Nguyễn Hồng Dương với các công trình như: Công đồng Vatican II ở Việt Nam nhìn từ góc độ lí luận về hội nhập văn hóa, Tạp chí nghiên cứu tôn giáo số 3 năm 2001; 30 năm Thư chung 1980 Hội
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đạo Công giáo là một tôn giáo lớn, bởi vậy, mọi biến động của tìnhhình thế giới đều tác động trực tiếp đến giáo hội Công giáo, trước hết là giáotriều Rôma Thế kỷ XX, có những biến động vô cùng dữ dội về chính trị, xãhội, đồng thời cũng là thời kỳ khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, loàingười đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc chinh phục, khám phá tựnhiên cũng như chính bản thân mình Trong khi đó, giáo hội Công giáo ngàycàng lâm vào tình trạng trì trệ, bảo thủ nặng nề - hệ lụy của hàng trăm nămtruyền giáo bất khoan dung Để tồn tại và phát triển, buộc giáo triều Rômaphải thay đổi lại chính bản thân mình Đó là lý do chính đưa đến sự ra đời củaCông đồng Vatican II (1962 - 1965), Công đồng đánh dấu sự đổi mới, canhtân, thích nghi với thời đại của giáo hội Công giáo Công đồng Vatican II thực
sự là một luồng sinh khí mới làm thay đổi, tươi mới bộ mặt của giáo hội Các
nhà thần học thường dùng những thuật ngữ như: cải cách, cải thiện, canh tân, thích nghi, đối thoại, hoà đồng, dấn thân… để chỉ về giáo hội Công giáo sau
Công đồng Vatican II Là một “chi thể” của giáo triều Rôma, vì vậy, giáo hộiCông giáo Việt Nam, trong đó có giáo phận Xuân Lộc đều ít nhiều chịu ảnhhưởng của Công đồng Vatican II
Đồng Nai là tỉnh nằm ở khu trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phíaNam, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30 km, tiếp giáp vớitỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận, Lâm Đồng, Bình Dương và Thành phố
Hồ Chí Minh Hiện nay Đồng Nai có 11 huyện, thị, thành với 171 xã, phường,thị trấn Toàn tỉnh có 31 tộc người, dân số gần 2,7 triệu người; có 43 tổ chứctôn giáo với khoảng 1,6 triệu tín đồ chiếm trên 60% dân số [66, tr.01] Hầuhết các tôn giáo ở nước ta đều có ở Đồng Nai, trong đó đạo Công giáo có sốlượng giáo dân nhiều nhất trong cả nước
Trang 2Giáo phận Xuân Lộc được thành lập vào thời điểm Công đồng Vatican
II chuẩn bị kết thúc, do vậy, đạo Công giáo ở Đồng Nai đã sớm tiếp thu tinhthần canh tân, đổi mới của Công đồng này Ngay từ đầu khi mới được thànhlập, những người đứng đầu giáo hội địa phương đã sớm áp dụng tinh thầncanh tân, đổi mới của Công đồng Vatican II Sau gần 50 năm thực hiện theotinh thần canh tân của Công đồng Vatican II, giáo hội Công giáo ở Đồng Nai
đã có những chuyển biến, thay đổi khá tích cực trên nhiều phương diện cả vềtôn giáo và xã hội Nhưng bên cạnh đó cũng còn những vấn đề rất đáng đượcquan tâm, nhất là trên phương diện chính trị, xã hội Dường như vẫn còn mộtkhoảng cách giữa Công giáo và dân tộc, đặc biệt giữa Công giáo với chế độ
xã hội chủ nghĩa ở nước ta, giữa giáo hội với Nhà nước Vẫn còn một bộ phậnkhông nhỏ cán bộ, Đảng viên chưa nhận thức đầy đủ những quan điểm mớicủa Đảng ta về tôn giáo và vấn đề tôn giáo trong tình hình mới, còn có nhữngthành kiến, mặc cảm đối với đạo Công giáo Do đó, chưa thật sự quan tâm tạođiều kiện động viên, khích lệ đồng bào Công giáo “sống Phúc âm giữa lòngdân tộc” theo tinh thần canh tân của Công đồng Vatican II và Thư chung 1980của Hội đồng giám mục Việt Nam Từ đó động viên đồng bào Công giáo trênđịa bàn đóng góp phần mình nhiều hơn nữa vào những thành công của côngcuộc đổi mới ở địa phương
Với những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Ảnh hưởng của Công đồng Vatican II (1962-1965) đến đạo Công giáo ở tỉnh Đồng Nai hiện nay” cho
đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành tôn giáo của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu vềCông đồng Vatican II ở các phạm vi và góc độ khác nhau Trong giai đoạn từnăm 1965 đến năm 1972, Phân khoa thần học giáo hoàng học viện Thánh Piô
X Đà Lạt đã tiến hành biên dịch toàn bộ các văn kiện của Công đồng và xuất
bản thành cuốn: Thánh Công đồng chung Vaticano II: Hiến chế, sắc lệnh và
Trang 3tuyên ngôn Đây là cuốn sách biên dịch khá đầy đủ và trung thành với nội
dung của các văn kiện của Công đồng Vatican II ra tiếng Việt, tạo điều kiệncho việc nghiên cứu, triển khai nội dung của Công đồng này tại Việt Nam nóichung và tại tỉnh Đồng Nai nói riêng
Cho đến hôm nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các nhàkhoa học và giới Công giáo đề cập đến Công đồng Vatican II ở những góc độkhác nhau Trong đó có thể kể đến một số tác phẩm của các nhà nghiên cứu,
như: Đỗ Quang Hưng với Một số vấn đề lịch sử Thiên Chúa giáo ở Việt Nam.
Tủ sách Đại học tổng hợp Hà Nội năm 1990, đã có phần giới thiệu nội dung
của Công đồng Vatian II Nguyễn Đình Quý với công trình: Tìm hiểu Công đồng Vatican II, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội năm 1990 Mai Thanh Hải với bài: 40 năm Công đồng Vatican II, mười việc còn dang dở, Tạp chí nghiên
cứu tôn giáo số 4, năm 2005 Hội đồng giám mục Việt Nam tổ chức hội thảo:
Bốn mươi năm sau Vatican II nhìn lại (2005) Nguyễn Hồng Dương với các công trình như: Công đồng Vatican II ở Việt Nam (nhìn từ góc độ lí luận về hội nhập văn hóa), Tạp chí nghiên cứu tôn giáo số 3 năm 2001; 30 năm Thư chung (1980) Hội đồng giám mục Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội năm 2010; Công giáo thế giới - tri thức cơ bản và Một số vấn đề về Công giáo ở Việt Nam hiện nay, Nxb Từ điển bách khoa Hà Nội, năm 2012 …
Các tác phẩm, công trình nghiên cứu nói trên đã giành một thời lượngnhất định để giới thiệu Công đồng Vatican II dưới các góc độ khác nhau và sự
áp dụng ở Việt Nam Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu của giới
Công giáo và các nhà khoa học, như: Nguyễn Văn Sang với bài: Vai trò của người giáo dân dưới ánh sáng của Công đồng Vatican II, Tạp trí công tác tôn giáo, số 2 năm 2005; Công đồng Vatican II lí do khai mở và những giá trị được khẳng định của Lê Thị Thanh Hương; Công đồng Vatican II nửa thế kỷ nhìn lại của Phạm Huy Thông trên Tạp chí nghiên cứu tôn giáo; Sự hội nhập của Kitô giáo với thế giới hiện đại của linh mục Thiện Cẩm Năm 2005, Uỷ
Trang 4ban đoàn kết Công giáo Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học và xuất bản “Kỷ yếu hội thảo khoa học từ Công đồng Vatican II đến Thư chung 1980”, Nxb Tôn
giáo ấn hành đã giới thiệu một số bài viết của các nhà khoa học cũng như các họcgiả Công giáo về Công đồng Vatican II và ảnh hưởng của nó đến Thư chung 1980của Hội đồng giám mục Việt Nam Vinh Sơn Nguyễn Văn Định với tác phẩm:
Vatican II những điều nên biết để đọc các văn bản của Công đồng, Nxb Phương
Đông, năm 2013
Các nghiên cứu trên đã phân tích về mục đích, nội dung, ảnh hưởng củaCông đồng Vatican II tới giáo hội Công giáo toàn cầu, giáo hội Công giáoViệt Nam dưới các góc độ, phạm vi khác nhau Nhìn chung các công trìnhtrên chủ yếu dừng lại ở vấn đề lý luận, tìm hiểu những nội dung về canh tân
và thích nghi của Công đồng … Tuy nhiên do điều kiện kinh tế, xã hội, đặcđiểm dân cư mỗi vùng miền có khác nhau, nên sự vận dụng, thực hiện những nộidung của Công đồng Vatican II ở từng giáo phận cụ thể cũng khác nhau Cho đếnnay, về cơ bản vẫn chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của Công đồng Vatican II và
sự áp dụng vào thực tiễn đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những nội dung cơ bản của Công đồng Vatican II vàảnh hưởng của nó đến đạo Công giáo ở tỉnh Đồng Nai hiện nay, đề tài đề xuấtmột số giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế tiêu cực của Công giáo
Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực,hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo Công giáo ở tỉnh Đồng Nai hiện nay
Trang 54 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về thời gian, đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của Công đồng Vatican IIđến Công giáo ở Đồng Nai từ khi có chính sách mới về công tác tôn giáo(1990) đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh và quan điểm của Đảng ta về tôn giáo
Ngoài phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, như chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng cácphương pháp cụ thể như: phương pháp lôgic và lịch sử, phương pháp so sánh,phương pháp phân tích, tổng hợp …
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn
Đây là công trình bày một cách tương đối toàn diện và hệ thống về ảnhhưởng của Công đồng Vatican II đến đạo Công giáo ở tỉnh Đồng Nai hiệnnay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặttiêu cực của tôn giáo này trên địa bàn
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận, làm rõ mối quan hệ giữa giáo hội địa phương qua trườnghợp cụ thể giáo phận Xuân Lộc với giáo hội hoàn vũ theo tinh thần canh tân,đổi mới của Công đồng Vatican II
Trang 6Về thực tiễn, làm rõ những ảnh hưởng của Công đồng Vatican II đếnđạo Công giáo ở Đồng Nai hiện nay.
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 7Chương 1 CÔNG ĐỒNG VATICAN II VÀ ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH
ĐẠO CÔNG GIÁO Ở ĐỒNG NAI
1.1 CÔNG ĐỒNG VATICAN II (1962 - 1965)
1.1.1 Một số vấn đề chung về Công đồng
Đạo Công giáo là tôn giáo có hệ thống tổ chức hành chính đạo chặt chẽ,thống nhất từ giáo hội hoàn vũ (Tòa Thánh), đến giáo hội địa phương (giáophận) và giáo hội cơ sở (giáo xứ), hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi chungcho toàn đạo trên thế giới và được thực hiện khá nhất quán Tín đồ Công giáo
là người có đức tin sâu sắc, tính vâng phục bề trên rất cao Giáo triều - Nhànước Vatican là một quốc gia thần quyền duy nhất trên thế giới, vừa mangtính chất toàn cầu vừa mang tính chất địa phương
Tính chất toàn cầu thể hiện ở chỗ, Tòa Thánh Rôma vừa là một quốcgia độc lập có chủ quyền, vừa là một trung tâm điều hành hoạt động của đạoCông giáo trên toàn thế giới Giáo hoàng vừa là nguyên thủ quốc gia - đứngđầu Nhà nước Vatican, vừa là thủ lĩnh tối cao của giáo hội Công giáo trêntoàn thế giới Tín đồ Công giáo có niềm tin sâu sắc vào Thiên Chúa Ba Ngôi,cùng dùng chung kinh thánh, chịu sự chi phối bởi bộ giáo luật, giáo lý hộithánh và vâng phục sự chỉ đạo của giáo triều Vatican, đứng đầu là giáo hoàng,người được coi là đại diện tối cao của Thiên Chúa ở trần gian
Tính chất địa phương thể hiện ở chỗ, dưới Tòa Thánh Vatican là cácgiáo hội địa phương (giáo phận) trực thuộc Hệ thống tổ chức của giáo hộiCông giáo gồm 3 cấp hành chính đạo: Tòa Thánh Vatican, giáo hội địaphương (giáo phận) và giáo hội cơ sở (giáo xứ) Bên cạnh đó cũng có các cấptrung gian mang tính liên hiệp như: giáo tỉnh, giáo miền, giáo hạt, người đứngđầu giáo phận là giám mục Dưới góc độ thần học, giáo hoàng cũng là mộtgiám mục cai quản giáo phận Rôma đồng thời cai quản cả giáo hội hoàn vũ
Trang 8Giáo triều Rôma trực tiếp điều hành hoạt động của giáo hội toàn cầu, nhưngđường hướng chung cũng như những vấn đề thuộc về giáo lý, đức tin do Côngnghị giám mục đoàn (hay đại hội, còn gọi là Công đồng) quyết định.
