ nhữngnhân vật, những con người có thật đã mở ra con đường chân tu thoát tục cho

Trang 16

con người như Phật giáo nguyên thủy Những điều đó cho thấy tôn giáo luônvận động biến đổi, phát triển không ngừng cùng với thay đổi nhận thức củacon người.

Cùng với sự biến động của lịch sử, sự khác biệt về vị trí địa lý đã sảnsinh ra nhiều tôn giáo khác nhau, đồng thời cũng tồn tại nhiều quan niệm khácnhau về tôn giáo:

Đại từ điển tiếng Việt ghi tôn giáo là: “hình thái ý thức xã hội nhờ vàolòng tin và sự sùng bái thượng đế, thần linh” của con người

Trong tác phẩm “Chống Đuy rinh”, Ăng ghen viết “Mọi tôn giáo chẳngqua là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc con người của những lực lượng bênngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh, trong đó lựclượng ở trần thế mang hình thức lực lượng siêu nhiên trần thế”

Tôn giáo theo nghĩa đầy đủ có những yếu tố cấu thành cơ bản của nó: Một là, xuất hiện hình thành niềm tin và sự tôn thờ của con người, củacộng đồng người đối với lực lượng siêu nhiên - “Đấng siêu nhiên” (như Thích

ca mầu ni của Phật giáo, Đức chúa Jesus - đấng cứu thế của Ki tô giáo, ThánhAla của Hồi giáo ) Mỗi tôn giáo có thể tôn thờ một hoặc một số “ đấng siêunhiên” trong niềm tin và sự tôn thờ của tín đồ là “đấng tối cao” có vai trò chiphối và quyết định đối với số phận của con người cả trong cuộc sống hiện tại

và cả khi đã sang “thế giới bên kia”

Hai là, hình thành hệ thống biểu tượng, hình thức lễ nghi, phương tiện

để tín đồ giao tiếp với “ đấng siêu nhiên” bao gồm: nhà thờ, đền đài, thánhthất, biểu tượng kiến trúc tượng đài “đấng siêu nhiên”, cùng với các hình thức

lễ nghi: cầu nguyện, tâm niệm, tụng kinh, làm lễ, rước sách, nhạc hát Đó làphương tiện để thực hành tôn giáo, để tín đồ chiêm nghiệm, thể hiện lòngngưỡng mộ, sự thờ phụng thiêng liêng, biểu thị lòng tin tưởng cũng như cầuxin được ban phước lành, được hưởng ân huệ may mắn, được siêu thoát linhhồn Điều đó cho thấy, mỗi tôn giáo đều chú trọng xây dựng hình thành hệ

Trang 17

thống biểu tượng, hình thức lễ nghi tôn giáo của mình mang tính thiêng liêng,tôn nghiêm, thuyết phục và thu hút tín đồ.

Ba là, có hệ thống giáo thuyết phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan,các niệm về đạo đức, luân lý của tôn giáo Hệ thống giáo thuyết bao gồm: cácquan niệm, truyền thuyết, giáo lý, giáo luật, kinh thánh của tôn giáo Hệthống giáo thuyết làm cơ sở để xây dựng tôn giáo, hướng cuộc sống và hoạtđộng của những người tu hành và các tín đồ theo các chuẩn mực, mục đích

mà các tôn giáo đã xác định Trong thực tế, giáo thuyết tôn giáo không phảibất biến mà sự bổ sung, biến đổi để thích nghi với điều kiện chính trị, kinh tế,văn hóa xã hội, phong tục tập quán, truyền thống đạo đức của dân tộc, quốcgia, thời đại

Bốn là, có tổ chức quản lý, hình thành cộng đồng tôn giáo Tôn giáonào hình thành, tồn tại cũng thường phải có những người chuyên hành đạo và

hệ thống tín đồ theo tôn giáo của mình Với cộng đồng đó, nhất định phải có

tổ chức quản lý Mỗi tôn giáo có hình thức tổ chức quản lý và mối quan hệcộng đồng tôn giáo riêng của mình Bộ máy tổ chức quản lý thường gọi là

“giáo hội”, những người chuyên hành đạo thường gọi là các chức sắc tôn giáo(như giám mục, linh mục, mục sư, hòa thượng, thượng tọa, ) Đó là nhữngngười tổ chức truyền đạo, phát triển tín đồ, điều hành quá trình hành đạo,hướng dẫn tín đồ thỏa mãn nhu cầu, nguyện vọng, niềm tin tôn giáo của mình.Tín đồ tôn giáo là những người dân có niềm tin sùng bái, tôn thờ các “đấngsiêu nhiên”, tuân theo các quy định của tổ chức tôn giáo Tín đồ cùng chứcsắc có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành mức độ “sầm uất” của tôn giáo, trởthành một lực lượng xã hội tồn tại khách quan

Như vậy, trên phương diện quản lý nhà nước đối với tôn giáo cần lưu ýkhi nói đến một tôn giáo hoàn chỉnh phải chú ý đến những dấu hiệu cơ bảnsau: Tôn giáo là cộng đồng người có chung niềm tin vào một thế lực siêunhiên, huyền bí, có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi, có tổ chức

Trang 18

1.1.2 Khái niệm hoạt động tôn giáo

Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo 21/2004/PL-UBTVQH11, Điều 5, đãkhẳng định: “Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáoluật, quản lý tổ chức của tôn giáo

Việc truyền bá giáo lý, giáo luật (còn gọi là truyền đạo) là tuyên truyềnnhững lý lẽ về nguồn gốc sự ra đời, luật lệ của tổ chức tôn giáo Thông quađộng truyền giáo, niềm tin tôn giáo của tín đồ được củng cố, luật lệ trong tôngiáo của tín đồ được thực hiện Đối với những người chưa phải tín đồ, hoạtđộng truyền giáo giúp họ hiểu, tin theo tôn giáo và thông qua hoạt độngtruyền đạo để phát triển thêm số lượng tín đồ

Thực hành giáo luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của tín

đồ, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo thể hiện sự tuân thủ giáo luật, thỏa mãnđức tin tôn giáo của cá nhân tôn giáo hay cộng đồng tín đồ

Hoạt động quản lý tổ chức tôn giáo (còn gọi là quản đạo) nhằm thựchiện quy định của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôngiáo, đảm bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo

Tuy nhiên, trong các hoạt động này việc phân định ranh rới giữa hoạtđộng truyền đạo với hoạt động hành đạo cũng chỉ là tương đối, có không íttrường hợp trong hoạt động hành đạo có truyền đạo

1.1.3 Khái niệm công tác tôn giáo

Hiện tại vẫn còn có ý kiến khác nhau về công tác tôn giáo, có quanniệm cho rằng đó là hoạt động riêng của cơ quan Nhà nước nhằm đấu tranhvới hoạt động lợi dụng tôn giáo Quan niệm khác cho rằng đó chính là hoạtđộng vận động quần chúng tín đồ của Mặt trận, các đoàn thể, tổ chức xã hội.Các quan niệm trên là không đầy đủ Trong thực tế, công tác tôn giáo baogồm rất nhiều nội dụng:

- Công tác vận động quần chúng tín đồ

- Công tác tranh thủ hàng ngũ chức sắc tôn giáo

Trang 19

- Công tác đối ngoại về tôn giáo.

