1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã, thị trấn ở thành phố hà nội theo yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước

136 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi Mới Tổ Chức Và Hoạt Động Của Chính Quyền Xã, Thị Trấn Ở Thành Phố Hà Nội Theo Yêu Cầu Cải Cách Nền Hành Chính Nhà Nước
Trường học trường đại học
Thành phố hà nội
Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính quyền cấp xã, thị trấn là nền tảng của chế độ chính trị và đờisống xã hội, nơi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể quản lý hành chính nhànước trên các lĩnh vực chính trị, an ninh q

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nền tảng của mọicông tác là cấp xã và cấp xã là cấp gần gũi dân nhất, là nền tảng của hànhchính - cấp xã làm được thì mọi công việc đều xong xuôi" [43, tr 456]

Trong hệ thống hành chính nước ta, chính quyền cấp xã, thị trấn là cấp

cơ sở trong hệ thống chính quyền bốn cấp hoàn chỉnh: Trung ương, tỉnh,huyện, xã Chính quyền cấp xã, thị trấn là nền tảng của chế độ chính trị và đờisống xã hội, nơi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể quản lý hành chính nhànước trên các lĩnh vực chính trị, an ninh quốc phòng, kinh tế, văn hóa xã hội ở

cơ sở, đảm bảo cho các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước đi vào cuộc sống; bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân laođộng, hướng dẫn và tổ chức nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân, là cầunối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Sự vững mạnh, hoạt độnghiệu lực, hiệu quả của chính quyền cấp xã, thị trấn đóng vai trò rất quan trọngtrong toàn bộ hoạt động quản lý và cung cấp dịch vụ phục vụ nhân dân củanhà nước Chính quyền cấp xã, thị trấn hoạt động có hiệu lực, hiệu quả thì anninh chính trị - trật tự an toàn xã hội được giữ vững, đời sống nhân dân được

ổn định và nâng lên, nhân dân sẽ tin tưởng vào Đảng và Nhà nước Ngược lạichính quyền yếu, hoạt động kém hiệu quả thì phong trào địa phương sẽ đixuống, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tệ nạn xã hội gia tăng, trật tự

an toàn xã hội không được giữ vững…làm giảm lòng tin của nhân dân vớiĐảng, Nhà nước

Với vị trí đặc biệt quan trọng và số lượng đơn vị là rất lớn (nếu hiệnnay toàn quốc có khoảng 11.000 đơn vị hành chính cấp xã thì thành phố HàNội có 577 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 401 xã, 154 phường và 22 thị

Trang 2

trấn) Trong quá trình xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước, Đảng và Nhànước ta luôn dành sự quan tâm rất lớn đối với chính quyền cấp xã, thị trấnnhư việc hoàn thiện thể chế, đầu tư cơ sở vật chất, chính sách đãi ngộ, đàotạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chứcchính quyền cấp xã, thị trấn…Thời gian gần đây do tình hình xã hội có nhiềuthay đổi; dân số nước ta ngày càng tăng, cả nước đang tiếp tục thực hiện côngcuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đặt ranhững yêu cầu mới đối với đất nước Những thành tựu mới về đổi mới kinh tếcũng như yêu cầu phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải cónhững đổi mới tương ứng về các mặt hệ thống chính trị; pháp luật; tổ chức bộmáy nhà nước và phương thức hoạt động của các cấp chính quyền Vì vậymột trong những vấn đề quan trọng là phải đổi mới tổ chức và hoạt động của

bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở:

Làm cho bộ máy tinh gọn, bảo đảm sự điều hành tập trung,thống nhất, thông suốt, có hiệu quả từ Trung ương đến chính quyềnđịa phương, cơ sở, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn vàtrách nhiệm của mỗi cấp chính quyền địa phương; Kiện toàn bộmáy chính quyền cấp huyện và cơ sở đủ sức quản lý, giải quyết kịpthời, đúng thẩm quyền những vấn đề cuộc sống đặt ra nhân dân đòihỏi [18, tr 131]

Trong đó đổi mới hệ thống bộ máy nhà nước, cải cách chính quyền địaphương được đặc biệt coi trọng, như Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ IXcủa Đảng cũng xác định:

Phân công, phân cấp, nâng cao tính chủ động của chínhquyền địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnhthổ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tổ chức hợp lýHội đồng nhân dân; kiện toàn các cơ quan chuyên môn của Ủy bannhân dân và bộ máy chính quyền cấp xã, thị trấn, phường, thị trấn [20]

Trang 3

Sau đó Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX đã ban hành Nghị quyết

chuyên đề về "Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính quyền cấp xã, thị trấn", trong đó đã đặt ra những nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao hiệu

lực của chính quyền cấp xã, thị trấn

Đặc biệt từ ngày 05/7 đến ngày 14/7/2007, tại Thủ đô Hà Nội đã diễn

ra Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt NamKhóa X, với sự nhất trí cao, Hội nghị đã thông qua 5 Nghị quyết quan trọng,

trong đó có Nghị quyết "Về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước" và Nghị quyết về "Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, định hướng về đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội".

