1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước đối với khai thác thủy sản ở tỉnh quảng ngãi

100 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Nhà Nước Đối Với Khai Thác Thủy Sản Ở Tỉnh Quảng Ngãi
Trường học Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 671,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề xuất phương pháp quản lý từ phía cơ quan Nhà nước về khai thác thủy sảntrên biển phù hợp với nguyện vọng của ngư dân và các cấp chính quyền địaphương trong công tác quản lý và hỗ trợ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Biển có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của các quốcgia có biển Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài hơn 3260 km, ven bờ

có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ đặc biệt có 2quần đảo lớn Trường Sa và Hoàng Sa có vị trí vô cùng quan trọng Việt Nam

có điều kiện địa lý thuận lợi mang tầm khu vực và thế giới là con đường chiếnlược về giao lưu thương mại quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.Nhằm phát huy những tiềm năng lợi thế về biển để thúc đẩy phát triển kinh tế

- xã hội nước ta, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa Xngày 09/02/2007 đã ban hành Nghị quyết số 09 về Chiến lược biển Việt Namđến năm 2020 Cùng với xu thế chung của cả nước, mục tiêu phát triển kinh tếbiển là mục tiêu chung của Quảng Ngãi

Quảng Ngãi là tỉnh có đường bờ biển dài hơn 130 km, có 6 cửa biển(Sa Cần, Sa Kỳ, Cửa Đại, Cửa Lở, Mỹ Á và Sa Huỳnh) khá thuận lợi cho tàuthuyền ra vào khai thác thủy sản, có ngư trường đánh bắt rộng, có nhiều thủy sảnphong phú Lực lượng tàu thuyền tính đến đầu năm 2012 có 5.741 chiếc với642.570 cv khai thác thủy sản hàng năm cao năm 2011 là 105.210 tấn Lựclượng lao động thường xuyên trên biển hơn 50.000 người Lợi ích từ khai thácthủy sản trên biển đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của tỉnh.Đặc biệt là góp phần tăng thu nhập, giải quyết việc làm cho các địa phương venbiển và hải đảo Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay khai thác thủy sản QuảngNgãi còn nhiều bất cập, sự phát triển của Quảng Ngãi thời gian vừa qua cònmang tính truyền thống chưa rõ nét, chưa ngang tầm với tiềm năng, chưa pháthuy hết thế mạnh từ kết cấu hạ tầng, khai thác, thu mua và các hoạt động dịch vụhậu cần nghề cá Điều này làm cho sự phát triển về khai thác thủy sản gặp nhiềukhó khăn Công tác quản lý và cung cấp thông tin chính xác kịp thời cho các tàu

cá còn nhiều bất cập Đặc biệt hiện nay các tàu cá của nước ta bị các tàu nước

Trang 2

ngoài bắt giữ trái phép trên vùng biển Việt Nam nhưng do quản lý thiếu chặt chẽ,chính xác về vị trí trên biển nên dẫn đến thiếu bằng chứng chứng minh tàu cáđang hoạt động trên vùng biển Việt Nam gây bức xúc cho ngư dân đồng thời làmthiệt hại về tài sản của ngư dân Hoạt động của các tàu cá trên biển còn đơn lẻthiếu sự hỗ trợ cho nhau từ việc thăm dò luồng cá đến việc đối phó với thiên taibão gió trên biển Chính các điều kiện đó làm cho sức mạnh của ngư dân trênbiển hạn chế dẫn đến khai thác hiệu quả chưa cao, bị nhiều thiệt hại do thiên taigây ra, bị nước ngoài xua đuổi bắt giữ thường xuyên.

Để phát huy lợi thế so sánh và tiềm năng thế mạnh của tỉnh Quảng Ngãigiúp ngư dân tìm hiểu mô hình tổ chức sản xuất thủy sản hiệu quả thông qua các

mô hình này để ngư dân hiểu và lựa chọn mô hình sản xuất nhằm tăng thu nhập

Đề xuất phương pháp quản lý từ phía cơ quan Nhà nước về khai thác thủy sảntrên biển phù hợp với nguyện vọng của ngư dân và các cấp chính quyền địaphương trong công tác quản lý và hỗ trợ cho ngư dân, gắn phát triển khai thác

thủy sản với bảo vệ chủ quyền trên biển, bản thân chọn đề tài: “Quản lý nhà nước đối với khai thác thủy sản ở tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn thạc sỹ

chuyên ngành quản lý kinh tế, góp phần giải quyết thực tiễn đặt ra trong quátrình phát triển khai thác thủy sản tỉnh Quảng Ngãi

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Quản lý nhà nước nhằm phát triển khai thác thủy sản Quảng Ngãi chưa

có nhiều công trình nghiên cứu tại tỉnh Quảng Ngãi, chưa đa dạng chủ yếu chỉ

đề cập đến những dạng sau:

Lê Cao Đoàn (1999), Đổi mới phát triển kinh tế ven biển, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội

Đỗ Hoài Nam (2003), Phát triển kinh tế- xã hội và môi trường các tỉnh ven biển Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

Trần Nguyên Khang (2011), Kinh tế biển ở Kiên Giang trong hội nhập kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính

quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 3

Nguyễn văn Bon (2008), Kinh tế biển Sóc Trăng, Luận văn thạc sĩ kinh

tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Mai Văn Ngọc (2008), Phát triển ngành thủy sản Quảng Bình theo hướng bền vững.

Phạm Hoàng Hải (2011), Quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác kinh tế biển thành phố Hải Phòng.

Mặc dù thời gian qua không ít đề tài nghiên cứu kinh tế biển ở nhiềukhía cạnh khác nhau nhưng chưa có luận văn nào nghiên cứu quản lý nhànước nhằm phát triển ngành khai thác thủy sản tỉnh Quảng Ngãi trên phươngdiện quản lý kinh tế Do vậy, đề tài nghiên cứu này không trùng với các côngtrình đã công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu luận văn

3.1 Mục đích: Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về quản lý

nhà nước đối với khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh, trên cơ sở đó phân tích, đánhgiá thực trạng quản lý nhà nước đối với khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh QuảngNgãi thời gian qua, từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện công tácquản lý nhà nước về khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh thời gian tới

- Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đốivới khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: hoạt động quản lý nhà nước

đối với việc khai thác thủy sản

Trang 4

Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

Về không gian, khai thác thủy sản là lĩnh vực rộng, luận văn tập trungnghiên cứu về quản lý nhà nước cấp tỉnh đối với việc khai thác thủy sản trênbiển ở tỉnh Quảng Ngãi

Về thời gian, luận văn tập trung phân tích đánh giá tình hình quản lýnhà nước đối với việc khai thác thủy sản trên biển ở tỉnh Quảng Ngãi tronggiai đoạn từ năm 2006 đến năm 2011 và đề xuất phương hướng giải pháp chothời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử cùng các phương pháp nghiên cứu kinh tế

Các phương pháp được sử dụng trong luận văn gồm: khái quát hóa, hệthống hóa, điều tra khảo sát thực tế, phỏng vấn, thu thập và phân tích số liệuthống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh,…nhằm làm rõ những vấn đề cơ bản về

lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với việc khai thác thủy sản trên địabàn tỉnh Quảng Ngãi

6 Những kết quả chủ yếu của luận văn

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chủ yếu về quản lý nhà nước đốivới việc khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh

Khái quát những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế trongquản lý nhà nước đối với việc khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãithời gian qua

Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đốivới việc khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thời gian tới

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,luận văn gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 5

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI KHAI THÁC THỦY SẢN Ở CẤP TỈNH

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHAI THÁC THỦY SẢN VÀ SỰ CẦN THIẾT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHAI THÁC THỦY SẢN

1.1.1 Những vấn đề chung về khai thác thủy sản

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của khai thác thủy sản

Khai thác thủy sản là hoạt động kinh tế gắn với việc khai thác các tàinguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên Hoạt động khai thác thủy sản có từ

xa xưa, theo sự phát triển của phân công lao động xã hội, dần được tách rathành tiểu ngành kinh tế thuộc ngành thủy sản và thuộc nhóm ngành nôngnghiệp Tại Điểm 4, Điều 2, Luật Thủy sản năm 2003, khái niệm khai thácthủy sản được hiểu như sau: “Khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợithủy sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng tự nhiên khác” [20, tr.6]

Với tư cách là tiểu ngành kinh tế thuộc nhóm ngành nông nghiệp, khaithác thủy sản vừa có những đặc điểm chung với sản xuất nông nghiệp và côngnghiệp khai thác, lại vừa có những đặc điểm đặc thù Những đặc điểm chínhcủa khai thác thủy sản bao gồm:

Thứ nhất, có đối tượng lao động là những sinh vật sống giống như đối

tượng lao động của các tiểu ngành nông nghiệp khác, khác với công nghiệpkhai thác với đối tượng lao động vô cơ Do đó, sự phát triển của khai thác thủysản phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện về vị trí địa lý, tự nhiên, hệ sinh thái, tiềmnăng tài nguyên biển và vùng ven biển, thời tiết và khí hậu… Khai thác thủy sảnchịu sự tác động rất lớn của thiên nhiên, bão lũ Đối tượng lao động của khai thácthủy sản là các sinh vật sống dưới nước, thuộc nhóm các tài nguyên thiênnhiên sẵn có, cho nên khai thác thủy sản mang tính chất của ngành côngnghiệp khai thác tài nguyên Tuy nhiên, các tài nguyên nguồn lợi thủy sản có

Trang 6

khả năng tái sinh Sự tái sinh này phụ thuộc phần lớn vào các biện pháp chủquan của con người trong việc tổ chức đánh bắt và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.Điều này đòi hỏi việc phát triển khai thác thủy sản phải gắn chặt với việc bảo

vệ nguồn lợi; đồng thời, việc tổ chức khai thác phải phù hợp với nguồn lợithủy sản hiện có

Thứ hai, đối tượng lao động của khai thác thủy sản rất đa dạng, phân

bố ở phạm vi rộng, do đó khai thác thủy sản bao gồm nhiều ngành nghề Ví

dụ như: họ lưới rê; họ lưới kéo; họ câu; các nghề khác; họ cố định; họ vànhmóng; họ lưới vây, có quan hệ và tác động lẫn nhau Mỗi ngành nghề có một

đối tượng nhất định, nhưng phần lớn đều được dùng làm thực phẩm Đặc

điểm này chỉ rõ sự khác biệt giữa công nghiệp khai thác thủy sản với côngnghiệp khai thác khoáng sản và lâm sản; việc khai thác thủy sản gắn liền vớiviệc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về thực phẩm của xã hội

Thứ ba, lao động khai thác thủy sản mang tính chất mùa vụ, phụ thuộc

rất lớn vào điều kiện tự nhiên, vào điều kiện sinh trưởng của thủy sản Chẳnghạn: đánh bắt cá thu, cá ngừ từ tháng 4 đến tháng 10 âm lịch hàng năm Ngoàinhững tháng thời vụ đó, sản lượng khai thác rất thấp Vì thế, số lượng thủysản khai thác phụ thuộc rất lớn vào số lượng lao động sử dụng trong thời gianmùa vụ nhiều hay ít Mặt khác, môi trường lao động khai thác thủy sản khôngdiễn ra trong nhà máy, trên công trường có tính chất tương đối ổn định về địabàn lao động, mà nó lại diễn ra ở môi trường sông nước, luôn thay đổi theođiều kiện tự nhiên và sự di động của đối tượng khai thác, do đó cần có tư liệulao động phù hợp như loại tàu thuyền, dụng cụ đánh bắt

Thứ tư, lĩnh vực khai thác thủy sản là lĩnh vực kinh tế mà ở đó mọi hoạt

động chủ yếu diễn ra trên biển, ven biển và hải đảo Do vậy, tác động rất lớn đếnmôi trường sinh thái và nguồn lợi thủy sản biển Hoạt động khai thác thuỷ sảnkhông chỉ dừng lại trong phạm vi vùng biển của địa phương mà diễn ra trênphạm vi thềm lục địa thuộc chủ quyền quốc gia và cả trên hải phận quốc tế