- Công tác xử lý vi phạm pháp luật của các cá nhân và tổ chức tôn giáo

- Công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của nhà nước về tôn giáo

- Công tác nghiên cứu lý luận và tổ chức hoạt động thực tiễn trên lĩnhvực tôn giáo

Chủ thể của các hoạt động này là các cơ quan, ban ngành nhà nước; tổchức, đoàn thể xã hội, thuộc hệ thống chính trị của Đảng và nhà nước ta từtrung ương tới địa phương tiến hành

Như vậy, có thể thấy công tác tôn giáo là hoạt động của các cơ quanNhà nước, các tổ chức khác thuộc hệ thống chính trị tiến hành theo chứcnăng, nhiệm vụ của Đảng nhằm mục đích bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,tôn giáo của quần chúng đồng thời đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáochống phá Nhà nước

1.1.4 Khái niệm quản lý

Hiện nay khái niệm quản lý vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau Tùytừng mục tiêu nghiên cứu khác nhau, dưới các góc độ nghiên cứu hay cáchtiếp cận vấn đề khác nhau, người ta đưa ra những quan điểm khác nhau vềquản lý Có quan điểm coi quản lý là tiến trình bao gồm các khâu lập kếhoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong tổchức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức để đạt mục tiêu

đã định trước Cũng có quan điểm cho rằng quản lý là sự tác động định hướngbất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triểnphù hợp với những quy luật nhất định

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, song thuật ngữ quản lý đềuđược các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà quản lý thống nhất với hai nộidung cơ bản:

Thứ nhất, quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của

chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý

Trang 20

Thứ hai, mục tiêu quản lý là nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt động

(vận hành) phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã xác định ra từ trước

Nói đến quản lý trước hết đó là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp củachủ thể quản lý tới đối tượng quản lý Sự tác động này không phải mang tínhđơn lẻ, tự phát mà nó mang tính tổ chức, tính mục đích rõ ràng Mục đích màchủ thể quản lý đặt ra là hướng đối tượng quản lý hoạt động phù hợp với ý chícủa mình

Từ hai nội dung cốt lõi trên, có thể hiểu khái niệm về quản lý như sau:quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đốitượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra từ trước

1.1.5 Khái niệm quản lý nhà nước

Hoạt động quản lý xuất hiện từ rất lâu và bao gồm nhiều loại, trong đóquản lý xã hội là một dạng quản lý đặc biệt Quản lý xã hội xuất hiện từ khilao động của con người bắt đầu được xã hội hóa Quản lý xã hội là sự tácđộng có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành

vi hoạt động của con người phù hợp với ý chí nhà quản lý và quy luật kháchquan Quản lý xã hội do nhiều chủ thể tiến hành Khi nhà nước xuất hiện,những công việc quản lý xã hội quan trọng nhất do nhà nước đảm nhiệm-quản

lý nhà nước xuất hiện

Hiện nay theo cách hiểu thống nhất, khái niệm quản lý nhà nước đượchiểu theo hai nghĩa:

- Nghĩa rộng: Là dạng quản lý xã hội của nhà nước, sử dụng quyền lựcnhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của conngười, do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiếnhành để thực hiện các chức năng của nhà nước đối với xã hội

- Nghĩa hẹp: Là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước vớichức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quantrong hệ thống hành pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp)

Trang 21

1.1.6 Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

Từ việc tìm hiểu các khái niệm cơ bản về quản lý, quản lý nhà nước,tôn giáo, hoạt động tôn giáo có thể đưa ra những nhận định ban đầu về quản

lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo theo hai nghĩa như sau:

- Nghĩa rộng: Là quá trình dùng quyền lực nhà nước của các cơ quan

nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh, hướng các quátrình tôn giáo và hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáodiễn ra phù hợp với pháp luật và đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý

- Nghĩa hẹp: Là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp

luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (chính phủ và ủy ban nhân dâncác cấp) để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáocủa tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật

Tuy nhiên, trong thực tế khi xác định chủ thể quản lý nhà nước đối vớicác hoạt động tôn giáo người ta thường hiểu theo nghĩa hẹp, coi quản lý nhànước đối với các hoạt động tôn giáo chỉ là quá trình chấp hành và điều hànhcủa hệ thống cơ quan hành pháp để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọihành vi trong hoạt động tôn giáo Hiểu như vậy sẽ không thấy và phát huyđược vai trò của hệ thống cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp trong quản lýnhà nước đối với hoạt động tôn giáo, không đảm bảo thực thi đúng quy địnhpháp luật về tôn giáo

1.1.7 Mục tiêu, nguyên tắc và nội dung công tác quản lý nhà nước

về hoạt động tôn giáo

* Mục tiêu

Mục tiêu là cái hướng tới và cần đạt được Công tác quản lý nhà nước

về các hoạt động tôn giáo cần hướng tới và đạt được những mục tiêu chủ yếunhất sau đây:

Một là, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trước hết phải bảo

đảm được quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, đảm bảo cho cáchoạt động tôn giáo được diễn ra bình thường theo qui định của pháp luật

Trang 22

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản củacon người được Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1996) củaLiên hợp quốc ghi nhận Trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng giải phóngdân tộc, xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định bảo đảmquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, coi đó là một quyền cơ bản của công dân.Hiến pháp qua các thời kỳ 1946, 1954, 1980, 1992 và Hiến Pháp 1992 (sửađổi) đều ghi nhận: “công dân có quyền tư do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặckhông theo một tôn giáo nào Bộ luật Dân sự 1995, Điều 40 quy định: “cánhân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáonào” Cùng với bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, phảibảo đảm cho tổ chức và cá nhân tôn giáo được thực hiện các hoạt động hànhđạo, truyền đạo và quản lý tổ chức Quản lý nhà nước cần nhận thức đúng vàđầy đủ về hoạt động tôn giáo để có những biện pháp quản lý phù hợp, tránhcan thiệp vào công việc nội bộ của tôn giáo Trong hoạt động tôn giáo, các tổchức tôn giáo, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành phải tuân thủ các quy định củapháp luật, mọi hành vi vi phạm đều phải bị phê phán, nghiêm cấm và xử lýtheo quy định của pháp luật.

Hai là, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo phải phát huy được

những mặt tích cực, khắc phục được những hạn chế, tiêu cực của tôn giáo đốivới sự phát triển của xã hội

Vai trò tích cực và những hạn chế tiêu cực của tôn giáo trong công cuộcđổi mới ở nước ta là rất rõ, bởi vậy quản lý nhà nước đối với hoạt động tôngiáo phải phát huy những yếu tố tích cực thể hiện trong hoạt động tôn giáo.Tính hướng thiện, từ bi, bác ái, vì con người của tôn giáo và các giá trị đạođức của tôn giáo phải được khơi dậy trong ứng xử giữa con người với conngười trong xã hội Tạo điều kiện cho tổ chức cá nhân tôn giáo tham gia cùngNhà nước và xã hội giải quyết những vấn đề của xã hội như: vấn đề hoạt độnggiáo dục, y tế, cứu trợ thiên tai, từ thiện, nhân đạo, thông qua quản lý nhà

Trang 23

nước đối với hoạt động tôn giáo phải giúp cho quần chúng từng bước xóa bỏđược những nhận thức lệch lạc về thế giới và con người, những luật lệ khắtkhe trong tôn giáo Đặc biệt phải tăng cường đấu tranh chống lại những âmmưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, chống lại Đảng, Nhà nước, xâm hại đếncác quan hệ xã hội đã được nhà nước bảo hộ.