Trong cuốn: Giáo dân với Công đồng Vatican II, Nguyễn Văn Nộiviết: “Một cách tổng quát, Công đồng là hội nghị gồm các giám mục vàmột số chức vị trong giáo hội chính thức nhóm họp, nhằm mục đích thảoluận và quyết định những vấn đề quan trọng thuộc về giáo lý hoặc kỷ luậtcủa giáo hội” [45, tr.70] Còn cuốn: Thánh Công đồng chung Vaticano II:Hiến chế, sắc lệnh, tuyên ngôn, sứ điệp viết: “Một cách tổng quát, Côngđồng là một hội nghị gồm các giám mục cùng một số chức vị trong giáo hộichính thức nhóm họp với mục đích bàn luận và quyết định những vấn đềthuộc về giáo lý hoặc quy luật của giáo hội” [64, tr.19] Như vậy, Côngđồng là hội nghị của các giáo sĩ và các chức sắc của giáo hội Công giáo Cónhiều cấp độ Công đồng, nhưng tựu chung có 2 loại là Công đồng chung vàCông đồng riêng
Công đồng chung hay công đồng phổ quát là hội nghị toàn thể các giámmục và các chức sắc cao cấp của giáo hội Công giáo trên thế giới được triệu tậpdưới thẩm quyền của giáo hoàng để bàn luận và quyết định những vấn đề quantrọng có liên quan đến giáo hội hoàn vũ Bảy Công đồng đầu tiên đều do hoàng
đế hoặc nữ hoàng Kitô giáo triệu tập Không phải do giáo hoàng, nhưng do nạnlạm quyền quá đáng của các hoàng đế nên Công đồng Latơrăng I (1123), thờigiáo hoàng Calíttô II quy định: chỉ có giáo hoàng - người kế vị Thánh tông đồPhêrô mới có quyền triệu tập Công đồng chung, hoặc ít nhất cũng phải do đạidiện được giáo hoàng uỷ quyền hay được sự chấp thuận của giáo hoàng TrướcCông đồng Vatican II, chỉ có giám mục chính toà mới được tham dự và biểuquyết trong Công đồng chung Nhưng Sắc lệnh nhiệm vụ của các giám mục củaCông đồng Vatican II xác định: “mọi giám mục đều có quyền tham dự Côngđồng chung, vì là thành phần của Cộng đoàn giám mục” [64, tr.336-337]
Trang 9Công đồng chung có vị trí đặc biệt đối với giáo hội Công giáo vì nóxác định chân lý Mạc Khải, giáo lý đức tin, ấn định những hình thức thờphụng và kỷ luật, bảo vệ đức tin Công giáo Công đồng chung có thẩmquyền cao nhất và toàn diện đối với giáo hội, là cơ quan lập pháp và giữquyền giáo huấn tối cao; có chức năng bảo vệ tín lý, đức tin, xác định bảnchất và đường hướng hoạt động của giáo hội hoàn vũ Nghị quyết của Côngđồng gồm hai loại: Nghị quyết về quy luật: ấn định luật lệ, lễ nghi, tập quáncủa giáo hội Nghị quyết về giáo lý: xác định tín lý đức tin, làm sáng tỏ nhữngđiểm giáo lý còn nghi ngờ, xác định chân lý Mạc khải bị các lạc giáo chối từ vàlên án các luận điểm trái với đức tin Công giáo bằng các phán quyết “tuyệtthông” Các nghị quyết của Công đồng có giá trị tối cao đối với toàn thể giáohội và có ân sủng “bất khả ngộ” (không sai lầm) Tất cả các thành phần DânChúa không có quyền bài bác quyết định của Công đồng chung Nếu phạmphải sẽ bị phạt vạ “tuyệt thông”, khai trừ ra khỏi giáo hội Đây là hình phạtthiêng liêng nặng nhất, đáng sợ nhất đối với mỗi một tín đồ Công giáo.
Công đồng riêng là hội nghị gồm các giám mục và các giáo sĩ của giáohội ở một khu vực (giáo tỉnh, giáo miền, quốc gia, khu vực châu lục hay châulục) nhằm bàn luận và giải quyết những vấn đề có liên quan đến đạo Cônggiáo ở khu vực đó Có nhiều loại hình Công đồng riêng như: Đại công đồnghay Công đồng liên giáo tỉnh là hội nghị các giám mục của nhiều giáo tỉnh,dưới sự chủ tọa của sứ thần Toà thánh Công đồng giáo tỉnh là hội nghị cácgiám mục và giáo sỹ trong một giáo tỉnh dưới sự chủ tọa của Tổng giám mụchoặc của một giám mục niên trưởng (người cao tuổi nhất) Công đồng toànquốc, Công đồng toàn miền là hội nghị của các giám mục trong một quốc giahoặc một vùng nào đó, họp thường kỳ hoặc không thường lệ Công nghị giáophận là hội nghị của giám mục giáo phận với các giáo sỹ của mình
Thượng Hội đồng giám mục là một định chế có từ sau Công đồngVatican II do giáo hoàng triệu tập gồm đại biểu được lựa chọn từ các miền
Trang 10trên thế giới nhằm giải quyết những vấn đề có liên quan đến giáo hội mà xétthấy chưa đến mức phải triệu tập Công đồng chung Thượng Hội đồng giámmục họp theo định kỳ bắt đầu từ năm 1965.
Lịch sử giáo hội Công giáo đã có nhiều Công đồng, nhưng chỉ có 21Công đồng được coi là Công đồng chung Trước Công đồng Vatican II, có 20Công đồng, trong đó có 8 Công đồng họp tại phương Đông Tất cả các hệ pháiKitô giáo đều thừa nhận giá trị pháp lý của bảy Công đồng đầu tiên Nhìnchung, 20 Công đồng trước Vatican II có những đặc điểm chung sau đây:
Một là, các Công đồng chung trước Vatican II đã xác định chân lý Mạc
khải và hệ thống tín lý cơ bản của giáo hội Công giáo Cùng với kinh thánh,những xác quyết của các Công đồng này đã góp phần hoàn thiện và thốngnhất hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi của đạo Công giáo
Hai là, tất cả các Công đồng trước Vatican II chỉ có các giáo sỹ phương
Tây tham dự, không có giáo sỹ nào thuộc các nước châu Phi và châu Mỹ latinh
Ba là, tất cả các Công đồng trước Vatican II đều lên án, phê phán hoặc
chống lại các tôn giáo, các giáo thuyết mà giáo hội cho là tà đạo, lạc giáo đểcủng cố và bảo vệ đức tin Công giáo, xác lập địa vị độc tôn, duy nhất của giáohội Công giáo ở châu Âu trong một nghìn năm thời trung cổ Nhưng nó cũnggây nên mâu thuẫn dẫn đến việc Kitô giáo bị chia rẽ sâu sắc Đồng thời tạo ra
xu hướng bảo thủ, trì trệ bởi hệ thống giáo lý, giáo luật, nghi lễ rườm rà, khắtkhe, cơ cấu tổ chức giáo hội cồng kềnh
Công đồng Vatican II được xem là bước ngoặt của giáo hội, vìnhững vấn đề đặt ra, xem xét, phán quyết đều hướng tới mục tiêu giáohội nhìn lại mình, xác định lại vị trí của giáo hội trong thế giới hiện đại,tiên tiến, như giáo hoàng Phaolô VI đã viết “làm cho giáo hội phải tựnhận thức về mình, nghĩ về mình và về tương quan của mình với thế giới
ra sao? đối thoại với những Kitô hữu khác, tín đồ tôn giáo khác, với thếgiới tân tiến” [73, tr.93]
Trang 111.1.2 Hoàn cảnh ra đời Công đồng Vatican II
1.1.2.1 Hoàn cảnh thế giới
Công giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới, lịch sử phát triển của nóluôn gắn với lịch sử thế giới, do đó những biến động lớn của lịch sử thế giớiđều có tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến đạo Công giáo, trước hết là giáotriều Rôma Lịch sử thế giới từ sau Công đồng Vatican I (1870) đến trước khidiễn ra Công đồng Vatican II đã có những biến động vô cùng to lớn
Sự thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga với việc ra đời của nhànước liên bang xã hội chủ nghĩa Xô Viết sau chiến tranh thế giới thứ nhất và
hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa sau chiến tranh thế giới thứ hai đã tạo rathế lưỡng cực, đối đầu quyết liệt nhau về ý thức hệ: vô sản và tư sản, chủnghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, duy tâm và duy vật, vô thần và hữu thầntrên quy mô toàn cầu Các nước xã hội chủ nghĩa dựa trên nền tảng tư tưởngcủa học thuyết Mác - Lênin, khoa học và cách mạng đã tấn công trực tiếp vàonền tảng tư tưởng giáo lý cũng như những tín lý, giáo luật, lễ nghi của Giáohội Công giáo mà với thời gian đã trở nên lỗi thời, đi ngược lại những lợi íchchung của nhân loại và sự thăng tiến của con người
Hai cuộc chiến tranh thế giới đã tác động mạnh mẽ vào lịch sử nhânloại và có ảnh hưởng trực tiếp đến giáo hội Công giáo Hai cuộc thế chiến với
sự huỷ diệt của nó đã làm cho người ta nghi ngờ và thất vọng về chủ nghĩa tưbản và các giá trị phương Tây Kitô giáo Từ đó nảy sinh các dòng triết học vềthân phận con người Hơn nữa, giáo hội Công giáo đã bị dư luận lên án bởi thái
độ thờ ơ của họ trước chủ nghĩa bài Do Thái của phát xít Đức
Sự giải thể của chủ nghĩa thực dân trước làn sóng giải phóng dân tộc ởcác nước Á, Phi, Mỹ latinh đã kéo theo sự suy thoái của chủ nghĩa giáo hội ởchâu Âu Đồng thời đã xuất hiện xu hướng khám phá, khẳng định lại các giá trịnhân văn, văn hóa cổ truyền của các nước vốn là thuộc địa, thuộc thế giới thứ
ba Nó làm trỗi dậy tinh thần dân tộc và khích lệ giáo sỹ, giáo dân ở các sứ
Trang 12truyền giáo đứng lên đấu tranh chống chủ nghĩa giáo sỹ thống trị trong giáohội, đòi thành lập giáo hội quốc gia độc lập do giáo sỹ bản địa coi sóc giáo hội
và đàn chiên của mình Đó là phong trào đấu tranh đòi xoá bỏ đặc quyền, đặclợi của các giáo sỹ phương Tây và thiết lập hàng giáo phẩm bản quốc dochính các giáo sỹ bản địa cai quản giáo hội của mình
Đến nửa đầu thế kỷ XX, đặc biệt sau chiến tranh thế giới thứ hai, phongtrào thế tục hóa diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, nhất ở các nước châu Âu, đãtấn công trực diện vào tôn giáo, trước hết là Công giáo Bên cạnh đó, sự pháttriển của phong trào đấu tranh vì hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hộilàm cho những lề luật, lễ nghi và thiết chế của đạo Công giáo trở nên trật hẹp,lỗi thời kìm hãm sự phát triển của xã hội và sự thăng tiến của con người
Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, nhất
là từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đã tạo ra xu hướng tâm lý con ngườihướng về niềm tin khoa học thực chứng hơn là tin vào những tín điều thần bícủa tôn giáo Khoa học công nghệ phát triển làm cho nền tảng giáo lý vànhiều tín điều của Công giáo bị lung lay Với nhiều người, sức thu hút củaThiên đường trên mặt đất trở nên hấp dẫn hơn nhiều “Thiên đường” củaThiên Chúa, có người đã tuyên bố rằng “Chúa đã chết”
Những biến động to lớn của thế giới trong nửa đầu thế kỷ XX đã tácđộng mạnh mẽ tới giáo triều Rôma và giáo hội hoàn vũ, buộc giáo hội phảinhìn nhận một cách khách quan, trung thực về sự biến động đó để thích ứng,sống với và sống cùng nhân loại trong thế giới ngày nay
1.1.2.2 Bối cảnh giáo hội
Bên cạnh những thách thức của thời đại nêu trên, sang thế kỷ XX, giáohội Công giáo còn phải đối mặt với những thách thức chính trong bản thân,nội bộ của giáo hội
Sự cấu kết của giáo hội Công giáo trong quá trình truyền giáo ra vùng
“dân ngoại” với chủ nghĩa thực dân xâm lược thuộc địa trong một thời gian
Trang 13dài đã gây nên sự phản ứng mạnh mẽ của giáo dân và giáo sỹ Công cuộctruyền giáo ra ngoài châu Âu gắn liền với quá trình thực dân hóa, các nước tưbản phương Tây mở rộng chiến tranh xâm lược thuộc địa ở châu Á, Phi và
Mỹ Latinh Quá trình đó đã dẫn đến sự cấu kết, lợi dụng lẫn nhau giữa giáohội Công giáo và chủ nghĩa tư bản phương Tây trong việc truyền giáo và xâmlược thuộc địa Giáo hội và chủ nghĩa thực dân trở thành kẻ thống trị và nôdịch nhân dân các nước thuộc địa đã gây nên sự phản ứng, lên án của giáo sỹ,giáo dân
Thái độ coi thường các tôn giáo khác đã gây bất lợi cho giáo hộiCông giáo trong việc mở rộng ảnh hưởng của mình Đối với các tôn giáoanh em trong gia đình Kitô giáo như: Chính thống giáo, Tin lành, Anh giáo đã
bị giáo hội phạt vạ tuyệt thông gây nên sự chia rẽ, mâu thuẫn kéo dài nhiềuthế kỷ Nay giáo hội Công giáo thấy cần phải bình tĩnh để nhìn nhận lại vàmong muốn nối kết lại những người anh em Kitô trong tình hiệp thông Đốivới các tôn giáo ngoài Kitô luôn bị giáo hội xem thường, coi là những dị giáo.Điều ấy đã gây không ít khó khăn cho Công giáo khi xâm nhập vào nhữngvùng đất có nền văn hoá lâu đời như Á Đông Vì vậy, giáo hội thấy cần phảitôn trọng và thừa nhận các tôn giáo khác
Tình trạng bảo thủ, trì trệ với một thể chế già nua của mình làm chogiáo hội càng trở nên lỗi thời không theo kịp đà tiến triển chung của nhânloại Tình trạng này xuất hiện từ sau Công đồng Trentô (1545 - 1563), càngđược củng cố bởi tín điều “Bất khả ngộ” của giáo hoàng do Công đồngVatican I xác quyết Công đồng Trentô ra đời trong hoàn cảnh cải cách tôngiáo đưa tới sự ra đời của đạo Tin lành với giáo lý, giáo luật, hệ thống tổ chứcđơn giản lại đề cao tự do cá nhân đã làm cho nhiều tín điều của đạo Công giáocũng như thiết chế của giáo hội bị lung lay Do đó, tinh thần chung của Côngđồng Trentô là co xiết chặt lại luật lệ và tổ chức để bảo vệ đạo Công giáotrước sự tấn công của đạo Tin lành và chủ nghĩa tư bản đang lên Tình hình đó
Trang 14dần dần kéo theo sự bảo thủ, trì trệ trong giáo hội và được củng cố thêm bởitín điều “bất khả ngộ” của công đồng Vatican I (1870) Nhìn chung, đườnghướng của Vatican I vẫn theo tinh thần của Công đồng Trentô mà không có sựthay đổi, trong khi sau hơn 300 năm lịch sử nhân loại đã có nhiều đổi thay.