Trang 7

Thứ năm, sản phẩm thủy sản do khai thác đem lại rất đa dạng, phong

phú về chủng loại, được tiêu dùng dưới dạng các mặt hàng tươi sống, dạng

khô, dạng lỏng và bảo quản bằng đông lạnh Do động, thực vật thủy sản sau

thu hoạch có đặc thù dễ bị phá hủy, cho nên việc bảo quản, vận chuyển, chế biếnsản phẩm sau thu hoạch là hết sức cần thiết Vì thế, cần phải có quy trình chếbiến chặt chẽ, nghiêm ngặt mới đảm bảo được yêu cầu chất lượng sản phẩm và

an toàn vệ sinh thực phẩm, đặc biệt đối với sản phẩm thủy sản xuất khẩu

1.1.1.2 Vai trò của khai thác thủy sản trong phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam

- Khai thác thủy sản bộ phận cấu thành quan trọng của nông nghiệp góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế:

Khai thác thủy sản tạo nguồn cung cấp thực phẩm cho thị trường trong

và ngoài nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp theo hướng tích cực Sự phát triển của khai thác thủy sản khôngnhững góp phần trực tiếp cải thiện dinh dưỡng trong bữa ăn, làm tăng sức khỏecủa người lớn và giảm suy dinh dưỡng ở trẻ em, mà còn cung cấp nguyên liệucho phát triển công nghiệp chế biến thủy sản và thúc đẩy xuất khẩu

Lĩnh vực khai thác thủy sản có khả năng tạo ra nhiều giá trị gia tăng.Theo tính toán của FAO, hàng năm có khoảng trên 25% sản lượng thủy sảnđược sử dụng trực tiếp vào chế biến thức ăn chăn nuôi Ngành khai thác thủysản cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và một số ngành côngnghiệp khác Ở nước ta, nhu cầu sử dụng bột cá cho chế biến thức ăn gia súcngày càng tăng Ngoài việc cung cấp thực phẩm cho con người và thức ăn chogia súc, gia cầm, các nguyên liệu thủy sản cung cấp nguồn nguyên liệu cho một

số ngành công nghiệp khác, như: dược phẩm, hóa chất, mỹ nghệ… tạo điều kiệncho các ngành kinh tế cùng phát triển Vì vậy, phát triển mạnh khai thác thủy sản

có vai trò vô cùng quan trọng trong công nghiệp chế biến thủy sản đồng thờigóp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp ở nước ta

Trang 8

Hoạt động khai thác thủy sản cung cấp nguyên liệu cho chế biến thủysản, tạo điều kiện cho công nghiệp chế biến phát triển, nâng cao giá trị sảnphẩm phục vụ cho thị trường nội địa và xuất khẩu Bên cạnh các mặt hàngthủy sản tươi sống có giá trị kinh tế cao như: khai thác cá ngừ đại dương, mựctôm… xuất khẩu.

- Tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm lao động nông thôn, lao động có trình độ thấp tại địa phương:

Nước ta có nhiều tiềm năng về thủy vực và nguồn lợi thủy sản Vì vậy

khai thác thủy sản là con đường làm giàu của các chủ tàu cá, tạo việc làm vàthu nhập cho lao động nông thôn Hoạt động khai thác thủy sản trên biển củangư dân mang tính đặc thù rõ nét: đa số lao động khai thác thủy sản có trình

độ thấp, kinh nghiệm sản xuất theo truyền thống, thông qua thực tiễn laođộng Tuy vậy có 87,7% ngư dân sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt thủy sảnmang lại hơn 75% tổng thu nhập chính của họ Thực tế cho thấy rằng ngư dânvùng biển không có công việc gì khác ngoài đánh bắt thủy sản Ngoài ra việcsắp xếp lại lao động thì rất khó khăn khi chuyển đổi nghề nghiệp của các ngưdân Vì vậy đối với lao động biển họ xem biển cả không thể tách rời với họ.Mặt khác, tham gia vào các hoạt động phục vụ, như: vá lưới, cung cấp thựcphẩm thủy sản… chủ yếu do lao động nữ thực hiện, đặc biệt trong các hoạtđộng bán lẻ thủy sản, nữ giới chiếm tỷ lệ đến 90%, tạo ra nguồn thu nhậpđáng kể, từ đó nâng cao vị thế kinh tế của người phụ nữ trong xã hội

Ngoài giải quyết công ăn việc làm cho lao động trực tiếp khai thác thủysản, còn tạo việc làm cho lao động ngành công nghiệp chế biến, tạo công ănviệc làm cho bộ phận tiểu thương, tăng nguồn thu ngân sách góp phần pháttriển đất nước

- Góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và bảo vệ chủ quyền trên biển của tổ quốc:

Biển là một không gian chiến lược đặc biệt quan trọng đối với quốcphòng an ninh của đất nước Việt Nam có vùng biển rộng lớn, bờ biển dài, địa

Trang 9

hình bờ biển quanh co, khúc khuỷu, có nhiều dãy núi chạy lan ra biển, chiềungang đất liền có nơi chỉ rộng 50 km, nên việc phòng thủ hướng ra biển luônmang tính chiến lược Hệ thống quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta cùngvới dải đất liền ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự,điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầngnhiều lớp Ngày nay trong phát triển kinh tế vùng đặc quyền kinh tế biển rộnglớn, chứa đựng nhiều nguy cơ tranh chấp quốc tế và âm mưu xâm phạm chủquyền lãnh thổ Vì thế, việc kết hợp hoạt động với an ninh quốc phòng trênvùng biển trở nên vô cùng thiết yếu Ngư dân tham gia khai thác thủy sản bámbiển khơi xa là điều kiện góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân vàbảo vệ chủ quyền trên biển của tổ quốc Hiện nay tình hình tranh chấp chủquyền ở biển Đông, sự có mặt của ngư dân tại các vùng biển đang tranh chấp

là một trong những bằng chứng, chứng minh chủ quyền đất nước khi thông lệquốc tế và luật biển của các nước có nhiều nội dung chưa thống nhất Ngoài

ra việc xây dựng tổ đội đoàn kết cùng nhau bám biển giữ vững chủ quyền dântộc đồng thời giữ vững “kho bạc” quý giá góp phần xây dựng quê hương đấtnước giàu đẹp Hiện nay khi hệ thống quốc phòng trên địa bàn tỉnh được xâydựng vững mạnh, đặc biệt là những huyện, thị ven biển, hải đảo được xâydựng vững mạnh về an ninh quốc phòng sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng,duy trì môi trường hòa bình, ổn định và là chỗ dựa tin cậy để cộng đồng ngưdân, cũng như các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế trong các lĩnh vực củakhai thác thủy sản yên tâm bám biển, đầu tư, mạnh dạn vươn ra khai thác cácnguồn lợi hải sản ngoài khơi.

1.1.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với khai thác thủy sản

Xuất phát từ yếu cầu bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ, tái tạo

và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, tính đa dạng sinh học; bảo vệ môi trường vàcảnh quan thiên nhiên Việc phát triển các lĩnh vực trong hoạt động khai thácthuỷ sản phải được thực hiện dưới sự quản lý của nhà nước theo quy hoạch,

Trang 10

kế hoạch phát triển ngành thuỷ sản trong phạm vi cả nước và của từng địaphương Trong quá trình phát triển kinh tế, việc khai thác thủy sản quá mức sẽdẫn đến nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, một số loài thủy sản khôngthể tái sinh được thì nguy cơ cạn kiệt đã rõ Do đó, các nước ngày càng quantâm tới việc bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản Để bảo vệ nguồn lợi

cá biển phục vụ khai thác và đạt được sự cân bằng tối ưu năng lực khai thác vànguồn lợi, các nước đã ban hành các các quy định về hạn mức tổng công suất,máy tàu cho phép hoạt động ở mỗi vùng biển; cấm các ngư cụ và phương phápđánh bắt có hại; quy định mùa cấm, vùng cấm, kích thước cá được phép đánhbắt, kích thước mắc lưới và giới hạn tỉ lệ cá tạp; bảo vệ môi trường

Xuất phát từ yêu cầu chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ tác hại củathiên tai; bảo đảm an toàn cho người, tàu cá, công trình và thiết bị trong hoạtđộng khai thác thuỷ sản Nước ta thường xuyên xảy ra thiên tai, bão lũ trênbiển, đây là điều gây khó khăn trong hoạt động khai thác thủy sản của ngưdân ta Vì thế Nhà nước cần phải chủ động về kinh phí để đầu tư về phươngtiện và trang thiết bị, có chính sách hỗ trợ thiệt hại phù hợp do thiên tai gây rađối với khai thác thủy sản để ngư dân an tâm bám biển, đồng thời cần có sựphối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp; trong việc quản lý tàu cá và nắmthông tin về hoạt động tàu cá trên biển để kịp thời thông tin về dự báo thời tiếtcho ngư dân chủ động tăng cường khả năng tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn vàphòng chống giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra

- Xuất phát từ yêu cầu phát huy vai trò của kinh tế biển trong phát triển kinh tế - xã hội:

Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, một biển lớn và thuộc loạiquan trọng nhất của khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng như của thế giới.Biển Đông đóng vai trò là chiếc “cầu nối” cực kỳ quan trọng, là điều kiện rấtthuận lợi để giao lưu kinh tế, hội nhập và hợp tác giữa nước ta với các nước trênthế giới, đặc biệt là với các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, khu

Trang 11

vực phát triển kinh tế năng động nhất và có một số trung tâm kinh tế lớn của thếgiới Từ bao đời nay, vùng biển, ven biển và hải đảo đã gắn bó chặt chẽ với mọihoạt động sản xuất và đời sống của dân tộc Việt Nam, là “cầu nối” đặc biệt quantrọng giữa nước ta với các nước trong khu vực và các nước trên thế giới Biểnnước ta với thềm lục địa rộng, bờ biển dài, vị trí đắc địa, nguồn tài nguyên kháđồi dào, đa dạng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước và cóvai trò rất to lớn trong giao lưu thương mại quốc tế

Hướng phát triển ra biển càng cần thiết hơn nữa khi nước ta mở cửa hộinhập quốc tế Mặc dù khai thác thủy sản nước ta phát triển nhưng chưa bắtkịp xu thế của thế giới, hoạt động khai thác thủy sản việc gần bờ không đượcquản lý chặt chẽ, khai thác khơi xa gặp nhiều khó khăn về vốn, hạn chế vềtrình độ kỹ thuật Hơn thế nữa, nước ta là một quốc gia có biển, một nhân tốđược xem như là đắc địa, Việt Nam cần tăng cường hơn nữa những khả năngvươn ra biển Để làm được điều đó vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt độngthủy sản là vô cùng quan trọng Đảng ta xác định một nhiệm vụ, một phươnghướng, một quyết tâm chiến lược: "Việt Nam phải trở thành một quốc giamạnh về biển và giàu lên từ biển"[18, tr.12]

- Xuất phát từ tính phức tạp trong hoạt động khai thác thủy sản và yêu cầu bảo tồn, phát triển bền vững các nguồn lợi thủy sản:

Bởi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn thủy

sản bị khai thác một cách bừa bãi, có thể dẫn đến cạn kiệt nếu không có biệnpháp khai thác phù hợp

+ Các chủ tàu khai thác muốn tận dụng triệt để các phương pháp khaithác nhằm thu được nhiều sản lượng trong đó họ sử dụng nhiều phương pháp,công cụ khai thác mang tính hủy diệt môi trường như: dùng thuốc nổ, xungđiện, kích thước lưới không đúng quy định…

+ Sự cạnh tranh về ngư trường khai thác của các chủ tàu cá, hoạt độngkhai thác sai tuyến thường xuyên xảy ra, các tàu đánh bắt xa bờ lại khai thác ở

Trang 12

tuyến ven bờ, làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản ven bờ Điều đó làm ảnh hưởngđến sản lượng khai thác của các tàu cơ công suất nhỏ khai thác ven bờ.

