Cùng với phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giao lưu vănhóa phải là một trong những hoạt động cơ bản, cốt lõi của ngoại giao văn hóa để quảng bá văn hoá d
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những giá trị văn hóa của con người là thước đo trình độ phát triển vàthể hiện những đặc tính riêng của mỗi dân tộc trên cơ sở sáng tạo và phátminh của chính con người Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mớisáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinhhoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộnhững sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổnghợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của
nó mà loài người đã sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống
và đòi hỏi của sự sinh tồn [43, tr.431]
Chính vì vậy, khi nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu đời sống văn hóa nóichung và đối với mỗi tộc người nói riêng là nghiên cứu toàn bộ những sángtạo và phát minh nó của các dân tộc trong lịch sử xã hội Qua đó, tìm ra đượcnhững nét đặc sắc, tinh túy trong hệ thống giá trị truyền thống văn hóa củadân tộc để tôn vinh, phát huy lên tầm cao mới, để không ngừng phục vụ tốthơn cho cuộc sống đối với các thế hệ hôm nay và mai sau
Bảo tồn và phát huy, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số là một
trong những nhiệm vụ trọng yếu của chiến lược: “Xây dựng và phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, một xu hướng phát triển
tất yếu trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, một vấn đề có ýnghĩa sống còn của của một dân tộc trong thời kỳ toàn cầu hóa kinh tế và kinh
tế thị trường Không phải ngẫu nhiên mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI của Đảng nhấn mạnh:
Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sởhữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy gía trị các di sản văn hóa vật thể vàphi vật thể của dân tộc Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hóa,
Trang 2văn nghệ, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa với phát triển dulịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giátrị văn hóa trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nướcngoài Xây dựng và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trịvăn hóa, ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số [18, tr.225]
Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) khẳng định:chủ động “Hội nhập, giao lưu văn hóa cùng với việc xây dựng những giá trịtốt đẹp về truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa vănhóa thế giới, bắt kịp sự phát triển của thời đại”; “Kiên trì và nâng cao tínhthống nhất trong đa dạng văn hóa Việt Nam” Xây dựng đời sống văn hoá cơ
sở là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm.Điều đó đã được thể hiện trong nội dung các văn kiện của Đảng và đã trởthành mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược của ngành Văn hoá - Thể thao và Dulịch Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là một trong những nội dung chủ yếu
và rộng lớn của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”.
Nhận thức về mục tiêu phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống con người,tạo cho con người có sự phát triển hài hoà giữa đời sống vật chất và đời sốngtinh thần nhằm tạo ra sự phát triển bền vững cho đất nước, để thực hiện tốtđường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác văn hoánói chung và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở nói riêng
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), của Đảng ta đã khẳng định: “Kế thừa và
phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam,tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ,văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá của con người, với trình độ tri
thức, đạo đức, thể lực, thẩm mỹ ngày càng cao” [18, tr.76] Cùng với phát
triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giao lưu vănhóa phải là một trong những hoạt động cơ bản, cốt lõi của ngoại giao văn hóa
để quảng bá văn hoá dân tộc và tiếp thu các giá trị văn hóa tiên tiến của nhân
Trang 3loại Đẩy mạnh ngoại giao văn hóa là cơ sở để chúng ta hội nhập sâu, pháttriển toàn diện đất nước trong mọi hoàn cảnh và bối cảnh mới.
Trong xu thế toàn cầu hoá, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhậpquốc tế hiện nay, vấn đề văn hóa các dân tộc lại càng trở nên bức xúc hơn baogiờ hết, đặc biệt là văn hóa các dân tộc thiểu số Giờ đây, vấn đề văn hóa tộcngười không còn bị giới hạn ở những sinh hoạt văn hóa thuần túy mà nó đãtrở thành một nhân tố nền tảng, động lực tác động mạnh mẽ đến quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội Qua quá trình nghiên cứu văn hóa người Cơ Tu ởnước ta nói chung và văn hóa người Cơ Tu tỉnh Quảng Nam nói riêng, mộtdân tộc vốn có truyền thống văn hóa lâu đời và rất đặc sắc, với những khíacạnh khoa học lý thú mà cho đến nay vẫn chưa khám phá được nhiều.UNESCO đã từng khuyến cáo rằng: bất cứ một quốc gia nào tự đặt cho mìnhmục tiêu tăng trưởng kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa, truyền thốngvăn hóa, thì nhất định sẽ mất cân đối nghiêm trọng cả về kinh tế và văn hóa,
cả về vật chất lẫn tinh thần Điều này không chỉ được kiểm nghiệm ở nhiềuquốc gia trên thế giới mà còn là những bài học quý báu trong quá trình pháttriển kinh tế - xã hội ở những vùng đất có sắc thái văn hóa rất riêng và vănhóa tộc người như ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam Đây cũng chính làvấn đề đã được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm Lúc sinh thời, Chủtịch Hồ Chí Minh cũng đã lưu ý rằng: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa là bốnlĩnh vực quan trọng ngang nhau, văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi Thếnhưng để thực hiện được những tư tưởng chỉ đạo, chủ trương đúng đắn về vănhóa không phải là điều dễ dàng trong một sớm một chiều mà cả một quá trìnhlâu dài, trong đó có vấn đề về văn hóa tộc người thiểu số, nó lại càng có ýnghĩa vô cùng sâu sắc, khi văn hóa nhất là văn hóa tộc người đang đứng trướcnhững thử thách khắc nghiệt trong nền kinh tế thị trường cũng như sự thờ ơcủa nhiều người trong thực tiễn cũng như trong cuộc sống Không phải ngẫunhiên mà Nghị quyết hội nghị lần thứ V của Ban chấp hành Trung ương (khóa
VIII) “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc văn hóa dân tộc” đã đề ra phương hướng và 10 nhiệm vụ xây dựng
Trang 4và phát triển văn hóa trong đó có nhiệm vụ Bảo tồn, phát huy và phát triểnvăn hóa các dân tộc thiểu số.
Trong những năm qua, dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng, vănhóa Việt Nam đã có bước phát triển mới Chúng ta đã từng bước xây dựng vàtừng bước đáp ứng được nhu cầu về đời sống văn hóa tinh thần lành mạnhtrong các địa bàn dân cư Cùng với việc cải thiện các nhu cầu vật chất thì cácnhu cầu tinh thần của người dân cũng ngày càng được nâng cao Giáo dục -đào tạo, khoa học - công nghệ đã được coi là quốc sách hàng đầu, đang được
sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội Nhờ đó, dân trí đã từng bước được nângcao, khoa học - công nghệ đã được ứng dụng vào sản xuất và đời sống Nhữngthành tựu đó không chỉ là kết quả của sự phát triển kinh tế, mà còn là nguyênnhân, là một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong hơn thập kỷ qua
Bàn về đời sống văn hóa tinh thần người Cơ Tu tỉnh Quảng Nam quả làcông trình không hề đơn giản, vì văn hóa người Cơ Tu rất phong phú, đadạng, phức tạp nhưng lại đầy tiềm năng chính như những cánh rừng đại ngàn
ở các huyện miền núi vùng cao vậy Phải chăng văn hóa người Cơ Tu cũng
giống như các tộc người vùng cao khác, là “Văn hóa rừng” Theo nghĩa ấy,
rừng không chỉ là tài nguyên của quốc gia, mà rừng là tất cả, là toàn bộ cuộcsống của họ và của chính bản thân họ Rừng không chỉ là không gian sinh tồn,
mà còn là thời gian sinh tồn đối với từng tộc người, trong đó có người Cơ Tu
Văn hóa người Cơ Tu là văn hóa nhà Gươl, cũng giống như nhà Rôngcủa người BaNa, nhà dài của người Ê Đê… Nhà Gươl là một thiết chế vănhóa truyền thống, là trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cộng đồngngười Cơ Tu Nhà Gươl không chỉ là loại hình kiến trúc tiêu biểu, thể hiệnkhát vọng, ý chí và sức mạnh của tộc người mà còn là nơi khí thiêng của đấttrời tụ lại để bảo vệ cho dân làng
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có các chủ trương,chính sách riêng đối với đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi, nhằm khaithác và phát huy thế mạnh và tiềm năng của miền núi và giá trị văn hóa tộc
Trang 5người trong đó có người Cơ Tu cần được bảo tồn và phát huy Tuy nhiên, donhiều nguyên nhân khác nhau, trong khi đó rừng bị tàn phá nghiêm trọng, các
dự án kinh tế đã làm thay đổi biết bao diện mạo văn hóa các dân tộc thiểu số,đời sống vật chất của đồng bào các tộc người còn nhiều khó khăn, thiếu thốnnên phải lo phát triển kinh tế, chưa có điều kiện để chăm lo và phát triển đờisống văn hóa; các cấp ủy, chính quyền và cơ quan chủ quản chưa tìm ra được
mô hình đời sống văn hóa phù hợp với từng tộc người và nhiều câu hỏi đangđặt ra cần phải có lời giải đáp về những giá trị đặc trưng của văn hóa tộcngười Cơ Tu, về những phong tục, tập quán tốt đẹp cần phải được giữ gìn vàphát huy, những hủ tục lạc hậu cần phải được xóa bỏ, cần có những giải pháp
để bảo tồn, phát huy chữ viết, các giá trị văn hóa tinh thần v.v
Với tư cách là người đã từng sống, công tác trong ngành văn hóa ở cáchuyện miền núi tỉnh Quảng Nam trong nhiều năm, từ lý luận văn hóa và thực
tiễn như đã nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài: Đời sống văn hóa người Cơ Tu,
tỉnh Quảng Nam hiện nay, làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ- chuyên
ngành văn hóa học tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ ChíMinh, ngỏ hầu góp một phần nhỏ bé của mình trong việc nghiên cứu đời sốngvăn hóa tộc người Cơ Tu là một nội dung quan trọng của việc nghiên cứu vănhóa tộc người trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trên cơ sở thế giới quan, nhân sinh quan mác xít, từ trước đến nay đã
có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết trên các tạp chí quốc gia về vănhóa và phát triển, văn hóa tộc người và nhiều khía cạnh trên lĩnh vực văn hóa.Đáng lưu ý là các công trình bài viết như: “Xây dựng nền văn hóa mới ở nước
ta hiện nay” của GS, TS Nguyễn Duy Quý - Đỗ Huy, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, 1992, “Tính thừa kế trong sự phát triển của văn hóa Việt Nam” củaPTS Thu Linh, Luận án PTS Khoa học triết học; “Văn hóa các dân tộc TâyNguyên - thực trạng và những vấn đề đặt ra” của GS, TS Trần Văn Bính, Nxb
Trang 6Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa TâyNguyên”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; “Văn hóa và phát triển - Sựnhận thức và vận dụng trong thực tiễn”, Nxb Đà Nẵng, 2007; “Biện chứnggiữa văn hóa và phát triển trong quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam”; “Phát huy truyền thống văn hóa Quảng Nam trong xây dựng đời sốngvăn hóa ở cơ sở”; “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Chăm Pa” của PGS,