Do có sự quan tâm rất lớn của Đảng, nhà nước và nhân dân nên chínhquyền cấp xã, thị trấn ngày càng được củng cố và hoàn thiện; tổ chức và hoạtđộng ngày càng hiệu lực, hiệu quả, làm tốt được chức năng, nhiệm vụ của địaphương, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, theo yêu cầucải cách nền hành chính nhà nước hiện nay, tổ chức và hoạt động của chínhquyền cấp xã, thị trấn hiện nay còn hạn chế, bộc lộ nhiều yếu kém; Hoạt độngcủa Hội đồng nhân dân xã, thị trấn còn mang tính hình thức, tính thực quyềnchưa cao, chưa thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ với vị trí, vai trò là cơ quanquyền lực nhà nước ở địa phương; Ủy ban nhân dân xã, thị trấn hoạt động cònhạn chế trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước ở cơ sở.Trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán

bộ, công chức xã, thị trấn nhiều nơi còn hạn chế

Thực hiện chủ trương đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhànước đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, từ nhiều năm nay, các

cơ quan trong bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương đều có những

Trang 4

đổi thay theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước Nằmtrong bối cảnh đó, chính quyền xã, thị trấn của Thành phố Hà Nội nhìn chungcũng đã được đổi mới một bước, tổ chức và hoạt động ngày càng có hiệu lực,hiệu quả, song chưa thực sự đáp ứng được những đòi hỏi của sự nghiệp xâydựng Thủ đô, đổi mới đất nước đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhànước Việt Nam hiện nay Tuy nhiên chính quyền xã, thị trấn ở một số nơi hoạtđộng còn kém hiệu lực, hiệu quả, chưa thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ,hoạt động quản lý điều hành còn bất cập, còn ỷ lại, trông chờ, dựa dẫm vàocấp trên, đùn đẩy quá nhiều công việc cho thôn, cụm dân cư…có xu hướngtrở thành cấp trung gian; một bộ phận không nhỏ cán bộ chính quyền xã, thịtrấn phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ năng lực công tác còn nhiều hạnchế, tinh thần, ý thức trách nhiệm trước công việc thấp, động cơ, thái độ phục

vụ nhân dân còn nhiều yếu kém

Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề "Đổi mới tổ chức

và hoạt động của chính quyền xã, thị trấn ở thành phố Hà Nội theo yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước" làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật

học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã, thị trấn là vấn

đề quan trọng, đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan khoahọc, các nhà khoa học pháp lý dưới những khía cạnh và góc độ khác nhau.Qua tìm hiểu, đã có nhiều công trình nghiên cứu như:

- "Chính quyền cấp xã, thị trấn và quản lý nhà nước ở cấp xã", Viện

khoa học Tổ chức nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2000

- "Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương", Nguyễn Đăng

Dung, (2001), Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

Trang 5

- "Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay", Bùi Tiến Quý (2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

- "Đổi mới tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân xã", Trần Nho

Thìn, (2000), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội

- "Chính quyền cấp xã, thị trấn và quản lý nhà nước ở cấp xã", Chu

Văn Thành, (2000), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội

- "Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam", Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội (2001)

- "Đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền cấp xã, thị trấn ở tỉnh Thái Bình trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước", Luận văn Thạc sĩ

Luật học của Cao Thị Hải, (2001)

- "Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của chính quyền xã ở nước ta hiện nay", Lê Minh Thông, (2002), Nhà nước và pháp

luật, (2)

- "Quy mô xã và mô hình chính quyền xã: Cần một sự đổi mới căn bản", Bùi Xuân Đức, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, đặc san số 3 (2002).

- "Quan điểm và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền

xã ở nước ta hiện nay", Lê Minh Thông, (2002), Nhà nước và pháp luật, (3).

- "Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã trong tiến trình cải cách hành chính", Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, (2002), Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội

- "Thực hiện đồng bộ các giải pháp để đổi mới, nâng cao hiệu lực của chính quyền cấp xã, thị trấn", Đặng Quốc Tiến, (2002), Tổ chức nhà nước, (5).

- "Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã, thị trấn, phường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay", Thái Vĩnh Thắng, (2003), Luật

học, (4)

Trang 6

- "Cải cách cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương", Hà Quang Ngọc, (2005), Tạp chí Cộng sản, (2).

- "Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp

xã, thị trấn ở nước ta hiện nay", Nhà nước pháp luật, (10).

- "Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã, thị trấn ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay", Luận văn Thạc sĩ Luật học

Các công trình nghiên cứu nêu trên đều có liên quan đến vấn đề tổchức và hoạt động của chính quyền cấp xã, thị trấn đã được đề cập, phân tích

ở nhiều góc độ, phạm vi khác nhau hoặc là ở dạng chung nhất hoặc ở một vàikhía cạnh về tổ chức, hoạt động của chính quyền cấp xã, thị trấn, nhưng chưa

có công trình nghiên cứu sâu có hệ thống dưới hình thức một luận văn khoahọc về tổ chức, hoạt động của chính quyền xã, thị trấn ở Thủ đô Hà Nội như

đề tài này, đặc biệt khi mở rộng địa giới hành chính Thủ đô theo Nghị quyết

15 của Quốc hội Tuy nhiên, luận văn sẽ tiếp thu có chọn lọc, kế thừa, vậndụng những kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu khoa học nêutrên trong quá trình nghiên cứu, để viết luận văn này

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Trang 7

Luận văn góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận về tổ chức vàhoạt động của chính quyền cấp xã, thị trấn; đồng thời phân tích, đánh giá thựctrạng về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã, thị trấn ở thành phố HàNội; chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân; từ đó đề xuất nhữngphương hướng, giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền

xã, thị trấn ở thành phố Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Phân tích cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của chính quyền xã,thị trấn; vị trí, vai trò, tổ chức và hoạt động của chính quyền xã, thị trấn

- Phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền

xã, thị trấn ở thành phố Hà Nội, nêu những thành tựu, yếu kém, hạn chế vànguyên nhân của thực trạng đó

- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và hoạtđộng của chính quyền xã, thị trấn ở thành phố Hà Nội theo yêu cầu cải cáchnền hành chính nhà nước giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã, thị trấn là vấn đề rộng

và được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau, trong khuôn khổ một luận vănthạc sĩ Luật học, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu một số vấn đề lý luận có liênquan đến đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã, thị trấn, liên hệvới thực tiễn tổ chức và hoạt động của chính quyền xã, thị trấn ở thành phố