Ba là, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo phải thực hiện được

mục tiêu đoàn kết đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tínngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện nhiệm

vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Mục tiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo luôn là bài học quantrọng trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nước ta, là truyềnthống quý báu của dân tộc ta Đoàn kết tạo nên sức mạnh của dân tộc: “Đoànkết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công” Trongcông tác tôn giáo, mục tiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo càng quantrọng khi tôn giáo luôn là một trong những công cụ, phương tiện được các thếlực thù địch, phản động trong và ngoài nước lợi dụng chia rẽ dân tộc, chia rẽnhân dân với Đảng, với Nhà nước, chia rẽ người theo đạo và người khôngtheo đạo, thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình Nghị quyết số 25/NQ-TWngày 12/3/2003 của Ban chấp hành Trung ương Đảng coi mục tiêu đoàn kếtdân tộc, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôngiáo và đồng bào không theo tôn giáo là một quan điểm và chính sách lớntrong công tác tôn giáo, đồng thời còn có ý nghĩa chiến lược cơ bản, lâu dàitrong sự nghiệp cách mạng nước ta

Bốn là, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo phải đảm bảo sự

tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động tôn giáo

Tổ chức, cá nhân tôn giáo là một bộ phận của xã hội, được nhà nước thừanhận, phải đặt dưới sự quản lý của nhà nước Hoạt động tôn giáo phải tuân thủnhững quy định của nhà nước Mọi hành vi nhằm biến tôn giáo thành một lực

Trang 24

lượng đối trọng với nhà nước, thoát ly khỏi sự quản lý của nhà nước đều là bấthợp pháp Hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật mà nhà nước đãđặt ra đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật Khi vai trò của nhà nướctrong điều chỉnh các hoạt động tôn giáo được tăng cường, hiệu lực, hiệu quả củaquản lý nhà nước đối với lĩnh vực này sẽ được nâng cao, các quyết định quản lýnhà nước được các tổ chức, cá nhân tôn giáo tự giác thực hiện nghiêm chỉnh,triệt để, pháp chế trong công tác tôn giáo được giữ vững.

* Nguyên tắc

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo không ngoài mục đíchbảo đảm cho hoạt động tôn giáo diễn ra trong khuôn khổ Hiến pháp và phápluật vì lợi ích chung, trong đó có lợi ích của đồng bào có đạo và lợi ích củacác tổ chức tôn giáo Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo có một sốnguyên tắc chính sau đây:

Một là, nguyên tắc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi

công dân

Đảng và Nhà nước ta coi tự do tín ngưỡng là một nguyện vọng tha thiếtvới đồng bào có đạo, bởi vậy đi đôi với việc cải thiện đời sống cho nhân dân,Đảng và Nhà nước ta cũng tôn trọng tự do tín ngưỡng của đồng bào các tôn giáo

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (11/1946),Cương lĩnh của Đảng Lao động Việt Nam (3/1951), Sắc lệnh số 234/SL, banhành chính sách tôn giáo, do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 14/6/1955 đềukhẳng định “Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng,quyền theo hoặc không theo một tôn giáo nào” Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo21/2004/PL-UBTVQH11 cũng đã khẳng định: “Công dân có quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Nhà nước đảm bảoquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Các tôn giáo đều bình đẳngtrước pháp luật Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng tôngiáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn

Trang 25

Tuy nhiên, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là vô giới hạn

Tự do theo nghĩa chân chính của nó là tự do của người khác, cộng đồng khác:

“Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình,độc lập thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh,tuyên truyền trái pháp luật, chính sách của nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽcác dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tínhmạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việcthực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiệncác hành vi vi phạm pháp luật khác” Nhà nước có trách nhiệm quản lý vàđiều chỉnh các hoạt động của cá nhân và tổ chức tôn giáo để hoạt động ấydiễn ra trong khuôn khổ của pháp luật, không ảnh hưởng đến hoạt động chungcủa xã hội

Hai là, nguyên tắc về tính thống nhất giữa sinh hoạt tôn giáo và bảo tồn

các giá trị văn hóa

Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bao giờ cũng thể hiện qua sinh hoạt vậtchất của con người Niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo được vật chất hóa trong đờisống xã hội thể hiện qua kinh sách, luật lệ, lễ nghi Các cơ sở thờ tự của tôngiáo thường là nơi thờ phụng của các tín đồ tôn giáo, đồng thời cũng là gìngiữ văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Những công trình kiến trúc, nhữngtác phẩm hội họa, điêu khắc, những bản nhạc, bài ca, trang phục đến bày biện,trang trí thực hiện các lễ nghi tôn giáo, đều thể hiện nét văn hóa đặc trưngcủa từng tôn giáo cụ thể Vì vậy, sự tồn tại của tôn giáo cũng có nghĩa là sựbảo lưu văn hóa Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc không thểkhông quan tâm đến sinh hoạt tín ngưỡng dân gian và tôn giáo truyền thống

mà nhân dân ta đã lưu giữ qua nhiều đời nay

Tuy nhiên bên cạnh những giá trị văn hóa đích thực, vẫn có những hiệntượng thương mại hóa tôn giáo Những hủ tục cũ trỗi dậy, mê tín dị đoan gia

Trang 26

tăng, thương mại hóa trong tôn giáo phát triển, những hiện tượng ấy vẫn tràtrộn vào sinh hoạt tôn giáo lành mạnh Nhà nước cần quản lý hoạt động tôngiáo để vừa giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, vừa loại bỏ dần những hiệntượng phản văn hóa trong tôn giáo.

Ba là, nguyên tắc bảo đảm những hoạt động tôn giáo vì lợi ích chính

đáng và hợp pháp của tín đồ

Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích tổ quốc và của nhân dân đượckhuyến khích Mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, lợidụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, phá hoại khối đạiđoàn kết toàn dân, ảnh hưởng tiêu cực đến nền văn hóa lành mạnh của dân tộc

và hoạt động mê tín dị đoan, đều bị lên án và xử lý vi phạm theo luật định

* Nội dung

Những nội dung cơ bản

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo gồm nhiều công việc:

- Xây dựng chiến lược, kế hoạch dài hạn, năm năm và hằng năm thuộclĩnh vực tôn giáo;

- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;

- Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;

- Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;

- Quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong công tácquản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo;

- Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức làm công tác tôn giáo;

- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm phápluật về hoạt động tôn giáo;

Tất cả những công việc trên có mối liên hệ mật thiết với nhau, để làmtốt công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo cần chú trọng thực

Trang 27

hiện tốt tất cả các công việc này.

Những nội dung cụ thể

Nội dung cụ thể về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo gồmnhiều lĩnh vực như sau:

- Công nhận tổ chức tôn giáo;

- Quản lý hoạt động của tổ chức tôn giáo;

- Quản lý về bồi dưỡng, đào tạo của các tổ chức tôn giáo;

- Quản lý việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử trongtôn giáo;

- Quản lý các chương trình mục vụ thường xuyên, đột xuất của tôn giáo;

- Quản lý về đại hội, hội nghị và một số việc thuộc hành chính đạo của

tổ chức tôn giáo;

- Quản lý việc sửa chữa, xây dựng cơ sở vật chất của tôn giáo, kinhdoanh, xuất nhập khẩu kinh sách tôn giáo và đồ dùng việc đạo;

- Quản lý hoạt động từ thiện xã hội của các tổ chức, cá nhân tôn giáo;

- Quản lý các hoạt động quốc tế của tổ chức, cá nhân tôn giáo;

Tóm lại, tôn giáo không những là một hình thái ý thức xã hội mà còn làmột thực thể xã hội, được hình thành và quyết định bởi hình thái kinh tế xãhội và có tác động ngược trở lại đối với xã hội Cũng như các hoạt động kháctrong xã hội có nhà nước, tôn giáo tất yếu chịu sự quản lý của Nhà nước

1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẬN HÀ ĐÔNG VÀ TÌNH HÌNH TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN

1.2.1 Vị trí địa lý

Hà Đông là một quận thuộc Thủ đô Hà Nội, nằm bên bờ sông Nhuệ,cách trung tâm Hà Nội 11km về phía Tây, nằm dọc theo Quốc lộ 6 từ Hà Nội

đi Hoà Bình, trên ngã ba sông Nhuệ, La Khê

Phía Đông giáp huyện Thanh Trì, quận Thanh Xuân; phía Bắc giáphuyện Từ Liêm, huyện Hoài Đức; phía Tây giáp các huyện Quốc Oai, Hoài

Trang 28

Đức, Chương Mỹ; phía Nam giáp các huyện Thanh Oai, Chương Mỹ.