TS Nguyễn Hồng Sơn; “Văn hóa Ê Đê - truyền thống và biến đổi”của TS.Nguyễn Ngọc Hòa, Nxb Đà Nẵng, 2007; “Đường lối văn hóa của Đảng Cộngsản Việt Nam từ năm 1930 đế nay”; “Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn2011-2020 những vấn đề phương pháp luận” của PGS, TS Phạm Duy Đức,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009… Riêng về văn hóa Cơ Tu cũng cónhiều công trình, bài viết đã công bố, chẳng hạn như: “Tìm hiểu con ngườimiền núi Quảng Nam” của GS Đặng Nghiêm Vạn, Nxb Đà Nẵng, 2005;
“Truyện cổ Cơ Tu” của Nguyễn Tri Hùng, Nxb Đà Nẵng, 1992; “Góp phầntìm hiểu nghiên cứu văn hóa Cơ Tu” của TS Lưu Hùng, Nxb Khoa học, HàNội, 2006; “Quan hệ hôn nhân gia đình ở người Pa Cô, Pahi và Cơ Tu ở tâyThừa Thiên- Huế, Quảng Nam” của Nguyễn Hữu Thấu, Nxb Thuận Hóa,Huế, 2002; “Vài nét về đời sống văn hóa vật chất của người Cơ Tu, tỉnhQuảng Nam xưa và nay ”; “Về quan hệ hôn nhân gia đình người Cơ Tu” củaPhạm Quang Hoan; “Các dân tộc ít người Việt Nam” của Khổng Diễn; “Đôiđiểm về xã hội truyền thống của người Cơ Tu” của Lưu Hùng; “ Cơ Tu - kẻđầu sống ngọn nước” của Nguyễn Hữu Thông, Tạp chí Văn hóa Quảng Nam,1998; “Đời sống văn hóa các tộc người ở các huyện miền núi vùng cao QuảngNam.”; “Đời sống văn hóa người Bhnoong huyện miền núi vùng cao PhướcSơn, Quảng Nam”; “Văn hóa cồng chiêng và những lễ hội của đồng bàoBhnoong huyện Phước Sơn, Quảng Nam”; “Các tập tục lạc hậu của ngườiBhnoong huyện miền núi vùng cao Phước Sơn” “Đời sống văn hóa người Cơ
Tu tỉnh Quảng Nam hiện nay” của Trần Cao Anh, Tạp chí Văn hóa QuảngNam, 1998 v.v
Trang 7Có thể nói, những công trình nghiên cứu, các bài viết nêu trên đã gópphần làm sáng tỏ bản chất, đặc trưng, những vấn đề mang tính quy luật trong
sự phát triển của văn hóa, vị thế, vai trò của văn hóa trong sự phát triển kinh
tế - xã hội, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của những quan điểm,đường lối, chính sách văn hóa của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới, ít nhiều đãchỉ ra được đặc trưng của văn hóa tộc người nhất là một số lĩnh vực đời sốngvăn hóa của người Cơ Tu ở các khía cạnh khác nhau như: đời sống vật chất,Truyện cổ, tập tục hôn nhân, gia đình, văn hóa nhà Gươl, lễ hội đâm trâu v.v khái quát những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với pháttriển miền núi và vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt là vấn đề bảo tồn phát huynhững giá trị văn hóa của các cộng đồng dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc
Cơ Tu tỉnh Quảng Nam Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập tương đốitoàn diện một cách có hệ thống và chuyên sâu về đời sống văn hóa, những nétriêng đặc sắc về đời sống văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần cũng như thựctrạng và giải pháp để xây dựng đời sống văn hóa của người Cơ Tu các huyện
miền núi tỉnh Quảng Nam với tư cách là một luận văn khoa học Đề tài: “Đời
sống văn hóa người Cơ Tu tỉnh Quảng Nam hiện nay” trên cơ sở kế thừa
các công trình đã công bố, luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ bức tranh vănhóa người Cơ Tu mà các công trình bài viết chưa có điều kiện đề cập tới
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Đề tài xác định những đặc trưng chủ yếu đời sống văn hóa người Cơ
Tu và đề xuất các giải pháp để xây dựng đời sống văn hóa tộc người Cơ Tu
tốt hơn theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà
nước Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục tiêu nêu trên, nhiệm vụ của đề tài đặt ra là:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về đời sống văn hóa và đặc điểm đời sốngvăn hóa người Cơ Tu tỉnh Quảng Nam
Trang 8- Khắc họa những đặc trưng chủ yếu về đời sống vật chất và đời sốngvăn hóa tinh thần người Cơ Tu tỉnh Quảng Nam.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng văn hóa của người Cơ Tu tỉnh QuảngNam trong những năm qua và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn trong xây dựngđời sống văn hóa
- Đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể để giữ gìn và phát huy giá trịvăn hóa người Cơ Tu trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở các huyện miềnnúi vùng cao tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung chủ yếu nghiên cứu về đời sống văn hóa vật chất vàtinh thần người Cơ Tu tỉnh Quảng Nam (Đông Giang, Nam Giang, TâyGiang), trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn nghiên cứu trong một số lĩnh vực về đời sống văn hóavật chất và văn hóa tinh thần của người Cơ Tu hiện nay Thực trạng về văn hóangười Cơ Tu từ năm 1975 đến nay ở một số huyện miền núi tỉnh Quảng Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan, phương phápluận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vănhóa và văn hoá các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Namtrong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay
Đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành, phươngpháp so sánh đối chiếu, phân tích-tổng hợp; lôgic- lịch sử, phương pháp vănbản học, văn hóa học, phương pháp nghiên cứu điền dã, dân tộc học
6 Đóng góp của đề tài luận văn
- Nghiên cứu một cách khái quát chuyên sâu về đời sống văn hóa củangười Cơ Tu, góp phần làm sáng tỏ và phong phú thêm sự hiểu biết đúng đắn
Trang 9về văn hóa truyền thống, vai trò của đời sống văn hóa trong quá trình pháttriển kinh tế- xã hội của địa phương.
- Phân tích thực trạng, nhận diện và đánh giá một cách chính xác đâu làthuần phong mỹ tục cần được bảo lưu, phát triển, đâu là hủ tục cần được loại
bỏ, khắc phục sự mai một của văn hóa truyền thống, nhằm đề xuất các giảipháp cụ thể để giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc Cơ Tu ở các huyện miềnnúi tỉnh Quảng Nam trong sự nghiệp xây dựng đời sống văn hóa hiện nay
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn hệ thống hóa để làm rõ thêm một số nét lý luận về văn hóa
và văn hóa tộc người trong quá trình kế thừa và giao lưu văn hóa cũng nhưđặc trưng văn hoá người Cơ Tu, tỉnh Quảng Nam
- Góp phần giúp cấp ủy, các cấp chính quyền, cơ quan chủ quản vănhóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam tham khảo trong việc hoạch địnhchủ trương, biện pháp trong việc xây dựng đời sống văn hóa người Cơ Tu,giúp họ phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất,cũng như đời sống văn hóa tinh thần trong những năm đến
Hy vọng những kết quả của đề tài luận văn cũng sẽ là tài liệu phục vụcho việc nghiên cứu, giảng dạy đối với những ai quan tâm về đời sống vănhóa người Cơ Tu
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 10Chương 1 QUAN NIỆM VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI CƠ TU TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
Góp phần giúp cấp ủy, các cấp chính quyền, cơ quan chủ quản văn hóa
ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam tham khảo trong việc hoạch định chủtrương, biện pháp trong việc xây dựng đời sống văn hóa người Cơ Tu, Làm rõnhững quan niệm và khái niệm về đời sống văn hóa là cơ sở để xác định nộidung và phạm vi của đề tài nghiên cứu, đồng thời là cơ sở để khảo sát thựctrạng về đời sống văn hóa của người Cơ Tu, giúp cho mọi người có thêm sựhiểu biết đúng đắn về văn hóa truyền thống và vai trò của đời sống văn hóatrong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của các huyện miền núi tỉnh QuảngNam hiện nay
1.1.1 Quan niệm về văn hóa
Văn hóa là một trong những khái niệm phức tạp và khó xác định, chođến nay đã có hơn bốn trăm định nghĩa về văn hóa, do các nhà nghiên cứuvăn hóa ở nước ta và các quốc gia trên thế giới công bố
Theo các nhà nghiên cứu, khái niệm văn hóa có nguồn gốc từ tiếngLatinh Cultura nghĩa là “Trồng trọt” “vun trồng”, sau đó chuyển thành vuntrồng trí tuệ cho con người Ở phương Đông, trong sách Chu Dịch có viết:
“Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ” nghĩa là: (cái nhân văn, vẽ đẹp củacon người có thể giáo hóa cho toàn thiên hạ) [68, tr.12] Ở đây, văn hóa đượcgiải thích như một phương thức dùng văn, tức là vẻ đẹp được cải hóa, giáohóa con người theo hướng tích cực
Ở phương Đông, trong ngôn ngữ Trung Hoa cổ đại văn hóa xuất hiệnvới hai nghĩa, văn hóa là “nhân văn giáo hóa” và “văn trị giáo hóa” Nghĩa thứnhất, văn hóa là “nhân văn giáo hóa”, tức là tác động đến cá nhân, biến sinhthể người thành con người xã hội Nghĩa thứ hai, văn hóa là “văn trị giáo
Trang 11hóa”, văn trị là lấy văn đức để giáo hóa, đưa con người vào trật tự, kỷ cương,phép tắc, lễ nghĩa mà tổ chức, quản lý, cai trị họ, xem “văn trị” đối lập với
“vũ trị” Nếu như cách thứ nhất văn hóa là “nhân văn giáo hóa”, đem văn hóa tácđộng vào cá nhân thì theo cách thứ hai “văn trị giáo hóa” là đem văn hóa tácđộng vào cộng đồng để tổ chức cộng đồng, tổ chức xã hội có nhiều biến đổi
Phương Tây thời cận hiện đại, khái niệm văn hóa được sử dụng phổbiến để chỉ trình độ học vấn, học thức, tri thức, phép ứng xử Do nhu cầu phảnánh các hoạt động xã hội, khái niệm văn hóa được mở rộng trên nhiều lĩnhvực khác nhau của đời sống Khái niệm văn hóa ở phương Đông được mởrộng vào đời sống tinh thần chỉ các phong tục, tập quán, lễ hội, sinh hoạt cộngđồng, nhân cách, sáng tác nghệ thuật Cho đến nay có nhiều cách tiếp nhậnvăn hóa theo những quan điểm khác nhau như cách tiếp cận sinh thái học,chức năng luận với các lý thuyết vị chủng, tương đối; cách tiếp cận theo quanđiểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm của triếthọc mác xít là sự tiếp cận mang tính phổ biến nhất
Như vậy, dù ở phương Đông hay ở phương Tây khái niệm văn hóa haythuật ngữ cultura đều có những hàm nghĩa tương đồng với nhau, chỉ về lĩnhvực hoạt động tinh thần, giáo dục khai mở tinh thần cho con người, làm chocon người trở thành thật sự người Con người muốn phát triển thì phải được
“văn hóa hóa”
Văn hóa trong quan niệm triết học mác xít được biểu thị như phươngthức hoạt động người bao hàm và chứa đựng toàn bộ các sản phẩm vật chất vàtinh thần của con người cũng như năng lực phát triển của chính bản thân conngười Văn hóa theo đó mà xuất hiện từ lao động hiện ra như một nhiệm vụthực tiễn, nhằm biến đổi các mối quan hệ qua lại giữa con người với thế giới.Văn hóa là một quá trình cải biến con người trở thành chủ thể của sự vậnđộng lịch sử, thành một cá nhân toàn vẹn
Khái niệm văn hóa được xác định trên hai phương diện: thứ nhất, vănhóa gắn liền với sự thể hiện, phát huy, giải phóng “năng lực, bản chất người”
Trang 12trong tất cả mọi dạng hoạt động và quan hệ của con người, văn hóa xuất hiệntrong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội Thứ hai, văn hóa bao gồmthế giới các giá trị được kết tinh trong “thiên nhiên thứ hai”, với tư cách là sảnphẩm của hoạt động “mang tính người” Đây là phương diện hết sức căn bản
và quan trọng, có tính đặc thù của văn hóa Có thể khẳng định rằng, văn hóa
là tổng hòa các giá trị mà con người sáng tạo ra trong suốt quá trình hoạt độngthực tiễn lịch sử - xã hội của mình Xét về khái niệm văn hóa có quan hệ bảnchất với khái niệm giá trị, ngôn ngữ, biểu tượng, phong tục, tập quán, đạođức, chuẩn mực cũng như tư tưởng, lối sống… của một chủ thể
Trong lĩnh vực hoạt động sản xuất vật chất và giá trị tinh thần, là khát
vọng của con người hướng tới chân, thiện, mỹ Văn hóa bao hàm các hoạt
động về giáo dục, khoa học, văn học, nghệ thuật, đạo đức, lối sống…Chủ tịch
Hồ Chí Minh, quan niệm: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [24, tr.131].
