Khái niệm: Theo Từ điển tiếng Việt, hợp đồng có nghĩa là “sự thoả thuận, giao ước giữa hai hay nhiều bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viết thành
Trang 11
BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TIỂU LUẬN THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN: LUẬT LAO ĐỘNG
Đề bài số 1:
Phân tích thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về giao kết hợp đồng lao động và đề xuất các kiến nghị
Hà Nội, Tháng 01/2022
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I – NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG: 1
1 Khái niệm: 1
2 Bản chất của giao kết hợp đồng lao động: 1
3 Vai trò của giao kết hợp đồng lao động trong quan hệ lao động 2
4 Nguyên tắc khi giao kết hợp đồng lao động: 2
5 Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng lao động: 3
6 Hình thức giao kết hợp đồng lao động 4
7 Các loại hợp đồng được giao kết 4
8 Nội dung giao kết hợp đồng lao động 5
9 Quyền và nghĩa vụ của các bên khi giao kết hợp đồng lao động 6
II – THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG: 7
1 Những kết quả đã đạt được: 7
2 Tồn tại và hạn chế 7
3 Nguyên nhân của những hạn chế 9
3.1 Nguyên nhân xuất phát từ NSDLĐ: 9
3.2 Nguyên nhân từ NLĐ: 9
3.3 Nguyên nhân từ cơ quan quản lý Nhà nước về lao động: 9
III – ĐỀ XUẤT CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG: 10
1 Hướng hoàn thiện quy định về giao kết hợp đồng lao động 10
2 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả các quy định pháp luật về giao kết hợp đồng: 10
2.1 Về các quy định của pháp luật 11
2.2 Về tổ chức thực hiện 11
KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 41
MỞ ĐẦU
Lao động là hoạt động cần thiết đối với đời sống con người Lao động tạo ra của cải vật chất cho xã hội, giúp con người ngày càng phát triển hơn Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường như hiện nay kéo theo đó là sự đa dạng hơn trong các quan hệ lao động ,kéo theo đó là sự phức tạp hơn của tình hình Hoạt động giao kết hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên một hợp đồng lao động,
chính vì những vấn đề trên nên em xin được chọn đề tài : “Phân tích thực trạng
pháp luật lao động Việt Nam về giao kết hợp đồng lao động và đề xuất các kiến nghị” làm đề tài nghiên cứu cho bài tập học kỳ Vì kiến thức còn nhiều hạn chế,
không tránh khỏi sai sót cho nên rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ thầy cô để
em hoàn thiện bài hơn Em xin cảm ơn!
NỘI DUNG
I – NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG:
1 Khái niệm:
Theo Từ điển tiếng Việt, hợp đồng có nghĩa là “sự thoả thuận, giao ước giữa hai
hay nhiều bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viết thành văn bản”1
Hợp đồng lao động (HĐLĐ) tại Điều 13, BLLĐ 2019 quy định “Hợp đồng lao
động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm
có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.”
Hiện nay BLLĐ 2019 và các văn bản có liên quan chưa định nghĩa chính thức về giao kết hợp HĐLĐ Dựa vào các quy định của luật, ta có thể tóm lại một số ý chính như sau: Giao kết HĐLĐ là quá trình mà NLĐ và NSDLĐ bày tỏ ý chí nhằm đi đến việc xác lập QHLĐ, mà ở đó xác lập quyền và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ Pháp luật lao động không quy định về trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng mà chỉ đặt ra khung pháp lý buộc các bên phải tuân theo khi giao kết Đó là các quy định
về nguyên tắc giao kết, điều kiện, chủ thể, hình thức, nội dung
2 Bản chất của giao kết hợp đồng lao động:
Bản chất của giao kết HĐLĐ chính là sự tư do, tự nguyện thoả thuận, thương lượng cá nhân giữa NLĐ và NSDLĐ để thống nhẩ ý kiến và đi đến việc ký kết
HĐLĐ, xác lập nên QHLĐ
1 Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt,Viện ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, tr 466
Trang 52
3 Vai trò của giao kết hợp đồng lao động trong quan hệ lao động
Giao kết HĐLĐ là cơ sở hình thành QHLĐ
Giao kết HĐLĐ là phương pháp để NLĐ và NSDLĐ đi đến việc thống nhất các quyền và nghĩa vụ có liên quan, đảm bảo quyền và lợi ích của các bên trong QHLĐ
4 Nguyên tắc khi giao kết hợp đồng lao động:
Giao kết hợp đồng là việc các bên bày tỏ ý trí theo những nguyên tắc và cách thức nhất định nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ lao động với nhau Tại điều 17,
Bộ luật Lao động 2019 quy định :
“1 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực
2 Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.”