+ Trong cùng ngư trường khai thác có nhiều nghề khai thác khác nhau,mỗi nghề có hình thức khai thác khác nhau như: nghề lưới khi đánh lưới phụthuộc vào dòng chảy và sức gió của thiên nhiên, nghề giã cào sử dụng sứcmáy, tốc độ di chuyển nhanh nên thường xuyên xảy ra va vướng ngư lưới cụảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của ngư dân

+ Hiện nay, khai thác thủy sản hoạt động dài ngày trên biển, cùng với

sự biến đổi khó lường của thời tiết nên cần có sự quản lý của nhà nước về lĩnhvực khai thác thủy sản

+ Tàu thuyền tham gia khai thác thủy sản thường xuyên di chuyển ngưtrường, không hoạt động cố định Vì vậy cần có những quy định của nhà nước

để quản lý phương tiện tàu thuyền

+ Lao động tham gia khai thác thủy sản và chủ tàu cá không có hợpđồng lao động nên sự ràng buộc về trách nhiệm chưa rõ ràng các mối quan hệ

về lợi ích khi phát sinh khó giải quyết Ngoài ra lực lượng lao động biểnthường xuyên thay đổi trên một con tàu

Từ những vấn đề phức tạp trong hoạt động khai thác thủy sản nên cần

có sự quản lý nhà nước về khai thác thủy sản để đảm bảo hoạt động của khaithác thủy sản phát triển

Xuất phát từ mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia và lợi ích của các chủ thể khai thác thủy sản:

Về quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, vớiviệc một số quốc gia ven Biển Đông chưa đạt được thoả thuận về phân địnhvùng biển, hải đảo đang tiềm ẩn những bất ổn, dễ dẫn đến xung đột, tác độngkhông nhỏ đến ổn định của khu vực, do tầm quan trọng của biển từ lâu cuộcchạy đua trong sự phát triển kinh tế biển cũng như lực lượng quân sự trênbiển và tranh chấp biển diễn ra rất gay gắt Đã đến lúc cần tiến hành xây dựng

Trang 13

mô hình thí điểm các khu quốc phòng kinh tế tại một số khu vực biển, đảo làm cơ sở kết nối quân - dân, dân - quân trong việc thực hiện các hoạt độngkhai thác thủy sản, hậu cần nghề cá, Các điểm triển khai khu kinh tế - quốcphòng phải gắn với tuyến và khu vực phòng thủ biển, hải đảo.

Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợptác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, chủ động

và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trêncác lĩnh vực khác Tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khuvực thì một khuynh hướng cơ bản là phải phấn đấu đưa nước ta trở thànhquốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển Trước mắt cần tập trung đầu tư pháttriển các lĩnh vực: thăm dò, khai thác thủy sản, rà soát và bổ sung quy hoạch

hệ thống cảng biển, các cơ sở đóng tàu, hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá với

cơ cấu ngành, nghề phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bềnvững, đạt hiệu quả cao Kết hợp chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo

an ninh, quốc phòng, bảo vệ môi trường, tăng cường hợp tác quốc tế, vừa pháttriển góp phần vào bảo vệ quốc gia Trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lụcđịa thuộc chủ quyền và quyền tài phán nước ta, đồng thời khai thác tài nguyên ởhải phận quốc tế Xây dựng các trung tâm kinh tế, khu kinh tế, khu công nghiệp,khu chế xuất lớn ở vùng duyên hải gắn với các hoạt động kinh tế biển làm độnglực quan trọng đối với sự nghiệp phát triển đất nước Kết hợp chặt chẽ với pháttriển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển nội địa Biển có vai trò rất quantrọng đối với sự phát triển và an ninh của mỗi quốc gia, các nước có biển luônvươn ra biển khai thác nguồn tài nguyên biển Do ý nghĩa và vai trò quan trọngcủa biển nên sự hợp tác quốc tế về biển không ngừng được mở rộng Điều nàyvừa tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta vươn ra biển đồng thời đặt ra nhữngphức tạp, thách thức do sự cạnh tranh giữa các nước lớn

Thực tiễn phát triển của đất nước đòi hỏi phải xây dựng chiến lược pháttriển kinh tế biển một cách khoa học và hợp lý, cần phải có một chương trình

Trang 14

hành động toàn diện về biển và vùng ven biển, nhanh chóng xây dựng mộtViệt Nam quốc gia mạnh về biển, khai thác hiệu quả cao mọi tiềm năng kinh

tế biển đem lại sự giàu có cho đất nước, cho địa phương vùng ven biển và chotừng gia đình làm kinh tế biển đảo

Lợi ích kinh tế biển không chỉ xuất từ một địa phương, một ngành màcần có sự liên kết một cách khoa học sự phát triển các ngành các lĩnh vực trêntoàn vùng, trên địa bàn cụ thể thành một chương trình đồng bộ thống nhất.Đặc biệt phát triển phải chú trọng mọi mặt ở những vùng ven biển

Nhận thấy được tầm vai trò của hoạt động khai thác thủy sản đối vớiphát triển kinh tế xã hội của đất nước Để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ to lớn

đó, trước hết cần phải có chính sách tạo sức hấp dẫn thu hút mọi nguồn lực tronghoạt động khai thác thủy sản trên tinh thần chủ động, tích cực hội nhập Phát huytriệt để các nguồn lực bên trong, tranh thủ sự hợp tác các nguồn lực bên ngoàitheo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹnlãnh thổ của mỗi quốc gia

1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHAI THÁC THỦY SẢN Ở CẤP TỈNH

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của quản lý nhà nước đối với khai thác thủy sản ở cấp tỉnh

Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức có mục đích củaNhà nước lên các hoạt động kinh tế để sử dụng có hiệu quả tiềm năng và cácnguồn lực, các cơ hội nhằm đạt được các mục tiêu trước mắt và lâu dài củanền kinh tế xã hội Quản lý nhà nước về kinh tế được thực hiện theo các lĩnhvực của đời sống kinh tế và được thực hiện thông qua hoạt động của các cấpchính quyền từ trung ương tới địa phương

Theo sự phân cấp, hoạt động quản lý nhà nước ở cấp tỉnh bao gồm toàn

bộ các hoạt động quản lý các hoạt động kinh tế tại địa phương Hoạt động khaithác thủy sản diễn ra trên địa bàn các tỉnh, thành phố phải trực tiếp chịu sự quản

Trang 15

lý nhà nước về khai thác thủy sản cấp tỉnh Quản lý nhà nước đối với khai thácthủy sản ở cấp tỉnh là một quá trình trong đó các cơ quan của hệ thống bộ máyquyền lực của một tỉnh thuộc thẩm quyền từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở thực hiện cáctác động vào đối tượng hoạt động khai thác thủy sản bằng các công cụ hànhchính (các chỉ thị, nghị quyết, quyết định) và các biện pháp phi hành chính (sửdụng các chính sách khuyến nông, khuyến ngư, chương trình hỗ trợ phát triển)nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh [23, tr.225].

Theo quy định của Luật Thủy sản, Chính phủ thống nhất quản lý nhànước về thủy sản trong phạm vi cả nước, Bộ Thủy sản chịu trách nhiệm trướcChính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thủy sản trong phạm vi

cả nước, Uỷ ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về thủysản tại địa phương [20, tr.36]

Quản lý nhà nước đối với khai thác thủy sản ở cấp tỉnh có các đặc điểm:

Thứ nhất, mang tính chất quyền lực đặc biệt liên quan đến ngành khai

thác thủy sản, tính tổ chức và mệnh lệnh đơn phương của nhà nước nhằm mụctiêu phát triển ngành khai thác thủy sản

Thứ hai, mang tính tổ chức và điều chỉnh liên quan đến hoạt động khai

thác thủy sản Hoạt động quản lý dựa vào các các công cụ pháp luật để buộcđối tượng (hoạt động khai thác thủy sản) bị quản lý phải thực hiện theo quyluật xã hội nhằm đạt được sư cân bằng và phát triển trong xã hội

Thứ ba, mang tính khoa học và liên tục nhằm đảm bảo sự cân bằng

trong hoạt động khai thác thủy sản

Thứ tư, mang tính liên tục ổn định, cùng với sự vận động biến đổi của

hoạt động khai thác thủy sản Các quyết định của nhà nước đối với hoạt độngkhai thác thủy sản phải có tính ổn định, không được thay đổi quá nhanh

1.2.2 Tổ chức bộ máy và vai trò của quản lý nhà nước đối với khai thác thủy sản ở cấp tỉnh

Trang 16

Bộ máy quản lý nhà nước đối với khai thác thủy sản là hệ thống tổ chứccác cơ quan có thẩm quyền thực hiện chức năng, tham mưu về hoạch địnhchính sách phát triển thủy sản, ban hành các văn bản quy phạm thuộc thẩmquyền và trực tiếp quản lý việc thực hiện đánh bắt thủy sản Hệ thống tổ chức

bộ máy từ cấp tỉnh đến cấp huyện và cấp xã, phường được hình thành theonguyên tắc nhất định do pháp luật quy định bao gồm các cơ quan hoạch địnhchủ trương, chính sách, pháp luật, kế hoạch và cơ quan thực thi kế hoạch,pháp luật

Nguồn nhân lực của bộ máy công quyền bao gồm các công chức, viênchức, những người thừa hành công vụ và những người phục vụ cho hoạt độngkhác nhau của các cơ quan, bộ phận bộ máy công quyền trong quá trình thựcthi chức năng quản lý nhà nước

Các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về khai thác thủysản trên địa bàn tỉnh bao gồm:

+ Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn

+ Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

+ Trung tâm khuyến nông - khuyến ngư

+ Uỷ ban nhân dân huyện (Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).+ Uỷ ban nhân xã (Cán bộ phụ trách hải sản)

Quản lý nhà nước về khái thác thủy sản cấp tỉnh có vai trò:

- Góp phần đảm bảo định hướng cho các hoạt động khai thác thủy sảnđược thực hiện hiệu quả Đó là sử dụng có hiệu quả cao nhất các diện tích có sẵn

do thiên nhiên tạo ra, bảo tồn nguồn lợi thủy sản, góp phần xây dựng công cuộcxây dựng đất nước hoạt động theo cơ chế thị trường, hiện đại hóa đất nước

- Góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể khai thác thủy sảnhoạt động kinh doanh, phát triển khai thác thủy sản và gia tăng sự đóng gópcủa khai thác thủy sản vào phát triển kinh tế - xã hội địa phương Nhà nước cóvai trò tạo khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động của con người sống tại chỗ

Trang 17

và những người tham quan, du lịch được hưởng lợi mà không làm các nguồnlợi thủy sản tự nhiên bị mất đi hoặc bị tổn hại.