Ngày 27/12/1975, kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá V, thông qua Nghịquyết hợp nhất hai tỉnh Hà Tây và Hoà Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình Thị xã

Hà Đông trơ thành tỉnh lỵ của tỉnh Hà Sơn Bình

Ngày 29/12/1978, kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá VI thông qua Nghịquyết phê chuẩn việc sáp nhập một số huyện, thị xã, xã và thị trấn của tỉnh HàSơn Bình và Vĩnh Phú vào thành phố Hà Nội Theo đó, thị xã Hà Đông thuộc

Hà Nội nhưng tạm giao cho tỉnh Hà Sơn Bình quản lý

Ngày 23/6/1994, Chính phủ ra Nghị định số 107/2003/NĐ-CP, về việcthành lập phường Văn Mỗ thuộc thị xã Hà Đông trên cơ sở thôn Văn Quán,

Mộ Lao (của xã Văn Yên) và phố Trần Phú của phường Yết Kiêu; phườngPhúc La thuộc thị xã Hà Đông trên cơ sở các thôn Xa La, Yên Phúc (của xãVăn Yên) và các phố Nguyễn Đức Cảnh, Tô Hiến Thành, Nguyễn Công Trứcủa phường Yết Kiêu Sau khi điều chỉnh, thị xã Hà Đông gồm 5 phường:Quang Trung, Yết Kiêu, Nguyễn Trãi, Văn Mỗ, Phúc La và 4 xã: Kiến Hưng,Văn Khê, Vạn Phúc, Hà Cầu

Ngày 23/9/2003, Chính phủ ra Nghị định số 107/2003/NĐ-CP về việcthành lập phường Vạn Phúc, phường Hà Cầu thuộc thị xã Hà Đông trên cơ sởdiện tích và dân số của 2 xã Vạn Phúc và Hà Cầu chuyển xã Yên Nghĩa thuộchuyện Hoài Đức và xã Phú Lương, xã Phú Lãm thuộc huyện Thanh Oai về thị

Trang 29

xã Hà Đông quản lý.

Sau khi điều chỉnh, thị xã Hà Đông có 12 dơn vị hành chính trực thuộcgồm 7 phường: Quang Trung, Yết Kiêu, Nguyễn Trãi, Văn Mỗ, Phúc La, VạnPhúc, Hà Cầu và 5 xã: Kiến Hưng, Văn Khê, Yên Nghĩa, Phú Lương, Phú Lãm

Ngày 01/4/2006 chính Phủ ra Nghị định số 1/2006/NĐ-CP về việc mởrộng thị xã Hà Đông, theo đó chuyển toàn bộ các xã Biên Giang, Đồng Maithuộc huyện Thanh Oai và xã Dương Nội thuộc huyện Hoài Đức về thị xã HàĐông quản lý

Sau khi điều chỉnh thị xã Hà Đông có 15 đơn vị hành chính trực thuộcgồm 7 phường: Quang Trung, Yết Kiêu, Nguyễn Trãi, Văn Mỗ, Phúc La, VạnPhúc, Hà Cầu và 8 xã: Kiến Hưng, Văn Khê, Yên Nghĩa, Phú Lương, PhúLãm, Biên Giang, Đồng Mai, Dương Nội

Ngày 27/12/2006 Chính phủ ra Nghị định số 155/2006/NĐ-CP thànhlập Thành phố Hà Đông thuộc tỉnh Hà Tây Thành phố Hà Đông gồm 15 đơn

vị hành chính, gồm các phường: Quang Trung, Yết Kiêu, Nguyễn Trãi, Văn

Mỗ, Phúc La, Vạn Phúc, Hà Cầu và 8 xã: Kiến Hưng, Văn Khê, Yên Nghĩa,Phú Lương, Phú Lãm, Biên Giang, Đồng Mai, Dương Nội

Ngày 01/3/2008 Chính phủ ra Nghị định số 155/2008/NĐ-CP về việcđiều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Đông để thành lập phường VănQuán, Mộ Lao, La Khê, Phú La thuộc thành phố Hà Đông Theo đó:

Phường Văn Quán được thành lập trên cơ sở một phần diện tích vànhân khẩu của phường Văn Mỗ

Phường Mộ Lao được thành lập trên cơ sở diện tích và nhân khẩu cònlại của phường Văn Mỗ

Phường La Khê được thành lập trên cơ sở một phần diện tích và nhânkhẩu của xã Văn Khê, xã Yên Nghĩa và phường Quang Trung

Phường Phú La được thành lập trên cơ sở một phần diện tích và nhânkhẩu của xã Văn Khê; một phần diện tích và nhân khẩu của phường QuangTrung, phường Hà Cầu; một phần diện tích và nhân khẩu của xã Phú Lãm, xã

Trang 30

Yên Nghĩa, Phú Lương, Kiến Hưng.

Sau khi điều chỉnh thành phố Hà Đông có 17 đơn vị hành chính trựcthuộc bao gồm 10 phường: Quang Trung, Yết Kiêu, Nguyễn Trãi, Phúc La,Vạn Phúc, Hà Cầu, Văn Quán, Mộ Lao, La Khê, Phú La và 7 xã: Kiến Hưng,Yên Nghĩa, Phú Lương, Phú Lãm, Dương Nội, Biên Giang, Đồng Mai

Theo Nghị Quyết của Quốc Hội khoá XII, kỳ họp thứ 3, ngày29/5/2008 từ ngày 01/8/2008 cùng với toàn bộ tỉnh Hà Tây, thành phố HàĐông được nhập về Thủ đô Hà Nội

Ngày 08/5/2009 Chính phủ ra Nghị quyết số 19/NQ-CP về việc thànhlập quận Hà Đông thuộc thành phố Hà Nội trên cơ sở toàn bộ 4,971 ha tựnhiên và 198,678 nhân khẩu với 17 phường trực thuộc của thành phố Hà Đông

Các đơn vị hành chính: Quận Hà Đông hiện có 17 đơn vị hành chínhtrực thuộc gồm các phường: Quang Trung, Yết Kiêu, Nguyễn Trãi, Phúc La,Vạn Phúc, Hà Cầu, Văn Quán, Mộ Lao, La Khê, Phú La, Kiến Hưng, YênNghĩa, Phú Lương, Phú Lãm, Dương Nội, Biên Giang, Đồng Mai

Trụ sở Uỷ ban Nhân dân quận tại số 4 phố Hoàng Văn Thụ, quận Hà Đông.Tháng 7/2012 trụ sở Uỷ ban nhân dân quận chuyển trụ sở về Lo No1khu Hành chính mới phường Hà Cầu, quận Hà Đông

1.2.2 Tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội

* Về kinh tế:

Nằm ở phía Tây Nam Hà Nội, đầu mối nhiều tuyến đường giao thôngquan trọng, Hà Đông có vị trí chiến lược cả về chính trị, kinh tế xã hội, anninh, quốc phòng

Quận Hà Đông có cơ cấu kinh tế chuyển dịch với tỷ trọng công nghiệpxây dựng chiếm 53,5%, thương mại dịch vụ du lịch chiếm 45%, nông nghiệpchỉ còn 1,0% Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã tiến những bướcdài về quy mô, sản lượng có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 3 năm (2005-2008) đạt 17,7% Từ tháng 8/2008 đến tháng 8/2009, Giá trị sản xuất côngnghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh của quận Hà Đông đạt gần

Trang 31

1,821 tỷ đồng, tổng thu ngân sách nhà nước đạt 1964,5 tỷ đồng.