Nhà nước khuyến khích những thoả thuận đảm bảo cho người lao động có những điều kiện thuận lợi hơn so với những quy định của pháp luật lao động
* Về nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực:
Đây là nguyên tắc thể hiện sự cụ thể hoá một trong những nguyên tắc cơ bản, đặc thù của quan hệ hợp đồng lao động Khác với giao dịch dân sự, kinh doanh, thương mại hợp đồng lao động thường được thực hiện trong thời gian dài, giữaa hai chủ thể
có mối quan hệ mật thiết gắn bó về quyền lợi với nhau, như vậy yếu tố thiện chí, hợp tác rất là quan trọng, khác với sự mua bán chấm dứt trong giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại Nguyên tắc này tạo điều kiện khi giao kết hợp đồng lao động luôn đảm bảo cho NLĐ, NSDLĐ được tự do, bình đẳng trong việc bày tỏ ý chí của mình, mọi hành vi cưỡng bức, dụ dỗ, lừa gạt đều không đúng nguyên tắc với việc
ký kết hợp đồng lao động Như vậy, khi tham gia hợp đồng lao động các bên phải thoả thuận đầy đủ quyền và nghĩa vụ liên quan phản ánh qua tâm tư, nguyện vọng,
ý chí của mình Tuy nhiên vẫn có trường hợp ngoại lệ mà nguyên tắc này không được áp dụng một cách tuyệt đối, đó là trường hợp tại điểm b,c, khoản 4, Điều 18, BLLĐ 2019 là đối với NLĐ dưới 15 tuổi hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi
có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật của người đó tức là phụ thuộc vào ý chí của người đại diện hợp pháp theo pháp luật Do đó sự biểu hiện của nguyên tắc này có tính tuyệt đối bị chi phối bởi ý chí chủ quan của các chủ thể trong quan hệ vừa có tính tương đối đối với trường hợp bị chi phối bởi sự không đồng đều về mặt năng lực chủ thể của các bên khi tham gia giao kết HĐLĐ
* Về nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp
luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội
Trang 63
NLD và NSDLĐ có thể tự do giao kết hợp đồng nhưng những thoả thuận đó không được trái với các quy định của pháp luật, thoả ước lao động tập thể và đạo đức xã hội Điều này có nghĩa là sự thoả thuận đó không được thấp hơn những quy định tối thiểu và không được cao hơn những quy định tối đa trong quy định của pháp luật Các thoả thuận trong HĐLĐ không được trái với thoả ước lao động tập thể và đạo đức xã hội có nghĩa là nội dung về quyền lợi của NLĐ trong hợp đồng không được thấp và thiếu so với thoả ước lao động tập thể Nguyên tắc này đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ, tập thể lao động trong QHLĐ
5 Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng lao động:
Giống như mọi loại hợp đồng khác, để có hiệu lực pháp lý cần đáp ứng một số điều kiện nhất định
Đối với người lao động
Trước hết, người lao động cần đáp ứng yêu cầu về độ tuổi Căn cứ khoản 1, Điều
3, BLLĐ 2019 quy định “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao
động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật này.” Như vậy, người
lao động khi tham gia vào QHLĐ phải có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động Độ tuổi người lao động tối thiểu là đủ 15 tuổi trừ trường hợp quy định tại Điều 143, luật này là có khả năng lao động Năng lực pháp luật lao động của người lao động là khả năng người đó thực hiện được các quyền, nghĩa vụ trong QHLĐ, năng lực pháp luật lao động chỉ xuất hiện trên cơ sở pháp luật Trên thực tế
để có năng lực pháp luật lao động thì phải có khả năng lao động Hiện nay, quy định
