Vấn đề tổ chức hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung và cơ quanhành chính nhà nước nói riêng đều phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản:Nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân;
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ ở cơ sở nói chung và phát huy quyền làm chủ của cán bộ, côngchức, viên chức trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở trung ương nóiriêng là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng vàphát triển đất nước, thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhândân và vì nhân dân
Vấn đề tổ chức hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung và cơ quanhành chính nhà nước nói riêng đều phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản:Nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước tậptrung thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát của các cơ quan nhànước với nhau trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp;nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc pháp chế XHCN và nguyên tắc bảođảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, trong nhà nước pháp quyềnXHCN đã đang và sẽ tiếp tục thực hiện cải cách hành chính nhằm nâng caohiệu lực hiệu quả quản lý các lĩnh vực của đời sống nhà nước và đời sống xãhội Một trong những phương thức hoạt động nhằm phát huy dân chủ xâydựng nền hành chính mạnh mẽ và thống nhất, một nền hành chính trong sạchvững mạnh là phát huy dân chủ trong cơ quan hành chính nhà nước
Từ khi Đảng và Nhà nước ban hành chủ trương xây dựng và thực hiệnQuy chế dân chủ ở cơ sở đến nay, việc triển khai thực hiện quy chế đã thuđược nhiều thành tích quan trọng trên tất cả các mặt của đời sống chính trị,kinh tế, văn hoá, xã hội Các quy định của Nhà nước về dân chủ cơ sở và việc
tổ chức Hội nghị Cán bộ Công chức được ban hành đã thực sự phát huy hiệuquả, nâng cao tính dân chủ trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị Việc
Trang 2triển khai xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở thời gian qua chứng
tỏ đây là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, ý Đảng, đáp ứng được nhucầu bức thiết và lợi ích to lớn, trực tiếp của đông đảo quần chúng nhân dânlao động, được nhân dân phấn khởi đón nhận và tích cực thực hiện, qua đó thểhiện tính ưu việt của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa
Quy chế dân chủ trong cơ quan nhà nước nói chung và dân chủ cơ sởtrong cơ quan hành chính nhà nước nói riêng là việc thực hiện dân chủ bằnghình thức trực tiếp của cán bộ, công chức trong cơ quan Nội dung của dânchủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước là làm sao mỗi một cán bộ,công chức, viên chức đều được biết, được bàn, được giám sát mọi chươngtrình nội dung hoạt động của cơ quan mình Đảm bảo dân chủ trong cơ quannhà nước theo cơ chế Đảng lãnh đạo nhà nước quản lý nhân dân làm chủ.Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội mà thành viên của công đoàn là mọicán bộ công chức trong cơ quan nhà nước Theo vị trí, chức năng, nhiệm vụcủa mình (do pháp luật quy định) công đoàn có vai trò quan trọng trong việcbảo đảm thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước
Một trong những nội dung quan trọng thực hiện dân chủ là Hội nghịCán bộ Công chức cơ quan Đây là hình thức dân chủ trực tiếp, là cáchthức, biện pháp thể hiện và phát huy quyền làm chủ trực tiếp của cán bộ,công chức, viên chức nhằm xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch, vữngmạnh; đảm bảo hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn,nghiệp vụ được giao
Tuy nhiên, sau nhiều năm thực hiện, quá trình thực hiện quy chế dânchủ, phát huy quyền làm chủ của công dân, viên chức, lao động ở một số cơquan, đơn vị vẫn chưa có nhiều chuyển biến tích cực do nhận thức chưa đầy
đủ, đúng đắn về thực hiện dân chủ và tổ chức Hội nghị Cán bộ Công chức cơquan, đơn vị trong một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức và người lao
Trang 3động Trước sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường, xu hướng hội nhập
và phát triển cũng như tình hình thực tế của mỗi cơ quan, đơn vị; việc đẩy mạnhthực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và tổ chức Hội nghị Cán bộ Công chức ở các
cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương là việc làm quan trọng và cần thiếttrong giai đoạn hiện nay Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu phải có sự nghiêncứu, tổng kết thực tiễn để có thể rút ra kết luận khách quan về những tồn tại, yếukém của việc triển khai xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, từ đó cónhững giải pháp đúng đắn, thích hợp và hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng vàhiệu quả của công tác này trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề dân chủ và dân chủ cơ sở và vai trò của Đảng và các cơ quannhà nước và vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong bảo đảm dân chủ vàdân chủ cơ sở đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan nghiêncứu cũng như của nhiều nhà khoa học ở các ngành khoa học khác nhau nhưtriết học, xã hội học, chủ nghĩa xã hội khoa học và luật học Các công trìnhkhoa học đã công bố có liên quan đến đề tài này có thể liệt kê những côngtrình chủ yếu sau đây:
- Trần Ngọc Đường và Chu Văn Cấp, Mối quan hệ pháp lý giữa cá nhân công dân với Nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994.
- PGS.TS Đinh Văn Mậu, Quyền lực nhà nước và quyền công dân, Nxb
Tư pháp, Hà Nội, 2003
- PGS.TS Tô Huy Rứa (chủ nhiệm), Mô hình tổ chức và hoạt động của
hệ thống chính trị ở một số nước trên thế giới, Đề tài KX.10.10.
- PGS.TS Nguyễn Đăng Duy, Nhà nước và trách nhiệm nhà nước, Nxb
Tư pháp, Hà Nội, 2006
- GS.TSKH Đào Trí Úc và PGS.TS Phạm Hữu Nghị (đồng chủ biên),
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn
Trang 4hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà
Nội, 2009
- GS.TSKH Đào Trí Úc và PGS.TS Võ Khánh Vinh (đồng chủ biên),
Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003.
- GS.TS Lê Hữu Nghĩa, GS.TS Hoàng Chí Bảo, PGS.TS Bùi Đình Bôn
(đồng chủ biên), Đổi mới mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
- Lê Hồng Quân, Vai trò của công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động và đình công ở tỉnh Hà Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật, năm
2010
- Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam- Dự án quan hệ lao động Việt
Nam –IlO, Công đoàn và quan hệ lao động trong bối cảnh kinh tế thị trường tại Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động Hà Nội, 2011.
Ngoài ra còn có một số công trình của các nhà khoa học chuyên nghiêncứu về công đoàn như đề tài “Thực trạng và những giải pháp đổi mới quan hệgiữa Đảng, Nhà nước với công đoàn Việt Nam” của Tiến sĩ Dương Văn Sao(Hiệu trưởng Trường Đại học Công đoàn); “vai trò của công đoàn trong nền
Trang 5kinh tế trí thức” của PGS Tiến sỹ Nguyễn Viết Vượng (nguyên Hiệu trưởngTrường đại học Công đoàn).