Về đầu tư xây dựng: Hà Đông đã và đang triển khai xây dựng nhiềukhu đô thị mới như Văn Quán, Mỗ Lao, Văn Phú, Lê Trọng Tấn, Trục đô thịphía bắc , các trường đại học, các bệnh viện quốc tế với số vốn huy động đầu

tư lên đến hàng chục tỷ đô la

* Về văn hoá, xã hội

Hà Đông là vùng đất có truyền thống lịch sử và văn hoá lâu đời Nơiđây có nhiều làng nghề truyền thống như: dệt lụa Vạn Phúc, the La Khê, mộcThượng Mạo, rèn Đa sỹ đây còn là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hoá nổitiếng như Đình và chùa Văn Quán, Đình và Chùa Bia Bà La Khê, Đình vàChùa Mậu Lương Kiến Hưng, Đình Cầu Đơ, Đình và chùa Hà Trì Hà Cầu,Đình và chùa La Cả, Dương Nội Nhà lưu niệm Bác Hồ tại phường Vạn Phúc,phường Văn Phú, bảo tàng cách mạng Đường Hồ Chí Minh phường Yên Nghĩa

Trên địa bàn quận Hà Đông có 47 lễ hội truyền thống, mỗi lễ hội lại cómột nét văn hoá đặc sắc riêng đại diện cho mỗi vùng, phục vụ tốt cho nhu cầutâm linh, tham quan giải trí và nghiên cứu của nhiều tầng lớp nhân dân trong

* An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội:

Quốc phòng được củng cố, giữ vững an ninh, chính trị ổn định, trật tự

an toàn xã hội được bảo đảm, thường xuyên được triển khai hiệu quả

Tóm lại, nằm ở vùng trung tâm của thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến

Trang 32

xưa và nay với bề dày lịch sử lâu đời, nơi đầu mối giao lưu kinh tế, văn hoá,

xã hội và cũng là điểm hội tụ của bách nghệ bốn phương, Hà Đông đã tiếpnhận, chuyển tải nhiều luồng văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng từ bên ngoài và từ

đó dung hòa, tiếp biến nét đặc trưng của riêng mình Với điều kiện tự nhiênthuận lợi, chứa đựng nhiều tiềm năng kinh tế to lớn đã và đang được khơi dậy,

Hà Đông sớm hội nhập vào quĩ đạo phát triển chung, có lợi thế mạnh để pháttriển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, với những đặc điểm kinh tế thuận lợi nêutrên, quận Hà Đông sẽ tiếp tục phát triển trở thành một trong những nơi trungtâm Thương mại - dịch vụ - du lịch phát triển đa ngành, đa mục tiêu và trởthành điểm hội tụ lý tưởng của các nhà đầu tư trong và ngoài nước; những đặcđiểm này cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển đa dạng các loại hìnhvăn hóa, tín ngưỡng tôn giáo trên địa bàn quận

1.2.3 Tình hình tôn giáo tín ngưỡng quận Hà Đông

1.2.3.1 Về Tôn giáo

* Phật giáo

Phật giáo là tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ VI TCN ởbắc Ấn Độ Người sáng lập ra hệ thống triết học - tôn giáo này là Tất Đạt Đa(Siddhatha), thái tử của vua Tịnh Phạn (Suddhodana) thuộc bộ tộc Sakiya.Sau 48 ngày nhập định, Tất Đạt Đa ngộ rõ căn nguyên sinh thành, biến hóacủa vũ trụ, căn nguyên của những khổ đau, và đề ra phương pháp diệt trừ nỗikhổ đó cho chúng sinh, bằng học thuyết “Nhân duyên sinh” và triết lý “Tứdiệu đế”, “Thập nhị nhân duyên”, “Bát chính đạo” Con người này đã đưa ôngtrở thành đức Phật Thích Ca đầy uy nghiêm tinh thần trong đời sống củangười phương Đông hết thế hệ này đến thế hệ khác

Giáo lý nhà Phật tuy thâm sâu huyền diệu, thiên kinh vạn quyển nhưngtựu trung những điểm được đề cập sau đây vẫn là những nền tảng cơ bản:

Thế giới, vũ trụ, theo quan niệm Phật giáo, là luôn vận động, biến đổi,các biến đổi diễn ra nhanh như chớp mắt, và thế giới thì không có trước,

Trang 33

không có sau, vô thủy, vô chung

Nhân sinh quan Phật giáo xuất phát từ quan niệm cho rằng đời là bểkhổ, và nguyên nhân của nó là sinh, lão, bệnh, tử, là những ham muốn nhụcdục Muốn thoát khỏi bể khổ thì phải diệt dục, nhẫn nhục, từ bi, hỉ xả, hysinh, đi theo con đường của bát chánh đạo: chính kiến, chính tư duy, chínhnghiệp, chính ngữ, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định

Những giáo lý mang nặng tính triết lý, đạo đức này đã có một ảnhhưởng sâu rộng lên phong tục, tập quán, văn hóa, văn minh của nhiều dân tộc,nước ta nói chung, Thành phố Hà Nội và quận Hà Đông nói riêng

Phật giáo gần gũi với tín ngưỡng văn hóa truyền thống nên dễ dàngđược nhân dân ta chấp nhận Trải qua quá trình lịch sử của dân tộc Việt Nam,Phật giáo cũng có những bước thăng trầm, lúc thịnh, lúc suy, song tư tưởng,văn hóa, đạo đức Phật giáo đã bén rễ sâu và trở thành một bộ phận quan trọngtrong tư tưởng, văn hóa, đạo đức, hành vi ứng xử của người dân Việt Nam

Phật giáo được truyền vào vùng đất Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội

từ rất sớm và gắn bó sâu đậm với các tín ngưỡng bản địa như tín ngưỡng thờThần rắn Miếu cổ làng Vạn Phúc, Thành hoàng làng thờ Lý Bí, danh tướng cócông đánh thắng trận Tốt động, Bích động đình làng Cầu Đơ, phường Hà Cầu,thờ Mẫu như khu di tích Bia Bà làng La Khê, phường La Khê … Các di tích lịch

sử, văn hóa ở đây đều toát lên nét văn hóa tâm linh với tục thờ cúng tổ tiên, thờPhật, thờ cúng những người có công với làng, với nước, mang đậm nét đặc trưngcủa văn hóa đồng bằng Sông Hồng như Cố Giáo sư Nguyễn Hữu Từ Chi đã từngnhận định: Lấy trồng lúa nước làm lẽ sống chính, cố kết cộng đồng làng xã bằngsợi dây vô hình trong đó có tín ngưỡng, tôn giáo…

Phật giáo Hà Đông là bộ phận và chịu sự quản lý trực tiếp của Thành hộiPhật giáo Hà Nội, cùng nằm trong dòng chảy chung của Phật giáo cả nước

Quận Hà Đông hiện có trụ sở của Ban trị sự Phật giáo quận, 1 trườngtrung cấp Phật học, có 42 chùa, 47 đình, đền Chức sắc có 40 vị, gồm: 1

Trang 34

Thượng tọa, 32 Đại đức, 7 sư thầy.

