1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Cao học Văn hóa Môn học: Quản lý Văn hóa. Đề tài: Quản lý Văn hóa cấp xãphường hiện nay ở TP Đà Nẵng

15 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 41,74 KB
File đính kèm TIEU LUAN QUAN LY VAN HOA.rar (38 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận Quản lý văn hóa MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3 1 Khái niệm quản lý và quản lí văn hóa 3 1 1 Khái niệm quản lí 3 1 2 Khái niệm quản lí văn hoá 4 2 Nhiệm vụ và tiêu chuẩn của Công chức Văn hóa – Xã hội cấp xã 8 2 1 Nhiệm vụ 8 2 2 Tiêu chuẩn công chức xãphường hiện nay 9 3 Bất cập giữa nhiệm vụ và thực tế năng lực cán bộ quản lý văn hóa cấp xãphường hiện nay ở Đà Nẵng và hướng khắc phục 10 KẾT LUẬN 13 TÀI LIỆU THAM KHẢO 15 ĐẶT VẤN ĐỀ Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực củ.

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 2

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3

1 Khái niệm quản lý và quản lí văn hóa 3

1.1 Khái niệm quản lí 3

1.2 Khái niệm quản lí văn hoá 4

2 Nhiệm vụ và tiêu chuẩn của Công chức Văn hóa – Xã hội cấp xã 8

2.1 Nhiệm vụ 8

2.2 Tiêu chuẩn công chức xã/phường hiện nay 9

3 Bất cập giữa nhiệm vụ và thực tế năng lực cán bộ quản lý văn hóa cấp xã/phường hiện nay ở Đà Nẵng và hướng khắc phục 10

KẾT LUẬN 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của kinh tế và là nền tảng tinh thần của xã hội Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng khẳng định :”Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân- thiện- mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.”Vì vậy, phát triển văn hóa được Đảng ta xem là nhiệm vụ song song với phát triển kinh tế Từ sau đổi mới đến nay, với sự phục hồi của nền kinh tế đất nước nên chúng ta có nguồn lực tốt hơn để phát triển nền văn hóa, cả về công tác nghiên cứu lí luận và đầu tư phát triển Cùng với đó, hệ thống pháp luật về văn hoá cũng ngày càng được hoàn thiện Điều này đã tạo ra điều kiện thuận lợi, cho phép xây dựng và phát triển nền văn hoá nước ta tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Và thực tế là, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc xây dựng nền văn hóa như: đầu tư phát triển hệ thống thiết chế văn hóa rộng khắp trên cả nước, xây dựng đội ngũ cán bộ văn hóa ngày càng đông đảo với chất lượng ngày càng được nâng cao;

mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế về văn hóa, học tập nhiều yếu tố tiến bộ để làm giàu bản sắc dân tộc,…

Tuy nhiên, trong những việc làm cụ thể để phát triển sự nghiệp văn hóa thì hiện nay vẫn có nhiều khó khăn, bất cập Đặc biệt, giữa chính sách, pháp luật và thực tế quản lí vẫn có một khoảng cách nhất định

Được sự quan tâm giảng dạy, truyền đạt hết sức tận tình của Tiến sỹ Vũ Thị Phương Hậu, với bộ môn QUẢN LÝ VĂN HÓA bản thân xin tham gia tiểu luận “Bất cập giữa nhiệm vụ và thực tế năng lực cán bộ quản lý văn hóa cấp xã/phường hiện nay ở TP Đà Nẵng” tập trung phân tích những bất cập giữa nhiệm vụ được giao và đội ngũ cán bộ quản lí văn hoá cấp xã/phường hiện nay Trong khuôn khổ thời lượng cho phép và khả năng thực tế có được, đề tài chắc chắn không tránh khỏi hạn chế Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và những người quan tâm tiểu luận này

Trân trọng !