độ tuổi lao động tối thiểu là đủ 15 tuổi trở lên Khả năng lao động của một người là yếu tố tự nhiên, bẩm sinh của con người, còn năng lực hành vi lao động của mỗi người không phải là yếu tố tự nhiên mà dựa trên các quy định của pháp luật Năng lực hành vi lao động của công dân là khả năng công dân tự mình xác lập, tham gia trực tiếp vào một mối QHLĐ để tự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Quy định tại Điều 143, BLLĐ 2019 thì lao động vị thành niên là khi chưa đủ 15 tuổi Cũng tại Điều 143, BLLĐ 2019 và Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH quy định khi sử dụng lao động dưới 15 tuổi thì đối tượng này chỉ được làm một số công việc nhẹ theo danh mục do Bộ rưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành, dưới 13 tuổi chỉ đc làm công việc quy định tại khoản 3, Điều 145, BLLĐ 2019 Với các đối tượng này thì chưa thể tự mình tham gia vào việc giao kết hợp đồng lao động cho nên cần có sự chấp thuận của cha mẹ Sở dĩ có việc quy định về lao động vị thành niên, trong khi quy định độ tuổi trẻ em là 16 có nghĩa là trẻ em đang phải tham gia
Trang 74
lao động, có thể điều này sẽ hạn chế quyền học tập, phát triển của trẻ em tuy nhiên trên thực tế nhiều trường hợp vì điều kiện gia đình mà trẻ vị thành niên đã phải tham gia lao động rất sớm Cho nên pháp luật tạo nên khung pháp lý cũng như điều kiện
có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ vị thành niên Còn một số người bị hạn chế năng lực pháp luật lao động như các trường hợp cấm làm một số nghề, cấm giữ một số chức vụ hay người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Đối với người sử dụng lao động
Khoản 2, Điều 3, BLLĐ 2019 quy định: “Người sử dụng lao động là doanh
nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.”
Đối với NSDLĐ, nhìn chung là phải có tư cách pháp nhân Đối với tổ chức cá nhân không có tư cách pháp nhân thì phải có các điều kiện như phải có giấy phép sản xuất kinh doanh, có trụ sở hoặc nơi cư trú hợp pháp, cókế hoạch làm việc đầy
đủ, có khả năng trả công và đảm bảo các điều kiện an toàn, vệ sinh lao động Đối với NSDLĐ là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Pháp luật quy định các điều kiện đối với pháp nhân, cá nhân sử dụng lao động nhằm đảm bảo
họ có khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ của NSDLĐ đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ khi tham gia QHLĐ Nhìn chung quy định về đối tượng là chủ thể NSDLĐ trong giao kết HĐLĐ là tương đối rõ ràng và đầy đủ
6 Hình thức giao kết hợp đồng lao động
Căn cứ Điều 14, BLLĐ 2019 quy định về hình thức hợp đồng thì hợp đồng phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 2 bản, người lao động giữ 1 bản, người sử dụng lao động giữ 1 bản Đối với công việc thời vụ có thời hạn dưới 1 tháng, , trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18, điểm a khoản 1 Điều 145 và khoản 1 Điều 162 của BLLĐ 2019 thì hai bên có thể giao kết hợp đồng bằng lời nói
Về mặt pháp lý, việc giao kết hợp đồng chỉ cần tuân thủ các yếu tố phải có trong một bản hợp đồng như quy định tại Điều 21, BLLĐ 2019 Kể từ BLLĐ 2012 đến nay thì đã có sự thay đổi đối với hình thức hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc Trước kia cho phép hợp đồng bằng miệng nhưng đến BLLĐ 2012
và BLLĐ 2019 kế thừa thì đã bắt buộc hình thức bằng văn bản Điều này làm chắc chắn hơn các quyền và nghĩa vụ trong QHLĐ Do các QHLĐ này xác lập một cách đơn lẻ cho nên khó có thể quản lý, kiểm soát
