Chương 1 Cơ sở lí luận: Khái quát về nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả Nguyên nhân và kết quả là một cặp phạm trù trong phép biện chứng duy
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: TRIẾT HỌC
ĐỀ BÀI: 02
Từ nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù:
“nguyên nhân và kết quả”, vận dụng để nhận thức và giải quyết
vấn đề: Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam
Hà Nội, tháng 1 năm 2022
Lớp : Nhóm:
4606 2
Trang 2MỤC LỤC
DANH TỪ VIẾT TẮT 3
I MỞ ĐẦU 4
A Lý do chọn đề tài 4
B Mục tiêu nghiên cứu 4
C Đối tượng nghiên cứu 4
D Kết cấu đề tài 4
II NỘI DUNG 5
A Chương 1 Cơ sở lí luận: Khái quát về nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả 5
1 Khái niệm nguyên nhân, kết quả 5
2 Tính chất của mối quan hệ nhân quả 5
3 Nội dung cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả 6
4 Ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả 7
B Chương 2 Vận dụng nội dung của cặp phậm trù “nguyên nhân và kết quả” để nhận thức và giải quyết vấn đề thất nghiệp ở nước ta 7
1 Thực trạng thất nghiệp 8
2 Nguyên nhân 8
3 Tác hại của vấn đề thất nghiệp 10
C Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận về cặp phạm trù “nguyên nhân và kết quả” để đưa ra một số giải pháp đối với vấn đề thất nghiệp nước ta 11
III KẾT LUẬN 13
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
V BÁO CÁO LÀM VIỆC NHÓM 16
Trang 3DANH TỪ VIẾT TẮT
(ASEAN Free Trade Area)
(Foreign Direct Investment)
International Labour Organization
Trang 4I MỞ ĐẦU
A Lý do chọn đề tài
Thất nghiệp, đó là vấn đề cả thế giới cần quan tâm Bất kỳ một quốc gia nào
dù nền kinh tế có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì vẫn tồn tại thất nghiệp đó
là vấn đề không tránh khỏi chỉ có điều là thất nghiệp đó ở mức độ thấp hay cao
mà thôi Với thời gian không cho phép chính vì thế nên chúng tôi chỉ đề cập đến
tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam Thất nghiệp, nó còn kéo theo nhiều vấn đề đằng sau: Sẽ dẫn đến tình trạng làm giảm nền kinh tế, sự gia tăng của các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, làm sói mòn nếp sống lành mạnh, phá vỡ nhiều mối quan hệ Tạo ra sự lo lắng cho toàn xã hội Vì vậy, để có thể nhìn nhận một cách chính xác và đưa ra những biện pháp khả thi giải quyết vấn đề này, nhóm 2 chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “thất nghiệp ở Việt Nam
B Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích để làm rõ nguyên nhân và kết quả của hiện tượng thất nghiệp tại
Việt Nam Từ đó, vận dụng để nhận thức và giải quyết vấn đề nhằm kìm hãm, hạn chế thất nghiệp cũng như các hệ lụy của nó
C Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng, nguyên nhân, tác hại và giải pháp của thất nghiệp ở Việt Nam
D Kết cấu đề tài
Kết cấu đề tài gồm 2 chương
- Chương 1 : cơ sở lí luận
- Chương 2 : vận dụng
Trang 5II NỘI DUNG
A Chương 1 Cơ sở lí luận: Khái quát về nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân
và kết quả
Nguyên nhân và kết quả là một cặp phạm trù trong phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác-Lênin và là một trong những nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ mối quan hệ biện chứng hai phạm trù
1
Khái niệm nguyên nhân, kết quả
- Nguyên nhân là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong cùng một sự vật hoặc
giữa các sự vật với nhau gây ra một hoặc hơn một sự biến đổi nhất định Kết quả là sự biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau của các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau
Trong hai khái niệm này, chúng ta cần lưu ý đối với khái niệm nguyên nhân và nguyên cớ, để không có sự nhầm lẫn về khái niệm
- Nguyên cớ là một sự kiện xảy ra ngay trước kết quả nhưng không sinh ra kết
quả Nguyên cớ có liên hệ nhất định với kết quả nhưng đó là mối liên hệ bên ngoài, không bản chất
- Điều kiện là tổng hợp những hiện tượng không phụ thuộc vào nguyên nhân
nhưng có tác dụng đối với việc sinh ra kết quả
Các điều kiện này cùng với những hiện tượng khác có mặt khi nguyên nhân gây ra kết quả được gọi là hoàn cảnh
2 Tính chất của mối quan hệ nhân quả
- Tính khách quan: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật,
không phụ thuộc vào ý thức của con người
- Tính phổ biến: mọi sự vật hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đều có nguyên
nhân nhất định gây ra
Trang 6- Tính tất yếu: một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện hoàn cảnh
nhất định sẽ gây ra kết quả tương ứng với nó
3 Nội dung cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nguyên nhân và kết quả
có mối quan hệ qua lại, cụ thể:
3.1 Thứ nhất: Nguyên nhân sản sinh ra kết quả
– Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn có trước kết quả Còn kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện và bắt đầu tác động Tuy nhiên, không phải sự nối tiếp nào trong thời gian của các hiện tượng cũng đều biểu hiện mối liên hệ nhân quả
– Cùng một nguyên nhân có thể gây ra nhiều kết quả khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể Ngược lại, cùng một kết quả có thể được gây nên bởi những nguyên nhân khác nhau tác động riêng lẻ hoặc cùng một lúc
– Nếu nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo cùng một hướng thì sẽ gây nên ảnh hưởng cùng chiều, đẩy nhanh sự hình thành kết quả Ngược lại, nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác nhau thì sẽ làm suy yếu, thậm chí triệt tiêu các tác dụng của nhau
– Căn cứ vào tính chất, vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành kết quả,
có thể phân loại nguyên nhân thành:
+ Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu
+ Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài
+ Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
3.2 Thứ hai: Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân.
– Nguyên nhân sản sinh ra kết quả Nhưng sau khi xuất hiện, kết quả không giữ vai trò thụ động đối với nguyên nhân, mà sẽ có ảnh hưởng tích cực ngược trở lại đối với nguyên nhân
3.3 Thứ ba: Sự thay đổi vị trí giữa nguyên nhân và kết quả.
– Điều này xảy ra khi ta xem xét sự vật, hiện tượng trong các mối quan hệ khác nhau Một hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì trong mối quan hệ khác là kết quả và ngược lại
Trang 7– Một hiện tượng nào đó là kết quả do một nguyên nhân nào đó sinh ra, đến lượt mình sẽ trở thành nguyên nhân sinh ra hiện tượng thứ ba… Và quá trình này tiếp tục mãi không bao giờ kết thúc, tạo nên một chuỗi nhân quả vô cùng tận Trong chuỗi đó không có khâu nào là bắt đầy hay cuối cùng
4 Ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả
- Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan và tính phổ biến, nghĩa là không có
sự vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất lại không có nguyên nhân Nhưng không phải con người có thể nhận thức ngày được mọi nguyên nhân Nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong
tự nhiên, xã hội và tư duy để giải thích được những hiện tượng đó Muốn tìm nguyên nhân phải tìm trong thế giới hiện thực, trong bản thân các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất chứ không được tưởng tượng ra từ trong đầu óc con người, tách rời với thế giới hiện thực
- Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một
hiện tượng nào đấy cần tìm trong những sự kiện những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra Những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả
Vì vậy trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân khách quan… Đồng thời phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân có tác động tích cực đến hoạt động và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực
Kết quả tác động trở lại nguyên nhân Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn chúng
ta cần phải khai thác, tận dụng các kết quả đã đạt được để tạo điều kiện thúc đẩy nguyên nhân phát huy tác dụng, nhằm đạt mục đích
Trang 8B Chương 2 Vận dụng nội dung của cặp phậm trù
“nguyên nhân và kết quả” để nhận thức và giải quyết vấn
đề thất nghiệp ở nước ta
Khái niệm thất nghiệp: Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO) “Thất nghiệp
là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành”.