Từ đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một trào lưu thần học cấp tiến mới như:Thần học biện chứng, Thần học văn hoá, Thần học Đen, Thần học Phụ nữ,đặc biệt dòng Thần học giải phóng nổi tiếng Họ phản đối cứu rỗi mang tính
cá nhân có tính cách tinh thần thuần túy, mà khẳng dịnh cứu rỗi phải mangtính nhân loại, cả trên phương diện vật chất và tinh thần Họ cho rằng nhiệm
vụ của thần học ngày nay là phải lên án sự đàn áp, bất công, nô dịch, bênhvực quyền lợi của các nhóm thiểu số, sắc tộc, ủng hộ phụ nữ Họ kêu gọi cầnphải giải thích lại kinh thánh theo tinh thần giải phóng, nhiệm vụ chính củaHội Thánh hôm nay là phải giải phóng nhân dân khắp nơi thoát khỏi tìnhtrạng bị áp bức, phi nhân bản mà họ đang gánh chịu Cần phải đánh giá lại,thậm chí cần phải sửa lại giáo lý chính yếu của Kitô giáo; phải noi gương ĐứcGiêsu Kitô để giải phóng và bảo vệ người nghèo bị áp bức; nước Thiên Chúa
ở đời này chứ không phải ở đời sau; tội lỗi của con người chủ yếu là nhữngđiều xấu về mặt xã hội chứ không phải là xúc phạm đến Thiên Chúa và do đó
sứ mạng của Hội Thánh là giải phóng con người về mặt chính trị xã hội chứkhông phải mang tính cách chung Mạc khải khách quan của Thiên Chúa tuỳthuộc vào kinh nghiệm của mỗi người
Hệ quả của tư tưởng bảo thủ, trì trệ và ý thức vươn lên theo kịp thời đạitrong nội bộ giáo hội Công giáo được biểu hiện ra hai xu hướng Xu hướngbảo thủ cực đoan: tiêu biểu là Hồng y Ốttaviani (Ý), linh mục Misen Cônlanh,đặc biệt giám mục người Pháp Lefebvre Họ được xem là những kẻ “bảohoàng hơn vua”, chống lại mọi sự thay đổi của giáo hội Họ cho rằng mọi sựthay đổi có thể dẫn tới tà đạo, lạc giáo và làm mất đi tính ưu việt của đạoCông giáo Xu hướng cấp tiến: tiêu biểu là nhóm giáo sỹ trẻ do linh mục Han
Trang 15Skung (Đức) đứng đầu Phái này lên tiếng phản đối văn bản “Mầu nhiệm giáohội” của Bộ Giáo lý đức tin vì nó một lần nữa tái khẳng định lại “ơn bất khảngộ” của giáo hoàng Họ chủ trương xây dựng một nền “thần học về cõi” đểlàm nguồn cho “thần học chính trị", cho rằng trách nhiệm của người Cônggiáo là phải hoạt động trần thế, cải tạo chứ không phải chiêm ngẫm trần thế;phải lo cho công ích, công lợi chứ không phải chỉ lo cho lợi ích cá nhân Xuhướng cấp tiến ngày càng thắng thế trong giáo hội, mà đại biểu là giáo hoàngGioan XXIII - người chủ xướng và triệu tập Công đồng Vatican II.
1.1.2.3 Giáo hoàng Gioan XXIII và Công đồng Vatican II.
Ngày 9/10/1958, giáo hoàng Piô XII từ trần Ngày 28/10 Hồng y AngelôRoncalli, người Ý, 77 tuổi được bầu làm giáo hoàng, lấy hiệu là Gioan XXIII.Trước khi được bầu làm giáo hoàng, Gioan XXIII đã từng làm sứ thần tại:Bungari, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Paris, năm 1953 được cử làm Hồng y tại Viên
Ở tuổi cao như vậy nên dư luận chung đều cho rằng đây là vị giáohoàng đóng vai trò “chuyển tiếp, giao thời”, nhưng ông đã làm cho cả giáohội Công giáo và thế giới phải kinh ngạc khi quyết định triệu tập và điềuhành Công đồng chung thứ 21 - Công đồng Vatican II Việc làm đầu tiên củagiáo hoàng Gioan XXIII là ngày 28/12/1958, ông tấn phong 23 vị Hồng y,nâng tổng số Hồng y đoàn lên 75 người, vượt quá con số “truyền thống” 70
đã được giáo hoàng Sixtô V ấn định từ năm 1586 Ngày 29/1/1959 giáohoàng Gioan XXIII chính thức tuyên bố triệu tập Công đồng chung với mụcđích: "Phát huy đức tin Công giáo, canh tân và làm lành mạnh những phongtục các dân tộc Kitô giáo và ban hành Bộ Giáo luật thích nghi với nhu cầuthời đại chúng ta hơn” Trọng tâm của Công đồng là hiệp nhất giáo hội
“Chúng ta hãy hiệp nhất với nhau và chúng ta hãy chấm dứt mọi bất hoà”;
“để sửa lại Bộ Giáo luật cho thích nghi với thời đại” [64, tr.25] Như vậy,
mục đích Công đồng đã được giáo hoàng Gioan XXIII nêu rõ là: Canh tânđời sống giáo hội, hiệp nhất Kitô giáo và thích nghi với thời đại
Trang 161.1.3 Diễn biến và đặc điểm của Công đồng Vatican II
Giai đoạn chuẩn bị (từ ngày 14/11/1960 đến ngày 11/10/1962) Ngày5/6/1960, giáo hoàng tuyên bố kết thúc giai đoạn tiền chuẩn bị, thành lập 12
Uỷ ban và 3 văn phòng để chuyển sang giai đoạn chuẩn bị Mỗi Uỷ ban tươngđương với một bộ của giáo triều Thành phần gồm các giáo sỹ được tuyểnchọn từ khắp nơi trên thế giới, do 01 Hồng y làm chủ tịch Uỷ ban Trungương do giáo hoàng làm chủ tịch Nhiệm vụ của giai đoạn này là các Uỷ bantiến hành soạn thảo văn kiện trên cơ sở các ý kiến đã thu thập được trong thời kỳtiền chuẩn bị Kết quả, ban đầu có 70 lược đồ để đưa ra Công đồng, nhưng sau
đó rút xuống còn 17 lược đồ
Ngày 25/12/1961, giáo hoàng công bố sẽ triệu tập Công đồng vào năm
1962 Ngày 02/02/1962, giáo hoàng tuyên bố ấn định thời gian khai mạcCông đồng vào ngày lễ đức Maria Mẹ Thiên Chúa là ngày 11/10/1962 Ngày06/8/1962, ông quyết định thành lập 10 Uỷ ban chính thức của Công đồng,giai đoạn chuẩn bị kết thúc
Các kỳ họp chính thức: Công đồng trải qua 4 kỳ họp chính thức
Trang 17Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 11/10/1962 đến ngày 08/12/1962) Ngày11/10/1962, Công đồng chính thức khai mạc tại vương cung Thánh đườngThánh Phêrô Tham dự phiên khai mạc có 2.540 nghị phụ thuộc 134 quốc giatrong tổng số 2.904 nghị phụ được mời tham dự Công đồng Ngoài ra còn có
460 chuyên viên thần học và giáo luật, 29 quan sát viên thuộc các tôn giáonhư: Chính Thống giáo, Anh giáo, Tin lành, 85 phái đoàn đại diện cho cácquốc gia
Kỳ họp này kéo dài gần 2 tháng và kết thúc vào ngày 08/12/1962,nhưng chưa thông qua một văn kiện nào Công đồng dự định sẽ họp kỳ thứ 2vào ngày 08/9/1963 Nhưng ngày 03/6/1963 giáo hoàng Gioan XXIII từ trần.Ngày 21/6/1963 Hồng y Montini, Tổng giám mục Milan được bầu làm giáohoàng, tước hiệu Phaolô VI Ngày 26/6/1963, giáo hoàng Phaolô VI tuyên bố
Kỳ họp thứ IV từ ngày 14/9 đến ngày 08/12/1965, qua 04 khoá họp
thông qua 02 hiến chế, 06 sắc lệnh và 03 tuyên ngôn kết thúc Công đồng [57].