Trang 3

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Khái niệm quản lý và quản lí văn hóa

1.1 Khái niệm quản lí

Quản lý (Management) là một khái niệm có hàm xác định, song lâu nay thường

có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và được thể hiện bằng thuật ngữ khác nhau Thực chất của quản lý là gì? (hoặc quản lý trước hết, chủ yếu là gì?) cũng có những quan niệm không hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên, hiện nay quản lý đã cơ bản được làm sáng tỏ để có một cách hiểu thống nhất

Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức

Quản lí là quá trình tác động một cách có chủ đích của chủ thể quản lí với đối tượng quản lí thông qua các quyết định có tính chất pháp lí hành chính để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đề ra với kết quả tốt nhất Quản lý bao gồm các yếu tố:

+ Phải có một chủ thể quản lý là các tác nhân tạo ra tác động quản lý và một một đối tượng bị quản lý Đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận và thực hiện tác động quản lý Tác động quản lý có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần

+ Phải có mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng Mục tiêu này là căn cứ chủ yếu để tạo ra các tác động Chủ thể quản lý có thể là một người, nhiều người Còn đối tượng bị quản lý có thể là người hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị, đất đai, thông tin, hầm mỏ ) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng )

Từ những khái niệm nêu trên ta thấy đối tượng chủ yếu và trực tiếp của quản lý

là những con người trong tổ chức; thông qua đó tác động lên các yếu tố vật chất như vốn, vật tư, công nghệ… để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hành động Vì vậy, khi xét về thực chất, quản lý trước hết và chủ yếu là quản lý con người trong bất cứ hành động nào

Xác định như vậy để thấy con người là yếu tố quyết định trong mọi hành động, hoàn toàn không có nghĩa là nội dung các chức năng quản lý nhân sự - một bộ phận trọng yếu của quản lý) Điều này đã được nhiều nhà kho

Trang 4

a học quản lý nhấn mạnh qua cách thể hiện như: "Quản lý là một quá trình làm cho những hành động được hoàn thành với hiệu quả cao, bằng và thông qua những người khác (S.P.Robbing) và "Các nhà quản lý có trách nhiệm duy trì các hành động làm cho các cá nhân có thể đóng góp tốt nhất và các mục tiêu của nhóm" (H Koontz, C.O' donnell, )

Quản lí có các đặc điểm sau:

+ Mang tính quyền lực, tính bắt buộc để tạo nên trật tự trong tổ chức và trong hoạt động của những lĩnh vực nào đó

+ Công cụ quản lí là những quy tắc, tiêu chuẩn mang tính pháp lí Đối với nhà nước, đó là hiến pháp, pháp luật, các nghị định, hướng dẫn của Chính phủ, bộ ngành, địa phương; các chính sách khuyến khích hoặc không khuyến khích đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

1.2 Khái niệm quản lí văn hoá

- Là sự quản lí của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hoá trên phạm vi lãnh thổ quốc gia bằng quyền lực của nhà nước để đảm bảo sự phát triển thống nhất của nền văn hoá dân tộc

Theo nghĩa rộng: quản lí nhà nước về văn hoá là do 3 cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp thực hiện

Theo nghĩa hẹp: quản lí nhà nước về văn hoá là, trong hoạt động quản lí có tính chất nhà nước nhằm tổ chức và điều tiết các hoạt động văn hoá thông qua các cơ quan hành chính nhà nước Theo nghĩa này là quản lí hành chính về văn hoá

- Cơ chế quản lí văn hoá là những nguyên tắc, những hình thức và phương pháp quản lí, là hệ thống những quy tắc ràng buộc đối với mọi tổ chức đối với bất kì cấp nào và đối với bất kì hệ thống quản lí nào trong học tập, xây dựng và phát triển văn hoá Cơ chế quản lí văn hoá là các chuẩn mực pháp lí, bao gồm hiến pháp và pháp luật, hệ thống kế hoạch hoá, hệ thống các chính sách nhằm tác động tới việc xây dựng và phát triển văn hoá Cơ chế quản lí văn hoá là công cụ quan trọng nhất trong công tác quản lí nhà nước về văn hoá, đồng thời cơ chế này phụ thuộc vào đặc điểm

và tính chất của nhà nước, vào thể chế chính trị xã hội

1.2.1 Khía cạnh con người trong hệ thống quản lý

Trang 5

Công tác tổ chức cán bộ là một trong những công tác quan trọng nhất trong hoạt động lãnh đạo, quản lý

Về thực chất, công tác tổ chức - cán bộ là công tác đối với con người Sức mạnh của cán bộ là tổ chức Có đứng trong tổ chức và thông qua tổ chức, thông qua quan hệ với người khác, bộ phận khác và công việc thì con người mới có điều kiện để bộc lộ và phát huy được sức mạnh thể chất và tinh thần, năng lực của mình

Như chúng ta biết, việc quản lý con người, tập thể là nhiệm vụ chính của việc quản lý không chỉ đối với toàn xã hội và đối với từng cấp, ngành, xã hội Có thể nói, con người có vai trò chủ đạo trong hệ thống quản lý Trong lĩnh vực quản lý người ta xem xét con người và hoạt động của con người trên 3 góc độ