Hà Nội theo yêu cầu cải cách nền hành chính giai đoạn hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 8

Luận văn không nghiên cứu nhiều đến những vấn đề lý luận về tổchức và hoạt động của chính quyền địa phương nói chung trong đó bao gồmchính quyền cấp xã, thị trấn, mà chỉ giới hạn đi sâu nghiên cứu những vấn đề

lý luận về tổ chức và hoạt động của chính quyền xã, thị trấn, luận chứng vềvai trò của nó trong thực tiễn tổ chức và hoạt động trên địa bàn thành phố HàNội trong khoảng thời gian từ 2008 đến nay (thời điểm mở rộng địa giới hànhchính Thủ đô)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về lý luận Nhànước và pháp luật nói chung và chính quyền địa phương và cấp xã nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của triết học Mác - Lênin,đồng thời sử dụng kết hợp các phương pháp lịch sử, cụ thể, phân tích, tổnghợp, thống kê…

6 Những đóng góp về khoa học của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vaitrò, những tiêu chí đánh giá năng lực tổ chức và hoạt động của chính quyềncấp xã, thị trấn; làm rõ đặc điểm, thực trạng tổ chức và hoạt động của chínhquyền xã, thị trấn trên địa bàn thành phố Hà Nội theo yêu cầu cải cách nềnhành chính nhà nước

- Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động củachính quyền xã, thị trấn trên địa bàn thành phố Hà Nội, luận văn đưa ra cácquan điểm và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã, thị

Trang 9

trấn trên địa bàn thành phố Hà Nội theo yêu cầu cải cách nền hành chính nhànước hiện nay.

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà lãnhđạo, quản lý, các nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến vấn đề này

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về chínhquyền cấp xã, thị trấn, làm rõ tính đặc thù về tổ chức và hoạt động của chínhquyền xã, thị trấn trên địa bàn thành phố Hà Nội

và trách nhiệm trong công tác của đội ngũ cán bộ cơ sở

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết

Trang 10

xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ngừng phát triển mạnh và được củng cố,hoàn thiện Theo quy định của pháp luật hiện hành, bộ máy nhà nước ta được

tổ chức và hoạt động trên cơ sở nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất,

có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện

ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp [31] Để đảm bảo cho quản lý nhànước, tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam được chia thành bốn cấp chínhquyền: Cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Các cấp tỉnh, huyện

và xã ở Việt Nam được gọi là chính quyền địa phương, trong đó cấp xã,phường, thị trấn được coi là cấp chính quyền cơ sở có vai trò quan trọng trong

bộ máy nhà nước

Trang 11

Khác với chế độ tự quản địa phương của một số nước, chính quyền địaphương của Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nướcthống nhất, bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhândân địa phương trực tiếp bầu ra và các cơ quan, tổ chức khác được thành lậptrên cơ sở các cơ quan quyền lực nhà nước theo quy định của pháp luật nhằmquản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắctập trung dân chủ và kết hợp hài hòa giữa lợi ích nhân dân địa phương với lợiích chung của cả nước.

Khái niệm chính quyền địa phương là khái niệm phát sinh từ kháiniệm hệ thống các cơ quan nhà nước ở địa phương Khái niệm này được sửdụng khá phổ biến trong nhiều văn bản pháp luật của nhà nước Là một kháiniệm được sử dụng nhiều trong tổ chức và hoạt động của nhà nước vào đờisống thực tế xã hội

Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là bộ phận quan trọngtrong hệ thống chính trị Việt Nam Điều 2 Hiến pháp năm 1992 đã khẳngđịnh: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lựcnhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhânvới giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức và Điều 3 Hiến pháp năm 1992 đãxác định nhà nước có trách nhiệm bảo đảm và không ngừng phát huy quyềnlàm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh,

xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do,hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động xâmphạm lợi ích của tổ quốc và của nhân dân

Chính quyền cấp xã, thị trấn là một bộ phận quan trọng trong bộ máynhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cấp hành chính thấp nhất,gần dân nhất Chính quyền cấp xã, thị trấn bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủyban nhân dân, trong đó Hội đồng nhân dân được xác định là cơ quan quyền

Trang 12

lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làmchủ của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu tráchnhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên (Điều 119Hiến pháp năm 1992); Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu

ra, được xác định là: Cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quanhành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp,luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồngnhân dân cùng cấp (Điều 123 Hiến pháp năm 1992)

Chính quyền xã, thị trấn đóng vai trò quyết định trong việc phát triểnkinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân ở xã, thị trấn ở địa bàn ngoạithành Hà Nội, kinh tế vẫn chủ yếu là nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp,chính quyền xã, thị trấn quản lý trực tiếp tư liệu sản xuất, đối tượng sản xuất,

có vai trò quan trọng trong việc quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực ở xã,thị trấn

Như vậy có thể thấy xã, thị trấn là những đơn vị hành chính độc lập.Mọi hoạt động đều diễn ra trong địa giới hành chính của xã, thị trấn Hoạtđộng kinh tế của xã, thị trấn là chủ yếu, tiếp đến mới là hoạt động quản lýhành chính - Tư liệu sản xuất và địa bàn sản xuất của nhân dân nằm trong địagiới hành chính của xã, do chính quyền xã trực tiếp quản lý, điều hành Mọihoạt động quản lý của chính quyền xã, thị trấn liên quan trực tiếp đến ngườidân trong xã; chính quyền xã, thị trấn vừa là cơ quan hành chính nhà nước ởđịa phương, vừa là cơ quan tự quản của xã, thị trấn

1.1.2 Đặc điểm của chính quyền xã, thị trấn

Thứ nhất, tổ chức và hoạt động của chính quyền xã, thị trấn theo hình thức tự quản, phi tập trung

Do là cấp gần với cộng đồng dân cư nên hình thức tự quản, phi tậptrung được coi là hình thức phù hợp nhất đối với tổ chức và hoạt động của