Các công trình nghiên cứu trên và các công trình có liên quan khác màtác giả được biết, cho thấy chưa có công trình nào nghiên cứu về vai trò củacông đoàn trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chínhnhà nước ở Việt Nam hiện nay Đương nhiên các kết quả nghiên cứu của cáccông trình khoa học nêu trên là nguồn tư liệu quý giá để tác giả kế thừa vậndụng trong việc thực hiện luận văn của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về dân chủ - dân chủ cơ sở và vai tròcủa công đoàn cơ sở trong thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan hành chínhnhà nước
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng vai trò của công đoàn trong thực hiệnquy chế dân chủ ở cơ quan hành chính nhà nước Đề ra quan điểm, giải phápnâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ trong cơquan đồng thời nâng cao vai trò của Công đoàn Viên chức Việt Nam trong thựchiện quy chế dân chủ cơ sở trong cơ quan giai đoạn 2012 đến 2020
Về nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên
luận văn có nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, quan điểm của Đảng Cộngsản Việt Nam về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, thực trạngxây dựng và thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan Nhà nước
- Đánh giá kết quả bước đầu quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở, việc tổ chức Hội nghị Cán bộ Công chức trong các cơ quan hành chính sựnghiệp Trung ương từ khi có Chỉ thị 30/CT-TW, Nghị định 71/1998/NĐ-CP;Thông tư liên tịch số 09/1998/TTLT/TCCP-TLĐLĐ và các văn bản liên quan
Trang 6- Đề xuất quan điểm, các giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng và tổchức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan Nhà nước, giải pháp bảo đảm vaitrò của công đoàn trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu chế độ dân chủ và pháp luật dân chủ cơ sở
- Quy chế dân chủ, nội dung của quy chế dân chủ;
- Các yêu tố thành phần của Quy chế dân chủ (bản chất của quy chếdân chủ)
- Chức năng, nhiệm vụ của Công đoàn trong xây dựng và thực hiện quychế dân chủ trong cơ quan
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Công đoàn viên chức các Bộ, Ban, ngành, đoàn thể trung ương trựcthuộc Công đoàn viên chức Việt Nam trong quá trình thực hiện Quy chế dânchủ cơ sở và tổ chức Hội nghị Cán bộ Công chức cơ quan, đơn vị
- Thực trạng vai trò của Công đoàn trong thực hiện quy chế dân chủtrong cơ quan hành chính nhà nước thông qua tình hình tổ chức Hội nghị Cán
bộ công chức ở các cơ quan hành chính, sự nghiệp và hoạt động chỉ đạo thanhtra nhân dân chủ yếu là ở các cơ quan Trung ương
Phạm vi về thời gian: Việc đánh giá thực trạng vai trò của công đoànviên chức trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở từ năm 1998 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Về cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên học thuyết nhà nước và pháp luật của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, về một nhà nước của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân và các quan điểm của Đảng ta về nhà nước pháp luậtXHCN và vấn đề xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Trang 7-5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duyvật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin
Sử dụng các phương pháp lôgíc lịch sử để nghiên cứu chương 1, 2 và 3;
hệ thống cấu trúc hệ thống, quy nạp diễn dịch để nghiên cứu chương 1, 2, 3;phân tích tổng hợp, so sánh nghiên cứu ở chương 2
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Đưa ra những đánh giá khách quan có cơ sở khoa học và lý luận vềtình hình thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở các cơ quan hành chính nhà nước
ở Trung ương
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng Hội nghịCán bộ công chức và những khuyến nghị đối với Đảng, Nhà nước, Tổng Liênđoàn lao động Việt Nam, Công đoàn Viên chức Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung luận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN VỚI
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
1.1 DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ DÂN CHỦ CƠ SỞ NÓI CHUNG DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Những vấn đề chung về dân chủ xã hội chủ nghĩa
Trong việc luận giải về vai trò của công đoàn với thực hiện dân chủ
và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở nói chung và dân chủ trong cơ quanhành chính nhà nước nói riêng cần xem xét dân chủ như những cơ sở lýluận cơ bản Để từ đó mở rộng, cụ thể hóa chế độ dân chủ ở mọi phươngdiện, mọi lĩnh vực và xác định phạm vi dân chủ và thực hiện quyền làmchủ của nhân dân
Trước hết nói về dân chủ là gì? Dân chủ là một phạm trù lịch sử có nộihàm sâu rộng nhưng rất cụ thể Dân chủ theo nghĩa cụ thể dân làm chủ.Nhưng dân chủ với tư cách là một chế độ thì vấn đề dân chủ phải được xemxét trong một xã hội phân chia giai cấp, phát sinh đấu tranh giai cấp và sự rađời tồn tại của Nhà nước Như thế dân chủ là một chế độ chính trị - nhà nước.Theo chữ Hy Lạp "demos" là nhân dân, "kratos" là chính quyền; demos kratos
là chính quyền của nhân dân Theo nghĩa từ tiếng Anh "democracy" là dânchủ" [34, tr.196] và được hiểu là chính thể dân chủ
Chính thể dân chủ nhất là chính thể cộng hòa là quyền lực nhà nướcthuộc về nhân dân, quyền lực ấy do nhân dân ủy thác cho một cơ quan donhân dân bầu ra và hoạt động (có giới hạn) theo nhiệm kỳ Để đạt được mộtchế độ dân chủ - một chính thể dân chủ cộng hòa, loài người đã phải trải qualịch sử đấu tranh đầy "bi tráng" (chữ của Việt Phương); và đến nay dân chủ ở
Trang 9các chế độ nhà nước nói chung và dân chủ XHCN đang còn phải tiếp tục xâydựng và hoàn thiện về mặt lý thuyết cả về mặt thực hành trong thực tế.
Dân chủ là hiện tượng lịch sử - xã hội gắn liền với sự tồn tại và pháttriển của đời sống con người, là xu hướng và khát vọng giải phóng, hướng tới
tự do và làm chủ của con người từ bao đời nay Vấn đề dân chủ chính trị đượcđặt ra với con người, xã hội loài người từ khi xã hội phân chia giai cấp, nhànước xuất hiện Qua mỗi thời đại, mỗi hình thái kinh tế - xã hội, khái niệm
“dân chủ” ngày càng được phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Ở mỗithời đại, dân chủ mang những đặc trưng về hình thức, nội dung, bản chất củathời đại đó Xã hội loài người đã vận động, phát triển trong sự biến thiênkhông ngừng của những tìm kiếm, thể nghiệm, của những cuộc đấu tranhnhằm tạo lập một chế độ chính trị có hiệu quả - chế độ chính trị dân chủ,một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Vấn đề dân chủ đã được C.Mác, F.Ăngghen, V.I.Lênin luận giải trênrất nhiều phương diện khác nhau: bản chất của dân chủ; tính giai cấp của cácloại hình dân chủ gắn với những hình thức nhà nước nhất định trong lịch sử;phân biệt tính chất giữa dân chủ tư sản và dân chủ vô sản; phương thức, conđường bảo đảm có thể xây dựng một nền dân chủ hiện thực
Hồ Chí Minh - nhà lý luận và thực hành dân chủ tiêu biểu của ViệtNam, không chỉ nêu lên hệ thống những quan điểm về vai trò, bản chất củadân chủ mà còn chỉ ra những giải pháp quan trọng nhằm xây dựng một nềndân chủ mới gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giảiphóng con người ở Việt Nam trong thời đại mới Dưới ánh sáng của nhữngquan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tưởng Hồ Chí Minh về dânchủ, kết hợp với những thành tựu của khoa học chính trị đương đại, ở nước tahiện nay, khi nghiên cứu về dân chủ, từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, cácnhà nghiên cứu cũng đã đi đến thống nhất cách hiểu chung: dân chủ là một
Trang 10hình thức tổ chức nhà nước mà quyền lực thuộc về nhân dân Dân chủ đượcthực hiện dưới hai hình thức chủ yếu: dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp
Dân chủ XHCN là dân chủ của đại đa số nhân dân, gắn với côngbằng xã hội, chống áp bức bất công; được thực hiện trong thực tế trên tất
cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, được thể chế hoá bằngpháp luật và được pháp luật bảo đảm Đảng Cộng sản là người lãnh đạotrong nền dân chủ đó
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định: Nhà nước của ta là Nhànước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền bính thuộc về nhân dân, do nhândân nắm giữ Đây là nhà nước kiểu mới khác về bản chất với nhà nướcphong kiến, tư sản nên việc tổ chức, nắm giữ và sử dụng quyền lực là thuộc
về đại đa số nhân dân và do đại đa số nhân dân quyết định Bộ máy Nhànước từ Quốc hội đến Chính phủ do nhân dân bầu ra, được nhân dân uỷthác, thay mặt nhân dân để quản lý và điều hành đất nước theo ý chí và lợiích của đại đa số nhân dân
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân được khẳngđịnh rất rõ ràng bằng một cách nói hết sức mộc mạc, bình dị, đi thẳng vàobản chất vấn đề:
Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân…
Công việc đổi mới xây dựng là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân
Chính quyền từ xa đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra.Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, mọi quyền bính và lực lượng đều ở nơi dân [28, tr.698].Người giải thích, dân chủ có nghĩa là dân là chủ, dân làm chủ Ngườichỉ rõ, dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân Đối với Người, thực hành
Trang 11dân chủ là chìa khóa vạn năng giải quyết mọi khó khăn Vì thế, Ngườikhẳng định: có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cảlực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên Người căn dặn: lãnh đạomột nước mà để cho dân mình lạc hậu, bị thiệt thòi trong hưởng hạnh phúccủa con người cũng là mất dân chủ.
Trong điều kiện của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta xác định: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mụctiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước Xây dựng và từngbước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủđược thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả cáclĩnh vực Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thểchế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm
Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền côngdân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người.Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quyếtđịnh Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân.Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhànước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp,dân chủ đại diện [15, tr.28-29]
Như vậy có thể khẳng định chế độ nhà nước dân chủ đồng thời làmột chế độ dân chủ Trong thực tế luôn xuất hiện các hiện tượng xung độtvới chế độ dân chủ ở những mức độ khác nhau; đặc biệt là sự tha hóa vềchính trị của một bộ phận không nhỏ trong nhà nước Đó là hiện tượng tậptrung quan liêu, lạm quyền, cửa quyền; suy thoái về phẩm chất chính trị,phẩm chất đạo đức, tệ quan liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm trước nhândân Điều kiện bảo đảm cho một nền dân chủ thực sự cần có một chế độnhà nước xã hội chủ nghĩa tương thích với chế độ dân chủ - một Nhà nướccủa nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Với cơ sở kinh tế của chủ nghĩa
Trang 12xã hội phát triển đủ sức triệt tiêu các xung đột về quyền và lợi ích; cơ sởbảo đảm công bằng xã hội Một nhà nước với tư cách là một tổ chức quyềnlực chính trị đặc biệt đủ năng lực bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhândân do Đảng lãnh đạo Đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội phải
là Đảng của giai cấp công nhân, không có lợi ích riêng cho bản thân Đảng;
mà đại biểu cho giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức vànhân dân Việt Nam Đảng khơi nguồn sức mạnh của xã hội, bảo vệ quyền
và lợi ích các giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, nhândân lao động và lợi ích của dân tộc Việt Nam
Thực hành dân chủ là một quá trình đấu tranh, xây dựng và hoànthiện Nhà nước, các thiết chế xã hội và xây dựng con người mới xã hội chủnghĩa Do đó nghiên cứu về dân chủ để thực hành dân chủ nói chung vàthực hiện dân chủ trong cơ quan nhà nước nói riêng cần nắm vững và giảiquyết các vấn đề đặt ra một cách có hệ thống và toàn diện
Trước hết cần thấy rằng, bất cứ chế độ nhà nước nào muốn trường
tồn thì đều phải đáp ứng ngày càng cao nhu cầu dân chủ của nhân dân Chế
độ nhà nước là thước đo của dân chủ
Thứ hai là bất cứ chế độ dân chủ nào giá trị dân chủ đều phải thông qua
việc tổ chức và hoạt động của Nhà nước Vì vậy, Nhà nước là hình thức tổchức thực hiện dân chủ Dân chủ phải là thuộc tính của nhà nước Mất đithuộc tính này nhà nước không thể tồn tại vì sẽ bị nhân dân phế truất
Thứ ba, dân chủ là một hệ giá trị xã hội; là sản phẩm, kết quả của đấu
tranh giải phóng khỏi áp bức, nô dịch vươn lên vị thế làm chủ với nhữngquyền tự do xứng đáng với con người Quyền tự do của mỗi người được giớihạn với quyền tự do của người khác Đó là sự bình đẳng giữa người với người
về quyền con người, quyền công dân
Thứ tư, dân chủ là điều kiện căn bản để hình thành nhân cách con
người trong các mối quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Đặc biệt dân
Trang 13chủ là điều kiện quy định nhân cách của người cán bộ công chức những ngườinhân danh công quyền trong quan hệ với công dân Cán bộ công chức là côngbộc đầy tớ của dân không có nghĩa là họ bị hạ thấp nhân cách, mà chính là tônvinh họ vì họ là người có sứ mệnh nặng nề nhưng vẻ vang là phụng sự giaicấp, phục vụ nhân dân, phụng sự dân tộc.