Chùa Mộ Lao, phường Mộ Lao là trụ sở của trường Trung cấp Phậthọc Chùa Mậu Lương Thượng là trụ sở của Ban trị sự Phật giáo quận Vớitính chất đặc thù là trung tâm hành chính của Đạo Phật trên địa bàn, hàng nămdiễn ra nhiều sự kiện chính trị trọng đại của Thành Hội Phật giáo Hà Nội, Bantrị sự Phật giáo Hà Đông, là điểm nối của Phật Giáo các quận nội thành, trongdòng chảy chung của Phật giáo Việt Nam

Phật giáo Việt Nam những năm qua cũng có nhiều thay đổi cùng tiếntrình phát triển của dân tộc Năm 1981, các tổ chức, hệ phái Phật giáo trong

cả nước đã tổ chức Đại hội, thống nhất thành một tổ chức lấy tên gọi chung là

“Giáo hội Phật giáo Việt Nam” Từ năm 1981 đến nay, Giáo hội Phật giáoViệt Nam đã trải qua 7 kỳ Đại hội Nhiệm kỳ VII 2012-2017 do Hòa thượngThích Chí Tịnh là Chủ tịch Hội đồng trị sự

Về tổ chức: Hệ thống tổ chức hành chính đạo theo 3 cấp (trung ương,cấp tỉnh, cấp huyện) Giáo hội Phật giáo Việt Nam gồm hai Hội đồng ở Trungương: Hội đồng Chứng Minh và Hội đồng Trị sự Ở các tỉnh, thành phố hiện

có Ban Trị sự, và dưới nữa có các Ban đại diện (nay gọi là Ban trị sự) của cấpquận, huyện, thị xã

Về Nội dung hoạt động: Giáo hội Phật giáo Việt Nam gồm có 10 ngànhhoạt động tương ứng với 10 Ban: Tăng sự, Giáo dục Tăng, Ni; Hướng dẫnPhật tử; Hoằng Pháp; Nghi Lễ; Văn Hóa; Kinh tế tài chính; Từ thiện xã hội;Đặc trách Ni giới; Phật giáo Quốc tế; và 01 Viện nghiên cứu Phật học

Về nhân sự: Sau Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VI, Ở cấp trungương Hội đồng chứng minh Trung ương hội Phật giáo gồm 98 vị và Hội đồngtrị sự có 147 vị Ở các tỉnh, thành phố có 54 Ban trị sự; Ban Trị sự Thành hội

có tổng số 90 vị, 23 vị là ủy viên thường trực Trong đó có 2 Hòa Thượng, 6Thượng Tọa, 2 Ni trưởng, 12 Ni sư, còn lại là Đại đức do Thượng tọa ThíchBảo Nghiêm làm trưởng ban; Ban Đại diện Phật giáo quận (Nay là Ban trị sự

Trang 35

Phật giáo quận) gồm: 7 vị, do Thượng tọa Thích Minh Tuấn là Trưởng Ban.Trường Trung cấp Phật học nơi đào tạo tăng, ni sinh, hiện đang đào tạo được

7 khóa, hơn 600 tăng ni sinh

Hoạt động Phật giáo phát triển mạnh mẽ, có vai trò, ảnh hưởng lớntrong đời sống tinh thần của đông đảo quần chúng nhân dân với phương châm

“Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” Phật giáo không chỉ có ảnh hưởngtới đời sống tinh thần mà còn tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội, tạođược nếp sống văn hóa, văn minh góp phần tích cực và việc xây dựng hìnhảnh người Hà Nội văn minh, lịch thiệp

Dấu ấn mạnh mẽ dễ dàng nhận thấy trong những năm qua của Phật giáo

là cơ sở thờ tự Phật giáo được cải tạo, tu bổ khang trang và thuận tiện chosinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, thu hút các nguồn lực của xã hội để từng bướcthay đổi diện mạo nhưng vẫn giữ nguyên được giá trị cốt lõi của Phật giáo

Cùng với sự thay đổi diện mạo mới, khang trang và hoằng pháp hơn,chức sắc Phật giáo và Ban đại diện (nay là Ban trị sự) không ngừng tăngcường sự gắn kết chặt chẽ Các tín đồ phật tử đã tích cực tham gia vào cácphong trào phát triển kinh tế của địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo,toàn dân đoàn kết xây dựng nếp sống văn hóa, xây dựng hình ảnh người HàNội văn minh, thanh lịch

Các hoạt động tôn giáo định kỳ hàng năm như an cư kiết hạ, thụ giớitrong Phật giáo được giáo hội chú trọng; các lễ hội, tín ngưỡng, Phật đản, Vulan hàng năm tại cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo đã được Ban trị sự quận, các sưtrụ trì tai các chùa tổ chức trang nghiêm, an toàn, tiết kiệm, không phô trương,lãng phí, đúng các quy định của pháp luật tôn giáo, từ đó thu hút được sựquan tâm của tăng ni phật tử và quần chúng nhân dân tham gia Qua các hoạtđộng tín ngưỡng, tôn giáo này không những đáp ứng được nhu cầu về tínngưỡng, tôn giáo mà còn là sự cổ vũ, động viên khích lệ cho chức sắc tăng ni

và quần chúng nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và địa bàn

Trang 36

quận Hà Đông nói riêng.

Cùng với xu thế hội nhập với quốc tế của đất nước Thủ đô Hà Nội nóichung và quận Hà Đông nói riêng Phật giáo cũng từng bước hội nhập với khuvực và quốc tế, nhiều đoàn Phật giáo nước ngoài đến tham quan, hội thảocũng như việc chức sắc, phật tử, tín đồ tham dự tập huấn, hội nghị, hội thảo ởnước ngoài góp phần vào sự quảng bá đời sống, văn hóa của Việt Nam raquốc tế

Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập và mở cửa, vẫn còn một số hạn chế

mà nguyên nhân bắt nguồn từ cả yếu tố khách quan lẫn chủ quan, cụ thể như

sự gia tăng các hoạt động lễ bái, dâng sao giải hạn vào dịp đầu xuân và cuốinăm diễn ra rất sôi động, thậm chí có nơi đẩy chính quyền vào thế khó kiểmsoát Nguy hại hơn các hoạt động này không dừng lại ở yếu tố tâm linh thuầntúy tôn giáo mà còn tác động ảnh hưởng đến tư tưởng một bộ phận quầnchúng nhân dân trong các giai tầng của xã hội Việc tự ý sửa chữa, xây dựngkhi chưa được cấp phép, hoặc cố ý làm không đúng với giấy phép xây dựngvẫn tiếp tục diễn ra Đặc biệt và nghiêm trọng hơn là các vụ việc khiếu kiệnđòi lại đất đai có nguồn gốc tôn giáo tiếp tục có diễn biến phức tạp Tình hìnhnội bộ tăng, ni vẫn nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp quyền trụ trì, quyền lợi vậtchất, phô trương thanh thế, tìm cách gây ảnh hưởng trong đời sống thế quyềnngày càng tăng hơn về cấp độ, tạo ra nhiều tình huống khó xử trong công tácquản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo của chính quyền cơ sở

* Đạo Công giáo:

Công giáo được truyền bá vào Việt Nam từ thế kỷ XVI do giáo sỹ BồĐào Nha, Tây Ban Nha truyền đạo Quá trình du nhập, tồn tại và phát triểntrải qua nhiều diễn biến phức tạp cùng tiến trình lịch sử thăng trầm của dântộc, gắn liền với các cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập và chủ quyền quốcgia của nước ta

Thời kỳ đầu Công giáo vào Việt Nam không gặp nhiều trở ngại, đến thế

Trang 37

kỷ XVII số lượng tín đồ mới khá đông đảo 1653 Hội Thừa sai Pari được vuaPháp bảo trợ và được Giáo hoàng trao độc quyền truyền đạo Việt Nam, nhưngthực tế đến những năm 1960 hàng giáo phẩm Việt Nam mới được thiết lậptheo Sắc chỉ của Giáo hoàng Gioan XXIII ban hành ngày 24/11/1960 Giáohội Công giáo Việt Nam phân làm ba Giáo Tỉnh: Hà Nội, Huế và Sài Gòn.Tòa Giám mục Hà Nội (Giáo tỉnh Hà Nội) lúc bấy giờ thuộc khu vực TâyĐàng trong, có trụ sở tại số 40 Nhà Chung - Hoàn Kiếm - Hà Nội.