1.1.3.2 Đặc điểm của Công đồng Vatican II
So với các Công đồng chung trong lịch sử, Công đồng chung Vatican II
có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Vatican II là Công đồng chung lớn nhất, phổ quát nhất trong lịch sửgiáo hội Công giáo Đây là Công đồng có số lượng giám mục, giáo sỹ, đạibiểu được mời dự tham gia đông nhất, từ nhiều quốc gia nhất; có nhiều ý kiếnđóng góp nhất, thảo luận và thông qua nhiều vấn đề nhất; nhận được sự quantâm, theo dõi nhiều nhất Có khoảng 3.000 giám mục khắp thế giới tham dự;
460 chuyên viên (linh mục và tu sĩ) tham gia soạn thảo, sửa chữa, hoàn thiện
Trang 18lược đồ và văn bản; 311 đại biểu đại diện của các giáo hội Kitô không phảiCông giáo Có 2.109 ý kiến trả lời với 8.972 đề nghị Trong các phiên họp có
695 nghị phụ phát biểu với 2.234 lần (Ý 309 lần, Tây Ban Nha 237 lần, Pháp
231 lần, Đức 141 lần, Việt Nam 16 lần) tại nghị trường; có 147 biên bản họp,2.212 diễn văn, 4.361 bài viết Qua 04 khóa họp có tất cả 538 cuộc bỏ phiếu,hàng ngày có khoảng 2.200 giám mục họp, có văn kiện phải bỏ phiếu tới 15lần mới được thông qua … [57]
Vatican II là Công đồng mà giáo hội tự kiểm điểm về mình Đây làCông đồng chung đầu tiên trong lịch sử 2000 năm qua, giáo hội tự kiểm điểm
về mình; thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm của mình trong quá khứ và sựlạc hậu về cơ chế trong hiện tại Qua đó sám hối những sai lầm luân lý củagiáo hội trong lịch sử Việc giáo hội tuyên bố về quyền tự do tôn giáo cũng
có nghĩa là sự thừa nhận trong quá khứ giáo hội đã vi phạm tự do tôn giáo,ngay cả với Tin mừng
Vatican II là Công đồng về nguồn - Công đồng Mục vụ Công đồngkhông lên án hay chống đối các tôn giáo khác và các trào lưu tư tưởng triếthọc, mà cách xác định lại vị trí của giáo hội trong thế giới ngày nay; điềuchỉnh lại sự thăng bằng giữa thánh kinh và thánh truyền; Chú trọng đến nềnthần học thánh linh theo truyền thống phương Đông; Không bàn đến việc sửa đổitín lý; Định tín nền thần học tín lý về giáo hội; Giữ nguyên và bảo tồn các giátrị pháp lý của các Công đồng chung trong lịch sử “Các giáo hội Đôngphương được khuyến khích trở về với những truyền thống riêng của họ, chấmdứt một thời kỳ Latinh hóa và mở ra một sự đánh giá mới về tính đa dạngtrong lòng giáo hội hoàn vũ” [57, tr.87]
Vatican II con là Công đồng thích nghi với thời đại Đây là Công đồngđầu tiên chính thức và công khai thừa nhận giá trị của các tôn giáo khác theotinh thần tôn trọng quyền tự do“lương tâm” Đồng thời thừa nhận giá trị đứctin, quyền lợi thánh linh của các tôn giáo trong Kitô giáo Giáo hội hoàn vũ
Trang 19tuyên bố hoà nghị với các tôn giáo khác theo tinh thần đại kết, liên tôn Vấn
đề “đại kết” được quan tâm qua những cuộc đối thoại chính thức giữa giáo hộiCông giáo và các giáo hội Kitô giáo khác cũng như trong các buổi cầu nguyệnhay trao đổi thân mật ở các cấp địa phương” [57, tr.86-87]
1.1.4 Các văn kiện và nội dung của Công đồng Vatican II
1.1.4.1 Các văn kiện của Công đồng
Công đồng Vatican II đã thảo luận và thông qua 16 văn bản chính thứcgồm: 04 hiến chế, 09 sắc lệnh, 03 tuyên ngôn Ngoài ra còn có 02 sứ điệptrong dịp khai mạc và bế mạc của Công đồng
Hiến chế là chế độ lập hiến, tài liệu tín lý có giá trị học thuyết vữngchắc và lâu bền Đó là văn kiện quan trọng nhất, thể hiện quan điểm thần họccủa giáo hội về những vấn đề có tính nền tảng giáo lý của giáo hội Công giáo.Công đồng đã thông qua 04 hiến chế gồm có:
Hiến chế tín lý, mang tên Ánh sáng muôn dân là văn kiện quan trọngnhất của Công đồng, gồm 08 chương, 69 đoạn, thông qua ngày 21/11/1964 Nótoát lên toàn bộ đặc tính căn bản của giáo hội theo quan điểm thần học, thể hiệnđầy đủ tư tưởng của Công đồng Vatican II là Công đồng giáo hội nói về chínhmình, tự kiểm điểm về mình Hiến chế này đặt ra và giải quyết mọi vấn đề vềgiáo hội, do đó đã trở thành nền tảng cho khoa giáo hội học Nó khẳng địnhgiáo hội là mầu nhiệm cứu độ của Chúa mang đến cho loài người; thành phầncủa giáo hội là Dân Thiên Chúa; là thành viên của giáo hội với đầy đủ tư cách,tất cả giáo dân đều được gọi nên Thánh Nó nêu những ý tưởng mới về Chúa
Ba Ngôi; về sự mầu nhiệm trong mối quan hệ giữa giáo dân (Dân ThiênChúa) và giáo hội; về tư cách truyền giáo của người Kitô hữu; những quyđịnh mới về chức trách giám mục; về đời sống tu sỹ; về đức mẹ Maria
Hiến chế Mục vụ về giáo hội trong thế giới ngày nay, mang tên Vuimừng và Hy vọng là văn kiện quan trọng thứ 02 của Công đồng và là văn kiệndài nhất, gồm 02 phần, 09 chương, 93 đoạn, thông qua ngày 07/12/1965 Nó
Trang 20thể hiện rõ thái độ và xác định vai trò phục vụ của giáo hội đối với xã hội trongthời đại ngày nay; làm rõ chân giá trị của xã hội để phục vụ và tôn trọng xácđáng, chân thực chứ không phải xa lánh như trước đây Công đồng khẳng định:
“Giáo hội ngày nay phải thâm nhập vào xã hội trần thế, thi hành sứ vụ phục vụcon người nhằm thực thi Phúc âm hoá thế giới đối thoại với những người vôthần, vận động, cổ vũ hòa bình và khoa học, tìm ra những phương tiện điềuhòa sinh sản” [75, tr.29] Hiến chế trình bày về thế giới hiện đại với những hyvọng và lo âu về sự chênh lệch giàu nghèo sâu sắc; những bất đồng trầm trọng
về chính trị, xã hội, kinh tế, chủng tộc, ý thức hệ
Phần I có ý nghĩa mục vụ, giáo hội giải đáp những vấn nạn trên với nộidung: giáo hội đề cao phẩm giá của con người và gia đình, những yêu cầu đểkiến thiết xã hội ngày nay gắn với sứ mệnh của giáo hội là phục vụ; lý giải vàmời gọi tìm hiểu thế giới hiện tại, con người trong thế giới hiện tại sẽ đi vềđâu? Dân Chúa và nhân loại sẽ giúp nhau như thế nào? quan hệ giữa giá trịnhân đạo nói chung và tôn giáo? Vai trò của giáo hội với thế giới, thông quađối thoại và bằng cách đối thoại giáo hội sẽ mang lại lợi ích cho con người và
xã hội, giúp cho con người hiệp nhất với nhau
Phần II có ý nghĩa tín lý, đề cập đến những vấn đề của xã hội hiện đạinhư: hôn nhân và gia đình, chấn hưng nền văn hóa, đời sống kinh tế, xã hội,
cổ vũ hòa bình và xây dựng cộng đoàn dân tộc; vấn đề đời sống chính trị thếgiới với giáo hội Tóm lại, hiến chế này trình bày mối tương quan giữa giáohội và thế giới, giải quyết mối quan hệ giữa nguyên tắc và hành động, đức tin
và đời sống, tín lý và mục vụ
Hiến chế về phụng vụ thánh, mang tên Thánh Công đồng, là văn kiệnquan trọng thứ 03 của Công đồng, gồm 07 chương, 130 đoạn, thông qua ngày04/12/1963 Hiến chế này xác định phụng vụ, hoạt động thờ phụng là đỉnhđiểm sinh hoạt của giáo hội và là mạch nguồn của đức tin Công giáo Nó hàmchứa các nền tảng thần học về canh tân phù hợp với nguyên tắc thống nhất,
Trang 21phổ quát, thích nghi thời đại và hội nhập được mọi nền văn hoá TrướcVatican II, chưa có một Công đồng nào bàn bạc một cách thấu đáo về phụng
vụ, việc phụng vụ giáo hội là lối phụng vụ cố định, bất biến trong khuôn khổthống nhất nhưng không phổ quát, vì tín đồ trong các sứ truyền giáo khôngthể lĩnh hội hết ý nghĩa của tinh thần phụng vụ Vì thế, Công đồng đã dànhmột hiến chế để bàn về phụng vụ và hướng dẫn nguyên tắc trong phụng vụphù hợp với thời đại Do việc canh tân phụng vụ Latinh đang được tiến hành
ở các nước nên Hiến chế chỉ nêu khuôn khổ chung cho việc cải tổ, còn việc ápdụng tuỳ thuộc ở giáo hội mỗi nước Đó là quyền hạn pháp lý đầu tiên mà
Công đồng uỷ thác cho các Hội đồng giám mục địa phương Hiến chế đưa ra
những chỉ dẫn tổng quát của việc cải tiến phụng vụ sao cho phù hợp với từngđịa phương, yêu cầu đưa các loại hình âm nhạc, ngôn ngữ địa phương vàothánh nhạc hay kiểu kiến trúc truyền thống của từng địa phương vào xây dựngthánh đường Giáo dân được mời gọi tham gia phụng vụ dựa trên nền tảnggiáo lý Tinh thần canh tân đổi mới nổi rõ ở việc đề cao sự thích nghi về ngônngữ, văn hóa với các dân tộc trên thế giới, cho dùng tiếng mẹ đẻ - ngôn ngữđịa phương trong giảng dạy kinh thánh và trong nghi lễ thờ phụng
Hiến chế tín lý về Mạc khải của Thiên chúa, mang tên lời Thiên Chúa
là văn kiện quan trọng thứ 4, đồng thời là văn kiện then chốt cho vấn đề hiệpnhất Kitô giáo, gồm 03 chương, 43 đoạn, thông qua ngày 28/10/1965 Hiến chếnày không đặt vấn đề đưa ra một tín điều nào mới hay sửa đổi, xét lại các tínđiều cũ Nó khẳng định từ nguyên thuỷ đến hiện đại kho tàng đức tin là do chínhThiên Chúa Mạc khải cho giáo hội; kinh thánh chứa đựng lời Thiên Chúa đãđược ghi chép dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần; Thánh truyền cũng là lờiThiên Chúa do Đức Giêsu Kitô truyền dạy các tông đồ và các Ngài truyền lạicho những kẻ nối nghiệp trong giáo hội; hàng giáo phẩm phải có nhiệm vụ giảithích lời Chúa một cách chính thức Hiến chế nhấn mạnh đến địa vị quan trọngcủa thánh kinh trong đời sống giáo hội, cho rằng “Thánh kinh và thánh truyền là
Trang 22một kho tàng chứa đựng lời Chúa và khích lệ sử dụng việc nghiên cứu có tính
cách khoa học tân tiến trong vấn đề học hỏi thánh kinh” [75, tr.26] Công đồng
đưa ra nguyên tắc trong lưu truyền và chú giải kinh thánh, giải quyết vấn đề thenchốt trong hiệp nhất Kitô hữu, với những nhận thức mới về Cựu ước và Tânước, tạo cơ hội xích lại gần hơn với những giáo hội ly khai
Để hiện thực hóa ý tưởng của 04 hiến chế trên, Công đồng đã thôngqua 09 sắc lệnh và 03 tuyên ngôn Trong 09 sắc lệnh, trừ sắc lệnh về cácphương tiện truyền thông xã hội, các sắc lệnh khác đều dựa trên nền tảng giáo
lý của hiến chế tín lý về giáo hội để giải thích các khía cạnh và nhất là để nêulên một chương trình cụ thể cho việc thích nghi với đời sống của giáo hội
Sắc lệnh là những văn kiện nhằm cụ thể hoá các quan điểm thần họccủa hiến chế về một lĩnh vực nào đó để thực thi 09 sắc lệnh, gồm có 01 Sắclệnh về giáo hội Công giáo phương Đông; 02 Sắc lệnh về hiệp nhất; 03 Sắclệnh về nhiệm vụ, Mục vụ của giám mục; 04 Sắc lệnh về canh tân thích nghiđời sống dòng tu; 05 Sắc lệnh về đào tạo linh mục; 06 Sắc lệnh về tông đồgiáo dân; 07 Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo; 08 Sắc lệnh về chức vụ vàđời sống linh mục và 09 Sắc lệnh về phương tiện truyền thông xã hội
Ba Tuyên ngôn (lời bày tỏ ý kiến), gồm: Tuyên ngôn về tự do tôn giáo;Tuyên ngôn về tự do Kitô giáo và Tuyên ngôn về liên lạc của giáo hội với cáctôn giáo khác ngoài Kitô
Ngoài ra, còn 02 sứ điệp, gồm Sứ điệp gửi cho hết mọi người, mọi dântộc trên thế giới và Sứ điệp gửi cho toàn thể nhân loại
1.1.4.2 Nội dung cơ bản của Công đồng
Công đồng Vatican II đưa ra bàn thảo và quyết định rất nhiều vấn đề,song chủ yếu tập trung vào ba chủ đề chính dưới đây:
Một là, hình thành và xây dựng một nền thần học trở về nguồn Về
nguồn có nghĩa là trở về với tinh thần của giáo hội Chúa Giêsu, thời các tông