Văn hóa theo quan điểm của Hồ Chí Minh, là toàn bộ những gì do conngười sáng tạo ra, là “thiên nhiên thứ hai”, được nhân hóa qua thực tiễn bởicon người, ở đâu có hoạt động sáng tạo của con người, quan hệ giữa conngười với con người thì ở đó có văn hóa Bản chất của văn hóa là có tínhngười và mang tính xã hội Văn hóa là một thực thể sống động của con người.Người ta có thể nhìn thấy, sờ thấy, nghe thấy và cảm nhận bằng được nhữngcách khác nhau của một nền văn hóa, một thời đại văn hóa, một giá trị vănhóa do con người sáng tạo ra Dù nó là văn hóa vật chất hay là lĩnh vực vănhóa tinh thần cũng đều là sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của con người, docon người phát minh và sáng tạo ra vì mục đích của cuộc sống
Trong Hội nghị quốc tế về “chính sách văn hóa” do UNESCO tổ chức vào tháng 8 năm 1982 tại Mêhicô, văn hóa được xác định: là tổng thể các
Trang 13quan hệ về dấu hiệu tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm đặc biệt, xác định tính cách của một xã hội hay một nhóm xã hội Nó bao hàm không chỉ là cuộc sống nghệ thuật và khoa học, mà còn cả lối sống, các quyền cơ bản của sự tồn tại nhân sinh, những hệ thống giá trị, các truyền thống và các quan niệm… Theo cách này, văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sinh
động về mọi mặt của cuộc sống của con người đã diễn ra trong quá khứ cũngnhư đang diễn ra trong hiện tại, trải qua bao nhiêu thế kỷ, nó đã cấu thành nênmột hệ thống các giá trị, các truyền thống, thị hiếu thẩm mỹ và lối sống màdựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình Đặc trưng củavăn hóa là mang tính nhân văn, tính lịch sử, tính hệ thống và tính giá trị, thểhiện hành vi, trình độ ứng xử đối với môi trường tự nhiên và xã hội, tạo ranhững giá trị chuẩn mực, những giá trị làm thỏa mãn nhu cầu về đời sống vậtchất và tinh thần của con người, nhằm vươn tới chân, thiện, mỹ
1.1.2 Hệ thống các giá trị văn hóa
Đời sống là sự đan xen của những mối quan hệ đa dạng của con người.Nếu chúng ta xét về mặt tính chất của hoạt động, có quan hệ giao tiếp bìnhthường, quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị, quan hệ pháp luật Nhìn chung,phạm vi giao tiếp có sự quan hệ trong gia đình, quan hệ tình làng, nghĩa xóm,quan hệ đồng chí, đồng nghiệp trong cơ quan… Lấy chủ thể đó làm cơ sở thì
có quan hệ cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, dân tộc này với dântộc khác, lấy con người làm trung tâm thì mối quan hệ con người với tự nhiên,với xã hội và chính bản thân nó Trong tất cả những quan hệ ấy đều tồn tại cácgiá trị văn hóa Vì vậy, văn hóa bao giờ cũng là hệ thống mang tính hữu cơcác giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thựctiễn Giá trị là hạt nhân của văn hóa và đời sống văn hóa Đời sống văn hóagiống như một biểu đồ phản ánh sự sáng tạo, truyền bá và nó tác động tới cácgiá trị thông qua hoạt động sống của con người
Nếu xem xét hoạt động sống của con người từ ba góc độ nhận thức,hành động và cảm xúc, chúng ta có thể thấy hệ giá trị văn hóa bao gồm ba
Trang 14phạm trù cơ bản là: Chân, Thiện, Mỹ Trong đó, Chân là đối tượng của nhậnthức và sáng tạo khoa học, Thiện là đối tượng của nhận thức và hành vi đạođức, Mỹ là đối tượng của nhận thức và hoạt động thẩm mỹ, nghệ thuật Chân,Thiện, Mỹ có mối quan hệ thống nhất nhau, phản ánh quan niệm của conngười về những mối quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội, khảnăng sáng tạo theo các quy luật cái đẹp của con người Phạm trù chân, thiện,
mỹ, đã hàm nghĩa với sự phân biệt đối với các hiện tượng tương phản, đối lậpnhư: giả, ác, xấu Điều nầy cũng cho thấy, đời sống văn hóa là quá trình vậnđộng của chủ thể người và xã hội theo hướng ngày càng tiếp cận và khẳngđịnh các giá trị Chân, Thiện, Mỹ, đấu tranh với cái phản giá trị giả, ác, xấu,trong đời sống con người và xã hội
Hoạt động sáng tạo, bảo quản, truyền bá…có thể là hoạt động của từng
cá nhân nhưng nó luôn diễn ra trong mối quan hệ của cộng đồng Hay nóicách khác, nó luôn mang tính xã hội Sáng tạo, hay bảo quản, luôn lấy quầnchúng nhân dân làm đối tượng để hướng đến, quần chúng phải là một thành tốcủa hoạt động này Ở chiều ngược lại, công chúng và sự tiêu dùng của côngchúng sẽ định hướng cho các hoạt động nói trên Sự liên thông giữa các yếu
tố này cho thấy hoạt động văn hóa luôn diễn ra có đối tượng và đúng mụcđích và luôn có hiệu quả tác động
Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã khái quát một số dạng hoạt động vănhóa cơ bản, đó là:
- Hoạt động thông tin - tuyền truyền
- Hoạt động văn học, nghệ thuật
- Hoạt động thư viện, sách, báo
- Hoạt động thể dục- thể thao, vui chơi giải trí
- Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựngnếp sống văn hóa
- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng
- Hoạt động các câu lạc bộ
Trang 15- Bảo vệ di sản và giáo dục truyền thống
- Các thiết chế và cảnh quan văn hóa…
Thiết chế văn hóa đóng vai trò là nơi lưu giữ và chuyển tải các giá trịvăn hóa của cộng đồng đến với từng cá nhân Đó là môi trường vật chất, đảmbảo cho các hoạt động văn hóa trong sản xuất, bảo quản, truyền bá và hưởngthụ các giá trị văn hóa diễn ra hằng ngày trong đời sống xã hội
Các thiết chế văn hóa - xã hội bao gồm các tổ chức, bao gồm chức nănggiáo hóa con người theo những chuẩn mực phù hợp với yêu cầu phát triển của
xã hội Đây là môi trường trực tiếp tác động văn hóa đến với cộng đồng Thiếtchế văn hóa - xã hội gần gũi nhất với con người chính là gia đình và nhàtrường Thiết chế văn hóa - xã hội làm tốt chức năng của nó, khi đó, sẽ cungcấp cho xã hội những sản phẩm có chất lượng cao và trực tiếp tạo nên sảnphẩm là những con người có văn hóa
Bên cạnh đó, cảnh quan văn hóa là những sản phẩm tồn tại trong mốiquan hệ tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, môi trường xã hộibao gồm các danh lam thắng cảnh tự nhiên, kiến trúc, các công trình trình xâydựng, tượng đài, đường phố… Cảnh quan văn hóa là môi trường vật chất vănhóa mà trong đó con người đang sinh sống Nó là biểu hiện bề mặt trực tiếpcủa đời sống văn hóa, qua kiến trúc cảnh quan môi trường, trật tự, vệ sinh, đôthị…ít nhiều có thể khái quát đời sống văn hóa của khu dân cư Tuy nó chỉ làkhông gian vật chất do con người tạo ra nhưng, cảnh quan văn hóa lại có tácđộng nâng đỡ, điều chỉnh, giám sát hành vi của con người Bên trong cảnhquan đó chứa đựng những yếu tố chuẩn mực của cộng đồng, bao phủ trong nó
là sự lan tỏa thầm lặng của các giá trị văn hóa, chẳng hạn như khi ta bước vàochùa ta sẽ cảm nhận được không khí trang nghiêm, thanh tịnh của một cõilinh thiêng, huyền bí nào đó chẳng hạn
Con người với tư cách là chủ thể của mọi hoạt động xã hội, là sự khởiđầu trong cấu trúc của đời sống văn hóa, con người sáng tạo ra văn hóa nhưmột phương thức sáng tạo đặc thù Khi các giá trị đó được xác lập, con người
Trang 16tái tạo sử dụng như một phương tiện để thỏa mãn các nhu cầu về vật chất vàtinh thần của mình Khiến cho đời sống của con người không phải là nhữnghoạt động bản năng sinh tồn theo “đường dẫn” của văn hóa, mà nó còn làmcho đời sống của con người trở nên đa dạng, phong phú hơn, mà cũng chỉ cócon người mới có văn hóa mà thôi Con người kiến tạo và kiến trúc nên đờisống văn hóa Mặt khác con người cũng là sản phẩm của đời sống văn hóa.Con người tham gia chính vào đời sống văn hóa với vai trò chủ thể, nhưngđồng thời cũng là đối tượng chính trong đời sống văn hóa, những năng lựccủa nó được nuôi dưỡng và bộc lộ Có đời sống văn hóa của cá nhân, củanhững nhóm người và của xã hội, tất cả các quan hệ có sự tương tác lẫn nhautrong sự vận hành của hệ giá trị văn hóa Nhìn theo phạm vi giao tiếp quan hệtrong gia đình, quan hệ làng xóm, quan hệ cơ quan…với xã hội và chính bảnthân nó Trong tất cả các mối quan hệ ấy đều tồn tại các giá trị văn hóa Vănhóa vừa là hình thức, vừa là nội dung của ứng xử trong các mối quan hệ.Chẳng hạn cái bắt tay giữa hai cá nhân có ý nghĩa của sự tiếp xúc, sự cảmthông giữa các giá trị văn hóa thông qua hai chủ thể ấy.
Từ đó, khi ta xét theo nghĩa rộng, hoạt động sống của con người cũngchứa đựng các giá trị văn hóa, từ việc ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, cho đếnviệc giao tiếp, vui chơi, giải trí… Tuy nhiên, giá trị văn hóa trong các hoạtđộng này chỉ tồn tại như là giá trị người của tất cả mọi hoạt động sống nóichung và chưa phải là mục đích trực tiếp Vì vậy, hoạt động văn hóa ở đâybiểu hiện mang tính chung mà mục đích và nội dung trực tiếp của nó là cácgiá trị chân, thiện, mỹ Đó chính là quá trình bảo quản, phân phối và tiêu dùngcác giá trị văn hóa Thông qua hoạt động này, giá trị sẽ được sản sinh, vậnđộng và lan tỏa trong đời sống, với tư cách là loại hoạt động “thực hiện” cácgiá trị, hoạt động văn hóa là hoạt động mang tính sáng tạo, thể hiện một cáchtập trung nhất năng lực của văn hóa, khả năng sáng tạo theo quy luật của cáiđẹp của từng cá nhân và cộng đồng Hoạt động sáng tạo, bảo quản, truyềnbá…có thể là hoạt động của cá nhân nhưng nó luôn diễn ra trong mối liên hệ
Trang 17với cộng đồng, hay nói cách khác là nó luôn mang tính xã hội Sáng tạo, bảoquản hay phân phối mà nó luôn luôn lấy đối tượng của công chúng nhân dân
và lấy nhân dân làm mục đích chung để hướng đến
1.1.3 Khái niệm đời sống văn hóa
Khi tiếp cận và luận bàn về đời sống văn hóa hiện nay, tác giả HoàngVinh cho rằng, đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội Đờisống xã hội là một phức thể những hoạt động sống của con người, nhằm đápứng được những nhu cầu của con người Trong khi đó, các hoạt động văn hóađáp ứng nhu cầu tinh thần, làm cho con người tồn tại với tư cách là một sinhthể xã hội, tức là con người tồn tại như một nhân cách văn hóa Xã hội càngtiến hóa, nhu cầu văn hóa và sự đáp ứng nhu cầu đó ngày càng cao, thể hiệntrình độ phát triển người, các hoạt động đáp ứng nhu cầu tinh thần của con
người, đó chính là hoạt động văn hóa [68, tr.162, 163] Có thể hiểu rằng: Đời
sống văn hóa chính là tổng thể sống động các hoạt động văn hóa trong quá trình sáng tạo (sản xuất), bảo quản, phổ biến, tiêu dùng các sản phẩm văn hóa và sự giao lưu văn hóa, nhằm từng bước thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt văn hóa của cá nhân và cộng đồng.