Nằm cạnh các quận trung tâm như Đống Đa, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưngnơi tọa lạc Tòa Tổng Giám mục Hà Nội và là trụ sở của Hội đồng Giám mụcViệt Nam Quận Hà Đông với vị trí đặc biệt là cửa ngõ Thủ đô với Giáo sứ HàĐông - Nhà thờ Chính tòa Hà Đông, 8 nhà thờ, 2 nhà nguyện với các banhành giáo độc lập

Về tổ chức: Từ sau giải phóng 1975, Giáo hội Công giáo đã có nhữngbước chuyển đáng kể Năm 1976 Giáo Hoàng phong Hồng Y cho người Việtđầu tiên - Hồng Y Trịnh Như Khuê Năm 1980, các giám mục cả nước đã họphội nghị để thống nhất đường lối của Giáo hội Hội nghị đã thành lập Hộiđồng Giám mục Việt Nam và ra Thư chung 1980 với phương châm mục vụ là

“sống phúc âm trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc đồng bào” Tháng 10năm 2013 Đại hội Hội đồng giám mục Việt Nam được tổ chức và bầu ĐứcTổng giám mục PhaoLoo Bùi Văn Đọc làm Chủ tịch

Về nhân sự: Trụ sở Hội đồng Giám mục Việt Nam là trụ sở của TòaTổng giám mục Hà Nội đặt tại 40 Nhà Chung - Quận Hoàn Kiếm Hà Nội TòaTổng giám mục Hà Nội phụ trách 04 giáo hạt là: Hà Nội, Hà Nam, địa bàntỉnh Hải Dương và tỉnh Hòa Bình, chỉ đạo hoạt động của 10/26 giáo phậntrong cả nước Đứng đầu giáo tỉnh là Tổng Giám mục Phê rô Nguyễn VănNhơn Hiện tại Tòa Tổng Giám mục Hà Nội có: 01 Tổng giám mục, 01 Giámmục 10 linh mục, trong đó có 9 linh mục quản xứ; có 202 hội đoàn với 2.680hội viên và 28.618 giáo dân, tương đương 1% dân số toàn Thành phố

Đại chủng viện Thánh Juse trên địa phận Hà Nội: Địa chỉ 40 Nhà

Trang 38

Chung, phường Hàng Trống quận Hoàn Kiếm, Hà Nội là cơ sở đào tạo Linhmục cho 8 địa phận từ Thanh Hóa trở ra, do Linh mục Chu Văn Minh làmgiám đốc; Ban giáo sư gồm: 38 giáo viên (07 tại chỗ và 31 giáo viên thỉnhgiảng) Từ năm 1973 đến nay đã tuyển sinh được 10 khóa với tổng số 478chủng sinh Hiện nay, Đại chủng viện có 241 chủng sinh thuộc 4 khóa theohọc Từ năm 2005, Đại chủng viện Hà Nội tổ chức chiêu sinh hàng năm và từkhóa 2005-2011 thời gian học Triết học 2 năm tại cơ sở Cổ Nhuế.

Về tình hình hoạt động: Chủ trương của giáo sỹ là vâng phục và trungthành với Vatican trong các hoạt động tôn giáo; khôn khéo, tránh đối đầu vớichính quyền, tranh thủ thời cơ để phát triển đạo, đồng thời đẩy mạnh củng cốlực lượng và vị thế của giáo hội Một số giáo sỹ đã chủ trương lợi dụng chínhsách cởi mở, đổi mới của Đảng trong công tác tôn giáo để kiến nghị, nhằmtừng bước thoát ly khỏi sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động tôn giáonhằm tăng cường củng cố cơ sở vật chất của giáo hội

Giáo hội thường xuyên tổ chức các hoạt động giáo lý như mở lớp đàotạo giáo lý viên, mở các kỳ thi tìm hiểu giáo lý trong thanh thiếu niên, họcsinh, sinh viên, đỡ đầu và trợ giúp học sinh sinh viên có đạo vào các trườngĐại học, Cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, tổ chức lễ cấm phòng, tĩnh tâm,

tổ chức và đẩy mạnh hoạt động của các Hội đoàn tôn giáo ở mọi lứa tuổi, mọigiới, đặc biệt là giới trẻ

Phục hồi và lập mới 15 hội đoàn tôn giáo thuộc giáo xứ Nhà Thờ lớn vàHàm Long với hàng ngàn tín đồ tham gia Tòa Tổng giám mục trực tiếp tổchức hội “Thiếu nhi Thánh thể” và “Giới trẻ”, hàng tháng tổ chức lễ riêng chocác hội đoàn này Từ năm 1997 đến nay đã tổ chức nhiều lần đại hội cho Giớitrẻ, Đại hội thiếu nhi thánh thể, đại hội giáo lý viên trong phạm vi giáo phận,gần đây nhất là Hội thi tìm hiểu giáo lý 8/8/2013 đã thu hút hàng ngàn lượt tín

đồ tham gia

Đối với vấn đề đào tạo linh mục, chủ trương của giáo hội là củng cố đội

Trang 39

ngũ giám mục, tìm người trung thành tuyệt đối với giáo hội, trẻ hóa đội ngũlinh mục, đưa số linh mục có khả năng ra nước ngoài để đào tạo Lựa chọnsinh viên Công giáo đang theo học tại các trường đại học, hỗ trợ tài chính để

số này tiếp tục theo học sau đó lựa chọn vào chủng viện Hà Nội Những nămtrước đây, cứ hai năm chiêu sinh một lần nhưng từ năm 2005 đến nay mỗinăm một lần Tổ chức bổ nhiệm, thuyên chuyển linh mục trong phạm vi Tổnggiáo phận nhằm phát huy hết khả năng mục vụ của linh mục, từng bước côngkhai các buổi phong chức linh mục, khấn dòng cho nữ tu nhằm tôn vinh vaitrò, vị trí của họ trong đời sống giáo hội và trong cộng đồng giáo dân

Đối với cơ sở vật chất Tòa Tổng Giám mục Hà Nội có chủ trương tùyđiều kiện hoàn cảnh mỗi nơi mà các linh mục phải giữ gìn và kiến nghị nhànước trả lại những nơi thờ tự hiện nhà nước đang quản lý Đã nhiều lần gửiđơn thư tới chính quyền các cấp như Giáo xứ Hà Đông, Nhà thờ Hà Đôngtrong nhiều năm qua Tòa Tổng Giám mục đã chi nhiều kinh phí cho việc tusửa, tôn tạo các cơ sở sinh hoạt tôn giáo trên địa bàn thành phố nói chung vàquận Hà Đông nói riêng