Trang 13

chính quyền xã, thị trấn Địa bàn xã, thị trấn là nơi vừa diễn ra hoạt động quản

lý của Nhà nước bằng pháp luật, vừa diễn ra các hoạt động tự quản của dân,

do dân tự tổ chức và tự thực hiện bằng những thỏa ước cộng đồng Thỏa ướcnày phải phù hợp với pháp luật của Nhà nước, chủ trương đường lối củaĐảng, đồng thời thể hiện những bản sắc văn hóa, những truyền thống, phongtục, tập quán tốt đẹp của cộng đồng làng xã Chính quyền cấp xã, thị trấn cóquyền quyết định những vấn đề riêng có tính chất địa phương, có ngân sáchriêng, có đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện công vụ ở địa phương, có thiếtchế dân chủ, có năng lực quản lý công việc của địa phương và có sự giám sátcủa cơ quan cấp trên Pháp luật, chính sách của Nhà nước phải được tuân thủ,được chấp hành nghiêm chỉnh ở mọi nơi, mọi lúc, với mọi người, trong mọicông việc quản lý Đó là quan hệ pháp lý giữa công dân với nhà nước màchính quyền xã, thị trấn phải thực hiện và tổ chức cho các công dân thực hiệnbằng thẩm quyền, chức trách của mình Hương ước, thỏa ước tập thể hay hiện

có nơi còn gọi là quy ước làng văn hóa là thể chế tự quản trong phạm vi từngthôn, làng, được cả cộng đồng nhất trí tán thành và mỗi thành viên tự nguyện,

tự giác thực hiện

Đặc trưng vừa quản lý vừa tự quản ở xã, thị trấn cho thấy tính chất ổnđịnh và bền vững của sự hình thành các quan hệ trong làng xã ở nước ta.Những quan hệ này được xác định bởi địa vị và huyết thống, chúng đan xen

và bện chặt vào nhau không dễ gì phân biệt nổi, vừa là xã hội dân sự lại vừa

là họ hàng dòng tộc, vừa pháp lý lại vừa đạo lý, vừa là lý lại vừa là tình.Những ràng buộc này từ cội nguồn lịch sử và xã hội của nó không thể khôngtính đến trong tổ chức, công việc, hoạt động và ứng xử của con người trong

cơ cấu xã hội đặc thù ở nông thôn

Cách tổ chức chính quyền xã, thị trấn theo hình thức như vậy tạo rakhả năng bảo vệ các quyền lợi chính đáng của địa phương, hoàn toàn phù hợpvới nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà

Trang 14

nước ta và xu hướng dân chủ hóa đời sống chính trị - xã hội hiện nay Đâycũng là một cách dựa vào dân, phát huy khả năng tự quản của dân để xâydựng chính quyền cấp xã, thị trấn thực sự dân chủ, giảm thiểu căn bệnh hànhchính hóa và quan liêu hóa.

Thứ hai, chính quyền xã, thị trấn là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với dân

Cấp xã, thị trấn là cấp gần dân nhất, thân dân nhất, nơi sẽ biến nhữngchủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước thànhhiện thực Bộ máy nhà nước ta theo pháp luật hiện hành được tổ chức thành 4cấp chính quyền: Trung ương, tỉnh, huyện và xã, các tổ chức quyền lực cấptrên đều phải thông qua vai trò của chính quyền cấp xã, thị trấn để thực thiquyền lực của nhà nước trên địa bàn xã Quan hệ của nhân dân với Đảng vànhà nước trước hết và trực tiếp phải thông qua quan hệ của nhân dân vớichính quyền cấp xã, thị trấn trong việc giải quyết các công việc cụ thể hàngngày của chính quyền xã đối với nhân dân Mọi đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng và pháp luật của nhà nước muốn phát huy hiệu quả trong cuộcsống phải được "kiểm nghiệm" từ cơ sở, nghĩa là chính từ mọi vấn đề phátsinh và được giải quyết tại địa bàn cấp xã, thị trấn Chính quyền xã, thị trấn làcấp chính quyền trực tiếp với dân, gần dân, sát dân nhất, là cấp chính quyềngiải quyết và chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân, trực tiếp nắm bắt tâm tư,nguyện vọng, tình cảm của nhân dân; là cấp hướng dẫn, giám sát các hoạtđộng tự quản của nhân dân nhằm tạo điều kiện cho nhân dân phát huy mọikhả năng phát triển kinh tế - xã hội Chính quyền xã, thị trấn có thể coi là "cầunối" giữa Đảng, nhà nước với nhân dân, đây là cấp trực tiếp tuyên truyền, phổbiến, giáo dục chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước chonhân dân biết và thực hiện, đồng thời chính quyền xã, thị trấn có nhiệm vụnắm bắt tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân để phản ánh với Đảng vànhà nước

Trang 15

Thứ ba, cấp xã, thị trấn là cấp có bộ máy đơn giản nhất, đội ngũ cán

bộ biến động nhất, ít tính chuyên nghiệp và chịu sự chi phối của nhân dân.