Thứ năm, dân chủ chỉ trở thành hiện thực khi nó được bảo đảm bằng lợi ích
kinh tế Dân chủ phải được biểu hiện tập trung ở kinh tế Các nhà kinh điển củachủ nghĩa Mác - Lênin đã từng nói đại ý là "Tư tưởng một khi tách rời khỏi lợiích, tự nó làm nhục nó" Dân chủ không chỉ là ý tưởng, lý tưởng cao siêu mà dânchủ còn là cơm ăn áo mặc, học hành "Nước có độc lập dân tộc tự do nhưng đồngbào không có cơm ăn áo mặc thì độc lập tự do ấy có ý nghĩa gì" (Hồ Chí Minh)
Thứ sáu, dân chủ là nhân dân làm chủ là quyền làm chủ của người dân.
Nói đến quyền làm chủ của người dân trong xã hội hiện đại là nói đến quyềncon người, quyền công dân Vì vậy dân chủ có mối quan hệ nội tại và thốngnhất với pháp luật Pháp luật với tư cách là hình thức biểu hiện nội dung củadân chủ Pháp luật còn đóng vai trò là công cụ, phương tiện quản lý của nhànước đối với xã hội Đồng thời pháp luật còn là công cụ, phương tiện thừanhận và bảo vệ quyền làm chủ nhân dân Pháp luật như thế có thể coi là môitrường pháp lý, khuôn khổ pháp lý hay còn được coi là hành lang vận độngphát triển của dân chủ Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhândân, do nhân dân và vì nhân dân pháp luật phải là pháp quyền và tinh thầnthượng tôn pháp luật là biểu hiện của nền văn minh
1.1.2 Dân chủ cơ sở ở trong cơ quan nhà nước nói chung và trong
cơ quan hành chính nhà nước nói riêng
1.1.2.1 Quan niệm cơ sở và dân chủ cơ sở
Dân chủ cơ sở là gì? Trước hết cần hiểu cơ sở là thành tố, là đơn vị nhỏnhất trong cấu trúc của một hệ thống các sự vật hiện tượng Về ngôn ngữ "cơsở" là khái niệm được hiểu là:
Trang 141 Cái làm nền tảng để dựa vào đó hay từ đó mà phát triển: thực tiễn
là cơ sở của nhận thức 2 Người, tổ chức hoặc cái được coi là chỗdựa hoặc làm bằng cứ cho hoạt động nói năng và các hoạt độngkhác: kết luận không có cơ sở Gia đình cơ sở cách mạng 3 Đơn vịcấp dưới trực tiếp thực hiện nhiệm vụ, công việc: lắng nghe ý kiến
từ cơ sở; chọn từ cơ sở đưa lên, cán bộ cơ sở [54, tr.466]
Theo nghĩa hẹp của từ này về phương diện xã hội có thể cho rằng conngười với tư cách là cá nhân (thể nhân) là cơ sở của xã hội loài người Theonghĩa rộng cơ sở là các tổ chức, cơ quan trực tiếp với các cá nhân công dânhoặc thành viên của mình trong trực tiếp thực hiện nhiệm vụ Đó là các tổchức thiết chế cuối cùng nhỏ nhất của các tổ chức, cơ quan trong hệ thốngchính trị và trong hệ thống cơ quan nhà nước có tư cách pháp nhân Cơ quanhành chính nhà nước cơ sở (kể cả các cơ quan hành chính sự nghiệp) là các cơquan nhỏ nhất của hệ thống cơ quan hành chính, sự nghiệp có tên gọi, có condấu riêng, có tư cách pháp lý độc lập (tương đối) trong thực hiện chức năngnhiệm vụ và quản lý tài sản, tài chính nhà nước giao cho Tư cách pháp nhâncủa các cơ quan hành chính cơ sở được quy định theo 4 điều kiện mà Luậtdân sự quy định
Theo Thông tư số 10/TCCP-TCBC, ngày 05 tháng 12 năm 1998 củaBan Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ): Cơ quan hành chínhNhà nước được quy định tại Điều 1 của Nghị định 71/1998/NĐ-CP là cơquan trong hệ thống hành chính nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩmquyền quyết định thành lập, thực hiện chức năng quản lý hành chính nhànước theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, có dấu riêng từTrung ương đến huyện, như:
- Ở Trung ương là các bộ, tổng cục, các cơ quan quản lý hành chínhnhà nước trực thuộc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các tổng cục, cục
Trang 15trực thuộc bộ (Bộ Tài chính, Tổng cục Địa chính, Bộ Y tế, Cục quản lýDược trực thuộc Bộ Y tế, )
- Ở cấp tỉnh là văn phòng ủy ban nhân dân, các sở, ngành trựcthuộc ủy ban nhân dân (Sở Y tế, Sở Tài chính, Sở Công nghiệp, )
- Ở cấp huyện là văn phòng ủy ban nhân dân, các phòng trực thuộc
ủy ban nhân dân như phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, phòng Tàichính, (nếu các phòng này có dấu, có tư cách pháp nhân)
- Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước
Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước là người được cơ quannhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm đứng đầu các cơ quan hành chính nhànước nêu tại điểm 2 trên đây
- Thủ trưởng trực tiếp
Thủ trưởng trực tiếp được quy định tại Điều 7 của Nghị định71/1998/NĐ-CP là người đứng đầu phụ trách một bộ phận trong cơ quan(bộ phận này không phải là cơ quan hành chính nhà nước như nêu tại điểm
2 trên đây) được giao quản lý công việc, trực tiếp sử dụng, điều hành cán bộ,công chức trong bộ phận đó và được đánh giá, nhận xét cán bộ công chứctrong bộ phận đó như: vụ trưởng, trưởng phòng trong vụ, cục, trong sở,…
1.1.2.2 Nội dung quy chế dân chủ trong cơ quan hành chính nhà nước
Trang 16chủ trực tiếp thể hiện quyền làm chủ của nhân dân đã được quy định trongcác Hiến pháp, luật, pháp lệnh và trong quy chế dân chủ cơ sở
Trong Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và năm 1992 cho thấy,quyền làm chủ trực tiếp là quyền công dân rất cơ bản Điều 32 Hiến phápnăm 1946 quy định những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ranhân dân phúc quyết, nếu 2/3 tổng số nghị viện đồng ý, cách thức phúcquyết sẽ do luật định Tại điều 70 Hiến pháp này quy định: Sửa đổi Hiếnpháp phải theo cách thức sau đây:
a Do hai phần ba tổng số nghị viện yêu cầu
b Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi
c Những điều thay đổi khi đã được nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa
ra toàn dân phúc quyết"
Điều 53, Khoản 5 Hiến pháp năm 1959 quy định: quyết định việctrưng cầu ý kiến nhân dân
Điều 53 Hiến pháp năm 1992: "Công dân có quyền tham gia quản lýnhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước vàđịa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước tổchức trưng cầu ý dân" Theo quan niệm này quyền bầu cử, quyền giám sát,khiếu nại, tố cáo là quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân
Quan niệm thứ hai cho rằng: dân chủ cơ sở phải được hiểu theo cảnghĩa rộng và nghĩa hẹp, và mối quan hệ giữa tầng dân chủ cấp vĩ mô vàdân chủ tầng vi mô
Dân chủ cơ sở là nói dân chủ cho người dân ở ngay đơn vị nhỏ nhất
-tế bào của xã hội Dân chủ cơ sở là hình ảnh tập trung của dân chủ vĩ mô.Chính quyền cấp xã bao gồm (xã, phường, thị trấn) ở nước ta khoảng10.500 đơn vị: cấp xã được coi là cơ sở nền tảng của nền hành chính Cấp
xã là địa chỉ quan trọng nhất để thực hiện đường lối chủ trương của Đảng,
Trang 17pháp luật của Nhà nước Các cơ quan nhà nước cũng vậy ở đó mới là nơixuất hiện tính sáng tạo, tài năng và sức mạnh tập thể Nếu phát huy đượcdân chủ tại cơ sở, mọi thành viên đều được biết, được bàn, được kiểm tragiám sát thì mọi việc đều trôi chảy Dân chủ như vậy vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của sự phát triển xã hội Dân chủ cơ sở được thực hiện mang ýnghĩa thực tiễn to lớn Nó là thước đo trình độ phát triển của nền dân chủ.Dân chủ cơ sở là tầng sâu nhất của nền dân chủ như thế Nhà nước mới thật
sự là của dân, do dân, vì dân
Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị đã được thể chế hóa thành các văn bảncủa Nhà nước Đặc biệt, Chính phủ đã cụ thể hóa bằng các nghị định áp dụngcho từng lĩnh vực cụ thể Đối với hoạt động của các cơ quan, quy chế dân chủ
cơ sở thể hiện trong Nghị định 71/1998/NĐ-CP ngày 08-09-1998 của Chính