Về phương diện nào đó, đời sống văn hóa cũng chính là môi trườnghoạt động sống của con người Môi trường văn hóa là nơi diễn ra mọi hoạtđộng văn hóa, có sự hòa trộn giữa văn hóa cá nhân với văn hóa cộng đồng, làtổng thể của những văn hóa vật thể và phi vật thể, nhân cách văn hóa có sự tácđộng lẫn nhau, trực tiếp hình thành nên phẩm giá và lối sống của con người
và xã hội Văn hóa chính là đời sống, ban đầu nó là cái phân biệt giữa conngười và động vật, về sau, nó là cái phân biệt giữa cá nhân con người và cộngđồng Ý nghĩa của văn hóa là chuyển dịch dần từ các mối quan hệ giữa conngười và tự nhiên sang mối quan hệ giữa con người và xã hội
Trong chừng mực nào đó, nếu ta chia đời sống con người ra làm haimảng: đời sống vật chất và đời sống tinh thần, dưới góc nhìn trừu tượng hóa,đời sống vật chất bao gồm toàn bộ các hoạt động thỏa mãn các nhu cầu vật
Trang 18chất, làm nên sự tồn tại sinh vật của con người Tương tự, đời sống con ngườihình thành trên cơ sở những hoạt động thỏa mãn nhu cầu tinh thần để nâng cáitồn tại sinh vật ấy lên tầm xã hội, thông qua việc thỏa mãn những nhu cầu vậtchất và tinh thần, con người còn nhằm thỏa mãn một nhu cầu khác hướng tớicác giá trị nhân hóa, cái chân trong nhận thức, cái thiện trong hành động vàcái mỹ trong cảm xúc Đây chính là đời sống văn hóa, nó như là mặt cắtngang đối với đời sống của con người, xuyên thấm sâu trong tất cả các lĩnhvực của đời sống vật chất và lĩnh vực tinh thần, như sự thăng hoa của đờisống vật chất và đời sống tinh thần.
Thực ra, giữa đời sống văn hóa và môi trường văn hóa cũng khônghoàn toàn đồng nhất Sự khác nhau được thể hiện: môi trường văn hóa là môitrường chứa đựng những giá trị văn hóa và diễn ra các mối quan hệ văn hóa,các hoạt động văn hóa của con người Còn đời sống văn hóa là “Tổng thểsống động các hoạt động sáng tạo văn hóa” của con người nhằm thỏa mãn cácnhu cầu văn hóa, hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ, hướng con người và xãhội phát triển theo tinh thần nhân văn, nhân bản
Đời sống văn hóa lành mạnh, phong phú, phải được biểu hiện thôngqua sự đáp ứng lạnh mạnh và đa dạng, mức độ tham gia của người dân Dựavào đời sống thực tế hiện nay, các nhà nghiên cứu đã khái quát một số dạnghoạt động văn hóa phổ biến như sau:
- Hoạt động sáng tác và biểu diễn văn nghệ, ứng dụng khoa học kỹthuật vào đời sống
- Hoạt động khai trí, giáo dục nâng cao kiến thức cho mọi người, dạyhọc, diễn giảng, tọa đàm, thư viện, thông tin
- Hoạt động giao lưu sản phẩm văn hóa: bảo tàng, lưu trữ, triển lãm…
- Hoạt động tiêu dùng sản phẩm văn hóa: đọc sách, báo, nghe nhạc,xem nghệ thuật, phim ảnh, triển lãm
- Hoạt động lễ hội, tín ngưỡng, phong tục tập quán, xây dựng nếp sốnggia đình văn hóa
Trang 19- Hoạt động thể dục, thể thao vui chơi, giải trí.
Cấu trúc của đời sống văn hóa bao gồm các yếu tố cơ bản: Con người văn hóa, hệ thống các giá trị văn hóa, các quan hệ văn hóa, các hoạt động văn hóa,
hệ thống các thiết chế và cảnh quan văn hóa Giữa các yếu tố đó có sự tác động
qua lại lẫn nhau, phản ánh toàn bộ đời sống của con người đáp ứng các nhu cầuhưởng thụ nhằm tác động đến sự phát triển của con người và xã hội
Như vậy, đời sống văn hóa thực chất là mặt tự giác của đời sống conngười Nội dung của các mặt tự giác ấy là các giá trị văn hóa được vận động,bộc lộ trong các hoạt động sống, các mối quan hệ, nhằm tạo ra sự hài hòa giữacác cá nhân với cộng đồng, giữa xã hội với tự nhiên Điều dễ nhận thấy là khimặt tự giác ấy mất đi, đời sống của con người chỉ còn đơn thuần là chuổi hoạtđộng của bản năng sinh tồn mà thôi
Ý nghĩa của đời sống văn hóa có thể nhìn thấy từ mối quan hệ giữa nóvới đời sống vật chất và tinh thần Không nên hiểu đời sống văn hóa như mộtđiều gì cao xa, tách biệt với đời sống thực tế, và nó càng không phải là “cờ,đèn, kèn, trống, đinh dây, hồ giấy”, là sự mua vui, giải trí như một số người
đã nghĩ Đời sống văn hóa nằm ngay trong đời sống vật chất và tinh thần củacon người, ngay trong đời sống hàng ngày của chúng ta Có thể hình dung đờisống vật chất và đời sống tinh thần là biểu hiện bề ngoài, còn đời sống vănhóa là nội dung bên trong, là ý nghĩa của đời sống thường nhật Ý nghĩa vănhóa có được trước hết là ở đời sống vật chất ngày càng đầy đủ, đời sống tinhthần phong phú, vui tươi, lành mạnh …
Khái niệm về đời sống văn hóa hiện nay cũng chính là quan niệm vềđời sống mới mà lúc sinh thời Bác Hồ chúng ta đã từng nhắc đến Từ hơn nữathế kỷ trước, trong quyển sách “Đời sống mới”, Bác Hồ đã chỉ ra rằng: mục
đích của đời sống mới là: “Làm thế nào đời sống của nhân dân ta vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn” [20, tr.95], mới tức là khác
với cái cũ, với cái lạc hậu Đời sống mới “không phải là cao xa gì, không phảikhó khăn gì”, “Nó không bảo ai phải hy sinh chút gì” Đời sống mới xuất phát
Trang 20từ chỗ nước ta bây giờ “người nghèo khổ thì nhiều, người no ấm thì ít” Vì vậy,đối với đời sống mới “việc đầu hết” xuất phát từ ăn, mặc, ở, đi lại Nó “chỉ sửađổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông trong đời sống của mọi người, tức làsửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc” [20, tr.95].
Đời sống văn hóa được biểu hiện trong mọi hoạt động sống của conngười Nếu như đời sống vật chất hay đời sống tinh thần là các khái niệm chỉnhững hoạt động sống của con người, thì đời sống văn hóa là khái niệm cótính bao trùm, thể hiện cụ thể các mặt giá trị của đời sống vật chất và đời sốngtinh thần của con người Thiếu đi ý nghĩa văn hóa, đời sống của con người chỉcòn là một chuỗi các hoạt động hướng tới những nhu cầu bản năng mà thôi.Khái niệm đời sống vật chất hay đời sống tinh thần chỉ hàm chứa phương tiện,nội dung sinh hoạt; đó là những phương diện tồn tại cho mình, cho cá nhân.Trong khi đó, đời sống văn hóa phản ánh trình độ đáp ứng và xử lý hai loạinhu cầu nói trên, hàm chứa những mối quan hệ nhiều chiều
1.2 XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VÙNG DÂN TỘC CƠ TU TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY
1.2.1 Vị trí địa lý, vai trò, lịch sử hình thành vùng dân tộc Cơ Tu tỉnh Quảng Nam hiện nay
Dọc theo dãy Trường Sơn hùng vĩ kéo dài suốt cả phía Tây của miềnTrung đất nước, nơi tiếp giáp với Tây Nguyên, nơi đấy, nằm ở vùng Tây namtỉnh Thừa Thiên - Huế và Tây bắc tỉnh Quảng Nam là địa bàn cư trú của dântộc Cơ Tu
Người Cơ Tu sinh sống ở vùng địa lý có địa hình khá phức tạp, hiểmtrở bị cắt xẻ bởi nhiều sông, suối, núi cao và thung lũng hẹp Nằm trong vùngkhí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm cao nên khí hậu khắc nghiệt Đây cũng làvùng có nhiều tài nguyên thiên nhiên rừng, nhất là gỗ và các loại động vật quíhiếm Đặc điểm tự nhiên của vùng đất người Cơ Tu sinh sống tuy có nhữngnét yếu tố riêng biệt nhưng vẫn nằm trong một khu vực tương đối thống nhấttrong điều kiện tự nhiên nối liền miền Tây các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị,
Trang 21Thừa Thiên - Huế, với Bắc Tây Nguyên Trong đó đặc biệt là sự tương đồng
về địa hình, miền khí hậu, hệ thổ nhưỡng của miền Tây Thừa Thiên - Huế vớimiền Tây tỉnh Quảng Nam, nơi đây chính là địa bàn cư trú của người Cơ Tu ởViệt Nam Xuất phát từ đặc điểm địa hình của khu vực miền Trung, vùng miềnnúi phía Tây và vùng đồng bằng Duyên Hải phía Đông tiếp giáp với nhau Dovậy, địa bàn cư trú của người Cơ Tu xét về mặt địa hình chung của khu vực lạitiếp giáp với vùng cư trú của dân tộc Kinh, vùng trung du và đồng bằng Từnhững vấn đề đó, chúng ta có thể thấy rằng, người Cơ Tu sinh sống trên một địabàn có những yếu tố địa lý tương đối thống nhất Ngoài ra, khi xét ở một bìnhdiện rộng ra nữa thì vùng địa hình, thổ nhưỡng ở nơi này có những mối quan hệtương hỗ, gắn bó trong hệ sinh thái vùng phía Đông tỉnh Sê Kông (Lào) tiếp giápvới miền Tây tỉnh Quảng Nam Những đặc điểm chung tự nhiên của vùng người
Cơ Tu sinh sống là một trong những cơ sở cần thiết để khi xét đến những đặcđiểm về xã hội của dân tộc Cơ Tu ở Việt Nam, dân tộc Cơ Tu có hơn gần 6 vạnngười, xếp thứ 26 trong danh mục các thành phần các dân tộc Việt Nam (nằmtrong danh sách các thành phần dân tộc Việt Nam Tổng cục thống kê - Điều tradân số 1-4-1979, công bố QĐ số 121 - ngày 2-3-1979)
Ở địa bàn tỉnh Quảng Nam, dân tộc Cơ Tu có số lượng ước khoảng 42ngàn người, dân số thuộc loại đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở miền núiphía Tây tỉnh Quảng Nam, ở hai huyện A Lưới và Nam Đông tỉnh Thừa Thiên
- Huế có khoảng hơn 12 ngàn người Ngoài ra, người Cơ Tu còn cư trú ở haihuyện Đắc Chưng và Kà Lùm của tỉnh Xê Kông (Lào) với số lượng hơn 1 vạnngười
Địa bàn phân bố dân cư (địa vực cư trú) tương đối tập trung ở tỉnhQuảng Nam người Cơ Tu cư trú ở toàn bộ các huyện Đông Giang, Tây Giang,Nam Giang Người Cơ Tu cư trú ở 6 xã, 1 thôn gồm: Thị trấn Thành Mỹ, các
xã Cà Dy, Tabhinh, Chà Val, Zuôih, La dêê và thôn Công-tơ-rơn xã La dêê.Ngoài ra, người Cơ Tu còn cư trú ở xã Hòa Phú và Hòa Bắc ở huyện HòaVang thành phố Đà Nẵng (địa bàn mà người Cơ Tu cư trú ở 2 xã thuộc huyện
Trang 22Hòa Vang trước năm 1986 thuộc đất của huyện Hiên (cũ), sau đó, do phânđịnh lại ranh giới cắt về cho huyện Hòa Vang).Ở tỉnh Thừa Thiên - Huế người
Cơ Tu sinh sống ở một địa bàn tương đối tập trung, đó là huyện A Lưới họ cưtrú ở các xã Hương Lâm, Hương Nguyên, huyện Nam Đông và cư trú ở các
xã Hương Hữu, Thượng Long, Thượng Nhật, Thượng Quảng, Thượng Lộ vàHương Sơn Ngoài ra, còn ở một số xã như Hồng Hạ, A Đớt, Hồng Thượngcủa huyện A Lưới, người Cơ Tu sống cư trú xen kẽ với người Tà Ôi
Qua tìm hiểu và nghiên cứu các địa bàn cư trú của người Cơ Tu chúng
ta thấy một số vấn đề sau:
- Trên bình diện cả nước: Địa bàn cư trú ở tỉnh Thừa Thiên - Huế với