Cấp xã, thị trấn là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền Việt Nam

Do là cấp thấp nhất nên tổ chức bộ máy cấp xã, thị trấn đơn giản nhất và biênchế hưởng sinh hoạt phí ít nhất Theo Khoản 3 Điều 122 Luật Tổ chức Hộiđồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 thì số lượng thành viên của Ủyban nhân dân cấp xã được quy định như sau: "Ủy ban nhân dân cấp xã có từ 3đến 5 thành viên" Số lượng Đại biểu Hội đồng nhân dân ít nhất, bộ máy đơngiản là cần thiết và cần được tiếp tục duy trì

Chính quyền xã, thị trấn có đội ngũ cán bộ biến động nhất, nó phụthuộc nhiều vào lá phiếu bầu cử của nhân dân Hệ thống chính quyền xã, thịtrấn là cấp gần dân, sát dân nhất và thể hiện rõ nhất tính nhân dân Về mặt tổchức nhà nước, Nhà nước ta xác định cấp xã, thị trấn là một cấp chính quyền,song nó khác với cấp chính quyền trên nó, Nhà nước cho phép nhân dân trong

xã, thị trấn tự lựa chọn những người xứng đáng lãnh đạo chính quyền thôngqua bầu cử Nếu được bầu thì một cá nhân trở thành cán bộ chính quyền, nếukhông tái cử thì người đó trở lại làm công dân bình thường Tuy nhiên, theoquy định tại Nghị định 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003, Nhà nước cũng đãcông chức hóa 7 cán bộ chuyên môn của xã (Trưởng công an; Chỉ huy trưởngquân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng; Tài chính - kế toán; Tưpháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội) được hưởng chế độ bổ nhiệm, không cònphụ thuộc vào các lá phiếu trong các cuộc bầu cử

Chính vì đặc điểm này, có thể nói cấp xã, thị trấn là mắt khâu trunggian, là bước chuyển tiếp giữa chế độ tự quản làng xã sang chế độ nhà nướcđầy đủ

Bộ máy nhân sự ở xã, thị trấn không chuyên nghiệp và ít được đào tạo Đây là hệ quả của đặc điểm trên Do phụ thuộc chủ yếu vào lá phiếu bầu nên

Trang 16

-một người có thể thời gian này làm cán bộ, thời gian sau chuyển làm dânthường Cũng vì tính không chuyên nghiệp như vậy nên họ ít được đào tạo vàkhó tổ chức lớp đào tạo này một cách lâu dài, cơ bản Do vậy, thường họ lànhững người có trình độ học vấn, trình độ lý luận và chuyên môn thấp Thực

tế, có hai nguyên nhân: Thứ nhất, họ thực chất không phải là những người được đào tạo chuyên nghiệp để làm công tác quản lý; thứ hai, khi tham gia

công tác họ cũng không được coi là cán bộ chuyên nghiệp Do không đượccoi là cán bộ chuyên nghiệp, tương lai không chắc chắn, nên không thu hútđược những người có học vấn cao ở lại hoặc trở về làm cán bộ xã

Thứ tư, quan hệ dòng họ, văn hóa làng xã có tác động mạnh đối với chính quyền cấp xã, thị trấn.

Làng xã Việt Nam có từ thời xa xưa và có ý nghĩa rất quan trọng đốivới đời sống nhân dân Việt Nam Xã hội làng xã là một xã hội đặc biệt củaViệt Nam, được hình thành và phát triển từ thời rất xa xưa Nhà nước Trungương muốn chi phối hoạt động của các thành viên trong xã phải thông qua bộmáy chức dịch của xã Tổ chức và hoạt động của các thiết chế trên và của mọithần dân trong làng được điều chỉnh bằng các quy tắc riêng mà ta thường gọi

là lệ làng Truyền thống này làm cho người Việt không có thói quen sống theopháp luật, truyền thống này cũng tạo ra tư tưởng bè phái, địa phương cục bộ,làng nào biết làng nấy, chỉ quan tâm đến địa phương mình

Cộng đồng làng xã trước tiên là tập hợp của những dòng họ Quá trìnhhình thành và phát triển của làng Việt Nam là sự chuyển đổi và phát triển từliên kết hộ gia đình tiến lên là liên kết họ hàng và các dòng họ với nhau.Chính vì sự liên kết dựa trên cơ sở dòng máu mà đã tạo ra các hiện tượng tiêucực như "một người làm quan, cả họ được nhờ", tình trạng "chi bộ họ ta",thành viên cấp ủy được phân bổ theo dòng họ Quan hệ anh em, họ hàng, chú

Trang 17

bác… trong Đảng ủy, giữa các cán bộ xã, thị trấn không phải hiếm Điều đóảnh hưởng không nhỏ tới quan hệ trong nội bộ tổ chức.

1.1.3 Vị trí của chính quyền cấp xã, thị trấn

Theo Điều 118 Hiến pháp năm 1992, hệ thống tổ chức hành chính lãnh thổ nước ta gồm bốn cấp: Cấp trung ương, cấp tỉnh (bao gồm các tỉnh vàthành phố trực thuộc trung ương), cấp huyện (bao gồm các huyện, quận, thị

-xã, thành phố thuộc tỉnh) và cấp xã (bao gồm các -xã, phường và thị trấn.Trong hệ thống tổ chức hành chính bốn cấp này, chính quyền cấp xã, thị trấn

là cấp thấp nhất, gần dân nhất Chính vì vậy, chính quyền xã, thị trấn có vị trí,vai trò rất quan trọng trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước, đồng thời làyếu tố chi phối đời sống kinh tế -xã hội của các cộng đồng dân cư và của toànthể người dân trong địa bàn

Hiện nay, trong số những đơn vị hành chính cấp cơ sở ở nước ta thìđơn vị xã chiếm số cũng nhất và tính cộng đồng của những người dân ở đócũng cao hơn, do cấp xã gắn liền với nền văn hóa làng xã lâu đời của ngườiViệt Trong phạm vi xã thường có các cộng đồng dân cư nhỏ hơn như làng,xóm, thôn, bản Đây hầu hết là những cộng đồng dân cư tồn tại đã lâu đời,

có sự gắn bó chặt chẽ với nhau về nhiều phương diện như kinh tế, văn hóa, xãhội, huyết thống, phong tục, tập quán, ngành nghề và nhiều những sinh hoạtchung khác