- Bảo vệ nguồn lợi thủy sản là vấn đề quan tâm của nhiều quốc gia hiệnnay Vì vậy dưới sự quản lý của nhà nước sẽ góp phần bảo tồn nguồn lợi thủysản đồng thời góp phần đảm bảo an toàn trong hoạt động khai thác thủy sản ởnước ta hiện nay

- Biển có vai trò rất quan trọng đối với sư phát triển và an ninh của cácnước có biển nói riêng vì vậy nhà nước cần có những chính sách quản lý hoạtđộng khai thác và các hiệp ước Biển Đông nhằm phần bảo vệ chủ quyền quốcgia trên biển

- Hướng dẫn ngư dân thực hiện đúng luật thủy sản, đồng thời kiểm tra,kiểm soát các hoạt động khai thác thủy sản trong phạm vi được phân công,triển khai các biện pháp bảo vệ nguồn lợi thủy sản Xử lý các tổ chức, cá nhân

vi phạm trong lĩnh vực khai thác thủy sản

Việc thực hiện tốt vai trò quản lý của mình tạo điều kiện cho khai thácthủy sản phát triển

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về khai thác thủy sản ở cấp tỉnh

- Tổ chức đánh giá nguồn lợi thủy sản trong phạm vi địa phương theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đối với hoạt động khai

thác thủy sản, công tác quy hoạch phát triển thủy sản phải dựa vào việc đánh giákhả năng nguồn lợi thủy sản hiện tại và phát triển tương lai, dự báo ngư trường,

tổ chức hậu cần thủy sản; tổ chức cá nhân đầu tư vào hoạt động thủy sản xa bờđược áp dụng các chính sách khuyến ngư đầu tư của nhà nước Mặt khác xâydựng và thực hiện quy hoạch khai thác hải sản, kế hoạch quản lý cường lực khaithác hải sản phù hợp với khả năng nguồn lợi cho phép khai thác ở vùng bờ vàvùng khơi xa Phân quyền quản lý hoạt động khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủysản vùng ven bờ, vùng lộng và vùng khơi xa ở các địa phương Đây là cơ sởpháp lý để đảm bảo thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về khai thác thuỷ

Trang 18

sản tại địa phương theo quy định của pháp luật Vì vậy cần phải tổ chức đánh giánguồn lợi thuỷ sản trong phạm vi địa phương theo hướng dẫn của Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn, để có kế hoạch và ban hành những chính sáchphù hợp để hoạt động khai thác thủy sản ngày càng hiệu quả hơn.

- Ban hành quy chế vùng khai thác thủy sản ở sông, hồ, đầm, phá và các vùng tự nhiên khác thuộc phạm vi quản lý của mình theo hướng dẫn của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; tổ chức cho nhân dân địa phương thực hiện quyền giám sát, phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về thủy sản trong vùng khai thác.

Vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải,vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền vàquyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác định theo pháp luật Việt Nam

Tổ chức cá nhân hoạt động trong vùng biển Việt Nam phải tôn trọngchủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia vàlợi ích quốc gia của Việt Nam, tuân thủ quy định pháp luật Việt Nam và phápluật quốc tế có liên quan

Vùng biển Việt Nam được phân thành ba vùng khai thác thủy sản theothứ tự:

Vùng ven bờ được giới hạn bơi mép nước tại bờ biển và tuyến bờ;Vùng lộng: là vùng biển được giới hạn bởi tuyến bờ và tuyến lộng;Vùng khơi: là vùng biển được giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới phíangoài của vùng đặc quyền kinh tế của vùng biển Việt Nam

Tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác thủy sản trong vùng biển Việt Namphải tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan và các quy định sau đây:

Quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc Uỷ bannhân dân cấp tỉnh về danh mục các loài thủy sản bị cấm khai thác; cácphương pháp khai thác, loại nghề khai thác, ngư cụ bị cấm sử dụng hoặc bịhạn chế sử dụng tại các vùng biển bị cấm khai thác có thời hạn; chủng loại,kích cỡ tối thiểu các loài thủy sản được phép khai thác [13, tr.2-3]

Trang 19

Trên cơ sở luật biển Việt Nam quy định, các địa phương giao quyềnkhai thác, quản lý vùng ven bờ cho cộng đồng ngư dân và quy định các biệnpháp quản lý, tổ chức khai thác phù hợp với nguồn lợi hải sản của từng địaphương trên cơ sở quy định của Trung ương Hiện nay hầu hết các nước Đông

Á và Đông Nam Á đã thực hiện phân chia ngư trường theo tuyến Mỗi vùng sẽquy định cỡ tàu và loại nghề được phép hoạt động Quy định vùng biển cấmnghề lưới kéo hoạt động đặc biệt là các vùng ven bờ, hướng dẫn các chủ thểkhai thác thủy sản sử dụng các loại ngư cụ, phương tiện khai thác thuỷ sản cókích cỡ phù hợp với các loài thuỷ sản được phép khai thác Để bảo vệ nguồn lợi

cá biển đạt được sự cân bằng tối ưu giữa năng lực khai thác và nguồn lợi, cácnước đã ban hành luật nghề cá quy định về hạn mức tổng công suất máy chophép hoạt động ở mỗi vùng biển; cấm ngư cụ và phương pháp đánh bắt cóhại; quy định mùa cấm, vùng cấm, kích thước cá được phép đánh bắt, kíchthước mắc lưới và giới hạn tỉ lệ cá tạp bảo vệ môi trường đồng thời hướngdẫn, hỗ trợ các chủ thể khai thác thủy sản đảm bảo không làm cạn kiệt nguồnlợi thuỷ sản của địa phương; tuân theo quy định về mùa vụ khai thác, thời hạnkhai thác, vùng khai thác, chủng loại và kích cỡ thuỷ sản được khai thác, sảnlượng cho phép khai thác hàng năm

- Mỗi quốc gia có các điều kiện tự nhiên đặc thù, tiềm năng về thủy sảnkhác nhau Đó là quy mô mặt nước và mặt nước trên biển Trên cơ sở điềukiện tự nhiên, sinh thái, nhà nước ban hành quy chế vùng khai thác thuỷ sản ởsông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác thuộc phạm vi quản lý củamình theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; tổ chứccho nhân dân địa phương thực hiện quyền giám sát, phát hiện, tố cáo hành vi

vi phạm pháp luật về thuỷ sản trong vùng khai thác thuỷ sản

- Tổ chức báo cáo khai thác thủy sản trong phạm vi địa phương theo

hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Để thực hiện tốt nội

dung tuyên truyền trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản yêu

Trang 20

cầu đặt ra là: Phải hạn chế hoạt động khai thác quá mức dẫn đến cạn kiệtnguồn thủy sản trong một thời gian nhất định hoặc lâu dài Cấm đánh bắt thủysản tự nhiên bằng phương tiện và dụng cụ mang tính hủy diệt Đánh bắtthủy sản phải theo kích cỡ từng loài thủy sản khác nhau, hoặc theo trọnglượng tối thiểu từng cá thể cho phép được khai thác Nên hàng năm cần tổchức việc báo cáo khai thác thuỷ sản trong phạm vi địa phương theo hướngdẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhằm đảm bảo sự pháttriển cân đối, bền vững Đồng thời nhà nước có những biện pháp phù hợpphát triển ngành thủy sản.

- Tổ chức thực hiện việc đăng kiểm theo hướng dẫn thống nhất của Bộ

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với tàu cá Quản lý hoạt động khai

thác thủy sản bằng việc cấp giấy phép tổ chức, cá nhân khai thác thủy sảnphải có giấy phép trừ trường hợp khai thác bằng tàu cá có trọng tải dưới 0,5tấn hoặc không sử dụng tàu đánh cá Điều kiện cấp giấy khai thác thủy sảngồm: đăng ký kinh doanh; có tàu đánh cá đã đăng ký; có ngư cụ, phương tiệnkhai thác phù hợp; thuyền trưởng; máy trưởng phải có văn bằng; chứng chỉphù hợp Để việc quản lý hoạt động khai thác thủy sản được chặt chẽ, kiệntoàn hệ thống thông tin giám sát tàu cá trên biển nhằm có hướng đầu tư trangthiết bị đảm bảo an toàn và quyền lợi cho ngư dân khai thác thủy sản thì cầnphải tổ chức thực hiện việc đăng kiểm theo sự hướng dẫn thống nhất của BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với tàu cá

- Tổ chức thực hiện việc đăng ký tàu cá, thuyền viên tàu cá của địa

phương theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tổ

chức, cá nhân khai thác thủy sản xa bờ phải trang thiết bị đảm bảo thông tinliên lạc, phương tiện cứu sinh trên tàu, tuân thủ các quy định của pháp luật vềhàng hải; chủ tàu có trách nhiệm mua bảo hiểm đối với thuyền viên làm việctrên tàu theo đúng quy định pháp luật Vì đây là một phần rất quan trọng của

cơ chế quản lý và tăng cường hiệu lực quản lý nghề cá Với một giấy phép

Trang 21

đánh cá một tàu có thể khai thác ở một vùng nhất định, một loại ngư cụ nhấtđịnh và đánh bắt một số loài cá đã cho phép khai thác Nhờ vào giấy đăngkiểm tàu cá nhà nước có thể nắm bắt số lượng tàu thuyền tạo thuận lợi choviệc quản lý hoạt động khai thác tàu cá.

- Tổ chức và phân cấp quản lý cảng cá, bến cá, khu neo đậu trú bão

của tàu cá thuộc phạm vi quản lý của địa phương

Phân cấp tổ chức quản lý: Hiện nay các nước trong khu vực Đông Nam

Á đều có trình độ phát triển nghề cá tương tự nhau và có xu thế tập trung pháttriển nghề cá, khai thác nguồn lợi mới, nghiên cứu kỹ thuật mới Để khai thácnguồn lợi thủy sản, quản lý tốt hoạt động khai thác thủy sản thì nhà nước tacần tổ chức và phân cấp quản lý cảng cá, bến cá, khu neo đậu trú bão của tàu

cá thuộc phạm vi quản lý của địa phương

- Phê duyệt quy chế, tổ chức quản lý hoạt động chợ thủy sản đầu mối;

kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm tại các chợ đầu mối Chợ thủy sản đang

trong quá trình phê duyệt, chưa có chợ đầu mối cho hoạt động mua bán thủysản, chỉ bán cho các nậu vựa, tiểu thương nhỏ

- Thực hiện quản lý nhà nước về kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm thủy sản, xử lý kịp thời tổ chức, cá nhân sản xuất và đưa ra thị

trường sản phẩm thuộc phạm vi quản lý của địa phương Quản lý hoạt động

tiêu thụ sản phẩm: Trong nền kinh tế thị trường, thị trường tiêu thụ sản phẩmnói chung có vai trò quan trọng đối với việc tiêu thụ các sản phẩm thủy sản.Cũng như thị trường nông sản hàng hóa khác, thị trường sản phẩm thủy sản làthị trường đa cấp bao gồm: cấp cơ sở, cấp địa phương, cấp trong nước và cấpnước ngoài, hay cấp thị trường bán buôn, bán lẻ, tiêu dùng Nhận định rõ vịtrí, vai trò của thị trường nhà nước ta đã phê duyệt quy chế, tổ chức quản lýhoạt động của chợ thuỷ sản đầu mối; kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm tạichợ thuỷ sản đầu mối để sản phẩm thủy sản Việt Nam có khả năng cạnh tranhtrên thị trường thế giới

Trang 22

Quản lý chất lượng sản phẩm: Sản phẩm thủy sản rất đa dạng và phongphú, mặt hàng chế biến thủy sản có từ cách ăn truyền thống cho tới hiện đại:hun khói, khô, muối đến đông lạnh, đồ hộp, sản phẩm ăn liền, nấu liền…Nhucầu tiêu thụ sản phẩm trên thế giới và trong từng quốc gia ngày càng tăng.Đối với số lượng và chất lượng sản phẩm ngày càng cao Vì vậy nhà nước tacần thực hiện quản lý nhà nước về kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thựcphẩm thuỷ sản, xử lý kịp thời tổ chức, cá nhân sản xuất và đưa ra thị trườngsản phẩm thuỷ sản không bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩmthuộc phạm vi quản lý của địa phương.