phủ về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan
(sau đây gọi tắt là Nghị định 71 của Chính phủ) Quy chế dân chủ ban hànhkèm theo Nghị định trên gồm 4 chương, 36 điều với nội dung cơ bản sau:
1 Về người đứng đầu cơ quan
- Thủ trưởng cơ quan quản lý và điều hành hoạt động của cơ quantheo chế độ Thủ trưởng, chịu trách nhiệm trước pháp luật và cấp trên vềtoàn bộ hoạt động của cơ quan và về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ củacán bộ, công chức thuộc quyền theo quy định của pháp luật Tại cuộc họpgiao ban định kỳ, Thủ trưởng cơ quan đánh gía việc thực hiện công việcthời gian qua, lắng nghe đóng góp của cán bộ, công chức và định ra nhữngcông việc chủ yếu phải giải quyết trong thời gian tới của cơ quan Hàngtháng, Thủ trưởng cơ quan phải xem xét việc thực hiện các nghị quyết củaĐảng, nhiệm vụ của cơ quan Ít nhất 6 tháng một lần, Thủ trưởng cơ quan
có trách nhiệm đánh giá công tác của cơ quan và các bộ phận trong cơquan, chỉ rõ và đề ra các giải pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của cán
Trang 18bộ, công chức, khắc phục tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễudân và những yếu kém trong việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch, pháp luật,chính sách, chế độ, nội quy, quy chế của cơ quan Thủ trưởng cơ quan phải
tổ chức đánh giá tổng kết hoạt động của cơ quan
- Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm quản lý cán bộ, công chức
thuộc cơ quan về các mặt tư tưởng, phẩm chất đạo đức, sử dụng, đào tạo,thực hiện chính sách để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất,năng lực Theo phân cấp quản lý cán bộ, công chức, định kỳ hàng năm Thủtrưởng cơ quan thực hiện việc đánh giá đối với cán bộ, công chức thuộcquyền quản lý và chỉ đạo người phụ trách các bộ phận trong cơ quan đánhgiá đối với cán bộ, công chức do mình phụ trách
- Thủ trưởng cơ quan phải lắng nghe ý kiến, phản ánh, phê bình củacán bộ, công chức và không được có hành vi trù dập đối với cán bộ, côngchức đã góp ý, phê bình mình Khi cán bộ, công chức đề nghị được gặp thìThủ trưởng cơ quan gặp và trao đổi các vấn đề có liên quan
- Thủ trưởng cơ quan chịu trách nhiệm về việc sử dụng có hiệu quảtài sản của cơ quan, tiết kiệm kinh phí được cấp; thực hiện các quy định vềcông khai tài chính Việc mua thiết bị, phương tiện và các tài sản khác màphải đấu thầu thì phải được thực hiện theo quy định về đấu thầu Việc phân
bổ chỉ tiêu có liên quan đến tài chính, biên chế và giải quyết cấp kinh phí
bổ sung cho các cơ quan, tổ chức hữu quan phải thông qua tập thể lãnh đạo
cơ quan và theo quy định của pháp luật
- Thủ trưởng cơ quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hành vitham nhũng, xử lý và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử
lý người có hành vi tham nhũng; nếu thiếu trách nhiệm để xảy ra thamnhũng trong cơ quan mình thì bị xử lý theo quy định của pháp luật
Trang 19- Thủ trưởng cơ quan phối hợp với Công đoàn cơ quan tổ chức hộinghị cán bộ, công chức cơ quan mỗi năm một lần vào cuối năm Hội nghịcán bộ, công chức cơ quan bao gồm toàn thể hoặc đại biểu cán bộ, côngchức cơ quan Khi có 2/3 cán bộ, công chức hoặc Ban Chấp hành Côngđoàn cơ quan yêu cầu hoặc Thủ trưởng cơ quan thấy cần thiết thì triệu tậphội nghị cán bộ, công chức cơ quan bất thường.
2 Đối với mỗi cán bộ, công chức trong cơ quan
- Cán bộ, công chức phải thực hiện nghĩa vụ của cán bộ, công chức
và không được làm những việc đã bị cấm theo quy định của Pháp lệnh cán
bộ, công chức Cán bộ, công chức chịu trách nhiệm trước pháp luật, trướcthủ trưởng cơ quan về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của mình; có nếpsống lành mạnh, trung thực, cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư
- Trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ, cán bộ, công chức phải
phục tùng sự chỉ đạo và hướng dẫn của cấp trên Cán bộ, công chức cóquyền trình bày ý kiến, đề xuất việc giải quyết những vấn đề thuộc phạm vitrách nhiệm của mình khác với ý kiến của người phụ trách trực tiếp, nhưngvẫn phải chấp hành sự chỉ đạo của người phụ trách trực tiếp, đồng thời cóquyền bảo lưu ý kiến và báo cáo lên cấp trên
- Cán bộ, công chức phải tự phê bình nghiêm túc, phát huy ưu điểm,sửa chữa khuyết điểm để không ngừng tiến bộ, phải thẳng thắn phê bình, đấutranh để xây dựng nội bộ cơ quan trong sạch, vững mạnh, kể cả góp ý kiến,phê bình Thủ trưởng cơ quan; khi được yêu cầu, cán bộ, công chức có tráchnhiệm đóng góp ý kiến vào việc xây dựng các văn bản, các đề án của cơ quan
- Những việc phải công khai cho cán bộ, công chức biết :
+ Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến côngviệc của cơ quan;
+ Kế hoạch công tác hàng năm, hàng quý của cơ quan;
Trang 20+ Kinh phí hoạt động hàng năm, bao gồm các nguồn kinh phí dongân sách cấp và các nguồn tài chính khác và quyết toán kinh phí hàngnăm của cơ quan;
+ Tuyển dụng, khen thưởng, kỷ luật, nâng bậc lương, nâng ngạch và
đề bạt cán bộ, công chức;
+ Các vụ việc tiêu cực, tham nhũng trong cơ quan đã được kết luận; + Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ cơ quan;
+ Nội quy, quy chế cơ quan
- Những việc cán bộ, công chức tham gia ý kiến trực tiếp hoặc thôngqua đại điện trước khi Thủ trưởng cơ quan quyết định gồm có :
+ Chủ trương, giải pháp thực hiện nghị quyết của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước liên quan đến công việc của cơ quan;
+ Kế hoạch công tác hàng năm của cơ quan;
+ Tổ chức phong trào thi đua;
+ Báo cáo sơ kết, tổng kết của cơ quan;
+ Các biện pháp cải tiến tổ chức và lề lối làm việc, thực hành tiết kiệm,chống lãng phí, chống tham nhũng, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu dân;
+ Kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; đề bạtcán bộ, công chức trong cơ quan theo quy định;
+ Thực hiện các chế độ, chính sách liên quan đến quyền và lợi íchcủa cán bộ, công chức;
+ Nội quy, quy chế cơ quan
- Những việc cán bộ, công chức giám sát, kiểm tra gồm có :
+ Thực hiện chủ trưởng, chính sách của Đảng và Nhà nước, kếhoạch công tác hàng năm của cơ quan;
+ Sử dụng kinh phí hoạt động, chấp hành chính sách, chế độ quản lý
và sử dụng tài sản của cơ quan;
+ Thực hiện nội quy, quy chế cơ quan;
Trang 21+ Thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nước về quyền và lợiích của cán bộ, công chức cơ quan;
+ Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ cơ quan
3 Quan hệ với các công dân, cơ quan, tổ chức
- Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo và kiểm traviệc niêm yết công khai tại công sở để công dân, cơ quan, tổ chức Thủtrưởng cơ quan chỉ đạo và kiểm tra cán bộ, công chức trong việc giải quyếtcông việc của công dân, tổ chức; kịp thời có những biện pháp xử lý thíchhợp theo quy định của pháp luật đối với những cán bộ, công chức khônghoàn thành nhiệm vụ, công vụ, thiếu trách nhiệm, sách nhiễu, gây phiền hà,tham nhũng trong việc giải quyết công việc của công dân, tổ chức
- Khi công dân, tổ chức có yêu cầu, cán bộ, công chức có trách
nhiệm giải quyết các yêu cầu đó theo thẩm quyền Những việc không thuộcthẩm quyền giải quyết, cán bộ, công chức phải thông báo để công dân, tổchức biết Cán bộ, công chức không được quan liêu, hách dịch, cửa quyền,gây khó khăn, phiền hà trong giải quyết công việc của công dân, tổ chức.Công việc của công dân, tổ chức phải được cán bộ, công chức nghiên cứu