đồ, thời giáo hội sơ khai trên mọi phương diện của đời sống đức tin
Trang 23Về giáo lý, Công đồng tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh những vấn đềchính yếu, những tín điều căn bản đã được ghi trong kinh thánh và những xácquyết của các Công đồng trong lịch sử như: Thiên Chúa Ba ngôi; công cuộccứu chuộc loài người của Chúa Giêsu; vai trò thánh hoá hội Thánh của ChúaThánh Thần; Đức Maria mẹ Thiên Chúa trong màu nhiệm của Thiên Chúa vàgiáo hội, về nước trời và hội thánh …
Vấn đề giáo hội là nội dung lớn nhất và quan trọng nhất, tranh luậnnhiều nhất, trong đó giáo hội tìm định nghĩa cho mình, cho sự đổi mới củagiáo hội Trong thời đại mới trước những thay đổi nhanh chóng của xã hội cầnphải thực hành chủ trương đối thoại và nhập thế, “làm cho giáo hội trở thànhchủ đề chính của Công đồng, nghĩa là giáo hội phải tự nhận thức về mình,giáo hội nghĩ về mình thư thế nào và giáo hội nghĩ về tương lai của thế giới rasao” [57, tr.93] Theo các nhà thần học thì đây là "Công đồng của giáo hội nói
về giáo hội", trong đó giáo hội đã đi tìm định nghĩa cho mình Công đồng đãđưa ra những định nghĩa thần học về giáo hội theo các hình ảnh khác nhaucủa kinh thánh, rằng giáo hội là Dân Thiên Chúa; là thân thể Chúa Kitô; lànước Thiên Chúa; là đền thờ của Chúa Thánh Thần; là gia đình chung toàncầu gồm cộng đoàn giáo dân và giáo sỹ; là vị hôn thê của Chúa Kitô Côngđồng cho rằng “Giáo hội ngày nay không thể cứ tự vỗ ngực là thần thánh nhưtrước đây mà phải hạ mình xuống, phải phục vụ cho con người, do đó cầnphải đổi mới bộ mặt của giáo hội, làm tươi trẻ lại cơ cấu và đem lại nhựa sốngcho thân thế đã già nua của giáo hội” [57, tr.95]
Giáo hội ngày nay phải đi theo hướng "đối thoại", phải "nhập thế" đisâu vào những nguyện vọng của con người, phải là một vòng tròn đồng tâmcắm dễ vào đời sống xã hội trần thế Muốn vậy, phải noi gương theo ChúaKitô xưa kia là không ngừng "canh tân", "cải tổ", "thích nghi", phải "hiệpthông cả trong lĩnh vực thế tục cũng như trong hoạt động tôn giáo", phải đemPhúc Âm đến để cứu rỗi chứ không phải để cai trị và phạt vạ, đi hầu hạ chứkhông bắt ai hầu hạ" [57, tr.95]
Trang 24Về giáo sỹ được đề cập với một tinh thần mới, Công đồng nhìn nhậncác giáo phụ là những chứng nhân đặc quyền của tông truyền trong việc chúgiải chứng tích thuộc kinh thánh Theo Công đồng Vatican II giáo sỹ khôngphải là những công chức của giáo hội, mà phải tham dự năng động và tích cựcvào các hoạt động xã hội để chu toàn sứ mệnh của mình; chức giám mục, linhmục không phải bắt người ta hầu hạ mà phải đi hầu hạ người ta, phải từ bỏquyền lợi cá nhân, đừng tính toán đến quyền lợi cá nhân mà phải lo cho quyềnlợi của số đông Trong hoàn cảnh mới, giáo hội quyết định đổi mới lại phươngthức đào tạo linh mục, khôi phục chức phó tế vĩnh viễn và đề cao vai trò hoạtđộng tông đồ của giáo dân Đồng thời chủ trương đổi mới cách thức truyềngiáo, cho phép những hình thức rao giảng đạo như dùng tiếng mẹ đẻ và nhằmđối thoại chứ không độc thoại
Về đời sống tu trì, Công đồng cho rằng cần tiếp tục phát triển các hộidòng, các tu đoàn tông đồ truyền giáo, các tổ chức tu trì mới có khả năngthích ứng với xã hội hiện đại Giáo hội chính thức thừa nhận hoạt động truyềngiáo của các dòng nữ tu và các tu hội đời Việc cải tổ hiến pháp các dòng tu,Hiến chế tín lý về giáo hội khẳng định “đời sống tu trì là một hồng ân củaChúa Cha ban cho giáo hội Giáo hội phải trung thành gìn giữ và hướng dẫn”[61, tr.224] và “giáo phẩm luôn có mặt để săn sóc và bảo trợ những dòng tuđược thiết lập khắp nơi nhằm xây dựng nhiệm thể Chúa Kitô để các dòng tu
ấy phát triển và sinh hoa kết quả theo tinh thần của các Thánh sáng lập” [61,tr.226-227] Sắc chỉ về canh tân thích nghi đời sống dòng tu chỉ rõ “tu sỹ củabất cứ hội dòng nào, trong lúc đi tìm một mình Thiên Chúa trên hết mọi sự đều phải liên kết việc chiêm nghiệm với nhiệt tâm truyền giáo" [61, tr.381].Sắc lệnh Canh tân và thích nghi đời sống tu trì theo 04 nội dung: Khẳng định
vị trí của dòng tu trong giáo hội như biểu hiện nước Thiên Chúa giữa trầngian Canh tân và thích nghi để cùng trở về với nguồn mạch Phúc âm Tăngcường đời sống thánh thiện, trung thành với truyền thống tu trì theo 03 lời
Trang 25khuyên Phúc âm: Khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục Canh tân theo phươngthức: Bỏ tập tục lỗi thời, duy trì đời sống thánh thiện; am hiểu xã hội, thíchứng với mọi môi trường truyền giáo; cải tổ các tổ chức tu trì, tu viện và giatăng sự tương trợ giữa các dòng tu Như vậy, có thể thấy dòng tu được đánhgiá có vai trò vị trí cao hơn trước đó và được xem là một phần trong cơ cấu tổchức của giáo hội.
Về lễ nghi và tập quán là một vấn đề lớn và quan trọng Công đồng chủtrương canh tân lễ nghi, trong đó đặc biệt nhìn nhận và coi trọng đến đặc điểmtâm lý, phong tục tập quán, văn hóa và tín ngưỡng truyền thống của mỗi dântộc, một vấn đề lớn đã từng tạo ra khoảng cách giữa đạo Công giáo với văn hoá,tín ngưỡng phương Đông Cho phép dùng tiếng mẹ đẻ thay tiếng Latinh trongphụng tự, bỏ bớt những hủ tục lễ bái phiền phức của các bậc chủ chăn, khôi phục
lễ đồng tế và sinh hoạt thờ tự như các giáo đoàn ban đầu Những thay đổi phụng
vụ rõ nét như: “thay vì xoay lưng lại phía dân chúng Linh mục đối diện với giáodân và không còn việc “xem lễ” hay “làm lễ” mà là “dâng lễ” và “tham dự thánhlễ” Ngoài ra thánh lễ không hoàn toàn bằng Latinh, nhưng một phần trongthánh lễ bằng tiếng bản xứ, người rước lễ không còn quỳ xuống lan can rước lễ
mà chỉ đứng thôi Để theo kịp tiến trình thời đại, “thánh lễ dân tộc” cũng đượcphổ biến, ban đầu với đàn guitar” [57, tr.97-103]
Công đồng chủ trương đề cao vai trò của giáo dân, để các thành phầnDân Chúa tham dự các hoạt động của giáo hội, điều mà trước đây chỉ thuộccác giáo sỹ Sắc lệnh Tông đồ giáo dân làm cơ sở cho nền thần học giáo dân,được coi là sự chuyển hướng về phía giáo dân, giáo dân được tham gia vàohầu hết quá trình phụng vụ Sắc lệnh này làm rõ giáo lý về ơn gọi giáo dânlàm tông đồ, tức là giáo dân có trách nhiệm tham gia sứ vụ truyền giáo cùngvới hàng giáo sỹ và tu sỹ; nêu rõ mục đích việc tông đồ là rao giảng Phúc âm
và thực hiện Phúc âm trong đời sống nhân loại để cứu dỗi các linh hồn vàcanh tân trật tự trần thế Môi trường hoạt động của tông đồ là các cộng đoàn
Trang 26xã hội, gia đình mình, giới trẻ ngoài xã hội, mọi môi trường sống trong phạm
vi quốc gia và quốc tế Thành phần gồm tất cả tín hữu nam và nữ, hoạt độngtheo cá nhân hoặc tập thể đều phải theo công cuộc truyền giáo của giáo hội
Từ giáo hội hoàn vũ đến giáo hội địa phương đều phải có cơ quan đặc trách
và phải huấn luyện tông đồ giáo dân
Hai là, chú trọng tới phong trào đại kết, liên tôn, cởi mở với các Kitô
giáo và tôn giáo khác Theo tuyên ngôn về tự do tôn giáo các nghị phụ khôngcứu xét đạo nào có chân lý duy nhất và chân thật nữa, nhưng nhấn mạnhlương tâm con người được tự do nhận thức và chọn lựa Nêu rõ giáo lý bắtnguồn từ Mạc khải và chế độ pháp lý về tự do tôn giáo bảo đảm cho giáo hội
có quyền tự do mà sứ mạng của Chúa đã trao ban Mặt khác, tuyên ngôn nêu
rõ quyền tự do tôn giáo không liên lụy gì đến trách nhiệm luân lý của conngười đối với Thiên Chúa Công đồng cho rằng tự do tôn giáo trước hết làquyền tự do xã hội và dân sự, không lệ thuộc vào bất cứ quyền lực nào dùtinh thần hay trần thế Tín ngưỡng, tôn giáo là tự nguyện và xuất phát từlương tâm do đó là quyền bất khả xâm phạm Công đồng mong mỏi chínhquyền phải bảo vệ quyền tự do tôn giáo của con người, đồng thời các cộngđồng tôn giáo cũng có quyền đòi hỏi các nhà nước trần thế không được canthiệp vào quyền tự do đó khi nó không xâm phạm lợi ích xã hội Cha mẹ cóquyền tổ chức đời sống tôn giáo và ấn định việc giáo dục tôn giáo cho concái mình Những người có tôn giáo không được xâm phạm quyền lợi kháccủa công dân Công đồng khẳng định Thiên Chúa kêu gọi con người thờphụng ngài nhưng không bắt buộc; các môn đệ của Chúa Giêsu cũng chỉrao giảng và khuyên răn chứ không thúc ép ai Vì vậy, có những hành độngcủa con người mà giáo hội cho rằng là sai lầm về đức tin nhưng lại đúngvới lương tâm của họ thì giáo hội cũng phải tôn trọng Kể cả trường hợpthiểu số không Công giáo sống trong vùng Công giáo
Công đồng khẳng định chủ trương mới của giáo hội đó là quan điểm tự
do tôn giáo cho mỗi người Tín ngưỡng tôn giáo là vấn đề tâm linh, tinh thần
Trang 27vì vậy cần sự tự nguyện và phải xuất phát từ lương tâm con người Đồng thờiCông đồng cũng nhấn mạnh quan điểm Chúa Giêsu kêu gọi con chiên thờphượng mình nhưng không bắt buộc Trong mối quan hệ của con người nóichung và với mỗi người nói riêng, Công đồng công nhận quyền tự do của mỗingười trong vấn đề chọn lựa niềm tin tín ngưỡng của mình, dù cho sự chọnlựa ấy có thể đi ngược lại với đức tin Công giáo, đây là điểm mới hoàn toàn
so với các Công đồng trước đó về vấn đề này Sắc lệnh về tự do tôn giáokhẳng định “Tất cả mọi người đều có nhiệm vụ tìm kiếm chân lý, nhất lànhững chân lý có liên quan tới Thiên Chúa và giáo hội Người, và khi nhậnbiết rồi, họ phải tin theo và tuân giữ Cũng thế, Thánh Công đồng còn tuyên
bố rằng những bổn phận này liên quan đến lương tâm con người cũng nhưràng buộc lương tâm con người, và chân lý tự nó có sức mạnh ép buộc, chứkhông dựa trên một uy quyền nào khác, sức mạnh ấy ăn sâu vào trong tâmhồn một cách vừa êm dịu vừa mãnh liệt” [74]
Tuyên ngôn liên lạc các tôn giáo cho thấy phải nỗ lực khám phá Thiên
Chúa tiềm ẩn trong mọi tôn giáo Tuyên ngôn này dựa vào chương II của
Hiến chế tín lý về giáo hội nói về dân Chúa và mối liên lạc với các ngườingoài Kitô, nêu rõ những nguyên lý làm nền tảng cho cuộc đối thoại Nó đềcập đến các tôn giáo ngoài Kitô, như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Hồi giáo, nhưngnói nhiều hơn về dân Do Thái, nêu rõ nguồn gốc giáo hội của Cựu ước vàgiáo huấn chính thức của giáo hội về trách nhiệm cái chết của Chúa Giêsu,không đổ hết tội cho người Do Thái thời đó cũng như con cháu của họ sau này
và phản đối các cuộc bách hại, chống đối người Do Thái Cuối cùng, Tuyênngôn nhấn mạnh đến sự hợp nhất trong một "đại gia đình nhân loại mà ThiênChúa là Cha"
Sắc lệnh đại kết kêu gọi hướng đến những điểm chung của các giáo hội
đó là Đức Kitô và Tin Mừng Nó thể hiện ý hướng trở về nguồn "xin chochúng tôi nên một" của giáo hội và bày tỏ rằng "hoạt động hiệp nhất bắt đầubằng sự cải thiện giáo hội mỗi bên", bao gồm giáo hội Lamã, các giáo đoàn ly
Trang 28khai Đông và Tây Văn kiện kêu gọi nên hiệp nhất trong hoạt động và đốithoại giữa Lamã và các giáo đoàn ly khai.