• Con người với tư cách là chủ thể quản lý: cùng với năng lực, uy tín, nhân cách của mình giúp con người đưa ra các quyết định quản lý của mình Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của tổ chức và sự phát triển của tổ chức

• Con người với tư cách là khách thể quản lý (hay đối tượng quản lý): Đó là những người dưới quyền ở nhiều cấp độ cá nhân, tập thể… với những đặc điểm văn hoá, nhân cách riêng của họ

• Thứ 3 nhìn nhận con người trong mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản

lý (mối quan hệ giữa những người lãnh đạo và người dưới quyền)

Tuy nhiên, con người và tập thể không thụ động trước tác động quản lý bởi mỗi người đều có ý chí, ý thức, có những lợi ích và nhu cầu riêng, có nhận thức về các sự kiện Trong hệ thống quản lý, con người có thể tiếp nhận các quyết định quản lý, tuân theo nó hoặc có thể không tiếp nhận hay chỉ tiếp nhận ở một mức độ nhất định Chính

vì thế trong việc quản lý con người không thể theo các quyết định cứng nhắc mà mang tính linh hoạt, mềm dẻo

Và công tác bố trí cán bộ cần phải: Một là xây dựng tổ chức: là làm cho những

cá nhân riêng lẻ thành một tập hợp và biến tập hợp ấy thành hệ thống, thành bộ máy trở thành một sức mạnh không ngừng phát triển Hai là: bố trí con người – là tìm kiếm, lựa chọn, huấn luyện những cá nhân và sắp xếp họ một cách hợp lí vào hệ

thống, bộ máy, bảo đảm để họ hoạt động hiệu quả để đạt được mục tiêu đề ra.

1.2.2 Đặc điểm quản lí nhà nước về văn hoá trong thời kỳ đổi mới hiện nay

Trang 6

Bối cảnh khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh Quá trình chuyển đổi này nhằm tạo lập nền tảng vật chất để xây dựng và phát triển văn hoá Quá trình chuyển đổi của nền kinh tế tác động sâu sắc đến quá trình chuyển đổi của nền văn hoá dân tộc, buộc phải thay đổi cơ chế quản lí văn hoá cho phù hợp với yêu cầu mới

Để hực hiện chức năng quản lí vĩ mô nền văn hoá, cơ chế quản lí văn hoá cần thay đổi theo hướng sau:

+ Nhà nước chuyển từ chỗ chủ yếu quản lí các cơ quan văn hoá do nhà nước lập ra sang điều tiết và quản lí toàn bộ các tổ chức, các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực văn hoá gắn liền với các thành phần kinh tế khác nhau, các tổ chức xã hội dân sự khác nhau

Đối tượng quản lí mở rộng và thay đổi thường xuyên cho nên nhiệm vụ quản lí nhà nước ngày càng đa dạng và phức tạp hơn để đáp ứng sự biển đổi năng động của đời sống xã hội

+ Nhà nước chuyển từ chỗ phân bổ vốn đầu tư trực tiếp xây dựng các dự án, các công trình văn hoá – xã hội chuyển sang việc nhà nước tập trung xây dựng chiến lược phát triển văn hoá, xây dựng các quy hoạch và kế hoạch, xây dựng các chính sách văn hoá quan trọng, xây dựng môi trường pháp lí lành mạnh, tạo cơ hội và điều kiện cho các chủ thể khác nhau tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển văn hoá, khai thác các tiềm năng sáng tạo trong nhân dân

+ Quản lí nhà nước về văn hoá mang tính quyền lực nhà nước Nhà nước quản

lí văn hoá thông qua các cơ quan lập pháp - hành pháp – tư pháp, thông qua hoạt động của chính quyền các cấp đối với việc xây dựng và phát triển văn hoá Nhà nước cần phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp và các chính sách phát triển văn hoá cho phù hợp với quá tình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế Cần phải chú ý đến sự tác động của các quy luật kinh tế đến hoạt động văn hoá và tính đặc thù đối với ngành văn hoá Và tính chất đặc biệt của các sp văn hoá trong quá trình xây dựng con người và môi trường văn hoá lành mạnh

+ Quản lí nhà nước về văn hoá nhằm hướng tới xây dựng nền văn hoá tiến tiến dân tộc, tạo điều kiện để văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển

Trang 7

+ Quản lí nhà nước về văn hoá cần chú ý mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá, chú ý nhân tố kinh tế trong văn hoá và văn hoá trong kinh tế Cần phải phân biệt rõ chức năng quản lí hành chính nhà nước đối với các hoạt động văn hoá và chức năng sản xuất kinh doanh trên lĩnh vực văn hoá, chức năng hành chính và chức năng sự nghiệp

Đặc điểm của quản lí hiện nay là quản lí sự biến đổi và hướng sự biến đổi đó theo xu hương tiến bộ vì vậy cả chủ thể và đối tượng quản lí phải hướng tới phát triển chủ thể quản lí phải luôn thay đổi tư duy, suy nghĩ, bám sát thực tiễn, dự báo các tình huống có thể xảy ra để đưa ra những phương pháp quản lí thích hợp

1.2.3 Nội dung căn bản của quản lí nhà nước về văn hoá

Thứ nhất là xây dựng hệ thống luật pháp và chính sách phát triển Luật pháp phải thực sự là công cụ của quản lý nhà nước về văn hoá và công tác tư tưởng Đó là việc ban hành hệ thống các văn bản pháp luật đối với các hoạt động văn hoá để phát huy tác dụng của văn hoá tới sự hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, hạn chế những tiêu cực mà thị trường văn hoá tạo ra Xã hội hoá các hoạt động văn hoá phải đi đôi với yêu cầu quản lý bằng pháp luật

Hiện nay ở nước ta vấn đề xây dựng và thi hành pháp luật đang là nhu cầu cấp thiết của quản lý văn hoá Các văn bản pháp luật về văn hoá còn thiếu, gây khó khăn cho việc quản lý của lĩnh vực này Chính sách cho văn hoá không thể thay thế luật pháp trong việc quản lý Quản lý theo đúng luật sẽ góp phần tích cực vào việc lập lại trật tự kỷ cương trong tình hình văn hoá xã hội hiện nay đang có nhiều lộn xộn và đang cần khẩn trương giải quyết

Thứ hai, xây dựng bộ máy hành chính, hoàn thiện bộ máy hành chính nhà nước manh tính chuyên nghiệp cao Một trong những nhiệm vụ cấp bách của quản lý nhà nước về văn hoá hiện nay là củng cố tổ chức tăng cường về đào tạo đội ngũ cán bộ, đổi mới hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này như một biện pháp quan trọng để đổi mới nâng cao trình độ quản lý trước yêu cầu phát triển của sự nghiệp văn hoá trong công cuộc chấn hưng đất nước Lý luận và thực tiễn quản lý đòi hỏi sự cần thiết phải kết hợp tính ổn định và sự đổi mới cán bộ quản lý ở tất cả các cấp

Thứ 3, xây dựng mục tiêu chiến lược và các quy hoạch, kế hoạch phát triển văn hoá Chính sách văn hoá là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động các chính sách các

Trang 8

cách làm thiết thực các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách dùng làm cơ sở cho hoạt động văn hoá

Chính sách văn hoá được hình thành như một chỉnh thể trong một quá trình tác động lẫn nhau giữa ba nhóm cộng đồng (cộng đồng văn hoá, cộng đồng công chúng cộng đồng chính trị), không thể chỉ đơn phương của một, hai nhóm nào

Thứ 4, quản lí tốt các lĩnh vực đầu tư trong hoạt động văn hoá Đầu tư cho văn hoá là đầu tư cho sự phát triển Văn hoá có được đầu tư thì mới có điều kiện để vận động phát triển, có điều kiện để góp phần vào sự tiến bộ chung của xã hội Đầu tư cho văn hoá để định hướng hỗ trợ cho các xu hướng văn hoá tiêu biểu cho cộng đồng cho sức mạnh dân tộc, khởi đầu cho xu hướng văn hoá tương lai Đầu tư cho văn hoá với tư cách là một hoạt động sản xuất cũng cần được tính toán đến hiệu quả đầu tư Cấp ngân sách cho văn hoá cũng kèm theo những quy tắc như bất kỳ hoạt động tài chính nào khác khi yêu cầu đặt ra phải đạt tới mục tiêu quốc gia mà Đảng và nhà nước ta đã đặt ra

Thứ 5, phát triển sự nghiệp văn hoá, ưu tiên cho nhiệm vụ chính trị xã hội (ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị - xã hội)