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với khai thác thủy sản

- Mức độ đa dạng về nguồn lợi thủy sản:

Biển và vùng bờ biển nước ta là môi trường sống của các loài thủysinh, các loài chim nước, chim di cư, các loài động thực vật trên các đảo Đếnnay trong vùng biển Việt Nam đã phát hiện chừng 11.000 loài sinh vật cư trútrong 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khácnhau, trong đó có ba vùng ven bờ: Móng Cái - Đồn Sơn, Hải Vân - Đại Lãnh

và Đại Lãnh - Vũng Tàu có mức đa dạng vô cùng phong phú Trong tổng loàiđược phát hiện có khoảng 6.000 loài động vật đáy; 2.038 loài cá, trong đó cótrên 100 loài có giá trị kinh tế, 653 loài rong biển; 657 loài động vật phù du;

537 loài thực vật phù du; 94 loài thực vật ngập mặn; 225 loài tôm biển; 14loài cỏ biển; 15 loài rắn biển; 5 loài rùa biển… [4, tr.12] Tiềm năng tàinguyên biển nước ta rất đáng kể và có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triểncủa đất nước Sự đa dạng về nguồn lợi thủy sản đã cung cấp nguồn lợi to lớncho nền kinh tế: khoảng 4,2 triệu tấn cá biển với khả năng khai thác 1,6 triệutấn; chưa tính đến trữ lượng tôm biển, mực và các loài thân mềm ở vùng biển.Thời gian qua, khoảng 80% lượng thủy sản khai thác đã được cung cấp vùngbiển ven bờ và cải thiện dinh dưỡng bữa ăn hàng ngày cho nhân dân

- Trình độ phát triển của ngành khai thác thủy sản:

Trang 23

Công nghệ khai thác cá trên biển phát triển, chuyển từ giai đoạn sửdụng chài lưới bằng đay gai sang nilon hóa, tiếp theo là động cơ hóa tàuthuyền khai thác vào đầu những năm 90 Dựa vào khả năng đầu tư cho khaithác, từ năm 1997 chúng ta đã có hạm tàu đánh cá biển khơi trang bị động lựclớn, thiết bị hiện đại cho liên lạc và thăm dò cá.

Hiện nay trình độ khoa học - kỹ thuật có tác động trực tiếp tới sự pháttriển nghề khai thác như công nghệ đóng tàu khai thác hải sản, cải tiến côngnghệ thông tin liên lạc vô tuyến điện tử, công nghệ sản xuất ngư cụ khai thác

và các thiết bị thăm dò đàn cá như: máy định vị, máy dò… tạo điều kiện thuậnlợi cho ngư dân an tâm vươn khơi xa bám biển dài ngày, góp phần xây dựngvào sự phát triển xã hội của đất nước

Bên cạnh đó tình trạng khai thác sai tuyến, sai mùa vụ, kích thước chophép khai thác vẫn thường xuyên xảy ra Mặt khác việc tổ chức sản xuất trênbiển còn đơn lẻ, độc lập, chưa có sự đồng bộ, chưa có tính liên kết cao, đa sốnhân dân không nhận thức được tầm quan trọng của việc khai thác thủy sảnmột cách bừa bãi nguồn lợi thủy sản, tiếp theo đó là sự quản lý thiếu chặt chẽtrong việc khai thác theo tuyến, theo mùa vụ, kích thước làm ảnh hưởng lớnđến nguồn lợi thủy sản

- Khung khổ pháp lý của khai thác thủy sản:

Để phát triển nghề cá ven bờ, việc ban hành một khung pháp lý là đặcbiệt cần thiết Tuy nhiên, chỉ có khung pháp lý đơn độc sẽ không tạo ra được

hệ thống quản lý nghề cá nếu thiếu sự tham gia tích cực của ngư dân Nhànước phải quản lý nghề cá bằng giấy phép đánh cá như là công cụ hữu hiệu đểquản lý Ngoài ra cần phải xây dựng cơ sở pháp lý, cơ chế, chính sách để pháttriển phương thức “Đồng quản lý nghề cá quy mô nhỏ” phù hợp với điều kiệnnghề cá ở địa phương Hỗ trợ, phát triển hợp tác xã nghề cá, các hiệp hội nghề

cá theo nghề, thí điểm giao việc khai thác, kinh doanh cảng cá, bến cá phùhợp với từng địa phương

- Cơ chế chính sách đối với khai thác thủy sản:

Trang 24

Trên cơ sở những chính sách đang có hiệu lực thi hành, cần nghiên cứu,

bổ sung một số cơ chế, chính sách mới như:

+ Chính sánh khuyến khích đầu tư hiện đại hóa tàu cá

+ Chính sánh khuyến khích phát triển mô hình quản lý nghề cá cộng đồng.+ Chính sách đầu tư hệ thống kiểm soát và quản lý chất lượng tronglĩnh vực thủy sản

+ Chính sách khuyến khích đào tạo cán bộ kỹ thuật quản lý ngành thủy sản.Căn cứ tình hình thực tế, thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơchế chính sách phù hợp [33, tr.13]

Ngoài ra cần điều tra, đánh giá lại nguồn lợi hải sản vùng ven bờ, xácđịnh các ngư trường, khu tập trung tàu thuyền khai thác hải sản của địaphương hoặc khu vực liên tỉnh

Điều tra, đánh giá thực trạng năng lực khai thác hải sản vùng biển ven

bờ, vùng lộng của từng địa phương Xây dựng bản đồ phân bố ngư trường,nghề, loài hải sản khai thác ở các địa phương

Xây dựng và thực hiện quy hoạch khai thác hải sản, kế hoạch quản lýcường lực khai thác hải sản phù hợp với khả năng nguồn lợi cho phép khaithác ở vùng bờ và vùng lộng

Phân quyền quản lý hoạt động khai thác và bảo vệ nguồn lợi vùng ven

và vùng lộng cho các địa phương

- Trình độ hiểu biết và tuân thủ các quy định pháp luật của các chủ thể khai thác thủy sản:

Đa số lao động phục vụ khai thác hải sản chưa được đào tạo, họ chỉ họctập lẫn nhau qua quá trình đi biển, do đó chỉ thạo nghề thuần túy, các kinhnghiệm đánh bắt cổ truyền, trình độ hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ hànghải và các công nghệ khai thác hiện đại còn rất thấp Vì vậy chưa đủ số lượngcũng như năng lực tổ chức đánh bắt khơi xa có hiệu quả Đồng thời hầu hếtcác lao động đánh bắt thủy sản không nắm vững và tuân thủ các quy định

Trang 25

pháp luật của các chủ thể khai thác thủy sản dẫn đến nguy cơ làm cạn kiệtnguồn tài nguyên quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng.

Vì vậy cần phối hợp với các trường trong và ngoài tỉnh trong công tácđào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thuyền trưởng, máy trưởng nhằm nâng cao trình

độ hoạt động khai thác thủy sản của ngư dân

1.3 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHAI THÁC THỦY SẢN CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC CHO TỈNH QUẢNG NGÃI

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về khai thác thủy sản của một

số địa phương

- Kinh nghiệm của Thành phố Hải Phòng:

Hải Phòng nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, trên bờ biển thuộc vịnhBắc Bộ, trong tọa độ địa lý 20°30′39″ đến 21°01′15″vĩ độ Bắc, 106°23′39″đến 107°08′39″ kinh độ Đông, cách Thủ đô Hà Nội 102km về phía Tây TâyBắc, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Tâygiáp tỉnh Hải Dương, và phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông HảiPhòng là một thành phố cảng và là một thành phố biển nằm trong vùng duyênhải Bắc Bộ Đây là nơi có vị trí quan trọng về kinh tế - xã hội và an ninh -quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước, là thành phố cảng, cửa chính ra biểnquan trọng của Việt Nam Hiện nay, cảng Hải Phòng là một trong những cảngbiển lớn nhất Việt Nam, kéo dài hơn 12 km gồm những cảng hàng rời, cảngcontainer, cảng hàng nặng, sản lượng xếp dỡ đạt 35,2 triệu tấn vào năm 2010

và dự kiến sẽ nâng lên từ 70 - 80 triệu tấn vào năm 2020

Tài nguyên biển là một trong những nguồn tài nguyên quí hiếm của HảiPhòng với gần 1.000 loài tôm, cá và hàng chục loài rong biển có giá trị kinh tếcao như tôm rồng, tôm he, cua bể, đồi mồi, sò huyết, cá heo, ngọc trai, tu hài,bào ngư là những hải sản được thị trường thế giới ưa chuộng Biển HảiPhòng có nhiều bãi cá, lớn nhất là bãi cá quanh đảo Bạch Long Vĩ với trữlượng cao và ổn định Tại các vùng triều ven bờ, ven đảo và các vùng bãi triều

Trang 26

ở các vùng cửa sông rộng tới trên 12.000 ha vừa có khả năng khai thác, vừa

có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nước mặn và nước lợ có giá trị kinh tế cao.Vùng biển Hải Phòng là một trong những khu vực có tính đa dạng sinh họccao Những nghiên cứu gần đây đã thống kê được 124 loài cá biển thuộc 89giống nằm trong 56 họ phân bố ở vùng biển quanh đảo Cát Bà (Bùi ĐìnhChung 1999) Các họ phong phú về số lượng loài là cá Khế (Carangidae) với

9 loài; họ cá Liệt (Leiognathidae) với 8 loài; họ cá Đù (Sciaenidae) đã bắt gặp

7 loài; họ cá Bàng chài (Labridae) bắt gặp 6 loài và họ cá bống (Gobiidae) bắt

gặp 5 loài Có 15 họ có số lượng loài từ 2 đến 4 loài Trong các năm 2003 và

2004 các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu thủy sản đã khảo sát thànhphần loài hải sản ở vùng biển quanh đảo Cát Bà và đã xác định được 215 loài

và nhóm loài hải sản thuộc 72 họ khác nhau Trong đó có 173 loài cá, 26 loàigiáp xác, 14 loài động vật thân mềm và 2 loài sam biển Cá rạn san hô chiếm

ưu thế với 79 loài thuộc 58 giống nằm trong 37 họ cá khác nhau Các họ cá

biển bắt gặp nhiều là cá khế, cá bống, cá hồng, cá phèn, cá lượng, cá chai, cá

đù, cá mối và cá trích Ngoài ra còn có một số đối tượng có giá trị kinh tế caonhư tôm he, mực nang, mực ống và cua bơi Nguồn lợi hải sản ở vùng biểnHải Phòng mang đặc điểm nguồn lợi hải sản vịnh Bắc Bộ, với thành phần loàiphong phú và không có loài hoặc nhóm loài chiếm ưu thế tuyệt đối trongthành phần sản lượng khai thác Từ năm 2001 đến năm 2005, dự án đánh giánguồn lợi sinh vật biển Việt Nam đã thực hiện 4 chuyến khảo sát nguồn lợihải sản ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, khu vực điều tra bao phủ hầu hết vùng biển

Hải Phòng, sử dụng lưới kéo đáy Kết quả khảo sát đã xác định được 515

loài/nhóm loài thuộc 10 nhóm sinh thái lớn và nhóm loài khác nhau Trong sốnày, nhóm cá đáy có số lượng loài cao nhất (234 loài), tiếp theo là nhóm cárạn san hô (117 loài), cá nổi - 86 loài; nhóm giáp xác - 47 loài, nhóm chân đầu

- 27 loài, nhóm ốc và hai mảnh vỏ có 6 loài và 1 loài sam biển Theo thống kêcủa Phạm Thược (2005) thì ở vịnh Bắc Bộ có 28 loài tôm Họ tôm he

Trang 27

(Penaeidae) phong phú nhất về thành phần loài và chiếm tỉ lệ cao trong sảnlượng khai thác.