tỉnh Quảng Nam và cả thành phố Đà Nẵng nằm ở một khu vực thống nhất, kềcận nhau Có thể thấy rằng, địa vực cư trú kéo dài, liên tục từ huyện A Lưới -Nam Đông (Thừa Thiên - Huế), huyện Hòa Vang (Đà Nẵng) Đông Giang,Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn (Quảng Nam) Địa bàn cư trú không bịnhững phân cách lớn, phức tạp bởi yếu tố địa hình Từ đó không tạo nên sựcách trở về không gian quá lớn trong địa vực cư trú Tính quần cư cộng đồnglớn, xen cư với các dân tộc cận cư xảy ra với mức tương đối không đáng kể.Địa bàn cư trú ở phía Đông (vùng đồng bằng không có dân tộc thiểu số cưtrú) tiếp giáp ngay vùng cư trú của dân tộc Kinh
- Trên bình diện với nước bạn Lào: Địa vực cư trú của người Cơ Tu tại
Việt Nam và với người Cơ Tu ở hai huyện Đắc Chưng, Ka lùm tỉnh Sê Kôngtiếp giáp với nhau Mặc dù vậy, có những khác biệt về điều kiện tự nhiên giữaĐông và Tây Trường Sơn nhưng địa bàn dân cư không có sự gián đoạn lớn,không có dân tộc khác sống xen kẻ
- Trên bình diện tỉnh Quảng Nam: Địa bàn cư trú của người Cơ Tu ở 3
huyện Đông Giang, Nam Giang và Tây Giang có tính tập trung cao, các bộphận cư dân tính theo vùng: cao, trung, thấp; tính theo huyện, xã đều liền kềnhau Đặc biệt ở huyện Đông Giang, người Cơ Tu sinh sống trên khắp địa bàncủa huyện, tiếp giáp về phía đông gắn liền với địa bàn của người Kinh, sát cưdân miền biển
Trang 23Núi rừng co dần về Tây cũng đồng nghĩa với sự co dần vùng đất cư trúcủa những tộc người sống bằng nông nghiệp nương rẫy, trên mặt dốc của núiđồi theo lối phát, đốt, chọc, trỉa Hiện tượng này đã lưu lại trong dấu ấn tộcngười, khiến chúng ta có thể dễ dàng nhận ra qua hệ thống truyền thuyết, thầnthoại, ngôn ngữ và cả trong thực tế, liên quan đến vùng đất sinh sống cũ của
họ ở vùng núi rừng lan đến vùng ven biển Chính hiện tượng này đã tạo nênnhững đặc điểm đáng lưu ý, khi nghiên cứu văn hóa các tộc người ở Bắc miềnTrung Điểm nổi bật trong mối quan hệ xuôi ngược Đông - Tây ở đây khôngđơn thuần là vấn đề giao lưu văn hóa, mà còn là hoạt động kinh tế thông quaviệc mua bán, trao đổi những phẩm vật đáp ứng nhu cầu của từng thời kỳ theomạng lưới sông suối và đường mòn Có thể nói, hoạt động có tính chất thươngnghiệp đã xuất hiện khá sớm qua hệ chợ phiên được thiết lập dọc theo cácđiểm giao tiếp Kinh - Thượng từ thời phong kiến
Địa bàn cư trú của người Cơ Tu là một vùng núi non trùng điệp, phầnlớn đổ theo hướng Tây Bắc- Đông Nam Ngọn Atouat là ngọn núi cao nhấtvùng này (2.500m) Khối núi ấy dựa vào Cao nguyên Tahoi trải dài trên biêngiới Việt - Lào và cách sơn hệ phía bắc bởi các Cao nguyên Điểm sinh sốngcủa họ tập trung dọc theo triền dốc và thung lũng của sông Giằng, sông Cái vàsông Bung
Từ những vấn đề trên đây, chúng ta có thể khẳng định rằng địa bàn cưtrú của người Cơ Tu là rộng lớn, tập trung, không bị xáo trộn, chia cắt bởi sự
cư trú của các dân tộc khác Địa bàn cư trú của họ là có sự gắn bó với địa bànvùng đồng bằng, vùng người Kinh; lại có sự liên hệ qua lại về mặt kinh tế -văn hóa, trong quá trình lịch sử từ trước cho đến nay, chưa có một tài liệunghiên cứu khoa học nào cho thấy trong quá trình nghiên cứu lịch sử địa bàn
cư trú của tộc người Cơ Tu vượt ra ngoài khu vực này hoặc chuyển cư từ BắcTrường Sơn vào hay Bắc Tây Nguyên ra Vì vậy, có thể là cơ sở để cho rằngvới đặc điểm về địa bàn cư trú như vậy đã có những tác động trong quá trìnhhình thành dân tộc và xác định nguồn gốc dân tộc Cũng cần lưu ý thêm rằng,
Trang 24sự biến động về địa bàn cư trú của những bộ phận, bộ tộc, dòng họ đã xảy ratrong lịch sử là tất yếu đối với các dân tộc thời kỳ cuối của chế độ công xãnguyên thủy và các hình thái kinh tế nguyên thủy (du canh - du cư, nôngnghiệp nương rẫy, chiếm đoạt) Ở người Cơ Tu cũng xảy ra tình trạng nàynhưng chưa thấy diễn ra sự thiên di lớn Sự biến động có chăng cũng nằmtrong khu vực cư trú như đã trình bày trên Một vấn đề quan trọng khác trongvấn đề cư trú của địa bàn dân tộc Cơ Tu cũng là mối quan hệ với các dân tộccận cư khác Về phía Bắc, người Cơ Tu cận cư với người Tà Ôi ở huyện ALưới tỉnh Thừa Thiên - Huế, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị Về phíaNam, cận cư với người Tà riềng, Ve (Dẻh) và Bh”noong (Phơ noong) thuộcdân tộc Gié - Triêng ở 2 huyện Nam Giang, Phước Sơn, Quảng Nam Về phíaĐông, cận cư với người Kinh ở các huyện Hòa Vang (Đà Nẵng); Đại Lộc,Quế Sơn (Quảng Nam) Về phía Tây, cận cư với đồng tộc ở 2 huyện ĐắcChưng, Kà Lùm tỉnh Sê Kông.
Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay, địa bàn cư trúcủa dân tộc Cơ Tu có những biến động nhỏ, do việc chuyển cư sinh sống, làm
ăn của đồng bào Kinh lên vùng miền núi Bên cạnh đó, do thực hiện cuộc vậnđộng định canh, định cư và việc hoạch định lại biên giới Việt - Lào từ nhữngnăm 1977, 1978 nên đã có những sự dịch chuyển từ vùng này sang vùng kháccủa một số bộ phận các làng, xã Qua khảo sát các địa phương trên, có thể nêumột số biến động về địa bàn cư trú như sau:
Trong những năm 1977 1978 do việc hoạch định lại biên giới Việt Lào, đồng bào Cơ Tu ở xã Bhallêê (huyện Hiên cũ) được chuyển cư từ vùngđất hiện nay nằm ở xã Ca Trúp, Tà Vàng huyện Kà Lùm tỉnh Sê Kông - Làolúc bấy giờ là đất của ta, về địa bàn cư trú tại vùng trung và vùng cao hiện naycủa huyện Tây Giang Trong những năm 1976 - 1978 một số xã như ATiêng,Avương huyện Hiên đã chuyển cư một bộ phận dân của xã xuống cư trú ởvùng đất thấp hơn thuộc các xã A Vương, Tà Lu, Sông Kôn, ATing Nguyênnhân: Do thực hiện cuộc vận động định canh - định cư Từ sau ngày giải
Trang 25-phóng đến nay một bộ phận dân cư của xã Tà Pờ huyện Giằng (nay là vùngđất của xã Zuôih huyện Nam Giang) chuyển cư xuống vùng thấp để cư trú, ởcác xã TàBhing, Cà Dy Nguyên nhân: Do thực hiện cuộc vận động định canhđịnh cư Người kinh đến cư trú trong vùng đồng bào dân tộc Cơ Tu xảy ramạnh mẽ kể từ sau ngày giải phóng đến nay Trong đó một bộ phận nhỏ là cán
bộ, công chức, viên chức Nhà nước và một số khá lớn là người buôn bán, khaikhẩn đất mới Việc cư trú này tập trung vào các xã vùng thấp, thị trấn nơi cóvùng giao thông thuận lợi Cụ thể: Ở huyện Hiên (cũ) khu vực thung lũngSông Vàng (Nông trường Quyết Thắng - Xã Ba và một ít ở Xã Tư, khu vựcBền (xã Sông Kôn), xã Tà Lu (khu vực trung tâm huỵên lỵ P rao), ở huyệnGiằng (cũ) và khu vực thị trấn Thành Mỹ Ngoài ra, còn có sự biến đổi trongđịa vực cư trú do một bộ phận dân cư thiên di từ ngoài Bắc vào như: dân tộcTày, dân tộc Nùng vào cư trú vùng Đồng Răm thuộc thị trấn Thành Mỹ huyệnNam Giang từ năm 1989 đến nay
Sự biến động trên đây tuy nhỏ, cũng không gây nên sự xáo trộn, thayđổi lớn trong địa bàn cư trú nhưng đã tạo nên một điểm mới trong địa bànphân bố dân cư vùng người Cơ Tu Đó là, đã có một số điểm cư trú cận cư,xen cư giữa dân tộc Cơ Tu và một số dân tộc khác và từ sự thay đổi này đã tácđộng ít nhiều đến các lĩnh vực kinh tế - văn hóa, đặc điểm dân trí, cũng như
sự biến động các lĩnh vực khác trong những năm qua, hiện nay và cũng nhưtrong thời gian sắp đến
1.2.2 Xây dựng đời sống văn hóa với phát triển kinh tế- xã hội ở vùng dân tộc Cơ Tu tỉnh Quảng Nam hiện nay
Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 5 BCHTW (khóa VIII) đã đề raphương hướng chung về phát triển sự nghiệp văn hóa nước ta là: Phát huy chủnghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập, tự chủ, tựlực, tự cường, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, tiếp thu tinhhoa văn hóa nhân loại, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết cũng khẳng định làm cho văn hóa thấm
Trang 26sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, vào từng người, từng gia đình, tập thể và cộngđồng từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạocho đất nước ta có đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học pháttriển, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vìmục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nghị quyết Trung ương V khoá VIII của Đảng ta cũng nêu lên 5 quanđiểm chỉ đạo, 10 nhiệm vụ cụ thể và 4 giải pháp lớn để thực hiện các phương
hướng, mục tiêu nêu trên Trong đó có giải pháp phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, huy động mọi nguồn
lực nhân dân và cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương từ trongĐảng, đến các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể ra ngoài xã hội tích cực hưởngứng tham gia phong trào
Nghị quyết nêu rõ phong trào: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” bao gồm các phong trào như người tốt, việc tốt, uống nước nhớ
nguồn, đền ơn đáp nghĩa, xoá đói giảm nghèo, xây dựng gia đình văn hoá,phường, xã, thôn, bản làng văn hoá, toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sốngmới ở khu dân cư và toàn bộ các phong trào ấy đều hướng vào nội dung thiđua yêu nước, tất cả vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh, trong đó cần chú trọng các nội dung cụ thể sau:
- Xây dựng chương trình hoạt động thông tin cổ động để thường xuyênđưa tiếng nói của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân, đồng thời phản ánhnhững ý kiến của quần chúng nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
- Xây dựng phong trào sáng tác và biểu diễn văn nghệ quần chúng rộng rãi
để quần chúng nhân dân trực tiếp tham gia vào việc hưởng thụ và sáng tạo văn hóa
- Xây dựng phong trào đọc sách báo và xây dựng các thư viện, phòngđọc sách báo ở cơ sở
- Xây dựng nếp sống văn hóa mới, gia đình văn hóa mới
- Giáo dục truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng thông quaviệc xây dựng hệ thống bảo tàng, nhà truyền thống và các khu di tích lịch sửvăn hóa
Trang 27- Xây dựng hệ thống nhà văn hóa, các câu lạc bộ để thu hút mọi đốitượng đến tham gia theo sở thích và các nhu cầu của từng nhóm xã hội.