1
Thực trạng thất nghiệp
Ở Việt Nam, theo Tổng cục Thống kê, số người thất nghiệp trong độ tuổi lao
động quý II/2021 là gần 1,2 triệu người, tăng 87,1 nghìn người so với quý trước
và giảm 82,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II/2021 là 2,62%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước
và giảm 0,23 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỉ lệ thất nghiệp trong
độ tuổi của khu vực thành thị là 3,36%, tăng 0,17 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0.95 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước So với quý trước, lực lượng lao động tăng chủ yếu ở khu vực thành thị (tăng 354,8 nghìn người)
và lực lượng lao động nam (tăng 36,3 nghìn người) So với cùng kỳ năm trước, lực lượng lao động tăng chủ yếu ở khu vực thành thị (tăng hơn 1 triệu người) và lực lượng lao động nữ (tăng hơn 1,3 triệu người) Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý II/2021 là 68,5%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ là 62,3%, thấp hơn 12,9 điểm phần trăm so với nam Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị là 66,6%, trong khi tỷ lệ này ở nông thôn
là 69,7%
2 Nguyên nhân
A nguyên nhân chủ quan
- Chất lượng lao động thấp: Thể chất người Việt Nam còn kém so với các nước trong khu vực Quan trọng hơn về vấn đề trình độ người lao động Theo số liệu thống kê năm 2001 thì Việt Nam có tới hơn 70% dân số trong độ tuổi mù chữ, chính tỷ lệ này đã tác động một phần nào đấy đến tỷ lệ thất nghiệp Bởi lẽ con
Trang 9người không nhận thức được những công việc phù hợp với mình, cũng do trình
độ học vấn mà khả năng nhận thức về việc làm còn rất hạn chế, đặc biệt là tìm các công việc phù hợp với chính mình còn rất hạn chế Hơn nữa trong thời buổi kinh tế thị trường như ngày nay, mặc dù chính phủ, nhà nước ta đã có rất nhiều biện pháp các ngành nghề, tạo ra các công ăn việc làm như: mở cửa để đưa đầu
tư vốn cũng như khoa học kỹ thuật vào Việt Nam Song do khả năng nhận thức
về máy móc, các thiết bị điều khiển máy móc còn hạn chế, mặt khác khi chọn nhân viên vào làm việc thì khâu tuyển chọn nhân viên thường do người nước ngoài tuyển chọn họ lại cần ở chúng ta một trình độ học vấn nhất định như là về trình độ văn hoá, trình độ tiếng anh Đây là nguyên nhân bên trong là nguyên nhân chủ quan có ý nghĩa quan trọng tác động đến kết quả
B Nguyên nhân khách quan
- Nguyên nhân khủng hoảng kinh tế dẫn đến thất nghiệp ai cũng rõ Nước ta do chưa có thị trường chứng khoán đầu tư nước ngoài chủ yếu bằng vốn FDI nên không bị các nhà tư bản ngoại quốc đột ngột rút vốn ngắn hạn ra, nhưng sản xuất kinh doanh vẫn bị ảnh hưởng gián tiếp do các công ty mẹ Do đồng tiền trong khu vực mất giá, hàng hoá của họ có sức cạnh tranh hơn, sản phẩm của việt nam không xuất khẩu được Các nước sử dụng lao động Việt Nam như Hàn quốc, Nhật bản, Đài Loan gặp khó khăn ngừng nhận người làm cho thị trường thất nghiệp trong nước ngày càng trầm trọng Hơn nữa do nước ta vừa mới thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội kéo dài khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao trong một số năm, nên tình hình thiếu việc làm ở cả nông thôn và thành thị còn khá cao Đầu năm 1998 cả nước ta có gần 3 triệu người trong tuổi lao động chưa có công ăn việc làm gần 1,2 triệu người vừa bước vào độ tuổi lao động 1,8 triệu người chưa có việc làm
từ năm trước chuyển sang
- Do cơ cấu ngành nghề không phù hợp Ngày nay khi mà nền kinh tế thị trường không còn chế độ quan liêu bao cấp, thì các doanh nghiệp nhà nước cũng như tư nhân ngày càng phát triển đã đạt được những thành tựu trên tất cả các lĩnh vực Song bên cạnh đó thì tỷ lệ thất nghiệp cũng còn khá cao đó là do đâu? Phải chăng đó là do cơ cấu ngành nghề chưa phù hợp, cũng như là mức lương chưa phù hợp với các công việc