Sắc lệnh về giáo hội Công giáo phương Đông xác nhận sự khác biệtchính đáng của các giáo đoàn địa phương trong giáo hội; nhấn mạnh đến sựbình đẳng hoàn toàn giữa các giáo đoàn địa phương; tuyên bố quyền lợi,nghĩa vụ của các giáo đoàn phương Đông được duy trì và bồi bổ các gia sảnquý báu, thiêng liêng của mình, đặc biệt quyền của các giáo chủ phươngĐông; mối liên lạc giữa các giáo hữu Công giáo phương Đông và Chínhthống giáo, nhất là khả năng chịu các phép bí tích trong giáo hội của nhau
Trong mối quan hệ với các tôn giáo khác, kể từ Công đồng Vatican II,một tương quan mới giữa giáo hội Công giáo và các tôn giáo khác đã đượchình thành và phát triển Trước kia, giáo hội luôn tự coi mình là chân chínhduy nhất, nhưng sau Công đồng quan điểm này đã thay đổi Sắc lệnh về tự dotôn giáo viết “Trước hết Thánh Công đồng tuyên bố rằng chính Thiên Chúa đãchỉ cho nhân loại biết con đường, để nhờ đó trong khi phụng thờ Người, conngười có thể được cứu rỗi và hạnh phúc trong Đức Kitô Chúng tôi tin rằngtôn giáo chân thật, duy nhất này tồn tại trong giáo hội Công giáo và tôngtruyền, giáo hội mà đức Giêsu đã ủy thác nhiệm vụ truyền bá cho mọi người”.Công đồng cũng chủ trương đối thoại với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, đồngthời nhìn nhận những giá trị đạo đức của các tôn giáo khác ngoài giáo hội,thừa nhận các tôn giáo đều có những mặt, những giá trị đạo đức chung vàriêng nhất định Trên phương diện đại kết, Công đồng quan niệm mở cửa giaolưu gặp gỡ các giáo hội Kitô giáo anh em Đối với các tôn giáo khác, Côngđồng đã xác định một quan điểm mới so với trước đây đó chính là sự tôntrọng, cởi mở đối thoại trong tinh thần đại kết với các tôn giáo cùng thờ ChúaGiêsu Đồng thời cho rằng mỗi tôn giáo đều có những cái hay, cái tốt cần tôntrọng và có khả năng thương thảo, liên hiệp Như vậy, Công đồng đã thay đổithái độ cứng nhắc hàng ngàn năm qua, không còn thái độ trịnh thượng, coi
Trang 29mình là chân chính, còn các tôn giáo khác chỉ là tà đạo, lạc giáo, không cầnquan hệ.
Ba là, xây dựng một giáo hội đồng hành và đối thoại với thế giới.
Trong Hiến chế giáo hội giữa thế giới, giáo hội chia sẻ với mọi nỗi vui buồn,
lo âu hy vọng của con người, lưu tâm đến mọi biến chuyển của thế giới, đếnhôn nhân gia đình, văn hóa, kinh tế, xã hội, chính trị, và kiến tạo hòa bình.Hiến chế Ánh sáng muôn dân, giáo hội nói về mình như một dấu chỉ củahuyền nhiệm "Dân Thiên Chúa" Văn phòng liên lạc với những người vô tínđược thành lập vào tháng 4/1965 và Mục lục các sách cấm được bãi bỏ vàotháng 4/1966
Về hôn nhân và gia đình, xác định là vấn đề quan trọng trong cuộc sốnghiện tại của giáo dân, Công đồng chủ trương thực hành hôn nhân phối hợp,cho phép người Công giáo kết hôn với người ngoài đạo hoặc người theo haykhông theo các tôn giáo khác Đặc biệt là Công đồng đã quyết định huỷ bỏphạt vạ tuyệt thông tín đồ Công giáo đã kết hôn với người ngoại đạo Đâyđược coi là “những dấu chỉ rõ rệt nhất đối với sự cởi mở và đổi mới của giáohội do Công đồng mang lại” [52, tr.109] Bên cạnh đó “Điều thay đổi chínhtrong hôn lễ Công giáo là sự tham gia của đôi tân hôn vào việc lên chươngtrình đối với lễ cưới của họ” [52, tr.111] Hôn nhân được coi là cơ sở để hìnhthành gia đình Kitô hữu, hôn nhân không chỉ để truyền sinh mà thôi, trong giađình cha mẹ có vai trò là người đứng đầu giáo hội tại gia, là người đầu tiêntruyền bá Phúc âm cho con cái mình, gia đình là học đường đầu tiên của sựsống và đức tin
Công đồng khẳng định rõ quan điểm đức tin tôn giáo không đối lập màphù hợp với khoa học kỹ thuật Công đồng cho rằng mọi việc đều do ThiênChúa tiền định, song khoa học kỹ thuật phải gắn với tôn giáo Khoa họckhông đối lập với Thiên Chúa và phải lấy Thiên Chúa làm trung tâm trongnghiên cứu và phát minh khoa học Văn hóa, khoa học kỹ thuật phải kết hợp
Trang 30chặt chẽ với Kitô giáo Công đồng chủ trương lợi dụng khoa học kỹ thuật,
tuyên truyền khoa học kỹ thuật phù hợp với đức tin tôn giáo, vì mọi điều đều
do Chúa tiền định, sắp đặt, bởi vậy các nhà khoa học phải gắn bó với tôn giáo,không đối lập với Thiên Chúa mà ngược lại phải lấy Thiên Chúa làm trungtâm trong việc nghiên cứu và phát minh Thậm chí giáo hội còn cho rằng tôngiáo và khoa học như hai chị em sinh đôi: nhờ sự phát triển của văn hoá, khoahọc, kỹ thuật mà đời sống con người được cải thiện, nhưng sự phát triển ấy lànhằm thực hiện và hoàn chỉnh chương trình mà Thiên Chúa đã định để thăngtiến con người Do đó, văn hoá, khoa học, kỹ thuật phải kết hợp chặt chẽ vớiKitô giáo
Trong quan hệ với các nhà nước, Công đồng không còn giữ quan điểmduy ý trí để mà đòi hỏi các sinh hoạt công cộng trong xã hội và các nhà nướcphải hành động theo đúng nguyên tắc của giáo hội nữa Thái độ của Côngđồng Vatican II với các vấn đề chính trị, xã hội, đặc biệt là phong trào giảiphóng dân tộc, chủ nghĩa vô thần và chủ nghĩa xã hội là không đề cập trựctiếp, giữ tính trung lập về chính trị Trong các văn bản, các tuyên bố của Côngđồng không có chỗ nào lên án hay phê phán chủ nghĩa xã hội, vấn đề màtrước đó là đương nhiên, tất yếu, thậm trí còn cho rằng không đội trời chung
Tóm lại, tư tưởng bao trùm của Công đồng Vatican II là canh tân vàthích nghi Canh tân là trở về với giáo hội thời sơ khai, noi gương Chúa Giêsu
và các Thánh tông đồ Thích nghi theo tinh thần “đem Thiên Chúa đến vớinhân loại”, “mang đạo vào đời” chứ không phải “đem nhân loại đến với ThiênChúa” hay “đem đời vào đạo” như giáo hội đã từng làm
1.1.4.3 Ảnh hưởng của Công đồng Vatican II đến đạo Công giáo nửa sau thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI
Công đồng Vatican II như một luồng sinh khí mới thổi vào giáo hội,làm thay đổi bộ mặt giáo hội Công giáo Các nhà thần học thường dùngnhững thuật ngữ như: cải cách, cải thiện, thích nghi, đối thoại, hoà đồng, dấn
Trang 31thân… để chỉ về giáo hội sau Công đồng Vatican II Đối với giáo hội hoàn vũ,
có thể thấy Vatican II đã ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực
Trên lĩnh vực tư tưởng thần học: Nó đã tạo ra những khuynh hướng tư
tưởng thần học khác nhau trong giáo hội Xu hướng bảo thủ chống lại tưtưởng canh tân của Công đồng, tiêu biểu là Tổng giám mục Marcel Lefebvre(1905 - 1994), tham dự Công đồng từ đầu đến cuối đã phản đối mọi nghịquyết của Công đồng Bị Vatican phạt vạ tuyệt thông, năm 1988, ông ta đãđứng ra thành lập Huynh đoàn Thánh Piô X để tập hợp lực lượng chống lạiToà thánh Năm 1994, Lefebvre chết, nhưng những người theo ông vẫn tiếptục chống lại Toà thánh Hiện nay, huynh đoàn này có khoảng 200.000 tín đồ,hơn 400 linh mục và hơn 10 giám mục, trụ sở tại Thuỵ Sỹ Ngày 29/8/2005,giáo hoàng Bênêđictô XVI đã gặp giám mục B Fellay đại diện của Huynhđoàn để dàn xếp nhưng không đạt kết quả
Xu hướng cấp tiến đòi canh tân triệt để giáo hội, tiêu biểu là các nhàthần học giải phóng do linh mục người Pêru Gutieret đứng đầu Họ cho rằngcần phải có một lý luận mới xuất phát từ niềm tin vào tinh thần cơ bản củaKitô giáo, kết hợp với xu hướng phát triển của thời đại ngày nay: độc lập dântộc và tiến bộ xã hội; phải đọc lại Phúc âm trong bối cảnh của hành động giảiphóng; phải hiểu kinh thánh và hiểu thời đại Họ kêu gọi giáo hội phải đứng
về phía người nghèo, bị áp bức đó còn là sự Mạc khải mà Chúa đã ban Phảilàm cho người nghèo đói, người bị áp bức khỏi bị sỷ nhục và hành hạ Phảiđấu tranh xoá bỏ áp bức và bất công
Cả hai trào lưu trên đều bị giáo hội phê phán gay gắt, đặc biệt phong tràothần học giải phóng bị giáo hội coi là tiêm nhiễm bởi tư tưởng Mácxít, phạmđến ơn Mạc khải của Thiên Chúa vì đã tục hoá sự huyền diệu của thánh kinh,phạm đến ơn cứu chuộc vì đã hoà đồng cuộc đấu tranh giải phóng xã hội vớicông cuộc cứu độ của Chúa Giêsu, hoà đồng tội lỗi xã hội với tội tổ tông…
Trang 32Ngoài hai xu hướng trên còn có một bộ phận khá đông tỏ ra "thờ ơ"không mấy quan tâm đến các quyết định của Công đồng và những thay đổicủa giáo hội Nhưng đa số đều thừa nhận tinh thần canh tân của giáo hội theoquan điểm canh tân nhưng vẫn trung thành với Phúc âm, với học thuyếttruyền thống của giáo hội, cần phải diễn tả đức tin phù hợp với ngôn ngữ củathời đại, thay đổi một số nghi thức phụng vụ, tập tục của giáo hội, thay đổithái độ và cách ứng xử với các tôn giáo khác và với xã hội.