Đơn vị hành chính xã, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa, các xã thuộcvùng núi, hải đảo thường có tính tự quản, tính độc lập cao hơn so với cácđơn vị hành chính cấp cơ sở khác như phường, thị trấn và các cấp lớn hơn nhưcấp huyện, quận Trong phạm vi mỗi xã, các mối quan hệ trong cộng đồngdân cư thường được điều chỉnh bằng nhiều quy định và thiết chế khác nhau,chính thức hoặc phi chính thức, trong đó có cả những quy định và thiết chế dochính những thành viên trong cộng đồng lập ra vô cùng phong phú, đa dạng

Trang 18

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chính quyền cấp xã, thị trấn

ở Việt Nam gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Hội đồng nhân dânđược xác định là cơ quan quyền lực nhà nước ở cấp xã, thị trấn, đại diện cho ýchí, nguyện vọng và quyền làm chủ của của nhân dân cấp xã, thị trấn, do nhândân cấp xã, thị trấn bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân xã, thị trấn và cơquan nhà nước cấp trên (Điều 119 Hiến pháp 1992) Hội đồng nhân dân thựchiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, bảođảm sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương, đồng thời phát huy quyền chủđộng, sáng tạo của cấp xã, thị trấn Hội đồng nhân dân là hình thức tổ chức chínhquyền cấp xã, thị trấn kiểu mới, là cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước củanhân dân trên địa bàn lãnh thổ - được coi là một bộ phận quyền lực hợp thànhquyền lực nhà nước chung của toàn quốc Với phương thức hoạt động chính

là các kỳ họp, Hội đồng nhân dân có quyền ra Nghị quyết về những vấn đềcủa cấp xã, thị trấn và thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của các cơquan nhà nước khác ở cấp xã và công dân trong việc tuân theo pháp luật

Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra, là cơ quan chấp hànhcủa Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở cấp xã, thị trấn, chịutrách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan nhà nướccấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp (Điều 123 Hiến phápnăm 1992) Với vị trí là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, Ủy bannhân dân được giao thực hiện các nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước ởcấp xã, thị trấn, có trách nhiệm chính trong việc tổ chức thi hành nghị quyếtcủa Hội đồng nhân dân cùng cấp, các quyết định, chỉ thị và các văn bản phápluật của cấp trên tại cấp xã, thị trấn

Với vị trí là bộ phận gần dân nhất trong bộ máy nhà nước, chínhquyền cấp xã, thị trấn có trách nhiệm trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối,chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước ở địa phương; trực tiếp giảiquyết các công việc và chăm lo đời sống của người dân; trực tiếp nắm bắt tâm

Trang 19

tư, nguyện vọng của nhân dân và tổ chức để nhân dân tham gia quản lý nhànước, thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân Hoạt động quản lý của chínhquyền cấp xã, thị trấn luôn có sự kết hợp giữa tính chất tự quản cộng đồng vớitính chất công quyền của nhà nước, giữa chế độ dân chủ đại diện với chế độdân chủ trực tiếp Tuy nhiên trong hoạt động của mình, chính quyền cấp xã,thị trấn chịu sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của tổ chức đảng ở cơ sở; đồngthời cũng phải phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị - xã hội.

1.1.4 Vai trò của chính quyền cấp xã, thị trấn

Ở nước ta, chính quyền xã, thị trấn luôn được coi là thực thể tồn tạikhách quan, cần thiết trong hệ thống bộ máy chính quyền Nhà nước, nó tồntại như một tất yếu lịch sử, là cơ sở cho sự phát triển Nhà nước, là nơi cungcấp nhân lực, vật lực, tài lực cho sự phát triển mọi mặt của đất nước Vì vậy,chính quyền xã, thị trấn đóng vai trò hết sức quan trọng đảm bảo sự phát triểnbền vững của quốc gia Trong hệ thống chính quyền Nhà nước, chính quyền

xã, thị trấn là chính quyền Nhà nước thấp nhất, dưới cấp xã, phường, thị trấnkhông còn cấp hành chính lãnh thổ nào

Đây là nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương đường lối chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước Nếu chính quyền cấp xã, thị trấn làm việc cóhiệu quả thì đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước sẽ dễdàng đi vào cuộc sống, trở thành hoạt động thực tế của nhân dân, tạo ra sựphấn khởi, tin tưởng của nhân dân vào Đảng và Nhà nước đồng thời tạo ra sựhiểu biết thông cảm lẫn nhau giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Ngược lạinếu chính quyền cở sở không giải quyết một cách thấu đáo những vướng mắccủa nhân dân, các cán bộ cơ sở làm việc không tốt có thể làm bùng phát sựphản ứng tiêu cực của nhân dân đối với Chính quyền, với chủ trương chínhsách của Đảng và Nhà nước

Chính quyền cấp xã, thị trấn gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhândân, là một bộ phận của hệ thống chính quyền địa phương ba cấp So với

Trang 20

chính quyền cấp tỉnh và cấp huyện thì chính quyền cấp xã, thị trấn có nhữngđiểm đặc thù sau:

Thứ nhất, chính quyền cấp xã, thị trấn là chính quyền gần dân nhất nên

có những ưu thế nhất định so với chính quyền câp tỉnh và cấp huyện Cụ thể là:

+ Chính quyền cấp xã, thị trấn trực tiếp và kịp thời nắm bắt được tâm

tư, nguyện vọng của nhân dân, thái độ của họ đối với nhà nước; nắm bắt đượctình hình, những biến đổi về mặt kinh tế - xã hội và dân cư trên địa bàn

+ Trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, phápluật của nhà nước, có thuận lợi trong việc đề ra những quyết định quản lýchính xác, có tính khả thi cao, sát hợp với tình hình thực tiễn; trực tiếp giảiquyết công việc của người dân

+ Trực tiếp tổ chức để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, thực hiệncác quyền và nghĩa vụ công dân, chăm lo đời sống cộng đồng; đồng thờichính quyền cấp xã, thị trấn chịu sự giám sát trực tiếp của nhân dân