Như vậy, việc xác định nội dung xây dựng đời sống văn hóa (ĐSVH) còntùy thuộc vào yêu cầu thực tiễn xây dựng văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội.Căn cứ vào yêu cầu thực tiễn và tiếp cận ở góc độ lý luận để xem xét đời sốngvăn hóa và môi trường văn hóa, các hoạt động văn hóa là điều kiện để xác địnhnội dung xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, bao gồm các mặt chủ yếu sau:
- Xây dựng con người văn hóa;
- Xây dựng gia đình văn hóa;
- Xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh trong cộng đồng dân cư;
- Xây dựng môi trường văn hóa, tổ chức khuyến khích mọi người cùngtham gia sáng tạo văn hóa;
- Củng cố, hoàn thiện các thiết chế văn hóa ở cơ sở [23, tr.116]
Điều đáng lưu ý là dù tiếp cận ở góc độ nào đi chăng nữa thì mục đíchcủa việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở vẫn là xây dựng một môi trườngvăn hóa lành mạnh, một chỉnh thể đời sống văn hóa vừa tiên tiến, vừa đậm đàbản sắc dân tộc, trong đó có các dân tộc thiểu số, từ môi trường ấy tạo ra lớpngười có văn hóa, một chủ thể sáng tạo mới, có tác động trực tiếp để thúc đẩy
sự phát triển kinh tế-xã hội Cho nên, trong các nội dung đó, xây dựng conngười có văn hóa và gia đình văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa là nhiệm
vụ trọng tâm Mục đích nhằm xây dựng con người có chuẩn mực về đạo đức,lối sống, có năng lực và thể chất tốt
Xây dựng đời sống văn hóa vùng đồng bào dân tộc Cơ Tu còn là việcxây dựng các thiết chế văn hóa xã hội, bao gồm nhà văn hóa (nhà Gươl), cáccâu lạc bộ, thư viện, trường học, trạm y tế, sân vận động góp phần tạo nênmôi trường, cảnh quan văn hóa mới ở miền núi, góp phần xây dựng giữatruyền thống và hiện đại trong cảnh quan văn hóa nhưng vẫn giữ được bản sắcvăn hóa dân tộc của từng vùng miền
Xây dựng đời sống văn hóa, nhằm phát huy quyền làm chủ của các dântộc thiểu số nói chung trong đó có dân tộc Cơ Tu nói riêng trong việc phổ
Trang 28biến, sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa, nghệ thuật tiên tiến, tạodựng một lối sống mới, bổ sung những phong tục, tập quán, lễ hội tốt đẹp vừađậm đà bản sắc dân tộc văn hóa Cơ Tu, vừa phù hợp với trào lưu văn hóa tiến
bộ của dân tộc Việt Nam và của cả nhân loại trên thế giới
Sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng đồng bào Cơ Tu tỉnh QuảngNam gắn bó với việc xây dựng đời sống văn hóa có ý nghĩa rất đặc biệt quantrọng Xây dựng đời sống văn hóa mới sẽ làm thay đổi những quan niệm, từnhững nhận thức của bà con người Cơ Tu với tư duy cũ sang tư duy mới, chuyển
từ tư duy của nền sản xuất tự cung, tự cấp, du canh du cư với nếp sống, nếp nghĩlạc hậu chuyển sang lĩnh vực sản xuất hàng hóa theo hướng cơ chế thị trường,nền sản xuất ấy phải mang tính năng động, tích cực trong khai thác mọi nguồnlực trí tuệ, tài năng vốn có, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách khoahọc, công nghệ để phát triển sản xuất hàng hóa Xây dựng đời sống văn hóa còntrực tiếp góp phần sáng tạo ra lực lượng sản xuất mới, vừa xóa bỏ được cái cũlạc hậu, lỗi thời, vừa xây dựng cái mới hiện đại trong mọi mặt của đời sống kinh
tế vùng đồng bào các dân tộc trong đó có dân tộc Cơ Tu
Xây dựng đời sống văn hóa được coi như bước đi ban đầu trong quátrình xây dựng nền văn hóa mới ở vùng dân tộc Cơ Tu tỉnh Quảng Nam Đó làcông việc xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng để tiến hành các hoạt động văn hóa,giáo dục, mở mang dân trí, bồi dưỡng tình cảm, đạo đức, lối sống, giáo dụcthẩm mỹ và tổ chức các hoạt động văn hóa trong thời gian nhàn rỗi xây dựngđời sống văn hóa nhằm phát huy quyền làm chủ của các dân tộc thiểu số trong
đó có dân tộc Cơ Tu trong việc sáng tạo, phổ biến và hưởng thụ các giá trị vănhóa, nghệ thuật tiên tiến, tạo dựng một lối sống mới, bổ sung những phongtục, tập quán, lễ thức tốt đẹp mang yếu tố đậm đà bản sắc dân tộc, bên cạnhvăn hóa truyền thống của người Cơ Tu, vừa phù hợp với trào lưu chung củanền văn hóa tiến bộ của cả dân tộc và nhân loại trên thế giới
Xây dựng đời sống văn hóa phát triển theo hướng văn minh, tiến bộ, bàcon người Cơ Tu sẽ được cung cấp những tri thức, kinh nghiệm từ nền sản
Trang 29xuất tự cung, tự cấp, dựa trên cơ sở thể lực và công cụ thô sơ, sang nền sảnxuất hàng hóa nhiều thành phần và hơn nữa người Cơ Tu sẽ chuyển sang nền
cơ chế thị trường Phát triển văn hóa gắn kết với phát triển kinh tế - xã hội, sẽgóp phần xóa đói giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, phát huytính dân chủ ở vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng cóngười Cơ Tu sinh sống Văn hóa góp phần làm lành mạnh hóa các mối quan
hệ xã hội, chống các hiện tượng tiêu cực của kinh tế thị trường, các hiệntượng phản văn hóa xâm nhập vào trong đời sống văn hóa tinh thần của vùngđồng bào dân tộc Cơ Tu, xây dựng đời sống văn hóa tốt, sẽ góp phần rút ngắndần khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, giữa miền núi với miền xuôi,góp phần đưa cuộc sống của đồng bào các dân tộc cùng chung sống trên đấtnước ta thoát khỏi sự tụt hậu so với khu vực và trên thế giới
Đời sống người Cơ Tu ngày nay đang đổi mới một cách nhanh chóng,
đã từng bước dần dần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con vật nuôi, mở rộng sảnxuất, biết sử dụng các loại máy móc cơ giới vào trong sản xuất, biết áp dụngcác tiến bộ khoa học- kỹ thuật, từng bước chuyển dần nền sản xuất theo lối tựcung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa Đã xuất hiện nhiều hộ gia đình có thunhập cao và giàu có Đồng bào đã ổn định dần đời sống định cư, sự giao lưuvăn hóa và kinh tế giữa các dân tộc anh em đã làm cho người Cơ Tu phát triểnkhông ngừng, vừa giữ gìn nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc mình, vừatiếp thu những giá trị tinh hoa của văn hóa mới, của đời sống hiện đại mộtcách nhanh chóng, từng bước đưa dân tộc Cơ Tu ở các huyện miền núi tỉnhQuảng Nam phát triển nhanh chóng, hòa nhập chung vào sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tiểu kết chương 1
Luận văn đã góp phần làm rõ khái niệm, quan niệm liên quan đến đờisống văn hóa, như định nghĩa về văn hóa và đời sống văn hóa, vai trò của việcxây dựng đời sống văn hóa đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của người Cơ
Tu ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam Luận văn cũng khái quát đôi nét
Trang 30về tình hình đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội và quá trình hình thành, pháttriển của người Cơ Tu ở các huyện miền núi Tây Giang, Nam Giang và ĐôngGiang, nơi có người Cơ Tu sinh sống Các khái niệm được trình bày ở chương
1 là cơ sở nhằm xác định khung lý thuyết để luận văn tiến hành khảo sát thựctrạng đời sống văn hóa dân tộc Cơ Tu qua các huyện miền núi Tây Giang,Nam Giang và Đông Giang tỉnh Quảng Nam hiện nay
Trang 31Chương 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI CƠ TU
TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY
2.1 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI CƠ
TU TỈNH QUẢNG NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA
2.1.1 Tiếng nói, chữ viết
Để tìm nguồn gốc lịch sử của một tộc người, ngôn ngữ là yếu tố quantrọng đóng vai trò quyết định trong đời sống của họ, cùng với tộc người Ê-
Đê, Ca Dong thuộc ngữ hệ Nam Đảo, người Cơ Tu là một tộc người thuộc hệngôn ngữ Môn - Khơme Chưa có một tư liệu chắc chắn nào để đoán địnhđược các dân tộc thiểu số hiện nay của các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam
đã đến cư trú ở nơi đây từ bao giờ, do bản thân các tộc người đó trước đâyđều không có nguồn gốc chữ viết Những tài liệu tìm hiểu về các dân tộc nàyviết bằng chữ Việt (chữ Nôm hay Hán - Việt) chữ Chàm, chữ Lào cho thấyđến nay ngôn ngữ các cư dân ở đây đều thuộc về Môn - Khơme, do đó, khó
mà đoán ra dân tộc nào đã đặt ra tên núi, sông, suối, gò, đồi… ở nơi này Chỉ
có thể thấy rằng địa danh đó hầu hết không phải là địa danh gốc ngôn ngữViệt - Mường mà là Môn - Khơme
Xét trên những đặc điểm trong mối quan hệ giữa hình với vị âm tiết vàđặc trưng cấu tạo từ bằng phụ tố trong các ngôn ngữ đơn lập ở Việt Nam vàĐông Nam Á, theo sự phân loại của S.E.Jakhontov, tiếng Cơ Tu thuộc tiểunhóm loại hình cổ về cấu trúc ngữ âm lẫn cấu trúc hình thái Tiếng Cơ Tu giữlại nhiều đặc điểm của Nam Á cổ Đây là nguồn tư liệu quý để phục nguyên
hệ thống hình thái Nam Á cổ
Về phương diện chữ viết Cơ Tu, Nancy Costello cũng đã có tườngtrình: “Cho đến gần đây, nhóm Katuic chưa có chữ viết Qua sự nỗ lực củaViện Ngôn ngữ mùa hè, với trụ sở ở Sài Gòn, ngôn ngữ Katu đã được biênsoạn chữ viết Những người Cộng sản ở phía Bắc Việt Nam cũng đã làm công
Trang 32việc này và là một số ấn phẩm của họ hiện nay đang được sử dụng ở ngườiKatu” [7, Nancy Costello, tr.137]
Một số nhà ngôn ngữ học đã cho rằng: Đông Dương là nơi sinh tụ củangôn ngữ Môn - Khơme Ngôn ngữ này phân bổ rộng khắp lục địa Đông Nam