Đối với thiết chế, tổ chức giáo hội; giáo triều Rôma cơ cấu lại cho gọnnhẹ hơn và thành lập một số tổ chức mới như: Văn phòng hiệp nhất Kitô hữu(05/6/1960); Uỷ ban về các phương tiện truyền thông xã hội (12/4/1964); Vănphòng cho các người ngoài Kitô giáo (19/5/1964); Văn phòng cho các ngườikhông tín ngưỡng (09/4/1965); Thượng Hội đồng giám mục (15/9/1965); Hộiđồng giáo dân và Uỷ ban giáo hoàng về công lý và hoà bình (06/01/1966).Năm 1989, cơ cấu giáo triều được cải tổ lại còn 09 bộ, 03 tòa án, 11 uỷ ban,
03 văn phòng, bỏ các thánh bộ, gọi là bộ như Bộ Giáo lý và Phụng vụ; Ngày08/4/1966, giáo hoàng Phaolô VI tuyên bố bãi bỏ Mục lục sách cấm (có từnăm 1542)
Đối với lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo đổi mới các tập tục, nghi lễ như sửdụng ngôn ngữ địa phương trong phụng vụ, khôi phục lại lễ đồng tề, chức phó
tế vĩnh viễn, giải tội tập thể Năm 1983, ban hành Bộ Giáo luật mới gồm 1752điều và năm 1992 ban hành cuốn Giáo lý hội Thánh Công giáo
Thái độ cởi mở hơn đối với các tôn giáo và các vấn đề chính trị xã hộităng cường các cuộc tiếp xúc, đối thoại với các tôn giáo trong Kitô giáo Ngày07/12/1965, giáo hoàng Phaolô VI tuyên bố huỷ bỏ vạ tuyệt thông giữa Rôma
và Constantinop Tăng cường đối thoại với các tôn giáo ngoài Kitô như: Hồigiáo, Do Thái giáo Tăng cường đối thoại với các quốc gia mà xưa nay giáo hộituyệt giao Phong trào đại kết ngày càng được đẩy mạnh, song còn nhiều trở ngại,bởi mỗi bên đều muốn khẳng định “căn tính” của mình là trên hết
Trang 33Mở rộng các hoạt động đối ngoại nhằm nâng cao vị thế của giáo hội.Giáo hoàng Phaolô VI có 09 lần công du ra ngoài Vatican (03 lần đến các xứtruyền giáo) Gioan Phaolô II trong 25 năm (1978-2005) có 166 chuyến công
du ra nước ngoài, đến 129 nước: Châu Âu 56 lần, châu Phi 50 lần, châu Mỹ
49 lần, châu Á 14 lần, Úc 07 lần Giáo hoàng Bênêđictô XVI 02/2013), mặc dù không tích cực công du nước ngoài như người tiền nhiệm,nhưng ông cũng đã đi một số nước như: Ý, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh Ông cũng
(4/2005-đã gặp Thượng phụ giáo chủ Constatinople tại Istanbul, Tổng giám mục Anhgiáo Năm 1963, Toà Thánh trở thành quan sát viên ở Liên hiệp quốc Ngày30/6/2003 Bộ Ngoại giao Toà Thánh tuyên bố xem xét khả năng gia nhậpLiên hiệp quốc
Những vấn đề Công đồng Vatican II đưa ra đã hình thành đường hướnghoạt động thích nghi với thời đại của giáo hội Công giáo Công đồng Vatican
II thực sự đem lại cho giáo hội Công giáo một sắc thái mới trong xã hội hiệnđại, đồng thời mở ra thời kỳ tái truyền giáo trên phạm vi toàn thế giới Tuynhiên, Công đồng Vatican II cũng đặt ra 08 vấn đề hệ trọng liên quan đến vậnmệnh của giáo hội không chỉ cho thế kỷ XX Đó là quan điểm về các vấn đề:giáo hội, giáo lý, lễ nghi, tự do tôn giáo, giáo dân, hôn nhân gia đình, quan hệvới các tôn giáo khác, đối với khoa học kỹ thuật
1.2 ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH ĐẠO CÔNG GIÁO Ở ĐỒNG NAI
1.2.1 Quá trình du nhập và phát triển của đạo Công giáo ở Đồng Nai
1.2.1.1 Giai đoạn trước năm 1954
Vào thế kỷ XVII, một số người Việt theo Công giáo ở miền Trung đãtới vùng đất Biên Hòa khai hoang lập ấp Vào nửa sau thế kỷ XVII, các giáo
sĩ phương Tây đã đến vùng đất này truyền giáo Nhiều giáo sĩ thừa sai nổitiếng như: Colombert, Gioan Micho, Lefevre đã tới đây sinh sống và truyềnđạo Theo cuốn Kỷ yếu giáo phận Xuân Lộc (1965 - 2003), khoảng năm 1698
đã có một số người Việt theo Công giáo đến vùng Biên Hòa để lập nghiệp và
Trang 34sống đạo Theo cuốn Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm “Đến thế kỷ XVII, ĐồngNai đã hình thành các vùng truyền đạo quan trọng như: Mỹ Hội (NhơnTrạch), Biên Hòa, Bến Gỗ (Biên Hòa), Tân Triều (Vĩnh Cửu) … Ở các vùngnày, các nhà thờ, nhà nguyện, các cơ sở dòng tu, các trường học, các cơ sởkinh tế do các dòng tu phụ trách Các nhà thờ có quy mô lớn đầu tiên là Nhàthờ Tân Triều (1680), Nhà thờ Biên Hoà (1861), Nhà thờ Bến Gỗ (1882), Nhàthờ Phước Lý (1885), Nhà thờ Long Thành (1889), Nhà thờ Mỹ Hội (1890).Đáng chú ý, năm 1878, Giám mục Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc) đã chuyểnChủng viện từ Hà Tiên về xứ Tân Triều (Vĩnh Cửu, Đồng Nai)” [11, tr.136].
Đầu thế kỷ XX, Pháp thực hiện các đợt mộ dân từ miền Bắc, miền Trungvào các đồn điền cao su và hình thành các xứ đạo, họ đạo của công nhân cao su
ở đây Từ năm 1900 đến năm 1947 có các nhà thờ như: Dầu Giây (1914), BảoThị (1917), Suối Tre (1941), Bình Lộc (1941) Tuy là địa bàn giáo sĩ thừa saiphương Tây truyền đạo từ ngày đầu, nhưng thời kỳ Pháp thống trị, Công giáophát triển chậm Đa số giáo dân đoàn kết, gắn bó, hăng hái tham gia sự nghiệpcách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Bên cạnh đó, giáo dân ởcác đồn điền cao su bị áp bức bóc lột, nên sớm giác ngộ cách mạng, nhiềugiáo dân là cơ sở cách mạng, tích cực tham gia kháng chiến Sự kiện đáng chú
ý giai đoạn này là nhiều giáo dân từ miền Bắc di cư đến Đồng Nai Trước năm
1954 ở Đồng Nai chỉ có 08 giáo xứ và một số giáo họ nhỏ lẻ
Trang 35Năm 1960 Vatican chia giáo phận Sài Gòn (đổi tên từ giáo phận TâyĐàng Trong, năm 1924) thành 3 giáo phận: giáo phận Sài Gòn, giáo phận ĐàLạt và giáo phận Mỹ Tho; Đồng Nai thuộc giáo phận Sài Gòn Ngày14/10/1965, Vatican tách giáo phận Sài Gòn thành giáo phận Sài Gòn, giáophận Phú Cường và giáo phận Xuân Lộc Giáo phận Xuân Lộc gồm 3 tỉnhLong Khánh, Biên Hòa và Tuy Phước (Bà Rịa) khi đó có 164.144 giáo dântrên tổng số 521.595 dân số (số giáo dân gấp hơn 3 lần giáo phận Phú Cường
và bằng ½ giáo phận Sài Gòn); với 10 giáo hạt, 133 giáo xứ, 157 linh mục,
300 tu sĩ
Từ năm 1973 - 1974, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tiến hành việc didân chiến lược, đưa giáo dân từ các tỉnh miền Trung di cư đến Đồng Nai lậpthành vành đai Công giáo án ngữ cho đô thành Sài Gòn - Gia Định Đầu năm
1975 giáo phận Xuân Lộc có 354.965 giáo dân (số giáo dân gấp gần 7 lần giáophận Phú Cường và 2/3 giáo phận Sài Gòn), với 16 giáo hạt, 167 giáo xứ, 195linh mục, 312 chủng sinh, 915 tu sỹ, 168 trường trung, tiểu học [34, tr.826]
1.2.1.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chínhquyền Ngụy âm mưu đưa giáo dân từ nơi khác đến định cư trên địa bàn chiếnlược tạo thành cánh của thép ở phía Ðông Bắc nhằm ngăn đà tiến quân củagiải phóng tiến vào Sài Gòn Tỉnh lỵ Long Khánh nơi đặt trụ sở Tòa giámmục, gần như bị san phẳng trong chiến dịch Xuân Lộc 12 ngày đêm, mởđường cho Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng Vì vậy, sau ngày miền Namhoàn toàn giải phóng, giáo dân rất hoang mang, dao động, lo sợ bị cách mạngtrả thù Trước tình hình đó, giám mục giáo phận Nguyễn Văn Lãng đã kêu gọigiáo dân: Trở về và ở lại, lo lắng và hy vọng sống cùng dân tộc…
Trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1988, Ðồng Nai là vùng dãndân, xây dựng vùng kinh tế mới, do vậy đã tiếp nhận dân di cư từ Thành phố
Hồ Chí Minh và các tỉnh thành phía Nam, cùng với dân di cư tự do từ các tỉnh
Trang 36miền Trung và miền Bắc tự đến lập nghiệp, với tổng số hơn 700.000 người,trong đó phần lớn là người Công giáo Vì vậy, mặc dù thời kỳ này có trên30.000 giáo dân vượt biên, nhưng số giáo dân của giáo phận vẫn tăng từ374.560 (1975), lên 627.196 người, với 11 giáo hạt, 189 giáo xứ, 289 linhmục vào năm 1988.