Vùng biển Hải Phòng là một trong những khu vực có mật độ phân bốcủa các loài hải sản khá cao so với các khu vực khác ở vùng biển vịnh Bắc

Bộ Theo Đào Mạnh Sơn (2005) thì các ngư trường khai thác chính ở vùngbiển Hải Phòng và các vùng lân cận là:

+ Ngư trường Bạch Long Vĩ: đây là ngư trường khai thác truyền thống

của nghề lưới kéo đáy Năng suất khai thác cao tập trung chủ yếu ở vùng biểnphía Đông và Đông Bắc đảo Bạch Long Vĩ, độ sâu ngư trường từ 30 - 50m.Các loài chiếm sản lượng cao trong sản lượng khai thác ở ngư trường BạchLong Vĩ là: cá miễn sành hai gai, cá nục sồ, cá mối, cá lượng, cá phèn khoai,ngoài ra các loài cá hồng, cá trác, cá bạc má cũng là những đối tượng thườngxuyên xuất hiện trong sản lượng khai thác

+ Ngư trường Cát Bà - Bắc Long Châu: ở khu vực này đối tượng khai

thác chính là các loài tôm, trong đó tôm he, tôm sắt và tôm rảo là những đốitượng chiếm tỉ lệ cao trong sản lượng tôm khai thác được Ngoài ra, đây cũng

là ngư trường khai thác cá hồng, cá song và một số loài cá kinh tế khác

+ Ngư trường Nam Long Châu: là ngư trường khai thác cá trích, cá

hồng, cá mối và cá phèn Ngư trường này kéo dài suốt từ phía Nam đảo LongChâu đến cửa Ba Lạt

Theo thống kê của chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản Hải Phòng thìtổng số tàu thuyền khai thác của toàn thành phố tính đến tháng 7/2010 là2.863 chiếc, tập trung chủ yếu ở các huyện Thủy Nguyên, Kiến Thụy, Đồ Sơn

và Cát Hải Như vậy, sau 2 năm tổng số tàu thuyền khai thác hải sản của HảiPhòng đã tăng thêm 268 chiếc, với 2.595 chiếc thống kê được ở năm 2008(Cục Bảo vệ Nguồn lợi thủy sản 2008) Nhóm tàu có công suất nhỏ dưới 20

cv có 1.446 chiếc, chiếm 55,7%, nhóm tàu có công suất 20 - 45 cv chiếm24,7% tổng số tàu thuyền, với 1034 chiếc Số lượng tàu kích thước lớn chiếm

tỉ lệ nhỏ trong cơ cấu tàu thuyền của thành phố [15, tr.66-69]

Trang 28

Lưới rê, lưới kéo đáy và chụp mực là những nghề khai thác hải sảnchính của ngư dân Hải Phòng Nghề lưới rê chiếm 43,4% tổng số tàu thuyềntrong cơ cấu nghề khai thác, tiếp đến là nghề chụp mực (17,4%) và nghề lướikéo đáy (13,6%) Nhóm nghề khác bao gồm nhiều loại hình khai thác như:cào nghêu lụa, cào nhuyễn thể, pha xúc, lưới rùng, lồng bẫy, đáy, lặn… chiếmkhoảng 23,5% tổng số lượng tàu thuyền trong cơ cấu nghề khai thác hải sản,tuy nhiên nhóm nghề này chủ yếu là những tàu có công suất nhỏ, phần lớnthuộc nhóm dưới 20cv.

Phát huy những lợi thế của mình, trong thời gian ngành khai thác thủysản có những bước phát triển mạnh mẽ thể hiện trên các mặt sau:

Hoạt động khai thác hải sản ở vùng biển Hải Phòng diễn ra nhộn nhịpvới cơ cấu ngành nghề khai thác đa dạng, ngư trường khai thác rộng lớn, từvùng biển ven bờ quanh các quần đảo Cát Bà, Long Châu cho đến đảo BạchLong Vĩ và vùng đánh cá chung Việt Nam - Trung Quốc Hải Phòng có hệthống dịch vụ hậu cần nghề cá khá phát triển với nhiều cảng lên cá hiện đại ởCát Bà, Đồ Sơn và Bạch Long Vĩ, đáp ứng không những cho ngư dân HảiPhòng mà còn cho ngư dân ở nhiều tỉnh khác

Trong những năm qua, kinh tế của Hải Phòng phát triển ổn định vàliên tục tăng trưởng; Sản lượng thủy sản năm 2010 ước đạt gần 91.000 tấn,giá trị sản xuất thủy sản năm 2010 ước đạt hơn 1.000 tỷ đồng Thành phố đãhoàn thành, nghiệm thu đề án bảo vệ nguồn lợi thủy sản vùng 6km nước xungquanh đảo Bạch Long Vĩ Nguồn lợi thủy sản xung quanh đảo Bạch Long Vĩ

đã được khôi phục trở lại, theo số liệu khảo sát, điều tra của Viện Tài nguyên

và môi trường biển trữ lượng các loài hải sản quý hiếm xung quanh đảo BạchLong Vĩ đã tăng trở lại thành phố đã tích cực tham gia đề án quản lý tổng hợpvùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng trong khuôn khổ nâng cao năng lực quản

lý tổng hợp vùng bờ khu vực Tây Bắc vịnh Bắc Bộ do Quỹ bảo tồn thiênnhiên thế giới (IUCN) tài trợ Công tác quản lý nhà nước trên biển trên địa

Trang 29

bàn thành phố đã được quan tâm và đạt những kết quả quan trọng, có tác dụngthúc đẩy hoạt động khai thác thủy sản, khẳng định chủ quyền về biển, gắn vớinhiệm vụ bảo vệ quốc phòng - an ninh của thành phố Cùng với những thànhtựu như đã nêu ở phần trên thì kinh tế biển Hải Phòng còn những hạn chế đòihỏi phải có sự khắc phục nhanh chóng Những hạn chế đó là:

Tiềm lực kinh tế, trình độ khoa học - công nghệ nói chung và côngnghệ khai thác thủy sản của thành phố nói riêng còn hạn chế, làm giảm khảnăng tận dụng những tiềm năng, nguồn lợi thủy sản đang có từ biển để pháttriển trong xu thế vươn ra biển, làm chủ biển khơi Tình trạng xây dựng cảngbiển, manh mún, thiếu quy hoạch chiến lược tổng thể, làm lãng phí nguồn lực,giảm hiệu quả đầu tư Cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo cònnhiều yếu kém, lạc hậu Thực trạng quản lý và khai thác tài nguyên biển ở HảiPhòng thời gian qua còn thiếu hiệu quả, thiếu bền vững Việc khai thác chủyếu do người dân tiến hành một cách tự phát, trong đó có tình trạng sử dụngcác chất nổ phá hủy hệ sinh thái Các tranh chấp vùng đánh cá của ngư dângiải quyết còn lúng túng Cuộc sống dân cư ven biển còn nhiều khó khăn, sựtham gia của cộng đồng địa phương vào quản lý vùng bờ còn thụ động; nguy

cơ ô nhiễm vùng biển do sự cố tràn dầu, các phương tiện giao thông gây ra

Hơn nữa, Hải Phòng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môitrường biển và ngày càng trở nên nghiêm trọng do hậu quả của sức ép dân số,sức ép tăng trưởng kinh tế, khả năng quản lý và sử dụng kém hiệu quả cácnguồn tài nguyên biển, cụ thể là:

Việc đưa vào thực thi chiến lược biển chưa tương xứng với tiềm năngsẵn có, chưa chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để mũi nhọn trong lĩnhvực khai thác thủy sản Mặt khác vấn đề sa bồi chưa được giải quyết hợp lý,hàng năm chi phí nạo vét, hút luồng cho tàu cá vào cảng biển lớn dẫn đếnkhông hiệu quả về kinh tế Ngoài ra cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 đãbiến 2 ngành kinh tế mũi nhọn là vận tải biển và đóng tàu thành gánh nặngtrong phát triển kinh tế - xã hội

Trang 30

Ở Hải Phòng lĩnh vực khai thác thủy sản có tiềm năng nhưng chưa cónhiều đầu tư mới, hướng ra biển xa, khai thác các ngư trường quốc tế Tại đâymùa đông lạnh, nhiệt độ, sự thay đổi thất thường của thời tiết, khí hậu và bãogây nhiều khó khăn cho hoạt động khai thác thủy sản [, tr.69-72].

Ô nhiễm dẫn đến sự cạn kiệt các tài nguyên cá, nhất là những loài cáven bờ, thêm vào đó, thiên tai như bão, lũ và xâm nhập mặn cũng tác độnglớn tới môi trường biển và có xu hướng trầm trọng thêm bởi các hoạt độngcủa con người Đáng lo ngại là số lượng tàu thuyền gắn máy loại nhỏ, côngsuất thấp, cũ kỹ và lạc hậu tăng nhanh, nên khả năng thải dầu vào môi trường

biển nhiều hơn Các tàu nhỏ chạy bằng xăng dầu đã thải ra biển khoảng 70%

lượng dầu thải

Nước biển ở một số nơi có biểu hiện bị axít hóa do độ pH trong nướcbiển tầng mặt biến đổi trong khoảng 6,3 - 8,2 Nước biển ven bờ bị ô nhiễmbởi chất hữu cơ và một số loại thuốc bảo vệ thực vật Có khoảng 85 loài hảisản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 70 loài đã được đưa vào Sách đỏViệt Nam, năng suất khai thác thủy sản giảm Ngoài ra, một số bộ phận ngưdân dùng các ngư cụ đánh bắt có tính chất hủy diệt diễn ra khá phổ biến, làmcạn kiệt các nguồn lợi hải sản ven bờ Nguồn lợi hải sản có xu hướng giảmdần về trữ lượng, sản lượng và kích thước cá đánh bắt

Hơn nữa, cơ sở hạ tầng vùng ven biển và hải đảo còn thiếu thốn và lạchậu; sự phát triển kinh tế biển còn yếu kém, phiến diện, sản xuất nhỏ, lạc hậu;tài nguyên biển chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng, chỉ chú trọngkhai thác mà không quan tâm tái tạo, bảo vệ; thường xuyên bị tàu nước ngoàixâm phạm, đánh bắt và khai thác trộm tài nguyên biển; vấn đề phòng, chống

và khắc phục hậu quả của bão lụt, thiên tai từ hướng biển còn nhiều hạn chế;

sự thiếu hiểu biết pháp luật về biển, nhất là pháp luật bảo vệ môi trường biểncủa những người tham gia hoạt động khai thác sử dụng, quản lý biển cũnggóp phần làm gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trường biển

Trang 31

Bên cạnh đó, các chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường biển củathành phố còn chung chung, chưa cụ thể và thiếu thực tế, gây khó khăn cho việc

tổ chức thực hiện Đây là những hạn chế đòi hỏi phải có những giải pháp tổngthể không chỉ riêng của thành phố mà cần có sự vào cuộc của các Trung ương vàcác địa phương lân cận Có như vậy, hoạt động khai thác thủy sản của thành phốmới phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới [26, tr.80-84]

- Kinh nghiệm của tỉnh Sóc Trăng

Sóc Trăng là một tỉnh nằm ở cuối lưu vực sông Mê - Công, thuộc vùngđồng bằng sông Cửu Long, phía Bắc giáp tỉnh Hậu Giang và Thành phố CầnThơ, phía Đông giáp tỉnh Trà Vinh, phía Tây giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Namgiáp biển Đông Diện tích tự nhiên của tỉnh là 3.310 km2; có bờ biển dài 72

km, với 3 cửa sông lớn tiếp giáp biển là Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh Bờbiển tương đối bằng phẳng, được phù sa bồi lắng hàng năm Bờ biển dài làđiều kiện thuận lợi cho tỉnh Sóc Trăng khai thác thủy sản

Nguồn lợi thủy sản đa loài, mang đặc tính nhiệt đới với kích thước,vùng biển Sóc Trăng đã xác định được khoảng 2030 loài trong đó trong đókhoảng 100 loài có giá trị kinh tế và phân bổ: cá tầng đáy chiếm 80% và cácloài cá tầng trên (cá nổi) chiếm 20%, cá sống ở vùng biển gần bờ chiếm 80%

và vùng biển sâu xa bờ 20%; thành phần tăng từ Bắc vào Nam: Vịnh Bắc Bộxác định được 260 loài; biển miền Trung 301 loài; Đông Nam Bộ 845 loài vàTây Nam Bộ 581 loài Ngoài ra còn có các loài sống ở biển sâu xa bờ, sống xungquanh các đảo và các vùng cửa sông… [18, tr.39-40] Là tỉnh có đa dạng loàithủy sản nên những năm gần đây, Sóc Trăng tập trung đầu tư khai thác, đem lạihiệu quả kinh tế cao, góp phần cải thiện đời sống người dân và làm thay đổi bộmặt nhiều làng quê vùng ven biển Tuy nhiên, giá trị thu được từ hoạt động khaithác thủy sản chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế biển của Sóc Trăng