Thứ hai, hoạt động của chính quyền cấp xã, thị trấn luôn có sự kết hợp

giữa tính chất tự quản cộng đồng với tính chất công quyền của nhà nước, giữachế độ dân chủ đại diện với chế độ dân chủ trực tiếp, do đó có khả năng:

+ Phát huy cao độ quyền làm chủ, tính sáng tạo của cộng đồng dân cư

ở cấp xã trong việc phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự,

an toàn xã hội, giữ gìn truyền thống tốt đẹp của làng, xã, tạo sự đồng thuậntrong cộng đồng dân cư

+ Góp phần hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước của nhândân, tăng cường được trách nhiệm của chính quyền trong việc thực thi quyềnlực do nhân dân ủy nhiệm

Trang 21

+ Có khả năng tốt nhất trong việc thực hiện những chức năng xã hội,trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa, làm cho việc quản lý từ chỗ dochính quyền đại diện nhân dân thực hiện đến chỗ do chính nhân dân thực hiện.

Thứ ba, tuy có những ưu thế nhất định so với chính quyền cấp tỉnh và

cấp huyện, nhưng với vị trí là cấp chính quyền thấp nhất, chính quyền cấp xã,thị trấn phải chịu sự tác động của nhiều yếu tố bất lợi, ảnh hưởng không nhỏđến hiệu lực, hiệu quả quản lý, nhất là trong điều kiện đổi mới, cụ thể là:

+ Sự tác động của các yếu tố truyền thống, lịch sử, nhất là của nhữngtập quán lỗi thời, bệnh cục bộ, phép vua thua lệ làng, cách ứng xử trọng tình hơn

lý đã gây nhiều khó khăn cho việc điều hành thực thi pháp luật của chính quyền

+ Sự tách biệt về những lợi ích vật chất và phúc lợi công cộng đã làmcho giữa các xã, thị trấn, giữa chính quyền các xã, thị trấn có sự biệt lập vớinhau, do đó rất khó khăn cho việc phối hợp thực hiện những công việc liênquan đến nhiều xã, thị trấn

+ Cư dân trong xã, thị trấn được gắn kết với nhau bởi mối quan hệtheo huyết thống, dòng tộc, tình làng nghĩa xóm… nên dễ ảnh hưởng và chiphối đến tính đại diện công quyền của chính quyền xã, đến việc thực thi dânchủ, nhất là thực thi dân chủ theo phương thức trực tiếp

+ Dưới tác động của kinh tế thị trường, của công nghiệp hóa, hiện đạihóa và quá trình đô thị hóa mạnh mẽ dẫn tới tình trạng lao động nông nghiệp

dư thừa, sự biến động dân cư mạnh, tệ nạn xã hội phát sinh, môi trường sinhthái bị đe dọa, truyền thống làng xã bị mai một Do đó chính quyển cấp xã, thịtrấn gặp nhiều khó khăn về quản lý, có nhiều vấn đề đòi hỏi phải giải quyếtnhưng theo quy định của pháp luật lại không đủ thẩm quyền

Những đặc thù đó cho thấy chính quyền cấp xã, thị trấn có vai tròquan trọng trong công tác quản lý nhà nước trên mọi mặt của đời sống xã hội

Trang 22

Các cơ quan chính quyền cấp xã, thị trấn là cầu nối giữa Nhà nước,các tổ chức và cá nhân trong xã, đại diện cho Nhà nước, nhân danh Nhà nước

để thực thi quyền lực nhà nước, triển khai, tổ chức thực hiện những chủtrương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước ở xã, thị trấn nên vừaphải đủ mạnh, phải thể hiện uy quyền của mình mới có thể thực hiện đượcchức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước giao phó; đồng thời, cũng vừa phải mềmdẻo, linh hoạt khi tiếp xúc, làm việc với dân (những người cùng sinh sống,với những mối quan hệ cộng đồng gắn bó khăng khít, bền chặt chi phối), phảiđáp ứng những nhu cầu, đòi hỏi đa dạng của mỗi người dân sao cho vừa đúngpháp luật, vừa phù hợp với truyền thống và điều kiện của mỗi người dân, mỗiđịa phương Do vậy, việc tổ chức và hoạt động của cơ quan chính quyền cấp

xã, thị trấn ở nước ta rất phức tạp, dễ dẫn đến tình trạng hình thức, kém hiệulực, hiệu quả hoặc lạm quyền, tùy tiện, cát cứ

Là người sâu sát với dân, cùng chung sống hàng ngày với dân, hiểudân, am hiểu những phong tục, tập quán, truyền thống của địa phương hơn cả,nên những người đại diện Nhà nước ở cấp xã, thị trấn phải giải quyết cáccông việc đa dạng, phức tạp của dân, sao cho không trái pháp luật, nhưng cóhiệu quả cao nhất Cán bộ xã, thị trấn trong công việc đòi hỏi phải thực sự vìdân, thương dân, lấy dân làm gốc, không thể vì cái toàn cục mà quên đi hoàncảnh điều kiện của mỗi người dân, nhưng cũng không vì mỗi người dân cụ thể

mà làm trái pháp luật, trái đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước

Chính quyền cấp xã, thị trấn là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện các quyđịnh, quyết định của Nhà nước, giải quyết những yêu cầu, thắc mắc, bức xúccủa dân Đồng thời cũng là những người trực tiếp thu nhận, lắng nghe, tiếpthu các ý kiến, những đề xuất, kiến nghị của nhân dân Do vậy, họ cũng là cấpphải phản ánh một cách trung thực những nguyện vọng, mong muốn, nhu cầucủa người dân lên các cơ quan cấp trên và đề xuất những giải pháp trong việc

Trang 23

giải quyết những vướng mắc, thỏa mãn những nhu cầu, mong muốn của nhândân nói chung và của mỗi người dân nói riêng