Đến năm 1995, giáo phận Xuân Lộc có 16 giáo hạt, 210 giáo xứ, 284 linhmục, 1.550 tu sĩ, 823.759 giáo dân Năm 2000 có 16 giáo hạt, tăng lên 294 giáo
xứ, 300 linh mục, 882.750 giáo dân Năm 2004, có 975.033 giáo dân, 16 giáohạt, 298 giáo xứ, 338 linh mục, 2.264 tu sỹ Năm 2005, sau khi tách giáo phận
Bà Rịa - Vũng Tàu, giáo phận Xuân Lộc vẫn có tới 762.226 giáo dân, địa giớigiáo phận nằm trọn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và một phần nhỏ của huyện Dĩ
An, Bình Dương (04 giáo xứ) Đến năm 2010 giáo phận có 836.342 giáo dân (sốgiáo dân gấp hơn 5 lần giáo phận Phú Cường và gần 1,5 lần giáo phận Thànhphố Hồ Chí Minh), với 12 giáo hạt, 265 giáo xứ, 246 linh mục, 2.847 tu sỹ Gầnđây nhất tính đến tháng 12/2012 toàn giáo phận có 906.663 giáo dân, 12 giáohạt, 265 giáo xứ, 475 linh mục, 3.305 tu sỹ Đồng Nai trở thành địa phương có
số lượng nhiều nhất và tỷ lệ giáo dân so với dân số cao nhất ở Việt nam
1.2.2 Thực trạng tình hình đạo Công giáo ở Đồng Nai hiện nay
1.2.2.1 Thực trạng tình hình tín đồ
Báo cáo kết quả khảo sát năm 2010 của Ban Tôn giáo tỉnh, đạo Cônggiáo rải đều trên 171 xã, phường, thị trấn trong tỉnh, có những xã, phường tậptrung nhiều giáo xứ như: Hố Nai, Biên Hòa có đến 12 giáo xứ; Vĩnh Thanh,Nhơn Trạch có 07/12 giáo xứ; 04 xã Gia Tân 1, Gia Tân 2, Gia Tân 3 có 21giáo xứ… Trong số 261 giáo xứ hiện nay có 57 giáo xứ trên 5.000 giáodân, giáo xứ Ngọc Lâm, Tân Phú 27.000 giáo dân, bình quân mỗi giáo xứxấp xỉ 4.100 người Tính đến tháng 12/2012, toàn tỉnh có 906.663 giáo dân,3.780 chức sắc, tu sỹ [Phụ lục 2], đến tháng 5/2013 tăng lên 990.980 giáodân, chiếm 37,7% dân số, trong đó chức việc 19.903 (Ban Hành giáo 1.381,
Trang 37giáo lý viên 8.821) Công giáo chủ yếu sống tập trung ở các khu trung tâm,dọc quốc lộ I; có 110/171 xã, phường trên 30% dân số là giáo dân (23 đơn
vị hành chính có 90% dân số là giáo dân); riêng Trảng Bom có 09/17 xã cóđến 90% dân số là giáo dân [3, tr.3]
Giáo dân ở Đồng Nai phần lớn là những người từ khắp các vùng miềntrong cả nước, nhất là ở miền Bắc, miền Trung di cư đến qua nhiều đợt Trong
đó, có những đợt với số lượng lớn, như giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1955;năm 1973 đến năm 1974; năm 1975 đến năm 1978 và từ sau năm 1990 Giáodân đa số sống tập trung ở những vùng, khu vực trung tâm, khu vực có vị tríđịa lý quan trọng về an ninh, quốc phòng, kinh tế Đa phần giáo dân có lịch
sử chính trị, xã hội đa dạng và phức tạp, một số giáo dân trước đây có quan hệvới chế độ cũ nên vẫn còn không ít mặc cảm Nhiều giáo dân có người thânđịnh cư ở nước ngoài hoặc có quan hệ với đồng đạo ở nước ngoài, nhất là ở
Mỹ và các nước phương Tây Đồng Nai có nhiều khu vực dân cư Công giáotoàn tòng, giáo dân chiếm trên 90% dân số nên đạo Công giáo có ảnh hưởngrất lớn đến đời sống văn hóa, tinh thần của người dân
Đại đa số giáo dân ở Đồng Nai là người lao động có tinh thần dântộc, yêu nước và rất sùng đạo Trước năm 1975, có một bộ phận giáo dân
do bị phần tử xấu lôi kéo tham gia chế độ cũ, một số đã gây ra nhiều tổnthất cho cách mạng Số tín đồ này hiện nay chiếm tỷ lệ không nhiều,nhưng có sự phân hóa về tư tưởng; một số mặc cảm sống khép kín, sốkhác thì cuồng tín, tâm tư hoài niệm về quá khứ, nên dễ bị kích động lôikéo vào các hoạt động chống đối chính quyền
1.2.2.2 Thực trạng tổ chức giáo hội và giáo sĩ
Giáo phận Xuân Lộc được tách ra từ giáo phận Sài Gòn ngay sau khiCông đồng Vatican II Ngay từ khi được thiết lập, giáo phận Xuân Lộc đã trởthành giáo phận chính tòa Do đó, giáo phận có điều kiện để xây dựng, củng
cố hệ thống tổ chức, đào tạo đội ngũ giáo sĩ
Trang 38Giáo phận chia thành 12 giáo hạt, 265 giáo xứ, giáo họ; 71 đan viện,dòng tu nam, nữ và các tu hội đời trực thuộc và không trực thuộc; có 30 cơ sởbác ái từ thiện Giáo hội Công giáo ở Đồng Nai có hệ thống tổ chức hànhchính đạo chặt chẽ từ giáo phận giáo phận đến giáo xứ, họ đạo; có tính thầnquyền cao, quản lý chặt chẽ chức sắc, tu sỹ, giáo dân cả về đời sống đức tinlẫn về đời sống thế tục.
Giáo phận Xuân Lộc được hình thành và phát triển gắn liền với nhữngbiến động, thay đổi của xã hội và dân cư trên vùng đất Đồng Nai qua các thời
kỳ lịch sử Mặc dù là giáo phận trẻ, trải qua nhiều lần chia tách, nhưng giáophận Xuân Lộc vẫn là một trong những giáo phận tiêu biểu, là nơi có số giáodân đông nhất Việt Nam Về hệ thống tổ chức, Công giáo ở Đông Nai có nétđặc thù riêng khá rõ nét, gắn liền với quan điểm của từng vị giám mục đạidiện Bên cạnh đó, giáo phận Xuân Lộc cũng là nơi có nhiều vấn đề chính trị,
xã hội gắn với thời kỳ lịch sử đau thương của dân tộc Là giáo phận thể hiệnkhá rõ đường hướng đồng hành và thực sự hội nhập với văn hóa dân tộc theotinh thần của Công đồng Vatican II Tuy nhiên, vẫn còn không ít vấn đề phứctạp đặt ra cần phải giải quyết
Về đội ngũ giáo sĩ, đến tháng 12/2012 giáo phận có 475 linh mục,3.305 tu sỹ nam, nữ [Phụ lục 2,3] Đứng đầu giáo phận là giám mục chính tòa,giám mục phó, giám mục phụ tá kiêm Giám đốc Đại chủng viện, linh mụcTổng đại diện, có 489 linh mục (123 linh mục dòng, 326 linh mục giáo phận,
6 linh mục đang làm mục vụ ngoài giáo phận, 14 linh mục đang du học ởnước ngoài) [80] Đứng đầu giáo hạt là linh mục quản hạt, mỗi hạt có nhiềugiáo xứ, giáo xứ có vị trí đặc biệt quan trọng là nơi tập hợp giáo dân, thựchiện nghi lễ, củng cố đức tin Giáo xứ do linh mục chánh xứ coi sóc, nơi đônggiáo dân có linh mục phó xứ và ban hành giáo giúp việc Giáo phận có lựclượng chức sắc, tu sỹ, chức việc đông đảo, được đào tạo bài bản, thành thạomục vụ, có khả năng thuyết phục giáo dân, có uy tín cao trong giáo dân, làmviệc kiên nhẫn, có nguyên tắc
Trang 39Đa số chức sắc có tinh thần dân tộc, ủng hộ cách mạng, mong muốn đượchoạt động tôn giáo bình thường trong khuôn khổ chính sách, pháp luật Tuynhiên, có bộ phận chức sắc mang tư tưởng cơ hội, vọng ngoại, giữ thái độ cựcđoan, gây tổn hại đến lợi ích của dân tộc, thậm chí có một số người ra mặtchống đối, phạm pháp.
1.2.2.3 Thực trạng tình hình hội đoàn
Trước năm 1975, giáo phận Xuân Lộc có khoảng 40 hội đoàn, như: Hộihiền mẫu, Nghĩa binh Thánh thể, Lữ đoàn bác ái, Thánh Anna với 102.354 hộiviên trong số 332.810 giáo dân Từ năm 1976 đến năm 1986, về danh nghĩa hộiđoàn đã giải tán, nhưng thực chất thì vẫn duy trì dạy giáo lý, tĩnh tâm Từ năm
1990 lợi dụng chính sách tôn giáo thông thoáng, hội đoàn dần dần phục hồi vàcông khai hoạt động dưới nhiều hình thức (công khai, bán công khai và bất hợppháp) như: Thiếu nhi thánh thể công khai khăn quàng xanh, tổ chức tĩnh tâmtheo giới Bên cạnh đó, hiện xuất hiện một số hội đoàn mang tính chất chính trịnhư: Hội tận hiến dòng đồng công, Phan sinh tại thế, Đức Mẹ viễn du, Nhómlòng thương xót Chúa Năm 1994, Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai chấp thuậncho 03 hội đoàn, gồm: Ca đoàn, đội kèn và dòng ba được tiếp tục hoạt động,đồng thời yêu cầu giải tán các hội đoàn khác và quy định ban lãnh đạo các tổchức của giáo dân không quá 05 người Ngay sau đó, Tòa giám mục ban hànhvăn bản giải tán hội đoàn và giảm số thành viên Ban Hành giáo từ 20 xuống còn
04 người Tuy vậy lại yêu cầu các giáo xứ chuyển sang hình thức sinh hoạt theogiới Nhiều giáo xứ đã thành lập: Hội khuyến học, thiện nguyện, tình thương
về thực chất vẫn là những hội đoàn Tính đến tháng 5/2013, trên địa bàn có 26loại hình hội đoàn, trên 3.000 hội, khoảng 750.000 hội viên Tất cả các hội đoànđều là hiệp hội công, nghĩa là phải được giám mục chấp thuận thành lập và hoạtđộng Giáo hội rất quan tâm phục hồi các hội đoàn với nhiều hình thức và têngọi khác nhau, có chỉ đạo chặt chẽ từ trên xuống dưới Có thể phân chia hộiđoàn ở Đồng Nai thành 04 nhóm:
Trang 40Hội đoàn thuần túy phục vụ lễ nghi như: Ca đoàn, hội kèn, trống, trắc,dân hoa… Loại này được phép hoạt động theo pháp luật không phải đăng ký.
Loại hội đoàn sinh hoạt theo giới tính, lứa tuổi như: Giới gia trưởng,Hiền mẫu, Giới trẻ, Thiếu nhi, Cao niên … Hiện nay có xu hướng hội đoànLiên minh Thánh Tâm nhập vào giới Gia trưởng; Hội con đức Mẹ và Hội bà
mẹ Công giáo nhập vào giới Hiền mẫu
Loại hoạt động từ thiện, đạo đức, như: Hội ái hữu, bác ái, mai táng, cầunguyện chủ yếu là giúp đỡ người gặp khó khăn, bệnh tật, qua đời tạo mốiràng buộc nhằm tăng cường quản lý tín đồ
Loại hội đoàn thuộc Công giáo tiến hành hay tông đồ giáo dân, như:Hội dòng ba Đa Minh, tận hiến, Lêgiô, hướng đạo, Anrê … Hội gia đình KhôiBình và Hội Anrê có trước năm 1975 nay phục hồi, hoạt động mạnh
Hội đoàn Công giáo phát triển mạnh mẽ với số lượng đông đảo, hìnhthức sinh hoạt phong phú, hoạt động ngày càng nền nếp và hiệu quả, đang và
sẽ thực sự thách thức hoạt động của các đoàn thể chính trị xã hội ở cơ sở trênnhiều phương diện Ban Hành giáo được giao phụ trách các giới; đặc biệt làgiới trẻ hoạt động mạnh và thu hút nhiều học sinh, sinh viên, thậm trí cả giáoviên tham gia [3]
1.2.2.4 Thực trạng tình hình dòng tu
Các dòng tu, tu hội, tu đoàn trực thuộc hoặc không trực thuộc giáo phận
ở Đồng Nai khá đông đảo Khi mới thành lập năm 1965, giáo phận có 04dòng tu nam với 19 linh mục và khoảng 50 tu sĩ; 08 dòng nữ với trên 200 nữ
tu Năm 1975 có 7 dòng nam với 25 linh mục, 109 tu sĩ và 13 dòng nữ với
949 nữ tu [68, tr.81-160] Năm 1988, số tu sỹ tăng lên 1.550 người Năm 2004tăng lên đến 2.264 người Năm 2010 có 2.847 người và đến tháng 5/2013,toàn tỉnh có 65 dòng tu với 2.028 tu sỹ và 109 linh mục dòng Trong đó có 16dòng nam với 27 cộng đoàn, 49 dòng nữ với 187 cộng đoàn [3] Số lượngdòng tu, tu viện, cộng đoàn, tu sĩ trên địa bàn hiện nay chỉ sau giáo phậnThành phố Hồ Chí Minh [10]