Sóc Trăng hiện có 1.055 tàu đánh cá với tổng công suất 100.930 cv,trong đó có 241 tàu đánh bắt xa bờ Nếu so với năm 2005, số tàu đánh bắt hải

Trang 32

sản tăng gần 200 chiếc, tàu công suất từ 380 cv trở lên từ chỗ không có chiếcnào, đến nay đã có gần 60 chiếc Nhiều tàu được sửa chữa nâng cấp, đóngmới và trang thiết bị hiện đại, công suất lớn, khai thác nhiều ngày trên biển.Phần lớn các tàu này được vay vốn từ quỹ hỗ trợ phát triển, khắc phục đượctình trạng khai thác thủy hải sản ven bờ, trung bình sản lượng khai thác từ 30đến 35 nghìn tấn hải sản/năm, phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.Ngoài các nghề cào đôi, lưới vây, lưới đèn, nhiều ngư dân còn chuyển sangnghề câu mực xuất khẩu, đạt hiệu quả kinh tế cao Ðể giúp ngư dân tăng hiệuquả đánh bắt, ngoài việc trợ giúp vốn vay mua sắm phương tiện hiện đại, tỉnhcòn trợ giúp bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm thuyền viên và dầu với số tiền hơn

20 tỷ đồng Ngành thủy sản tỉnh đang xây dựng khu neo đậu tàu, thuyền trúbão và Cảng cá Trần Ðề giai đoạn 2 (kho đông lạnh; cung cấp nước đá, xăng,dầu; dịch vụ đóng và sửa chữa tàu, thuyền, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, )nhằm đáp ứng nhu cầu dịch vụ hậu cần cho tàu đánh bắt xa bờ Cơ sở hạ tầng

kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế biển được tập trung đầu tư hiện đại với hệthống cảng biển, khu công nghiệp, cảng cá, khu trú bão, chợ đầu mối thủysản, tạo nên sức bật mới cho các đô thị ven biển Sóc Trăng

Mặt khác, khó khăn lớn nhất hiện nay đối với việc phát triển kinh tếbiển của Sóc Trăng là thiếu cơ sở vật chất - kỹ thuật, công nghệ lạc hậu, chưađược đầu tư đúng mức, hệ thống neo đậu tàu thuyền, dịch vụ hậu cần nghềcá….Hoạt động khai thác thủy sản phát triển chưa tương xứng với tiềm năng,hiệu quả còn thấp Lĩnh vực khai thác thủy sản chưa gắn kết tốt với công táctái tạo tài nguyên, bảo vệ môi trường Công tác kiểm tra trên biển đã có nhiều

nỗ lực nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra do lực lượng mỏng, phươngtiện thiếu, địa bàn rộng Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều yếu kém vàchưa đồng bộ, cho nên chưa phục vụ tốt cho nhu cầu hoạt động khai thác vàtiêu thụ sản phẩm thủy sản của ngư dân

Trang 33

Ngoài ra, hiện nay Sóc Trăng đang tồn tại một số vấn đề sau: Khai thác

xa bờ tuy có bước phát triển nhưng còn chậm, công suất trọng tải tàu khaithác thủy sản vẫn còn ở quy mô vừa chưa thể vươn khơi xa với thời gian đibiển dài ngày hơn, hiệu quả chương trình đánh bắt xa bờ còn thấp do nghềkhai thác chủ yếu là nghề cào, sản phẩm có giá trị kinh tế cao chiếm tỷ trọngthấp, chi phí sản xuất hàng ngày cao đặc biệt là do ảnh hưởng của giá dầu.Việc phối hợp giữa các ngành để quản lý tài nguyên biển thiếu chặt chẽ, tìnhtrạng cào ở ven bờ diễn ra thường xuyên, đánh bắt bằng ánh sáng mạnh, chất

nổ xung điện vẫn còn xảy ra

Công nghiệp đóng mới, sửa chữa tàu thuyền phát triển chậm, quy mônhỏ, công nghiệp chế tạo sửa chữa cơ khí máy móc phục vụ phương tiện khaithác chủ yếu là thủ công chưa đáp ứng được nhu cầu vươn khơi xa đánh bắtthủy sản

Hệ thống cảng cá, bến cá, chợ cá nhiều nơi chưa được quy hoạch, chưaphát huy hiệu quả, quản lý còn lỏng lẻo, chất lượng công trình và các điềukiện vệ sinh môi trường không đảm bảo

Khu neo đậu tránh bão thiếu, chưa được quy hoạch và đầu tư

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Ngãi về quản lý nhà nước đối với khai thác thủy sản

- Về quy hoạch, kế hoạch khai thác thủy sản:

Hệ thống tổ chức quản lý từ Trung ương đến địa phương chưa đồng bộ

về nghiên cứu kế hoạch khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Công tác tổ chức điều tra, nghiên cứu ngư trường, nguồn lợi thủy sảncủa tỉnh Quảng Ngãi thực hiện chưa thường xuyên, chưa có quy hoạch khai tháctổng thể Yêu cầu đặt ra là phải có quy hoạch cụ thể cho toàn tỉnh tại các huyệnven biển Cần có định hướng phát triển từng ngành nghề khai thác cụ thể về quy

mô, số lượng tàu thuyền của từng ngành nghề, hoạt động ở các tuyến

- Về cơ chế chính sách khai thác thủy sản:

Trang 34

Tỉnh Quảng Ngãi cần đầu tư, nâng cấp, hoàn thiện cảng cá, bến cá ởcác trung tâm nghề cá trọng điểm có quy mô lớn Chính sách vay vốn cho ngưdân tạo điều kiện cho ngư dân đầu tư mới cải hoán tàu cá xa bờ Hỗ trợ cácdoanh nghiệp sản xuất ngư lưới cụ, bao bì và vật liệu tổng hợp đáp ứng nhu

cầu của ngành thủy sản Tập trung đầu tư xây dựng các chợ thủy sản đầu mối

quan trọng góp phần đô thị hóa vùng nông thôn ven biển, tạo môi trường pháttriển nghề cá theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa Rà soát và xây dựngcác cơ chế, chính sách hỗ trợ ngư dân và doanh nghiệp đi khai thác ở vùngbiển Việt Nam trên cơ sở gắn khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Cácchính sách như: hỗ trợ ngư dân khi bị thiên tai bão lũ, chính sách hỗ trợ ngưdân khai thác vùng biển xa, chính sách hỗ trợ các mô hình khai thác thủy sảncủa ngư dân như: hợp tác xã khai thác xa bờ và dịch vụ hậu cần nghề cá, tổ độisản xuất trên biển, nghiệp đoàn nghề cá…Tạo điều kiện cho ngư dân sản xuất

- Về đào tạo nhân lực cho khai thác thủy sản

Đa số ngư dân tham gia hoạt động khai thác thủy sản chưa qua đào tạo

Vì vậy yêu cầu cấp thiết hiện nay là tỉnh Quảng Ngãi cần ban hành chươngtrình đào tạo nghề cho nông thôn đặc biệt đối với hoạt động khai thác thủysản, mở lớp đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng, thuyền viên hỗ trợ học phícho ngư dân Đảm bảo các lao động trên biển hiểu rõ về luật biển và khai thácthủy sản Sử dụng thành thạo các trang thiết bị trên tàu trong hoạt động khaithác thủy sản

Sắp xếp và tổ chức lại, củng cố, nâng cấp, mở rộng cơ sở đào tạonguồn nhân lực thủy sản, phù hợp với nhu cầu phát triển sản xuất Ban hànhchính sách khuyến khích các cơ sở nghiên cứu gắn kết với các doanh nghiệp

Có chính sách ưu tiên đối với đào tạo nguồn nhân lực hoạt động nghề cá trênbiển, gắn kết giữa phát triển nguồn lực và bố trí dân cư và xây dựng làng cáven biển [33, tr.11]

- Về thanh tra, kiểm tra giám sát các hoạt động khai thác thủy sản

Trang 35

Hệ thống thông tin giám sát tàu cá trên chưa được đầu tư và kiện toàn

về công tác thiết yếu đảm bảo an toàn cho người và tàu cá Công tác phòngchống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn chưa được quan tâm đúng mức Vì vậy cầnxây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý nghề cá trên biển, trên cơ

sở kế thừa hợp pháp “giám sát tàu cá sử dụng công nghệ vệ tinh” Xây dựng

cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý, khai thác sử dụng hệ thống thôngtin phục vụ khai thác hải sản Tăng cường phối hợp công tác kiểm tra, kiểmsoát, cứu hộ, cứu nạn trên biển Thực hiện chương trình cấp giấy phép tàu cá

để hạn chế số lượng tàu thuyền tham gia khai thác bừa bãi nguồn lợi thủy sản.Đồng thời quản lý chặt chẽ số lượng tàu cá

- Về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về khai thác thủy sản

Hoàn thiện hệ thống bộ máy quản lý trên toàn tỉnh về khai thác thủysản, thực hiện phân cấp quản lý tàu cá dưới phối hợp giữa chính quyền cáccấp trong quản lý nhà nước từ tỉnh đến huyện đến xã

Cần nâng cao năng lực của cán bộ, công chức nhà nước, đặc biệt là cán

bộ ở xã phụ trách thủy sản Cần đào tạo, bố trí cán bộ hải sản ở xã có trình độchuyên môn, am hiểu về lĩnh vực khai thác thủy sản, góp phần vào công tácquản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHAI THÁC

THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH KHAI THÁC THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tiềm năng thủy sản của tỉnh Quảng Ngãi

- Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên:

Tỉnh Quảng Ngãi nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý 14

032’ - 15025’ vĩ Bắc, 108006’ - 109004’ kinh Đông; phía Bắc giáp tỉnh QuảngNam trên ranh giới các huyện Bình Sơn, Trà Bồng và Tây Trà; phía Nam giáptỉnh Bình Định trên ranh giới các huyện Đức Phổ, Ba Tơ; phía Tây, Tây Bắcgiáp tỉnh Quảng Nam và tỉnh Kon Tum trên ranh giới các huyện Tây Trà, TràBồng, Sơn Tây và Ba Tơ; phía Tây Nam giáp tỉnh Gia Lai trên ranh giớihuyện Ba Tơ; phía Đông giáp biển Đông, có đường bờ biển dài gần 130kmvới 5 cửa biển chính là Sa Cần, Sa Kỳ, Cửa Đại, Mỹ Á và Sa Huỳnh

Tỉnh Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên 5.131,5km2, bằng 1,7% diệntích tự nhiên cả nước, bao gồm 14 huyện, thành phố, trong đó có 1 thành phố,

6 huyện đồng bằng ven biển, 6 huyện miền núi và 1 huyện đảo

Địa hình thềm lục địa vùng biển Quảng Ngãi có độ dốc lớn, có nơi cách

bờ chưa tới 3 hải lý đã có độ sâu 50m, cách bờ trung bình 20 hải lý đã có độsâu trên 100m, cách bờ 30 hải lý đã có độ sâu trên 200m Nền đáy biển từ 50mnước trở vào chủ yếu là cát bùn, trên 50m trở ra chủ yếu là cát pha vỏ sò Địahình đáy biển gần bờ có các bãi rạn nhỏ, vùng khơi có những rãnh sâu, gò rạn

Bão và áp thấp nhiệt đới có tần suất đổ bộ vào bờ biển vùng NamTrung Bộ cao nhất vào tháng 10 và 11 Tốc độ và hướng di chuyển của bãothường rất phức tạp, tùy thuộc vào từng cơn bão Bão thường gây ra gió

Trang 37

mạnh, tốc độ trung bình 30 - 40m/s, đổi hướng liên tục nên có sức tàn phá rấtlớn Trong vùng bão thường có lượng mưa lớn trên 100mm/ngày, có nhữngcơn bão lượng mưa lên đến 300 - 400mm/ngày hoặc hơn

Nước biển Quảng Ngãi mang đặc trưng của vùng nước biển sâu, màu mặtnước xanh thẳm, độ trong suốt lớn, biển thoáng, hoàn lưu nước trao đổi trực tiếpvới biển Đông Nhiệt độ nước biển biến động lớn nhất xảy ra ở lớp nước mặt vàgiảm dần đến độ sâu 200m Nhiệt độ tầng nước mặt đạt giá trị cao nhất vào tháng