xử lý và giải quyết một cách nhanh nhất, thuận tiện nhất và theo đúng quyđịnh của pháp luật Những công việc đã có thời hạn giải quyết theo quyđịnh thì cán bộ, công chức phải chấp hành đúng thời hạn đó Trường hợpđòi hỏi phải có thời gian để nghiên cứu giải quyết thì cán bộ, công chức cótrách nhiệm thông báo kịp thời cho công dân, tổ chức biết
- Cán bộ, công chức có trách nhiệm bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mậtcông tác và bí mật nội dung đơn thư khiếu nại, tổ cáo của công dân, tổ chứctheo quy định của pháp luật
- Thủ trưởng cơ quan chỉ đạo việc bố trí nơi tiếp dân, thực hiện việctiếp dân và tổ chức hòm thư góp ý Hàng tuần, người phụ trách công táchành chính của cơ quan cùng đại diện Ban Thanh tra nhân dân của cơ quan
Trang 22mở hòm thư, nghiên cứu ý kiến được gửi đến và báo cáo thủ trưởng cơquan Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu và đề ra những biệnpháp hợp lý nhằm tiếp thu và giải quyết các ý kiến góp ý Đối với nhữngchương trình, dự án do cơ quan xây dựng hoặc tổ chức thực hiện có liênquan mật thiết đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nào thì Thủtrưởng cơ quan có trách nhiệm thông báo để công dân, tổ chức địa phương
đó biết, tham gia đóng góp ý kiến
Những kiến nghị, phản ánh, phê bình của công dân, tổ chức phảiđược nghiên cứu và xử lý kịp thời
- Cơ quan có quyền phản ánh những vướng mắc, khó khăn trong qúa
trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình; kiến nghị lên cơ quan cấptrên những vấn đề không phù hợp, cần sửa đổi, bổ sung trong các chế độ,chính sách, các quy định của pháp luật và trong chỉ đạo, điều hành của cơquan cấp trên Cơ quan được quyền tham gia đóng góp ý kiến, phê bình đốivới cơ quan cấp trên Khi được yêu cầu, cơ quan có trách nhiệm nghiêncứu, tham gia ý kiến vào các dự thảo về chế độ, chính sách, văn bản quyphạm pháp luật do cơ quan cấp trên gửi đến
- Cơ quan có trách nhiệm báo cáo tình hình công tác lên cơ quan cấptrên theo quy định; đối với những vấn đề nảy sinh vượt quá khả năng giảiquyết thì phải báo cáo kịp thời với cơ quan cấp trên để xin ý kiến chỉ đạo
- Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm chỉ đạo, huớng dẫn và kiểm trahoạt động của cơ quan cấp dưới và chịu trách nhiệm về những sai lầm,khuyết điểm của cơ quan cấp dưới nếu những sai lầm, khuyết điểm đó cónguyên nhân từ sự chỉ đạo, hướng dẫn của mình Thủ trưởng cơ quan cótrách nhiệm nghiên cứu, giải quyết kịp thời các yêu cầu, kiến nghị của cơquan cấp dưới Phải tham khảo ý kiến của cơ quan cấp dưới trong việc xâydựng chế độ, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan…
Trang 23Điều 2 của Nghị định nêu rõ: Trên cơ sở Quy chế này, Bộ trưởng,Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, saukhi thoả thuận với Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ,chịu trách nhiệm ban hành và hướng dẫn thực hiện Quy chế thực hiện dânchủ trong hoạt động của cơ quan sự nghiệp thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực
do mình phụ trách
Từ việc hệ thống hoá và phân tích trên đây, chúng ta có thể khẳng định:Dân chủ là sản phẩm của sự phát triển của lịch sử xã hội loài người Lịch sửcủa quá trình thực hiện dân chủ đã khẳng định tính giai cấp, tính nhân dân vànhững giá trị chung có tính nhân loại kết tinh trong khái niệm dân chủ Dânchủ XHCN là nền dân chủ có tính ưu việt so với tất cả các nền dân chủ từtrước đến nay Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là hết sức quý báu, dẫn lốicho Đảng và Nhà nước ta đưa ra những chủ trương đúng đắn, kịp thời chomột giải pháp mang tầm chiến lược để thực hiện có hiệu quả yêu cầu dân chủtrong đời sống xã hội Chủ trương xây dựng và thực hiện QCDCCS của Đảng
và việc thể chế hoá kịp thời của Nhà nước là giải pháp hữu hiệu thực hiệnphát huy quyền làm chủ của nhân dân trong cơ chế tổng thể của hệ thốngchính trị “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”
1.2 VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN VỚI THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.2.1 Khái niệm về vai trò của Công đoàntrong hệ thống chính trị Việt Nam
Về khái niệm vai trò của công đoàn trong thực hiện dân chủ XHCNcần được tiếp cận từ khái niệm về vai trò của cá nhân, của tổ chức, cơ quantrong lịch sử loài người, trong đời sống xã hội cũng như tương lai của sựphát triển Vai trò là một danh từ được hiểu là: "Chức năng tác dụng củacái gì hoặc của ai trong sự vận động, phát triển của nhóm, tập thể nói
Trang 24chung: Vai trò của các tổ chức quần chúng, tỏ rõ vai trò của mình, có vaitrò quyết định, đóng vai trò quan trọng" [54, tr.1788].
Như vậy, có thể hiểu vai trò của công đoàn với thực hiện dân chủXHCN trong hệ thống chính trị Chính trị được hiểu là mối quan hệ giữacác giai cấp với nhau, giữa các giai tầng xã hội với nhau, giữa các dân tộc,quốc gia với nhau về việc bảo vệ lợi ích cho giai cấp nào, nhóm, giai tầng
xã hội nào? và lợi ích dân tộc và lợi ích quốc gia trong đời sống xã hội vàđời sống quốc tế Trong hệ thống chính trị ở nước ta bao gồm: Đảng Cộngsản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Nông dân ViệtNam, Liên hiệp Hội phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiếnbinh Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam là bộ tham mưu của giai cấp công nhân,đồng thời là bộ tham mưu của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam.Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bảo vệ quyền, lợi ích của giai cấp côngnhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức và nhân dân lao động Phươngtiện để Đảng bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân bằng cương lĩnh,chiến lược, bằng các định hướng và chủ trương lớn và bằng công tác thốngnhất quản lý cán bộ, bằng việc tăng cường kiểm tra giám sát Tổ chức hoạtđộng của công đoàn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Vậy vai trò của côngđoàn đang đặt ra nghiên cứu và đánh giá trong thực tế
Nhà nước nói chung là một tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt cóchức năng chuyên chính giai cấp và chức năng tổ chức quản lý xã hội pháttriển và quản lý quá trình phát triển của xã hội Nhà nước ta là nhà nướcpháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Đó là bảnchất dân chủ của nhà nước ta Nhà nước của nhân dân được hiểu là nhândân với tư cách cử tri lựa chọn bầu những người xứng đáng làm đại biểu
Trang 25cho mình, làm đại diện cho mình về ý chí và quyền lợi cho mình Nhân dânđược tự do ứng cử, và bầu cử theo phương thức phổ thông đầu phiếu vàkín Nhà nước của nhân dân điều quan trọng bậc nhất là nhân dân traoquyền (ủy quyền) của mình cho nhà nước thực hiện các quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp Nhà nước còn hạn chế quyền lực nhà nước Nhândân là người cung cấp tài chính, tài sản công cho nhà nước hoạt động Nhànước do nhân dân được hiểu là nhân dân giám sát kiểm tra hoạt động củanhà nước; đánh giá phản biện hoạt động của cơ quan nhà nước và hành vihoạt động của cán bộ công chức nhà nước Nhà nước vì nhân dân phải làmột nhà nước "công bộc đầy tớ" của nhân dân Cho nên Nhà nước khôngđược làm gì có hại đến nhân dân, việc gì có lợi cho nhân dân nhà nước phảilàm, phải tích cực làm.