Đối với các hoạt động như Ngân Khánh, Đại Năm thánh 2000, Lễ Noelhàng năm, Tòa giám mục và các giáo xứ đều tổ chức trọng thể Đặc biệt việc

tổ chức lễ tấn phong chức linh mục liên địa phận cho 56 chủng viện và tu sỹnhân dip Hồng y Sepe - Bộ trưởng bộ truyền giáo Vatican sang thăm nước tanăm 2005

Các dòng tu chủ trương thu nhận nữ tu mới nhằm trẻ hóa nữ tu sỹ Từnhiều năm nay vẫn duy trì nồi cháo từ thiện, phục vụ khoảng 50 bệnh nhânnghèo đang điều trị tại các bệnh viện Quân Y 103 Hà Nội, bệnh viện Đa khoa

Hà Đông, Bệnh viên Y học Tuệ Tĩnh…

Thời gian gần đây trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và địa bànquận Hà Đông nói riêng xuất hiện việc tham gia sinh hoạt tôn giáo của ngườinước ngoài Các buổi lễ trọng, lễ Chủ nhật … thường có các thương gia và

Trang 40

người lao động là người nước ngoài.

* Đạo Tin lành:

Đạo Tin lành vào Việt Nam từ những năm cuối của thế kỷ XIX - Đầuthế kỷ XX do tổ chức Tin lành “Liên Hiệp phúc âm và truyền giáo” (CMA)truyền vào Năm 1911, Tổ chức này xây dựng được cơ sở đầu tiên ở Đà Nẵng.Các Hội thánh lần lượt được xây dựng từ các địa phương Năm 1927, TổngHội Thánh Tin lành ở Việt Nam được thành lập Sau năm 1954, đất nước bịchia cắt, đạo Tin lành ở 2 miền Nam và miền Bắc có sự khác nhau rõ rệt Ởmiền Bắc, do số đông tín đồ, giáo sỹ đã di cư vào Nam và cơ quan Tổng Liênhội cũng chuyển vào Sài gòn, đến năm 1955, số tín đồ mục sư truyền đạo cònlại đã lập tổ chức riêng gọi là Tổng hội thánh Tin lành Việt Nam ở miền BắcViệt Nam, gọi tắt là Hội thánh Tin lành miền Bắc, có trụ sở tại số 2, NgõTrạm, Hoàn Kiếm Hà Nội

Trong những năm gần đây, đạo Tin lành và các hệ phái Tin lành cóchiều hướng phát triển mạnh Cụ thể, trên địa bàn quận Hà Đông có 01 điểmnhóm sinh hoạt tôn giáo hệ phái Giê - Hô - Va do người đứng đầu giảng đạo

là ông Nguyễn Văn Lanh, tại tổ dân phố số 17, phường Phúc La, quận HàĐông Điểm nhóm này hoạt động thuần túy tôn giáo trên địa bàn

Về tổ chức: Giáo hội Tin lành xây dựng theo 2 cấp: Tổng hội và chi hội

cơ sở Năm 1958, Đại hội đồng xúc tiến soạn thảo Điều lệ riêng, đến năm

1962 tại Đại hội đồng lần thứ VIII, Điều lệ chính thức của Hội thanh Tin lànhViệt Nam miền Bắc được thông qua Năm 1963 được nhà nước Việt Namchấp nhận tư cách pháp nhân

Về nhân sự: Từ năm 1963 đến nay, Hội thánh Tin lành Viêt Nam (miềnBắc) đã trải qua 33 kỳ đại hội Sau Đại hội đồng lần thứ 33, Hội thánh cókhoảng 6.000 tín đồ, thuộc 14 chi hội ở 10 tỉnh, thành phố phía Bắc: Hà Nội,Hải phòng, Hải Dương, Lạng Sơn, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, ThanhHóa, Vĩnh Phúc Ban Chấp sự Tổng hội được bầu có 10 vị, do mục sư PhùngQuang Huyến làm Tổng hội Chi Hội thánh Tin lành Hà Nội do Mục sư quản

Ngày đăng: 19/07/2022, 12:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ăngghen (1971), Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, Tập 3, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổđiển Đức
Tác giả: Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1971
3. Ban Bí thư Trung ương (1992), Chỉ thị 66 - CTTW của Ban bí thứ Trung ương Đảng về việc thực hiện Nghị quyết 24 BCT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 66 - CTTW của Ban bí thứ Trungương Đảng về việc thực hiện Nghị quyết 24 BCT
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương
Năm: 1992
4. Ban Chấp hành Trung ương (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1987
5. Ban Chấp hành Trung ương (1992), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1992
6. Ban Chấp hành Trung ương (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 1998
7. Ban Chấp hành Trung ương (2003), Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) - về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; về công tác dân tộc;về công tác tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) -về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì “dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; về công tác dân tộc
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2003
8. Ban Chấp hành Trung ương (2004), Quy định số 123 - QĐ/TW về một số điểm kết nạp đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 123 - QĐ/TW về một sốđiểm kết nạp đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2004
9. Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 24 TW (1998), Báo cáo tổng kết việc thực hiện NQ 24TW của Bộ chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới. Phương hướng công tác tôn giáo thời kỳ tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết việcthực hiện NQ 24TW của Bộ chính trị về tăng cường công tác tôngiáo trong tình hình mới. Phương hướng công tác tôn giáo thời kỳtới
Tác giả: Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 24 TW
Năm: 1998
10. Ban Tôn giáo của Chính phủ (1993), Một số vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, (Lưu hành nội bộ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Ban Tôn giáo của Chính phủ
Năm: 1993
11. Ban Tôn giáo Chính phủ (1994), Các văn bản của nhà nước về hoạt động tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản của nhà nước về hoạtđộng tôn giáo
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Năm: 1994
12. Ban Tôn giáo của Chính phủ (1995), Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo, (Lưu hành nội bộ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả quản lý nhànước trong lĩnh vực tôn giáo
Tác giả: Ban Tôn giáo của Chính phủ
Năm: 1995
13. Ban Tôn giáo của Chính phủ (1997), Báo cáo tổng kết việc thực hiện nghị định số 69-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)“quy định về các hoạt động tôn giáo”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết việc thực hiệnnghị định số 69-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)"“"quy định về các hoạt động tôn giáo
Tác giả: Ban Tôn giáo của Chính phủ
Năm: 1997
14. Ban Tôn giáo Chính phủ (2005), Văn bản pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản pháp luật Việt Nam về tínngưỡng, tôn giáo
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2005
15. Ban Tôn giáo Chính phủ (2005), Đề cương bài giảng tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương bài giảng tôn giáo và côngtác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Năm: 2005
16. Ban Tôn giáo Chính phủ (2005), Tập bài giảng tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Việt Nam , Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng tôn giáo và công tácquản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Nhà XB: Nxb Tôngiáo
Năm: 2005
17. Ban Tôn giáo Chính phủ (2006), Các văn bản pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật liên quan đếntín ngưỡng, tôn giáo
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2006
18. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (2001), Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tôn giáo và chính sáchtôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
19. Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương (2002), Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tôn giáo và chínhsách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốcgia
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 2002
23. Phan Bội Châu (1958), Việt Nam vong quốc sử, Nxb Văn sử địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam vong quốc sử
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Văn sử địa
Năm: 1958
27. Nguyễn Hồng Dương (2002), "Một số vấn đề về công tác tôn giáo trong tình hình mới”, Tạp chí Dân vận, (1+2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về công tác tôn giáo trongtình hình mới
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w