Á, giới hạn cực bắc của nó tới phần phía Nam của tỉnh Vân Nam, có ảnhhưởng đến cả ngôn ngữ Hmông - Dao, vốn xuất phát từ trung lưu sôngTrường Giang, đến ngôn ngữ Tày - Thái và Tạng - Miến Đặc biệt, ngôn ngữnày là cơ tầng của ngôn ngữ Việt - Mường Ngôn ngữ Môn - Khơme, Cơ Tutrải rộng khắp miền Trung, Đông Dương, bao gồm các ngôn ngữ dân tộc củatỉnh Quảng Nam, thuộc nhánh Môn - Khơme, rất có thể được xác lập ở miềnĐông và phía Tây bắc của dãi Trường Sơn (theo sự phân loại của các nhà dântộc học) hiện nay
2.1.2 Bản, làng và nhà của người Cơ Tu tỉnh Quảng Nam
Khoảng 30 năm trở lại đây, hình thái cư trú của người Cơ Tu đã cónhững thay đổi do những yếu tố khách quan, nhưng trong tác động quan trọngnhất là do quá trình thực hiện cuộc vận động định canh, định cư Sự thay đổinày đã diễn ra khá mạnh mẽ ở các xã vùng thấp, vùng có giao thông đi đếnthuận lợi hoặc vùng thị trấn Song, qua khảo sát hàng loạt thôn, bản làng ở các
xã vùng trung, vùng cao của huyện Đông Giang, Nam Giang như Sông Kôn,Ating, Avương, Arooih, Bhalêê, Atiêng, Ch’ơm Làng bản người Cơ Tu vẫncòn giữ nguyên được những nét đặc điểm truyền thống; hình thái cư trú cổtruyền vẫn chưa bị phá vỡ hoàn toàn Đặc biệt ở những thôn, bản làng vùngcao, vùng biên giới huyện Nam Giang vẫn còn nhiều bản làng, thôn vẫn còngiữ nguyên hình thái cư trú truyền thống
Hình thái cư trú truyền thống của người Cơ Tu có đặc trưng chung là tụ
cư thành một cụm dân cư gọi là Vêêl, Crnoon hoặc là Bươh; tuỳ theo phương
ngữ từng vùng cao, trung, thấp mà các tên gọi này khác nhau nhưng tất cả đều
để chỉ đặc trưng của hình thái cư trú; đây là đơn vị xã hội của người Cơ Tu,giống như “làng” của người Việt “palây” của người Chăm hoặc plây của dân
Trang 33tộc Gié - Triêng cận cư Trong ngôn ngữ người Cơ Tu có tên gọi cho nhiềulàng “chrval”; một vùng bao gồm nhiều làng, ở diện lớn gọi là “choong” Cóthể lý giải điều này rằng, ngoài đặc trưng của cấu trúc ngôn ngữ thì trong xãhội Cơ Tu đã có biểu hiện của sự hình thành mối liên kết liên làng, thôn bản
mà xét về mặt lịch sử thì có thể xem đó là “Liên minh bộ tộc”, Vì rằng trướcđây một làng thường là một dòng họ (cabhu) Vêêl (chúng tôi chọn tên gọinày để sử dụng khi giới thiệu nội dung này) của người Cơ Tu thường quần cư
từ 20 đến 30 nóc nhà (Zơơng hay Đhông), số lượng thành viên (nhân khẩu) từ
150 đến 250 Trước đây, những làng có đến 50-60 nóc nhà Vêêl thường đượcdựng gần đầu nguồn nước, Vêêl nầy cách vêêl khác nhiều núi đồi, sông suối,
có nơi đi bộ 2 đến 3 giờ Mỗi Vêêl đều có một ranh giới phân chia với nhau,ranh giới ấy là ngọn núi, con suối, thác nước, kè đá, rừng cây Các thànhviên cư trú ở vêêl đều có trách nhiệm và quyền lợi trên địa phận, ranh giớivêêl của mình Do cuộc sống du canh, du cư nên không gian cư trú của người
Cơ Tu đã có những biến động lớn, sự biến động này diễn ra trong phạm virừng núi, đất đai thuộc quyền sở hữu của vêêl Khi đất đai bạc màu hoặc dotác động bởi thiên tai, dịch bệnh thì cả vêêl dời đi một vùng đất khác và khiđến vùng đất mới này lại lập vêêl, họ vẫn giữ lại hình thái cư trú như vêêltrước đó Quá trình phát triển đời sống, có những thành viên lập gia đình, cónhu cầu làm nhà mới để ở thì sẽ được lập nhà ngay trên đất của vêêl (nằmtrong khuôn viên của vêêl) Đây là nguyên nhân làm cho vêêl ngày càng lớnlên về số lượng nóc nhà và không gian, diện tích quần cư Trừ những trườnghợp do bị vi phạm luật tục, một hoặc nhiều thành viên (có khi 2 đến 3 giađình) khi bị cách ly khỏi cộng đồng, rời khỏi vêêl, rất ít trường hợp các thànhviên (gia đình) tách ra sinh sống khỏi vêêl Tính cộng đồng quần cư gắn bótrong cư trú của người Cơ Tu rất bền vững Tâm lý của mỗi thành viên đềumuốn cư trú thật gần nhau để khi “tối lửa, tắt đèn có nhau”
Đặc điểm cơ bản cư trú của người Cơ Tu là quần cư trong một vêêl, đây làkhông gian cư trú chính của họ Tuy nhiên, do nền sản xuất nương rẫy nên hình
Trang 34thái cư trú có thêm một đặc điểm nữa đó là những chu kỳ hằng năm, một khoảngthời gian đáng kể (từ 2 đến 3 tháng) họ gắn bó với những ngôi nhà ở trên nươngrẫy (nhà zun); đây chính là thời gian thu hoạch lúa; mọi sinh hoạt đều ở nhà rẫynày của gia đình và giống như sinh hoạt ở ngôi nhà chính ở vêêl; chỉ có khác là
họ không quần cư nhiều gia đình gần nhau mà mỗi gia đình đều lập nhà, cư trúriêng lẻ ở ngay trên nương rẫy của mình Trong thời gian này, trong vêêl chỉ cònlại những người già yếu, hoặc những người không lao động được
Hình thái cư trú xen cư giữa người Cơ Tu với các dân tộc khác ít xảy
ra Địa bàn cư trú của người Cơ Tu tương đối thống nhất và tập trung Trừvùng thị trấn và một số xã vùng thấp nhiều vêêl cư trú cận cư với người Kinh
Ở các xã vùng cao huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, toàn bộ cácvêêl đều không cận cư hoặc xen cư với các dân tộc khác Ở những nơi như: xã
Ba, Tà Lu huyện Đông Giang, Hoà Bắc, Hoà Phú, huyện Hoà Vang (ĐàNẵng), Vêêl người Cơ Tu chỉ cận cư với người Kinh chứ không xen cư Vêêl
Cơ Tu vẫn tách biệt một vùng Từ thực tế này cho thấy hình thái cư trú cộngđồng của người Cơ Tu còn bền vững
Trong làng bản, nhà ở đặc trưng cơ bản và cũng là một môtíp riêng biệtkhông giống các dân tộc khác người Cơ Tu là Vêêl có cấu trúc hình tròn hoặcbầu dục; dạng cấu trúc này còn khá phổ biến ở các xã vùng cao, vùng biêngiới Việt - Lào; ở các xã vùng thấp và vùng định canh định cư, cấu trúc vêêltruyền thống đã bị phá vỡ về mặt cơ bản
Nhà ở của các thành viên trong vêêl được xây dựng với cửa chính quâymặt vào nhà Gươl (như ngôi đình của người Kinh); nhà này cách nhà kia từ 5đến 8 mét; ở những nơi có nhiều gia đình do cư dân đông nhưng địa hình đấtđai không cho phép mở rộng không gian, diện tích thì nhà này cách nhà kia cókhi từ 2 đến 3 mét; đây là những làng có mật độ quần cư lớn Trong khoảngkhông lại có lối đi riêng giữa nhà này với nhà khác, khoảng sân của vêêl vừa
là nơi vui chơi, quần tụ khi có những việc chung của vêêl và cũng có mặtbằng đi lại giữa nhà này với nhà kia
Trang 35Làng (Vêêl, Krnon, Bươl) truyền thống của người Cơ Tu được lập theovòng tròn hay bầu dục, ở giữa làng hay cùng chiều với nhà ở là Gươl (ngôinhà sinh hoạt chung của cộng đồng làng); nhà ở, Gươl là nhà sàn, ngày nay ở các
xã vùng cao của huyện Tây Giang, Nam Giang, Đông Giang, tỉnh Quảng Namvẫn còn giữ được loại nhà này, có rất nhiều làng, thôn người Cơ Tu đã khôi phụcđược Gươl của làng theo đúng kiểu dáng kiến trúc và các tác phẩm nghệ thuậtđiêu khắc gỗ, hội họa truyền thống - Gươl là một biểu tượng, là niềm tự hào củangười Cơ Tu, ở đấy còn là nơi thể hiện nhiều tinh túy của nghệ thuật điêu khắc
gỗ, hội họa và tri thức bản địa trong kết cấu xây dựng nhà cửa
Trong quan hệ cộng đồng làng nóc, tính bình quân và tinh thần làm chủtập thể tự phát là một nét rất đáng chú ý Ở đây, ý thức cộng đồng còn khámạnh mẽ, chưa bị suy giảm nhiều do tư tưởng cá nhân Sự tự giác và tráchnhiệm cao trong công việc nổi bật lên như là một trong những đặc điểm cổtruyền của con người miền núi Quảng Nam Quan hệ tương trợ, giúp đỡ lẫnnhau là chủ yếu, các quan hệ vay mượn, mua bán, thuê mướn mới là hiệntượng ban đầu, chưa phổ biến, chưa trở thành sự quan hệ chi phối trong đờisống dân làng, và dường như những hình thức đó vẫn mang tính tương trợ lànhiều hơn Sự chênh lệch giàu nghèo như trên đã nói trên, nó chưa hẳn đã tạo
ra những thân phận khác nhau vĩnh viễn Sự khác biệt giàu nghèo không phải
là quá xa, nó không cản trở đáng kể đối với quan hệ cộng đồng mà còn bịquan hệ cộng đồng chi phối và gìn giữ…
Sự cố kết làng nóc xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống, nhu cầu sinhtồn và phát triển nói chung Dân làng sống chan hòa, thống nhất với nhau kể
cả trong quan hệ hằng ngày cũng như trong quan hệ huyền bí thiêng liêngtrước các siêu linh, và cả trong cuộc sống tưởng tượng, ở thế giới ma sau khi
đã tắt thở Khối cộng đồng bao gồm những thành viên đang sống và nhữngthành viên đã chết Như vậy, sự gắn bó vừa thực tế, vừa hư ảo Luật tục đượcduy trì rất nghiêm khắc để bảo vệ tính quan hệ cố kết, thống nhất trong làngnóc Đối với đồng bào, trước kia làng là tối cao, là sự hòa nhập vững bền, tất
Trang 36cả mọi thành viên theo khuôn mẫu chung như một Chính vì vậy, với quanniệm chung của các tộc người, nếu một thành viên nào phạm tội loạn luân, thì
ắt thần linh sẽ nổi dậy và trừng phạt dân làng, gây sụt đất cùng các tai họa lớnkhác ập đến Ở đồng bào Cơ Tu, chỉ cần mang thai trước lễ cưới sẽ bị làng bắtphạt, đôi trai gái gian tình (có thai trước) phải nộp hai con lợn, rồi phải ra ởngoài rừng, sau khi sinh con được 10 ngày mới được trở về làng Bởi vì, theotín ngưỡng của người dân, tội ấy cũng khiến các siêu nhiên bất bình, có thểgây mất mùa cho cả làng Cũng vì tính nhất thể cao giữa các cá nhân và cộngđồng, nên theo phong tục của tộc người Ca Dong trước đây khi trong làng cónhiều sự biến cố bất thường xảy ra thì chủ làng phải chịu trách nhiệm, phảicầu cúng và một khi lời khẩn cầu của ông ta không hiệu nghiệm, thì dân làng
sẽ cử chủ làng khác để thay thế…