7 Các loại hợp đồng được giao kết
Trang 85
Căn cứ Điều 20, BLLĐ 2019, hợp đồng lao động được giao kết bằng một trong hai hình thức sau:
Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;
Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
So với quy định tại BLLĐ 2012 thì đến BLLĐ 2019 đã sửa đổi bỏ nội dung về hợp đồng mùa vụ hoặc theo một công việc có thời hạn dưới 12 tháng, thay vào đó chỉ còn hai loại hợp đồng như trên Quy định này được đánh giá là tiến bộ lớn của pháp luật lao động nhằm bảo vệ người lao động, hạn chế tình trạng người sử dụng lao động "lách luật", không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động bằng cách ký các loại hợp đồng mùa vụ, dịch vụ
8 Nội dung giao kết hợp đồng lao động
Nội dung của hợp đồng lao động là toàn bộ các điều khoản mà NLĐ và NSDLĐ
đã thoả thuận trong hợp đồng, phản ánh các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng lao động Thông thường trong họp đồng lao động gồm 2 loại điều khoản,
đó là điều khoản cơ bản và điều khoản tuỳ nghi Về nguyên tắc, pháp luật thường quy định những nội dung cơ bản, chủ yếu của hợp đồng mà các bên bắt buộc phải thoả thuận đảm bảo quyền và lợi ích của các bên chủ thể
+ Về điều khoản cơ bản: đây là những điều khoản phản ánh nội dung cơ bản của hợp đồng, vì vậy phải có trong các loại hợp đồng Thậm chí, nếu thiếu một trong những điều khoản này thì trên thực tế, hợp đồng có thể được xem như vô hiệu hẳng hạn như điều khoản về công việc phải làm, tiền lương Chính vì vậy, pháp luật lao động các nước thường bao giờ cũng quy định về các điều khoản cơ bản của họp đồng lao động Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế-xã hội, phong tục tập quán mà số lượng các điều khoản cơ bản ở các nước có sự khác nhau song thường tập trung ở các điều khoản: tên công việc; địa điểm làm việc; thời hạn của hợp đồng; thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi Còn ở Việt Nam, nội dung cơ bản, chủ yếu được quy định tại Điều 21, BLLĐ 2019
+ Về điều khoản tuỳ nghi: Điều khoản tuỳ nghi là những điều khoản có thể không cần thiết trong hợp đồng Các bên có thể cân nhắc tuỳ vào nhu cầu mà thêm vào Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, các điều khoản thoả thuận tuy không bắt buộc phải có trong hợp đồng nhưng nếu các bên đã thoả thuận và ghi nhận trong hợp đồng thì các
Trang 96
bên bắt buộc phải thực hiện Chẳng hạn như các bên thoả thuận về tiền ăn giữa ca, tiền thưởng
Ngoài ra, Điều 21, BLLĐ 2019 còn có quy định các trường hợp đặc biệt:
Đối với trường hợp lao động làm việc liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh,
bí mật công nghệ quy định tại khoản 2 Điều này thì NSDLĐ có quyền thoả thuận bằng băn bản với NLĐ về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp hợp NLĐ vi phạm
Đối với trường hợp lao động trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp như quy định tại khoản 3 Điều này thì tuỳ theo loại công việc
mà hai bên có thể giảm một số nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động và thỏa thuận bổ sung nội dung về phương thức giải quyết trong trường hợp thực hiện hợp đồng chịu ảnh hưởng của thiên tai, hỏa hoạn, thời tiết
Nội dung HĐLĐ đối với lao động được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp nhà nước như quy định khoản 4 Điều này thì được quy định cụ thể tại Mục 1, Chương III, Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động