5, trung bình 280C- 29,80C, thấp nhất vào tháng 1, trung bình 220C - 24,70C

- Tiềm năng thủy sản:

Nguồn lợi thủy sản biển bao gồm các loài cá tầng nổi, cá tầng đáy và cácloài giáp xác, thân mềm như: tôm hùm, tôm sú, tôm chì, tôm sắt, cua, ghẹ, cuahuỳnh đế, mực ống, mực nang, là những loài thủy sản có giá trị kinh tế cao

Nguồn lợi cá nổi là thế mạnh của vùng biển Quảng Ngãi, trữ lượngtrung bình khoảng 42.000 tấn, sản lượng cho phép khai thác trung bình hàngnăm khoảng 19.000 tấn Ngoài ra, còn có khoảng trên 4.000 tấn cá nổi khaithác ở vùng biển khơi nằm ngoài phạm vi tính toán trữ lượng nguồn lợi thủysản trong tỉnh Cá nổi nhỏ (gồm các loài cá nục, cá cơm, cá bạc má ) thườngtập trung ở vùng nước ven bờ nhưng xuất hiện không đều theo mùa vụ hàngnăm Cá nổi lớn (gồm nhiều loài như cá ngừ sọc dưa, cá ngừ bò, cá ngừ chấm,

cá ngừ vằn, cá nục đỏ đuôi, cá cờ, cá nhám ) là những loài sống ở biển khơithường di cư theo các dòng hải lưu qua vùng biển Quảng Ngãi

Nguồn lợi cá tầng đáy ở biển Quảng Ngãi khá phong phú về giống loài,nhưng trữ lượng thấp, do địa hình thềm lục địa hẹp, dốc và có độ sâu lớn, chonên vùng biển Quảng Ngãi không phải là ngư trường cá tầng đáy lớn trongkhu vực Trữ lượng cá tầng đáy khoảng 26.000 tấn, sản lượng cho phép khaithác trung bình 8.000 tấn, trong đó khả năng khai thác trung bình của tômbiển các loại là 550 tấn, mực các loại là 1.000 tấn Một số loài cá tầng đáy chủyếu thuộc họ cá mối, loài cá phèn, cá trác (trao tráo), cá hanh vàng, cá đù, cá

Trang 38

liệt, cá bánh đường, cá đổng Cá tầng đáy thường phân bố tập trung ở độ sâudưới 50m trong các tháng từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau, ngoài thời giannày cá sống phân tán và chuyển dần ra độ sâu lớn hơn Nhiều loài đặc sảnbiển có giá trị kinh tế như tôm hùm, cua huỳnh đế, các loại ốc biển sinhsống quanh đảo Lý Sơn là những nguồn lợi thủy sản quý hiếm cần phải đượcquy hoạch bảo vệ và khai thác hợp lý

Từ những đặc điểm địa lý, địa hình tự nhiên và nguồn lợi thủy sản nhưtrên, có thể nói rằng Quảng Ngãi có những điều kiện tiềm năng tương đốithuận lợi để phát triển kinh tế thủy sản như: đánh bắt hải sản xa bờ, đòi hỏicông tác quản lý nhà nước phải định hướng hướng dẫn cho hoạt động của cácchủ thể khai thác thủy sản theo hướng hợp pháp, hiệu quả, bền vững thôngqua các biện pháp quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện quy hoạch, kếhoạch, kiểm tra, giám sát và các chính sách hỗ trợ Mặt khác, tính đa dạng vềđặc điểm tự nhiên như: bờ biển khá dài nhưng không có những vùng vịnh kíngió, thềm đáy biển sâu và hẹp, trữ lượng nguồn lợi thủy sản không nhiều, chủyếu là cá nổi cho nên sản lượng và mùa vụ đánh bắt không ổn định… đòi hỏi

để thực hiện quản lý nhà nước có hiệu quả đối với khai thác thủy sản, các cơquan quản lý các cấp cần phải nghiên cứu điều tra đầy đủ, toàn diện về nguồnlợi thủy sản của tình và xây dựng các chính sách phù hợp

2.1.2 Tình hình khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Quảng Ngãi là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, như

đã trình bày ở phần trên, có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển thủy sản,đặc biệt là khai thác thủy sản Trong những năm gần đây, thủy sản QuảngNgãi có tốc độ phát triển khá nhanh Giá trị sản xuất thủy sản hiện nay chiếmkhoảng 35% giá trị sản xuất của nhóm kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp nóichung và đang trở thành ngành kinh tế có thế mạnh, góp phần quan trọngtrong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương [26, tr.3-10]

- Về sản lượng qua các năm:

Trang 39

Sản lượng khai thác thủy sản thời kỳ 2001 - 2010 tăng khá nhanh Tốc

độ tăng tổng sản lượng khai thác hàng năm đạt trung bình 4,02%/năm Sảnlượng tăng nhanh nhất là huyện đảo Lý Sơn, tiếp đến là huyện Sơn Tịnh và TưNghĩa Năm 2010, sản lượng khai thác của tỉnh là 101.942 tấn, cao nhất từ trướctới nay Năm 2010, Đức Phổ là huyện có sản lượng khai thác thủy sản cao nhấttoàn tỉnh, sau đó là Tư Nghĩa và Bình Sơn, thấp nhất là huyện Mộ Đức

Bảng 2.1: Diễn biến sản lượng khai thác các huyện giai đoạn 2001 - 2010

TT Huyện, thị 2001 2005 2010

Tốc độ PTBQ giai đoạn 2001- 2005

Tốc độ PTBQ giai đoạn 2006- 2010

Bảng 2.2: Thành phần sản lượng khai thác giai đoạn 2001 - 2010

Thành phần 2001 2005 2010 Tốc độ PTBQ giai đoạn

2001- 2005

Tốc độ PTBQ giai đoạn 2006- 2010

Trang 40

- Giá trị sản xuất thủy sản:

Trong những năm qua giá trị sản xuất của khai thác thủy sản trên địa bàntỉnh không ngừng tăng lên góp phần thúc đẩy sự phát triển của toàn ngành thủysản Tình hình cụ thể được phản ánh qua các số liệu của bảng 2.3 dưới đây:

Bảng 2.3: Giá trị sản xuất thủy sản theo giá trị so sánh 1994 phân theo

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi (2011), tr.131.

Các số liệu trên cho thấy, mặc dù giá trị sản xuất của khai thác thủysản đều tăng lên hàng năm, nhưng không đều Tốc độ tăng trưởng cao nhấtđạt được vào năm 2010 (10,1%), tốc độ tăng trưởng thấp nhất là 1,62% vàonăm 2007 Sự thiếu ổn định trong tăng trưởng giá trị sản xuất khai thácthủy sản là do điều kiện thời tiết không ổn định, giá cả thủy sản khai tháclên xuống thất thường Tuy nhiên, khai thác thủy sản vẫn chiếm tỉ trọngchủ yếu trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành thủy sản: năm 2006 chiếm79,55%; năm 2007 - 77,19%; năm 2008 - 75,2%; năm 2009 - 72,53%; năm

2010 - 77,3%; năm 2011 - 79,67%

Ngày đăng: 19/07/2022, 01:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (2011), Báo cáo chính trị khóa XVIII, Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị khóaXVIII
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi
Năm: 2011
4. Nguyễn Văn Bon (2008), Kinh tế biển Sóc Trăng, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế biển Sóc Trăng
Tác giả: Nguyễn Văn Bon
Năm: 2008
9. Chi cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi (2007), Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2007, Nxb Thống kê, Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnhQuảng Ngãi năm 2007
Tác giả: Chi cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2007
10. Chi cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi (2011), Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2011, Nxb Thống kê, Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnhQuảng Ngãi năm 2011
Tác giả: Chi cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2011
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
15. Nguyễn Thị Hải Hà (2011), Kinh tế biển Hải Phòng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế biển Hải Phòng trong điều kiện hộinhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thị Hải Hà
Năm: 2011
16. Phạm Hoàng Hải (2011), Quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác kinh tế biển Thành Phố Hải Phòng, Đề cương luận văn tiến sĩ, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước đối với hoạt động khai tháckinh tế biển Thành Phố Hải Phòng
Tác giả: Phạm Hoàng Hải
Năm: 2011
18. Trần Nguyên Khang (2011), Kinh tế biển ở Kiên Giang, Luận án thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế biển ở Kiên Giang
Tác giả: Trần Nguyên Khang
Năm: 2011
26. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (2005), "Địa chí Quảng Ngãi", www.quangngai.gov.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Quảng Ngãi
Tác giả: Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
Năm: 2005
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2007), Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 hội nghị lần 4 BCHTW Đảng khóa X về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 Khác
3. Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Hướng dẫn số 04/HD-BTGTU về công tác tuyên truyền biển, đảo năm 2011 Khác
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011), Dự thảo đề án tổ chức lại khai thác hải sản Khác
6. Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Ngãi (2011), Công văn số 115/KTBVNLTS về việc quản lý tàu cá dưới 20 cv Khác
7. Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Ngãi (2012), Báo cáo số 152/BC-KTBVNLTS về việc triển khai xây dựng tổ ngư dân đoàn kết sản xuất trên biển Khác
8. Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản (2012), Công văn số 190/KTBVNLTS ngày 18 tháng 7 năm 2012 về việc quy định và hướng dẫn việc đánh dấu tàu cá Khác
11. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2005), Nghị định 66/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 của Chính phủ về bảo đảm an toàn cho người và tàu cá hoạt động thủy sản Khác
12. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2005), Nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ Khác
13. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2010), Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 30/3/2010 về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển Khác
17. Hội nghề cá tỉnh Quảng Ngãi (2011), Báo cáo tổng kết hoạt động nhiệm kỳ 2006 - 2010 phương hướng, nhiệm vụ của hội nhiệm kỳ 2011 - 2016 Khác
19. Liên đoàn lao động tỉnh Quảng Ngãi (2011), Kế hoạch số 44/KH-LĐLĐ Tỉnh Quảng Ngãi ngày 20 tháng 7 năm 2011 về việc phối hợp chỉ đạo thành lập nghiệp đoàn nghề cá thí điểm tại huyện Lý Sơn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Giá trị sản xuất thủy sản theo giá trị so sánh 1994 phân theo - Quản lý nhà nước đối với khai thác thủy sản ở tỉnh quảng ngãi
Bảng 2.3 Giá trị sản xuất thủy sản theo giá trị so sánh 1994 phân theo (Trang 40)
Bảng 3.3: Chỉ tiêu về số lượng tàu thuyền theo nhóm cơng suất đến năm - Quản lý nhà nước đối với khai thác thủy sản ở tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.3 Chỉ tiêu về số lượng tàu thuyền theo nhóm cơng suất đến năm (Trang 72)
Bảng 3.4: Chỉ tiêu về số lượng tàu thuyền khai thác thủy sản phân theo các huyện - Quản lý nhà nước đối với khai thác thủy sản ở tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.4 Chỉ tiêu về số lượng tàu thuyền khai thác thủy sản phân theo các huyện (Trang 73)
Bảng 3.5: Chỉ tiêu về số lượng tàu thuyền khai thác thủy sản phân theo - Quản lý nhà nước đối với khai thác thủy sản ở tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.5 Chỉ tiêu về số lượng tàu thuyền khai thác thủy sản phân theo (Trang 73)
Tiếp tục thực hiện tốt công tác quản lý tàu thuyền thơng qua hình thức đăng ký, đăng kiểm, hướng dẫn ngư dân các thủ tục hành chính - Quản lý nhà nước đối với khai thác thủy sản ở tỉnh quảng ngãi
i ếp tục thực hiện tốt công tác quản lý tàu thuyền thơng qua hình thức đăng ký, đăng kiểm, hướng dẫn ngư dân các thủ tục hành chính (Trang 75)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w