Về Công đoàn: Theo quy định tại Điều 10, Hiến pháp 1992, vị trí, vai
trò của công đoàn được xác định như sau:
Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và củangười lao động, cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hộichăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và nhữngngười lao động khác; tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia kiểmtra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục cán
bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc
Trong lịch sử lập hiến nước ta, vai trò của công đoàn được quy địnhtrong các bản Hiến pháp có sự khác nhau Trong Hiến pháp 1946, chưa cóquy định cụ thể về vai trò của công đoàn hay bất kỳ một tổ chức chính trị -
xã hội nào, mặc dù vào thời điểm đó vai trò của Mặt trận Việt Minh là rấtlớn và phong trào của các hội như Công nhân cứu quốc hội, Nông dân cứuquốc hội, Thanh niên cứu quốc hội cũng rất sôi nổi, tạo sức mạnh rất lớn
Trang 26cho Cách mạng Điều 10 Hiến pháp 1946 quy định: Công dân Việt Nam cóquyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp v.v
Hiến pháp 1959 cũng không quy định cụ thể về Mặt trận Dân tộcthống nhất, cũng như các tổ chức đoàn thể khác Tuy nhiên, vai trò củacông đoàn đã được ghi nhận trong Điều 10, Hiến pháp 1959 như sau: "Nhànước dựa vào các cơ quan nhà nước, tổ chức công đoàn, hợp tác xã và các
tổ chức khác của nhân dân lao động để xây dựng và thực hiện kế hoạchkinh tế" Thời điểm này đã có Luật Công đoàn năm 1957 là đạo luật riêng
về công đoàn, cũng là đạo luật đầu tiên ở nước ta quy định về một tổ chứcchính trị - xã hội, đã ghi nhận vai trò đặc biệt quan trọng của công đoàntrong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hiến pháp 1980 đã có một điều riêng quy định về vị trí, vai trò, chứcnăng của công đoàn Điều 10, Hiến pháp 1980 quy định:
Tổng Công đoàn Việt Nam là tổ chức quần chúng rộng lớn của giaicấp công nhân Việt Nam, là trường học chủ nghĩa cộng sản, trường họcquản lý kinh tế, quản lý nhà nước Trong phạm vi chức năng của mình,công đoàn tham gia công việc nhà nước và kiểm tra hoạt động của cơ quannhà nước, tham gia quản lý xí nghiệp; giáo dục công nhân, viên chức; tổchức phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa; cùng với cơ quan nhà nước chăm
lo đời sống và bảo đảm quyền lợi của công nhân, viên chức
Trong thời gian này, do ảnh hưởng của "thuyết trường học" của Liên
Xô và Trung Quốc, chúng ta đã đặt công đoàn lên một vị trí quá cao trong
hệ thống chính trị, thậm chí đến mức trừu tượng, khó xác định Một sốchức năng quy định khó khả thi, trong khi chức năng đặc thù nhất của côngđoàn là chăm lo đời sống và bảo đảm quyền lợi của công nhân, viên chứclại được đặt sau cùng Hiến pháp 1980 cũng quy định cho công đoàn rấtnhiều quyền: quyền trình dự án luật trước Quốc hội (Điều 86), quyền tham
Trang 27dự Hội nghị Hội đồng Bộ trưởng (Điều 106), Nhà nước phối hợp với côngđoàn và các đoàn thể nhân dân khác, kết hợp giáo dục chính trị, đề cao kỷluật lao động với khuyến khích bằng lợi ích vật chất để đẩy mạnh phongtrào thi đua xã hội chủ nghĩa (Điều 32).
Đến Hiến pháp 1992, vị trí, vai trò của công đoàn đã được xác địnhmột cách cụ thể, sát thực hơn Công đoàn được xác định là một tổ chứcchính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động Điều đó cónghĩa là công đoàn vừa có tính chính trị vừa có tính xã hội
Về tính chính trị của công đoàn thể hiện:
- Công đoàn Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, thựchiện một số nhiệm vụ chính trị do Đảng giao cho Công đoàn là tổ chức đạidiện của giai cấp công nhân và của người lao động Đảng Cộng sản mangbản chất giai cấp công nhân, trong số những đảng viên của Đảng có nhữngngười công nhân ưu tú nhất Do vậy, công đoàn có vai trò là cánh tay phảicủa Đảng, là cầu nối đưa chủ trương, chính sách của Đảng đến với giai cấpcông nhân và người lao động Hồ Chí Minh đã nói rằng: "Giai cấp côngnhân mà không có Đảng lãnh đạo thì không làm cách mạng được, Đảng màkhông có giai cấp công nhân cũng không làm được gì" Ở xã hội tư bản,một Đảng muốn giành được càng nhiều quyền lực chính trị về tay mình baogiờ cũng tìm cách lôi kéo các tổ chức, đoàn thể xã hội Do vậy, về thựcchất thường không có một tổ chức đoàn thể nào hoạt động độc lập một cáchtuyệt đối mà thường đứng sau nó có một lực lượng chính trị, một đảng pháinào đó
- Kể từ khi ra đời đến nay phần lớn thời gian hoạt động của côngđoàn là đấu tranh chính trị, đấu tranh giải phóng dân tộc Trong tất cả cácgiai đoạn phát triển của công đoàn, đấu tranh kinh tế bao giờ cũng phụctùng nhiệm vụ chính trị; đấu tranh cho dân sinh - dân chủ nằm trong và
Trang 28phục tùng mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc, vì độc lập dân tộc Ngaytên gọi của công đoàn qua các thời kỳ đã thể hiện sự ưu tiên đấu tranhchính trị và quy luật đấu tranh chính trị như Công hội Đỏ (1929-1934), HộiCông nhân phản đế (1935-1939), Hội Công nhân cứu quốc (1941-1946),Hội Lao động giải phóng và sau này là Liên hiệp công đoàn giải phóngmiền Nam Việt Nam (1961-1976).
- Một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức hoạt động của Côngđoàn Việt Nam là nguyên tắc tập trung dân chủ Nguyên tắc này cũng lànguyên tắc chung trong tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam
Về tính xã hội của công đoàn thể hiện:
- Công đoàn là tổ chức tự nguyện liên kết của những người lao động
vì nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích tương đồng của họ
- Chức năng hàng đầu của công đoàn là bảo vệ quyền lợi hợp pháp,chính đáng của giai cấp công nhân và người lao động
- Mục tiêu hoạt động của công đoàn là để phục vụ lợi ích giai cấpcông nhân và những người lao động, đồng thời cũng vì lợi ích chung củatoàn xã hội, làm cân bằng và hài hòa các lợi ích: lợi ích của người laođộng, lợi ích của NSDLĐ (giới chủ) và lợi ích của Nhà nước
Tính chính trị cũng như tính xã hội của công đoàn được đặt ra, mức
độ đậm nhạt khác nhau tùy từng giai đoạn lịch sử Nếu như trước đây, cả
hệ thống chính trị nói chung đều đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giảiphóng giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội lên trên hết, tức là tính chính trịđược đề cao thì trong điều kiện hội nhập kinh tế và xây dựng Nhà nướcpháp quyền hiện nay, tính xã hội của Nhà nước cũng như của các thiết chếkhác trong hệ thống chính trị lại được chú trọng, nhất là trong xu thế xâydựng và mở rộng xã hội dân sự
Trang 291.2.2 Mối quan hệ giữa công đoàn với các tổ chức chính trị, xã hội khác trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước
Đối với Đảng: Công đoàn chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam, là chỗ dự vững chắc và là sợi dây nối liền quần chúng với Đảng.Đảng thông qua tổ chức công đoàn để liên hệ mật thiết với giai cấp côngnhân, giúp được công đoàn trong việc đại diện và bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của giai cấp công nhân và người lao động
Đảng lãnh đạo Công đoàn là tất yếu khách quan, bởi Đảng Cộng sản
là tổ chức chính trị cao nhất, là đội tiên phong, là lãnh tụ chính trị của giaicấp công nhân Đảng thông qua Công đoàn để đưa chủ trương, mục tiêu hộinhập kinh tế của Đảng vào công nhân, viên chức và người lao động, độngviên họ tích cực tham gia và quá trình này Công đoàn thực hiện sự lãnhđạo của Đảng, phát huy vai trò trường học của mình, tham gia quản lý kinh
tế, quản lý nhà nước, quản lý xã hội, thuyết phục quần chúng phát huy tínhchủ động, phát huy sáng tạo trong công cuộc xây dựng xã hội mới, thựchiện mục tiêu chính trị của Đảng Trong quá trình hội nhập, nguồn nội lực
có thể được phát huy và đạt hiệu quả cao khi đông đảo quần chúng nhândân tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, Nhà nước Công đoàn đại diện chongười lao động, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người laođộng, động viên người lao động tích cực tham gia xây dựng cuộc sống mới,vươn lên thành người chủ đất nước Như vậy sự tồn tại của Công đoàn chỉ
có ý nghĩa khi bản thân tổ chức này thực sự phát huy vai trò, thực hiện tốtmục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của mình, góp phần thực hiện mục tiêuchính trị của Đảng Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấpcông nhân, là “chiếc cầu” và “sợi dây” liên hệ nối liền Đảng với quần
Trang 30chúng Phong trào công đoàn chỉ tiếp nhận sự lãnh đạo của Đảng mới trởthành phong trào tự giác đi theo con đường phát triển lành mạnh.
- Đối với Nhà nước: Công đoàn là người cộng tác đắc lực, bình đẳngtôn trọng lẫn nhau, ngược lại Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý và cơ sởvật chất cho Công đoàn hoạt động
Trong mối quan hệ này, Công đoàn là tổ chức thể hiện cơ sở giai cấp và
cơ sở xã hội của Nhà nước Nhà nước tạo điều kiện cho Công đoàn hoạt động.Công đoàn vận động công nhân, viên chức, lao động thực hiện chính sách,pháp luật của Nhà nước, ủng hộ Nhà nước triển khai các kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội Nhà nước tôn trọng và giải quyết những kiến nghị của Côngđoàn một cách hữu hiệu; tạo điều kiện pháp lý cho Công đoàn hoạt động.Công đoàn phát huy vai trò tham gia, kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhànước Vì vậy, giải quyết tốt mối quan hệ giữa Công đoàn với Nhà nước sẽ tạo
cơ sở xã hội – chính trị thuận lợi cho cả hai tổ chức này hoàn thành tốt hơnvai trò của mình trong hệ thống chính trị ở Việt Nam
- Đối với các tổ chức chính trị - xã hội khác: Công đoàn là thành viêncủa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hạt nhân trong khối liên minh công, nông,trí thức, bình đẳng, tôn trọng, tạo điều kiện cho nhau hoạt động (thông quacác Nghị quyết liên tịch…)
Công đoàn cũng là thành viên của Mặt trận Tổ quốc, cùng các thànhviên khác của Mặt trận Tổ quốc tạo nên cơ sở chính trị - xã hội vững chắcbảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng xây dựng Nhà nước trong sạch, vữngmạnh, Công đoàn tham gia vào Mặt trận Tổ quốc với tư cách là một tổchức độc lập, có đối tượng vận động cụ thể là công nhân, viên chức, laođộng, có chức năng, nhiệm vụ, phương pháp hoạt động riêng của mình.Công đoàn góp phần to lớn vào mục tiêu hoạt động, khơi dậy tiềm năng,sức sáng tạo, tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng kiên cường của
Trang 31đội ngũ công nhân, viên chức, lao động, tăng thêm sức mạnh của khối đạiđoàn kết toàn dân Về cơ bản, mối quan hệ giữa công đoàn với Mặt trận tổquốc là quan hệ hiệp thương, dân chủ, thống nhất hành động Với các đoànthể chính trị - xã hội như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, HộiCựu chiến binh, Công đoàn có quan hệ bình đẳng, phối hợp, nhằm hoàn thànhmục tiêu chính trị của Đảng Hệ thống chính trị Việt Nam là một thể thốngnhất, các thành viên của nó có mối quan hệ biện chứng với nhau Vì vậy, xâydựng tổ chức Công đoàn gắn liền với quá trình xây dựng và hoàn thiện hệthống chính trị Công đoàn Việt Nam phát huy tác dụng tích cực trong quátrình hội nhập dưới sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững ổn định chính trị, pháthuy dân chủ, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển bền vững.