Trang 10- Như chúng ta đã biết Việt nam là nước có tỷ lệ dân số tăng khá nhanh trong khu vực cũng như trên thế giới, đứng thứ nhất trong khu vực và đứng thứ 5 trên thế giới về tỷ lệ sinh đẻ Theo số liệu mới nhất thì dân số Việt Nam năm 2001 lên tới con số gần 80 triệu người dự báo trong vài năm tới dân số Việt Nam có thể lên tới con số 100 triệu người Dân số ngày càng tăng trong khi đó diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm đi, như vậy thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ ngày càng cao hơn Năm 2001 chúng ta có tới 6,28% dân số không có công ăn việc làm (hơn 20 nghìn người) đây là một con số khá cao Tuy nhà nước ta cũng đã có những biện pháp đối với việc kế hoạch hoá gia đình như giảm tỷ lệ sinh đẻ, thực hiện kế hoạch hoá gia đình mỗi cặp vợ chồng chỉ có từ 1 - 2 con, giảm tỷ lệ kết hôn ở tuổi còn quá trẻ, nhưng do chưa nhận thức được vấn đề cấp bách ở đây nên tỷ lệ sinh còn khá cao Hơn nữa do phong tục tập quán, chế độ phong kiến vẫn còn, nhất thiết phải có con trai nối dõi, có nếp, có tẻ đã dẫn tới việc gia tăng dân số tới chóng mặt Dân số tăng nhanh dẫn tới tình trạng như sự quan tâm, cũng như giáo dục con cái cuă các gia đình giảm hẳn Các điều kiện về ăn uống, sinh hoạt không được tốt đặc biệt là các vùng ở nông thôn, miền núi vấn đề này cần có sự quan tâm của chính phủ hơn nữa Nó dẫn tới tình trạng trẻ em không được tới trường => làm tăng tỷ lệ mù chữ lên cao, dẫn tới thất nghiệp cao
3
Tác hại của vấn đề thất nghiệp
Thất nghiệp, vấn đề cả thế gới đang quan tâm không chỉ có ở Việt Nam chúng ta Trên thực tế ta không thể xoá bỏ tận gốc của thất nghiệp được mà ta chỉ có thể giải quyết nạn thất nghiệp trong một phạm vi nào đấy mà thôi Chính
vì thế mà khi thất nghiệp ở mức cao sản xuất sút kém, tài nguyên không được
sử dụng hết, thu nhập của dân cư giảm hẳn, kéo theo tổng giá trị sản phẩm quốc dân xuống Khó khăn kinh tế tràn sang lĩnh vực xã hội, nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội xảy ra Sự thiệt hại về kinh tế do thất nghiệp gây ra ở nhiều nước lớn đến mức ta không thể so sánh với thiệt hại do tính hiệu quả của bất cứ hoạt động kinh tế vĩ mô nào khác Khi thất nghiệp cao kéo theo nó là hàng loạt các vấn đề cần quan tâm đó là các tệ nạn xã hội ngaỳ càng gia tăng như cờ bạc, trộm cắp, nghiện ngập, đặc biệt là các tầng lớp thanh niên không có công ăn việc làm họ chán nản, họ nghĩ ra mọi cách miễn là làm sao có tiền là được Nhất
là khi sa đà vào con đường nghiện ngập, những lúc cơn nghiện lên họ không
Trang 11làm chủ được mình thành thử ra họ phải kiếm ra tiền bằng mọi cách để thoả mãn cơn nghiện, thậm chí còn đâm chém nhau, giết người cướp của không tiếc tay Và những lúc đó thì họ làm sao có thể làm chủ được chính bản thân mình
=> Chính điều đó đã làm cho người dân hoang mang về các vấn đề xã hội xảy
ra, phá vỡ đi nhiều mối quan hệ truyền thống Quan trọng hơn là kinh tế của xã hội ngày càng giảm hẳn, tình trạng thất nghiệp ngày càng cao tạo ra nỗi lo cho toàn xã hội làm sao giảm được tỉ lệ thất nghiệp đến mức tối đa nhất
C Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận về cặp phạm trù
“nguyên nhân và kết quả” để đưa ra một số giải pháp đối với vấn đề thất nghiệp nước ta
Đứng trước thực trạng về vấn đề thất nghiệp của nước ta hiện nay Nhà nước
ta cần có những biện pháp để giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống đến mức tối đa để đưa đất nước ta phát triển hơn nữa Đó mới là vấn đề cần quan tâm hiện nay
- Vì nguyên nhân chính, nguyên nhân bên trong chủ yếu dẫn đến tình trạng thất nghiệp là chất lượng lao động thấp nên giải pháp hàng đầu phải là nâng cao chất lượng lao động: các biện pháp cải thiện thể chất, nâng cao chất lượng giáo dục… Nhà nước ta phải có một chủ trương đào tạo, phát triển thể chất con người, mọi người phải có một trình độ văn hoá nhất định, phù hợp với nền kinh
tế thị trường hiện nay Khuyến khích tất cả mọi tầng lớp, có chính sách ưu tiên đối với những gia đình khó khăn, các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa hoặc là trợ cấp một phần nào đó về ngân sách Bên cạnh đó cũng cần có những biện pháp giải quyết việc làm cho một số sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa tìm được công ăn việc làm, điều đó sẽ kích thích sự học hỏi của toàn xã hội
- Tăng nguồnvốn đầu tư (chủ yếu lấy từ dự trữ quốc gia, vay nước ngoài) đẩy nhanh tiến bộ xây dựng cơ sở hạ tầng, làm thuỷ lợi, thuỷ điện, giao thông Nhằm tạo việc làm mới cho lao động mất việc làm ở khu vực sản xuất kinh doanh, nới lỏng các chính sách tài chính, cải cách thủ tục hành chính nhằm thu hút vốn đầu tư của nước ngoài tạo việc làm mới cho người lao động