Thứ 6, tăng cường kiểm tra xử lí các vi phạm Quản lí dịch vụ văn hóa và kinh doanh văn hóa là căn cứ các quy định của nhà nước về quản lí kt có tính tới các đặc thù của văn hoá Nhà nước tạo môi trường pháp lí cho các doanh nghiệp phát triển trên cơ sở tôn trọng luật pháp và đạo lí xã hội; có cơ chế khuyến khích, không khuyến khích và xử phạt nghiêm khắc đối với các sai phạm, đồng thời nhà nước phải chống lại các sản phẩm phản văn hoá, chống lại các tệ nạn xã hội và các tiêu cực xã hội

2 Nhiệm vụ và tiêu chuẩn của Công chức Văn hóa – Xã hội cấp xã

2.1 Nhiệm vụ

Theo Thông tư số 06/2012/TT-BNV, ngày 31/10/2012 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn, nhiệm vụ của công chức văn hóa xã hội được quy định như sau:

- Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong các lĩnh vực: Văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, thông tin, truyền thông, lao động, thương binh, xã hội, y tế, giáo dục theo quy định của pháp luật

Trang 9

- Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:

+ Tổ chức, theo dõi và báo cáo về các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch, y tế và giáo dục trên địa bàn; tổ chức thực hiện việc xây dựng đời sống văn hóa

ở cộng đồng dân cư và xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn cấp xã;

+ Thực hiện các nhiệm vụ thông tin, truyền thông về tình hình kinh tế - xã hội

ở địa phương;

+ Thống kê dân số, lao động, việc làm, ngành nghề trên địa bàn; theo dõi, tổng hợp, báo cáo về số lượng và tình hình biến động các đối tượng chính sách lao động, thương binh và xã hội; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện và chi trả các chế độ đối với người hưởng chính sách xã hội và người có công; quản lý nghĩa trang liệt sĩ và các công trình ghi công liệt sĩ; thực hiện các hoạt động bảo trợ xã hội và chương trình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn cấp xã;

+ Chủ trì, phối hợp với công chức khác và trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố xây dựng hương ước, quy ước ở thôn, tổ dân phố và thực hiện công tác giáo dục tại địa bàn cấp xã

- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao

2.2 Tiêu chuẩn công chức xã/phường hiện nay

Theo Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính

phủ về công chức xã phường, thị trấn thì tiêu chuẩn công chức văn hoá – xã hội cấp xã/phường là:

a) Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;

b) Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;

c) Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao;

d) Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác

Trang 10

Về tiêu chuẩn cụ thể thì Điều 4 của Nghị định này nêu: “đối với công chức cấp

xã theo từng chức danh do Bộ trưởng Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng các

bộ quản lý ngành, lĩnh vực quy định Đối với công chức tại các xã miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì tiêu chuẩn về trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có thể thấp hơn một cấp trình độ”

Theo đó, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 06/2012/TT-BNV, quy định tiêu chuẩn cụ thể như sau:

a) Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên;

b) Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông;

c) Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm;

d) Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên;

đ) Tiếng dân tộc thiểu số: Ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu

số trong hoạt động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu khi tuyển dụng mà chưa biết tiếng dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác được phân công;

e) Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm

3 Bất cập giữa nhiệm vụ và thực tế năng lực cán bộ quản lý văn hóa cấp xã/phường hiện nay ở Đà Nẵng và hướng khắc phục

Có lẽ chưa bao giờ ngành Văn hoá từ cấp huyện trở xuống lại phải đảm nhiệm một khối lượng công việc nhiều như hiện nay Theo Nghị định 14, ngày 04/02/2008 của Chính phủ về Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì, Phòng Văn hoá và Thông tin là cơ quan chuyên môn có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: văn hoá; gia đình; thể dục, thể thao; du lịch; bưu chính, viễn thông và internet; công nghệ thông tin, hạ tầng thông tin; phát thanh; báo

Ngày đăng: 19/07/2022, 08:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nghị định 14, ngày 04/02/2008 của Chính phủ về Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 14, ngày 04/02/2008 của Chính phủ về Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
1. Theo Thông tư số 06/2012/TT-BNV, ngày 31/10/2012 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn Khác
2. Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về công chức xã phường, thị trấn Khác
4. Nghị định 13/2008/NĐ-CP Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Khác
5. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành TW Đảng khoá IX Khác
6. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Khác
7. PGS.TS Phạm Duy Đức, Bài giảng Khoa học lãnh đạo, quản lý văn hóa Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w