1.2.3 Vai trò Công đoàn với thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính Nhà nước
Với tư cách là người đại diện và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, đoànviên, tổ chức Công đoàn có trách nhiệm nặng nề đối với việc thực hiện Quychế dân chủ ở cơ sở, đặc biệt là việc hướng dẫn, chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra
và đôn đốc quá trình tổ chức Hội nghị Cán bộ Công chức trong các cơ quan
hành chính Nhà nước.
Điều 10 Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Công đoàn là tổ chức chính trị
-xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động, cùng với cơ quanNhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, chăm lo và bảo vệ quyền lợi củacán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác, tham gia quản
lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quannhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục cán bộ, công nhân viên chức và nhữngngười lao động khác xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
Theo Luật Công đoàn: tổ chức Công đoàn có chức năng đại diện vàbảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, tham
Trang 32gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đờisống vật chất, tinh thần của người lao động Công đoàn cũng đại diện và tổchức người lao động tham gia quản lý cơ quan, tổ chức, quản lý kinh tế xãhội và quản lý Nhà nước Cũng theo quy định của Luật Công đoàn: “Côngđoàn có trách nhiệm tổ chức, giáo dục động viên người lao động phát huyvai trò làm chủ đất nước Thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ
tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
Tổ chức Công đoàn có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiệncác nội dung của Hội nghị Cán bộ Công chức; đây cũng là trách nhiệm củatất cả cán bộ, đoàn viên nhằm nâng cao vai trò, vị thế của tổ chức Côngđoàn trong việc tập trung sức mạnh giai cấp, sức mạnh dân tộc, thực hiệntốt chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, góp phần thực hiện thắng lợi cácmục tiêu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
Công đoàn đã trực tiếp xây dựng và tham gia ban hành nhiều văn bảnchỉ đạo, hướng dẫn việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở như Thông tư liêntịch 09/1998/TTLT/TCCB-TLĐLĐ hướng dẫn tổ chức Hội nghị Cán bộ Côngchức; đưa ra nhiều đề xuất, kiến nghị với Đảng và Nhà nước về việc xây dựng
và thực hiện Quy chế dân chủ ở cở sở Ngày 06/1/2005, Hội nghị lần thứ 4Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa IX) đã ra Nghịquyết số 4a/NQ-BCH về nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn tham giaxây dựng, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đơn vị, doanh nghiệp
Là Công đoàn Ngành TW trực thuộc Tổng Liên đoàn lao động ViệtNam, Công đoàn Viên chức Việt Nam có đối tượng tập hợp đặc thù là cáccán bộ, công chức, viên chức và người lao động đang làm việc tại 61 Côngđoàn Viên chức các Bộ, Ban, Ngành, Đoàn thể trung ương Đây là các cán
bộ quản lý, các nhà khoa học, trí thức, văn nghệ sỹ có trình độ văn hóa,chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và nhận thức cao; họ cũng là những người
Trang 33đang trực tiếp hoặc gián tiếp tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện cácchủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng trong thực tế.
Xác định việc hướng dẫn tổ chức tốt Hội nghị Cán bộ Công chức ởcác cơ quan hành chính sự nghiệp ở trung ương là nhiệm vụ hết sức có ýnghĩa trong việc phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức.Với đặc điểm của đối tượng tập hợp, đảm bảo và phát huy dân chủ trong tổchức, hoạt động của các cơ quan hành chính sự nghiệp Nhà nước ở trungương có ảnh hưởng không nhỏ vào quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị,chuyên môn, nghiệp vụ của mỗi cơ quan, đơn vị
Với ý nghĩa nêu trên, các cấp Công đoàn Viên chức Việt Nam đãnghiêm túc quán triệt và thực hiện các quy định của Đảng, Nhà nước, TổngLiên đoàn Lao động Việt Nam về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, đặcbiệt là việc tổ chức Hội nghị Cán bộ Công chức cơ quan hàng năm theoQuy định của Nghị định 71/1998/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số09/TTLT/1998/TCCB -TLĐLĐ Tổ chức quán triệt, chỉ đạo thực hiện,đánh giá sơ tổng kết và biểu dương khen thưởng kịp thời đối với các đơn vịthực hiện tốt cũng như thanh kiểm tra, nhắc nhở một số ít các đơn vị khôngthực hiện nghiêm các quy định này
Một đặc điểm của cán bộ, công chức là có trình độ cao, nhận thứcchính trị sâu sắc, muốn được tôn trọng, đối xử bình đẳng Vì thế, việc tổchức Hội nghị Cán bộ Công chức - Hình thức dân chủ trực tiếp trong các
cơ quan này là hết sức quan trọng và cần thiết Nó giải quyết những vướngmắc của cán bộ, công chức cũng như đem lại không khí làm việc thoải mái,phấn khởi trong cơ quan, góp phần không nhỏ vào việc hoàn thành cácnhiệm vụ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan, đơn vị
Có thể nói, việc tổ chức hiệu quả Hội nghị Cán bộ Công chức cơquan, đơn vị hàng năm ở các cơ quan Bộ, Ban, Ngành, Đoàn thể TW có
Trang 34Công đoàn trực thuộc là nhiệm vụ, là trách nhiệm nặng nề, quan trọng củacác cấp Công đoàn Viên chức Việt Nam.
1.3 CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN VỚI THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.3.1 Yếu tố bảo đảm vai trò của Công đoàn với thực hiện dân chủ
cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước
Dân chủ trong cơ quan nhà nước nói chung và trong cơ quan hànhchính nhà nước nói riêng là dân chủ ở cơ sở, ở tầng sâu nhất, cụ thể nhất vàcũng trực tiếp nhất Bởi ở đó cán bộ công chức vừa là người thi hành côngviệc, thực thi nghĩa vụ vừa là người có quyền và lợi ích; được hưởng nhữnglợi ích vật chất và tinh thần tương xứng với sự cống hiến của mình Quyền lợicủa họ phải đi đôi với nghĩa vụ Tổ chức Công đoàn đặc biệt là Công đoàn cơ
sở có vai trò làm cho cán bộ công chức phát huy được quyền dân chủ trongxây dựng cơ quan nhà nước; mặt khác còn có vai trò tham gia với nhà nướcbảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp cho họ Như thế, về phương diệnchính trị phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa các tổ chức Đảng - với tư cách
là lực lượng lãnh đạo với cán bộ công chức và mối quan hệ giữa nhà nước, cơquan nhà nước với cán bộ công chức trong cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nướcquản lý (trong đó cán bộ công chức trực tiếp thực hành quản lý nhà nước) vớiquyền làm chủ của nhân dân Do đó muốn bảo đảm vai trò của Công đoàn vớiviệc thực hiện dân chủ theo quy chế dân chủ cơ sở trong cơ quan nhà nướcnói chung và trong cơ quan hành chính nói riêng cần phải không ngừng đổimới phương thức lãnh đạo của cả hệ thống chính trị Xây dựng và hoàn thiệnthể chế tổ chức hoạt động của cả hệ thống chính trị trọng tâm là xây dựng,hoàn thiện tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền của nhân dân, donhân dân và vì nhân dân
Trang 35Trước hết phải cụ thể hóa nội dung "cầm quyền" của Đảng Cộng sản
Việt Nam; nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Bảo đảm phương thứclãnh đạo của Đảng đã được xác định trong cương lĩnh (năm 2011) đi vào thực
tế Đó là phương thức:
Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng vềchính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyếtphục, vận động, tổ chức kiểm tra, giám sát và bằng hành độnggương mẫu của đảng viên Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán
bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có
đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạocủa hệ thống chính trị [15, tr.32-33]
Hai là, Nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt có chức
năng chuyên chính giai cấp và chức năng tổ chức quản lý xây dựng đất nước.Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Nhànước được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ Do đó phát huy dân chủ
cơ sở trong cơ quan nhà nước và phát huy dân chủ ở xã, phường, thị trấn mớigiảm thiểu và đi đến triệt tiêu quan liêu, lãng phí và tham nhũng và làm chotập trung tốt hơn, sáng suốt hơn và giàu có hơn về trí tuệ, năng lực quản lýcủa nhà nước Do đó, Nhà nước nói chung, các cơ quan nhà nước đặc biệt làthủ trưởng, ban lãnh đạo của các cơ quan nhà nước ấy phải bảo đảm quyềndân chủ của cấp dưới, của cán bộ công chức và quyền tham gia quản lý nhànước của nhân dân bằng các hình thức trực tiếp