9 Quyền và nghĩa vụ của các bên khi giao kết hợp đồng lao động
Nghĩa vụ cung cấp thông tin
Khi giao kết hợp đồng lao động, các bên có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin, đây là nội dung được quy định tại Điều 16, BLLĐ 2019
Đối với NSDLĐ được quy định tại khoản 1, điều này NSDLĐ cần phải cung cấp thông tin trung thực cho người lao động về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quy định
về bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người lao động yêu cầu
Đối với NLĐ được quy định tại khoản 2, điều này NSDLĐ cần phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu
Việc pháp luật có những quy định này là cần thiết, quyền của bên này là nghĩa
vụ của bên kia, vì đối với NLĐ họ cần được cung cấp các thông tin về công việc,
Trang 107
địa điểm làm việc, để từ đó họ xem xét bản thân có phù hợp với tính chất công việc hay không, họ có quyền lợi gì và nghĩa vụ như thế nào, từ đó họ có thể lường trước tính chất công việc ngay từ khi giao kết HĐLĐ Còn đối với NSDLĐ, họ cần được biết người sẽ hợp tác và làm việc cho họ là ai, về trình độ khả năng có đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng không, rồi các thông tin khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết HĐLĐ
Nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động
Tại Điều 5, BLLĐ 2019 có quy định về quyền và nghĩa vụ của NLĐ trong đó
NLĐ có nghĩa vụ “a) Thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và
thỏa thuận hợp pháp khác; b) Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động; tuân theo sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động; ”
Tại Điều 6, BLLĐ 2019 có quy định về quyền và nghĩa vụ của NSDLĐ trong đó
NSDLĐ có nghĩa vụ: “a) Thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể
và thỏa thuận hợp pháp khác; tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người lao động; ”
Nội dung của QHPH lao động là quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia giao kết HĐLĐ Trong QHLĐ , các bên đều có những quyền và nghĩa vụ nhất định Quyền của chủ thể này tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể kia tạo thành mối liên
hệ pháp lý thống nhất trong một quan hệ pháp luật lao động Vì QHLĐ được xây dựng trên nguyên tắc cho nên không có một bên nào chỉ có quyền hoặc có nghĩa vụ
II – THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG:
1 Những kết quả đã đạt được:
Về cơ bản, các doanh nghiệp đã thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật về giao kết HĐLĐ, đảm bảo quyền lợi của NLĐ, NSDLĐ Hoạt động giao kết đa số diễn ra đúng quy định của pháp luật Pháp luật Lao động nói chung cũng như pháp luật về giao kết hợp đồng nói riêng đã đi vào thực tế đời sống Tỷ lệ giao kết hợp đồng bằng văn bản chiếm đa số, giao kết hợp đồng bằng lời nói thường chỉ xảy ra với công việc thời vụ ở các khu vực nông thôn, trong khu vực phi chính thức NLĐ
và NSDLĐ ngày càng nhận thấy tầm quan trọng của việc giao kết HĐLĐ và hoạt động này này càng thực hiện thực chất hơn do trình độ dân trí cao lên Nhìn chung, pháp luật về giao kết HĐLĐ đã đem lại những kết quả tích cực
2 Tồn tại và hạn chế
Thứ nhất, về nguyên tắc khi giao kết hợp đồng: Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng,
thiện chí, hợp tác và trung thực đảm bảo vị thế ngang bằng nhau giữa NLĐ và NSDLĐ Tuy nhiên trên thực tế, NLĐ với tâm lý đi xin việc luôn lo lắng, e sợ trong