Thực tế lịch sử cho thấy rằng, quan hệ cộng đồng làng bản được bảotồn bền lâu ở các tộc người miền núi Quảng Nam Nó gắn bó với các cá nhân,các gia đình thành khối người thống nhất cao để chống chọi với thiên nhiên,với kẻ thù bao đời nay Vai trò của tập tính cộng đồng lại được phát huy đáng
kể suốt trong hai cuộc kháng chiến và trong nhiều thập kỉ qua Qua quá trìnhtiếp thu cách mạng, nó đã đổi mới không ít theo hướng hạn chế, lọc bỏ nhữngyếu tố lỗi thời, nhất là các tập tục lạc hậu có hại đến đời sống và sản xuất.Cho tới nay, tính cộng đồng, quan hệ cố kết cộng đồng cũng là nét hằn sâu,xuyên đậm trong tâm thức và sinh hoạt của đồng bào tộc người miền núitrong đó có tộc người Cơ Tu ở đây
Để nhìn nhận một cách có khoa học và hiểu biết đầy đủ hơn về nhữngvấn đề này, khi ta tìm hiểu sâu kỹ về làng cổ truyền của các tộc người miềnnúi Quảng Nam, kể cả quan hệ xã hội lẫn hình thức cấu trúc của làng, đó cũng
là cơ sở để cải tạo và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn các huyện miềnnúi vùng cao này Chúng ta còn phải khổ công tìm tòi, nghiên cứu một cáchnghiêm túc, vừa rộng, vừa có chiều sâu thêm nhiều năm nữa mới có thể đápứng được yêu cầu đó
Trang 37Chu vi đất đai, vùng núi thuộc sở hữu của mỗi vêêl rất lớn nhưng, chu
vi của một vêêl (nơi lập làng) thường nhỏ, phần lớn chỉ vài ngàn m2; nhiềunơi quần tụ trong một chóp đồi hoặc một khoảng đất hẹp ven thung lũng Mỗivêêl có những công trình công cộng sau:
- Nhà Gươl: Dựng ở chính giữa làng hoặc cùng chiều với nhà ở của các
thành viên Người Cơ Tu gọi thiết chế loại nhà cộng đồng này là Gươl Quy
mô Gươl lớn hơn nhà ở Đây là nơi sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng chung của
cả vêêl Các hoạt động có tính chất giải quyết công việc nội bộ của cả vêêl,giao tiếp với khách của vêêl đều được tiến hành tại nhà gươl Đây là nơi cácthành viên là nam giới sinh hoạt (bàn bạc, trao đổi, kể chuyện, uống rượu )khi đem về cũng là nơi ngũ của các cụ già, thanh thiếu niên chưa vợ (namgiới) và khách Có thể nói rằng nhà Gươl với những chức năng về xã hội, vềvăn hoá, về tín ngưỡng (nơi lưu giữ những vật hiến tế, cúng bái, của cải,chung của làng và nơi tiến hành các lễ nghi cúng bái) nơi đó như là “trái tim”của vêêl Trên thực tế gươl thật sự là trung tâm sinh hoạt văn hoá - xã hội củamột vêêl người Cơ Tu
- Máng nước: Mỗi vêêl có một nguồn nước riêng, đặc điểm của người
Cơ Tu là lập làng gần nguồn nước Nguồn nước được dẫn từ đầu nguồn consuối theo kiểu đào mương về đến vêêl hoặc tạo hệ thống bằng đường ống trenứa đào đục mương đưa nước từ xa hoặc từ trên cao xuống đến vêêl Rấtnhiều ý kiến và nhiều người Cơ Tu cho rằng tộc danh “Cơ Tu” là do đặc điểmlập làng ở đầu nguồn nước hoặc đầu ngọn núi: C’tu (Cơ Tu) có nghĩa là người
ở đầu nguồn, đầu ngọn - trong ngôn ngữ Cơ Tu “Tu” là đầu, trên Nguồn nướcuống trong sạch lấy từ đầu nguồn dẫn về đến vêêl, khi đến vêêl được đưa vàoống tre, nứa đục thủng các mắt nối lại với nhau đưa nguồn nước chảy suốtngày, đêm về phục vụ cho mọi thành viên trong các gia đình
Làm máng nước này là trách nhiệm của mọi thành viên trong vêêl.Khi dựng làng, làm máng nước xong sẽ có một lễ nghi “khai trương” nguồnnước Hàng năm, có một số lễ tiết của sản xuất, tín ngưỡng có liên quan
Trang 38đến máng nước, đồng thời luật tục cũng quy định những điều kiêng kỵ đốivới máng nước.
- Nghĩa địa: Trong phạm vi đất đai của vêêl có một khu vực dành làm
nghĩa địa được ấn định như là tập quán vậy, để chứng minh rằng người Cơ
Tu có những quan niệm về cõi sống, cõi chết - “sống theo hướng mặt trờimọc, chết theo hướng mặt trời lặn” Thông thường khi đến một vêêl Cơ Turất dễ dàng nhận ra khu nghĩa địa của vêêl đó vì khu nghĩa địa có rừng rậm
um tùm, có nhiều cây cổ thụ, nguyên do là người Cơ Tu không dám phátrừng làm rẫy, không giám đến gần nghĩa địa Ở người Cơ Tu những ngườichết không bình thường (chết xấu, chết ra máu trên cơ thể con người) thìkhông được chôn cất ở nghĩa địa của vêêl mà phải chôn ở rừng sâu, càng xavêêl càng tốt [25, tr 79]
- Hàng rào, cổng làng: xuất hiện từ hình thái cư trú, cấu trúc làng bản
nên mỗi vêêl có một hàng rào và cổng làng, hàng rào làng có nơi làm rất kiên
cố bằng nhiều lớp cây, lại có nơi hàng rào được thể hiện bằng một đường sâu,rộng Lối thông của vêêl ra ngoài qua hàng rào thường có một cổng chính,cổng này có hai loại: để trống đi ra bằng con đường hoặc qua một cầu ván bắcqua đường và một loại đi ra bằng cầu thang bắc qua hàng rào Ngoài cổngchính, mỗi vêêl có từ một đến hai cổng phụ ở các hướng khác, cổng nàythường được dùng để đi rẫy hoặc đi vào rừng, ra suối Lối cấu trúc hàng rào,cổng đã thể hiện tính phòng thủ kẻ địch, thú dữ rất rõ rệt Tất cả những côngtrình công cộng đều là tài sản chung của mọi thành viên trong vêêl đều cótrách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp công sức để xây dựng, bảo vệ
Bên cạnh nhà ở, nhà Gươl, còn có nhà kho và nhà rẫy Nhà kho đượcdựng ngay trong khoảng đất của làng có thể bên trong hoặc cả bên ngoàihàng rào làng; cấu trúc nhà kho là loại hình nhà sàn cột cao, hình dáng mái,thân nhà cơ bản giống nhà ở, nhưng kích thước nhỏ hơn Nhà kho dùng đểchứa thóc lúa Nhà rẫy được lập ở rẫy của từng gia đình, đây là một ngôi nhà
ở thứ hai của người Cơ Tu
Trang 392.1.3 Hoạt động sản xuất vật chất của người Cơ Tu tỉnh Quảng Nam
2.1.3.1 Trồng trọt
Người Cơ Tu thường chia các tháng trong năm (về sau được tính theotháng dương lịch) để ấn định các công việc nương rẫy, đồng bào xem chu kỳ củamặt trăng để tính tháng nông nghiệp: Tháng nào thì phát rẫy, tháng nào thì chặtcây to, tháng nào thì đốt rẫy và dọn tỉa, tháng nào thì làm cỏ v.v Cũng cần nóithêm rằng với việc ấn định các tháng trong năm, đồng bào còn quy định côngviệc lấy mật, bẫy thú rừng, bẫy chim được thực hiện vào tháng nào Đây cũngchính là kinh nghiệm trong sinh hoạt kinh tế của đồng bào Cơ Tu
Qua việc ấn định trên đây, cho thấy rằng tuy ở một dạng hình thái kinh
tế sản xuất còn thấp nhưng sự nhận thức của con người trước thiên nhiên,trước quy trình sản xuất được tích luỹ và nâng lên thành một hệ thống cả về
chu kỳ thời gian đi đôi với công việc Có ý kiến cho rằng đối với sản xuất nông nghiệp nương rẫy không chứa đựng những sự sáng tạo của con người
trong việc chế ngự thiên nhiên, thực ra không hẵn là như thế Tuy nền sảnxuất ấy mang lại hiệu quả hơi bấp bênh nhưng chính đồng bào Cơ Tu đã từthực tế đó luôn vươn tới sự hợp lý trong nhận thức và có cách làm phù hợpđối với loại hình kinh tế chủ yếu của mình
Một chu kỳ mùa rẫy được tiến hành với những tập quán và theo nhữngkinh nghiệm như sau:
- Công việc đầu tiên là chọn đất, được tiến hành từ tháng 11 đến thánggiêng (âm lịch), kinh nghiệm của đồng bào Cơ Tu, việc chọn đất, chọn rẫycho vụ mùa đến cần phải thực hiện ngay sau khi vừa thu hoạch vụ lúa trongnăm vừa qua, để có thời gian chuẩn bị và thời gian này vùng cư trú của người
Cơ Tu đã hết mùa mưa lũ lớn Do đất canh tác nương rẫy luân canh, tùy thuộcvào khả năng khai phá trước đó của từng gia đình khác nhau để có ít haynhiều đám rẫy hoặc chọn đám rẫy nào đến lượt đưa vào canh tác cho năm này,nếu trong số các đám rẫy đã canh tác trước đó có đám rẫy mà cây rừng tái
Trang 40sinh đã đủ khả năng để phát, đốt cho độ mùn nhiều, đủ để cây lúa tốt tươi, chonăng suất cao, nhưng cũng có đám rẫy chưa có được sự phục hồi độ phì củađất, sau khi không canh tác nhiều năm nhưng cây tự nhiên chưa tái sinh đủlớn để đảm bảo khi đốt rẫy có số lượng "thức ăn cho cây lúa từ đất" thì đồngbào lùi lại thời gian canh tác (tức là quay trở lại - luân canh) sang năm sauhoặc các năm sau đó Thông thường rẫy luân canh được quay trở lại canhtác sau 4 - 5 năm Đối với những đất rẫy mới, tâm lý của đồng bào thíchnhững khu đất rẫy nằm ở rừng già, nơi đất có độ phì, tơi xốp, đất đen có mùnthì cây mới xanh tốt Nguyên nhân của sự lựa chọn và đây cũng là kinhnghiệm của đồng bào, qua tìm hiểu thực tế chúng tôi nghĩ rằng:
Rẫy phát ở những khu rừng già, tuy phải hạ những cây rừng lớn nhưngđổi lại đất ở đó tốt vì chưa bị khai khẩn nhiều lần Ở những khu rừng già cókhối lượng cây nhiều, tầng dày của cây lá mục nát lớn, nếu phát cây làm rẫymột điều chắc chắn là khi đốt cây rừng, sau khi đốt cho tro than nhiều hơn ởnhững khu rừng non, nơi có lượng cây rừng ít hơn Đất ở rừng già có lượngnước ẩm lớn sẽ làm hạn chế khô hạn, nếu thời tiết nắng nóng bất thường vànhư vậy sẽ góp phần đem lại hiệu quả và năng suất thu hoạch cây trồng caohơn, mùa màng sẽ không bị thất thu
Rẫy ở rừng già, khi đốt lửa sẽ tiêu diệt được côn trùng trên mặt đất tốthơn Rẫy rừng già khi gieo tỉa lúa xong, quá trình sinh trưởng ít cỏ dại vì mộtmặt khi trước đó rừng già thì ít cỏ dại, khi đốt rẫy lửa đã nung chín các hạtmầm Chính vì vậy, nên khi làm rẫy ở đất mà trước đó là rừng già sẽ khôngtốn sức, tốn thời gian và công sức làm cỏ cũng như công chăm sóc như ởnhững khu rừng non
Kinh nghiệm của đồng bào khi chọn đất làm rẫy thì nên tránh nhữngvùng đất núi có độ dốc lớn, ven sông suối, mà ở đấy nền đất quá mềm, không
có chân đất và vùng đất có nhiều ổ mối vì vậy, đất ấy dễ bị sạt lở khi có mưalớn Sau khi chọn đất, kinh nghiệm của đồng bào là vào tháng hai âm lịch sẽ