Ba là, xây dựng phát huy sức mạnh chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các đoàn thể nhân dân, trong đó công đoàn vừa là thành viên mặt trậnvừa là một tổ chức chính trị - xã hội Mặt trận Tổ quốc có vai trò quan trọngtrong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở các cấp phải đại diện và bảo vệ quyền và
Trang 36lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên,hội viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của Nhà nước Tựmình và liên minh với Công đoàn để tham gia xây dựng chính quyền nhànước, giám sát phản biện hoạt động của Đảng và hoạt động của Nhà nước
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hộiphải tạo sự đồng thuận về chính trị trong toàn xã hội Nội dung đồng thuậnchính trị là sự thống nhất có tính nhất quán theo con đường đi lên của thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh và đường lối đổi mới đã đang được hoàn thiện của Đảng ta Đó là môitrường chính trị tạo ra những yếu tố chính trị bảo đảm vai trò của Công đoànvới việc thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan hành chính nhà nước
1.3.2 Yếu tố pháp lý bảo đảm vai trò của Công đoàn với thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan hành chính nhà nước
Dân chủ luôn gắn với pháp luật Dân chủ phải có yếu tố pháp lý bảođảm cho dân chủ được thực hành theo pháp luật Nói đến dân chủ là nói đếnquyền làm chủ của nhân dân Nói pháp lý hay nói đến pháp luật trong thế giớiđương đại người ta hay nhấn mạnh yếu tố pháp quyền của pháp luật Rằngpháp luật phải hàm chứa việc thừa nhận và bảo đảm quyền tự do dân chủ củanhân dân Chưa bao giờ như hiện nay người ta lại nói nhiều về dân chủ về dânquyền, về quyền con người, về quyền dân sự, quyền chính trị, quyền về kinh
tế, văn hóa, xã hội đến như vậy Các quyền này phải có hệ thống quyền bảo
vệ quyền như quyền khiếu nại, tố cáo, quyền giám sát, quyền đình công,quyền được tiếp cận thông tin trong mối quan hệ giữa công dân với nhànước, giữa cán bộ công chức với thủ trưởng và ban lãnh đạo cơ quan, quyềncủa công dân phải được bảo đảm bằng trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà nước.Như trên rõ ràng vai trò của Công đoàn với thực hiện quy chế dân chủ trong
cơ quan nhà nước đòi hỏi hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ và khả thi để
Trang 37tạo ra môi trường pháp lý, cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền dân chủcủa cán bộ công chức cũng như quyền dân chủ của nhân dân đối với nhànước Hệ thống pháp luật ấy phải quy định nội dung về quy chế dân chủ ở cơ
sở nói chung, ở cơ quan nhà nước nói riêng; phải có cơ sở pháp lý của việc tổchức và hoạt động của Công đoàn nói chung và Công đoàn viên chức nóiriêng Cơ sở pháp lý phải được quy định trong Hiến pháp, trong các ngànhluật, bộ luật như Luật Công đoàn, Bộ luật lao động; quy định trong các vănbản dưới luật như pháp luật, nghị định, thông tư Đương nhiên yếu tố pháp lýnày không thể chung chung, có tính định khung mà phải cụ hể tránh việc quyđịnh tản mạn, trùng lắp, chồng chéo, mâu thuẫn làm cho pháp luật khó đi vàocuộc sống; khó phát huy được dân chủ trong đời sống nhà nước và xã hộicũng như khó phát huy được vai trò của các tổ chức công đoàn, thậm chí làmcho công đoàn đi vào hoạt động có tính phong trào hình thức
1.3.3 Yếu tố về vật chất bảo đảm vai trò của Công đoàn với thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan hành chính nhà nước
Bảo đảm điều kiện cho Công đoàn cơ sở hoạt động về vật chất có haiyếu tố: Yếu tố thứ nhất là tổ chức Công đoàn và lực lượng cán bộ công đoàn;hai là yếu tố kinh tế
Cơ quan có trách nhiệm cung cấp không thu tiền những phương tiệncần thiết cho công đoàn cơ sở hoạt động (nơi làm việc, phương tiện giaothông, liên lạc, văn phòng phẩm ) phù hợp với điều kiện vật chất của mỗi cơquan; tạo điều kiện thuận lợi để Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở và ngườiđược phân công làm công tác công đoàn hoàn thành nhiệm vụ của mình
Ngoài tiền lương do công đoàn trả, cán bộ công đoàn chuyên trách vẫnđược hưởng các quyền lợi về khen thưởng, nhà ở, phúc lợi khác như cán bộ,công chức, viên chức trong cơ quan
Trang 38Thời gian hoạt động công tác công đoàn của cán bộ công đoàn khôngchuyên trách (kể cả Chủ tịch công đoàn) và việc giải quyết cho cán bộ công đoàn
cơ sở đi học, đi họp do công đoàn cấp trên triệu tập được thực hiện theo quy định
Việc buộc thôi việc, cho thôi việc, hoặc chấm dứt hợp đồng lao độngtrước thời hạn và thuyên chuyển công tác đối với ủy viên Ban Chấp hànhCông đoàn thì phải được Ban Chấp hành Công đoàn cùng cấp thỏa thuận; đốivới Chủ tịch Ban Chấp hành Công đoàn thì phải được công đoàn cấp trên trựctiếp thỏa thuận
Theo quy định tại điểm b, khoản 2 điều 16 Luật Công đoàn 1990 kinhphí thu vào quỹ công đoàn gồm có "kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, tiềntrích từ quỹ cơ quan đơn vị, tổ chức chuyển vào quỹ công đoàn theo quy địnhcủa Hội đồng Bộ trưởng" Từ quy định trên Nghị định 133/HĐBT và các vănbản hướng dẫn thực hiện Luật công đoàn đã quy định cụ thể mức trích nộpkinh phí công đoàn là 2% tổng quỹ lương thực trả đối với các cơ quan, đơn vị,doanh nghiệp Có thể cần có một khoản ngân sách nhà nước chi cho hoạtđộng của Công đoàn đủ bảo đảm cho Công đoàn hoạt động độc lập không lệthuộc quá nhiều vào tài chính của cơ quan nhà nước
Tiểu kết chương 1
Vấn đề dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa là một vấn đề thời đại Bởi
đó là vấn đề trọng yếu của quá trình phát triển xã hội loài người Đó là mụctiêu, động lực phát triển của xã hội Quy chế dân chủ cơ sở chính là pháp luật
về dân chủ cơ sở đã có và cần phải hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu của việcxây dựng nền hành chính của dân, do dân, vì dân
Vai trò của Công đoàn với thực hiện dân chủ cơ sở trong cơ quan nhànước được xác định và làm rõ các nội dung:
- Dân chủ cơ sở và nội dung dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chínhnhà nước
Trang 39- Vai trò của Công đoàn với thực hiện dân chủ cơ sở được xác định vaitrò của Công đoàn trong hệ thống chính trị, chủ yếu là công đoàn với sự lãnhđạo của Đảng, công đoàn với thủ trưởng cơ quan nhà nước cấp cơ sở
- Các bảo đảm vai trò của công đoàn về chính trị, pháp lý và cơ sở vật chất.Chương 1 là cơ sở lý luận quan trọng để soi dọi, đánh giá thực trạng vaitrò và quan điểm, giải pháp bảo đảm vai trò của công đoàn trong các chươngtiếp theo
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN VỚI THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TỪ NĂM 2005 ĐẾN NAY
2.1 THỰC TRẠNG CHUNG VỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ
SỞ TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH VÀ CỦA CÔNG ĐOÀN
Qua báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của bộChính trị( khóa VIII) về “thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” của Đảng ủykhối các cơ quan TW thì 100% cơ quan hành chính đã tổ chức triển khaiquán triệt Chỉ thị 30/CT-TW của Bộ Chính trị và Nghị định 71 của Thủtướng Chính phủ Một số cơ quan, ngoài 2 văn bản chính trên ở những hìnhthức và đối tượng khác nhau đã tổ chức quán triệt thêm các văn bản:
NQTW 3 khoá VIII về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch vững mạnh; Chỉ thị số 10-CT/TW; Thông báo Kết luận số 159-TB/TW của Ban
Bí thư; Hướng dẫn số 14-HD/BCĐ, ngày 15-11-2004 của Ban Chỉ đạo thực
hiện Quy chế dân chủ Trung ương và Ban Dân vận Trung ương hướng dẫn thực hiện Thông báo Kết luận số 159/TB-TW ngày 15/11/2004 của Ban Bí thư (khoá IX); Thông tư liên tịch số 09/1998/TTLT-TCCP-TLĐ ngày
04/12/1998 của ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ và Tổng Liên đoàn lao
động Việt Nam hướng dẫn về tổ chức và nội dung Hội nghị cán bộ, công chức trong cơ quan (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 09)
Thông qua việc quán triệt, học tập, nghiên cứu các văn bản chỉ đạocủa Đảng và Nhà nước về xây dựng và thực hiện QCDCCS kết hợp quátrình xây dựng và thực hiện, so với 10 năm trước đây, nhận thức về dân