Nếu chính quyền cấp xã, thị trấn làm việc có hiệu quả thì đường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước sẽ dễ dàng đi vào cuộc sống, trở thành hoạtđộng thực tế của nhân dân, tạo ra sự phấn khởi, sự tin tưởng của nhân dân vàoĐảng và Nhà nước; đồng thời tạo ra sự hiểu biết, thông cảm lẫn nhau giữaĐảng, Nhà nước và nhân dân Ngược lại, nếu chính quyền cấp xã, thị trấnkhông giải quyết một cách thấu đáo những thắc mắc, vướng mắc của nhândân, các cán bộ, công chức xã làm việc không tốt có thể sẽ làm bùng phátnhiều phản ứng tiêu cực của nhân dân đối với chính quyền nhà nước, với chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thậm chí có thể gây mất đoàn kếtgiữa các dòng họ, thôn, bản trong xã

Vị trí, vai trò của cấp xã, thị trấn nêu trên đã cho thấy tính chất đặc thùcủa chính quyền cấp xã, thị trấn Đồng thời, nhiều công việc được giải quyết

ở địa bàn xã mang tính chất tự quản Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan chính quyềncấp xã, thị trấn khi giải quyết các công việc ở địa bàn xã, thị trấn phải luônchủ động, năng động với năng lực điều hành và trách nhiệm rất cao

1.2 TÍNH ĐẶC THÙ TRONG ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN XÃ, THỊ TRẤN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hà Nội là thành phố có lợi thế đặc biệt để phát triển thương mại so vớicác địa phương khác trong cả nước khi là trung tâm đầu não chính trị - hànhchính quốc gia, trung tâm về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, có nhiều đầu mốigiao thông… là vùng dân cư đông đúc từ lâu đời Những nét khác biệt của HàNội so với các địa phương khác trong cả nước đòi hỏi tổ chức và hoạt độngcủa chính quyền xã, thị trấn ở Hà Nội cũng có những đặc biệt

Trang 24

So với các địa phương khác, Hà Nội có những khác biệt từ đó tácđộng đến tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã, thị trấn, sự khác biệt

đó có thể nhận diện ở một số đặc điểm sau

- Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học

kỹ thuật, đầu mối giao thông quan trọng của cả nước, là nơi tập trung các cơquan nhà nước từ trung ương xuống địa phương, là đầu mối của nhiều cấp,nhiều ngành quản lý

- Hà Nội cũng là nơi tập trung dân cư đông đúc hơn so với khu vựcnông thôn và dân cư của Hà Nội ngày nay là dân tứ xứ được tụ tập từ nhiềuvùng, miền khác nhau vì những mục tiêu khác nhau, có cuộc sống khá độc lậpvới nhau, điều này khác với các địa phương khác

- Hà Nội là nơi tập trung các cơ sở hạ tầng vật chất quan trọng, nhưgiao thông, liên lạc, viễn thông, điện nước, công trình xây dựng Tuy nhiên,

so với sự phát triển của đô thị hiện đại trên thế giới thì cơ sở hạ tầng của HàNội vẫn chưa ngang tầm với các đô thị trên thế giới

- Lối sống đô thị ở Hà Nội là lối sống hợp cư, luôn biến động, sự liênkết về huyết thống, tập quán, truyền thống không chặt chẽ như các vùngnông thôn khác, việc tôn trọng những chuẩn mực có tính pháp lý được đề caohơn những quy tắc có tính cộng đồng

- Nhìn chung người dân các xã, thị trấn ở Hà Nội có trình độ chuyênmôn, trình độ dân trí cao hơn người dân ở các vùng nông thôn khác;

- Các xã, thị trấn ở Hà Nội cũng là nơi phát sinh nhiều vấn đề xã hộinhư nạn thất nghiệp, tình trạng tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội và hàng loạtvấn đề xã hội khác luôn nảy sinh, luôn quá tải của các trường học, bệnh viện,giao thông đô thị

- Ở tại các xã, thị trấn ở Hà Nội vẫn có sự đan xen giữa khu vực đã đôthị hóa với các khu vực ngoại vi (đang được đô thị hóa) vẫn còn mang nhiều

Trang 25

nét, nhiều yếu tố nông thôn (về kết cấu hạ tầng, kiến trúc xây dựng, hoạt độngkinh tế xã hội, cách sinh hoạt, lối sống ), hoặc là các đơn vị hành chính nôngthôn trực thuộc, đặc biệt từ khi sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội Chính vì vậycần phải phân biệt sự khác nhau về mô hình tổ chức và phương thức quản lýcủa bộ máy chính quyền cấp xã, thị trấn ở những khu vực này.

Từ những đặc điểm chính nêu trên, Hà Nội là một đơn vị hành chínhlãnh thổ thống nhất, không thể chia cắt về mặt lãnh thổ, kết cấu hạ tầng và cáchoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn Đặc điểm này quy định nội dung,phương thức quản lý nhà nước ở Hà Nội và cũng vì thế mà chi phối trực tiếp

mô hình tổ chức chính quyền xã, thị trấn Hà Nội theo hướng tập trung, thốngnhất, không được phân cắt thành nhiều tầng, cấp khác nhau; quản lý điềuhành các hoạt động kinh tế - xã hội phải thống nhất, xuyên suốt, nhanh nhạy,

có hiệu lực cao

Tổng kết 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới của đất nước, bên cạnhnhiều thành tích đáng ghi nhận, tổ chức chính quyền cũng có những đổi mớiđáng kể, tiếp tục đổi mới để ngày càng hoàn thiện hơn, song chất lượng phục

vụ nhân dân và quản lý xã hội chưa được như mong muốn Văn kiện Đại hộiĐảng lần thứ X khi nhận định về bộ máy Nhà nước, đã chỉ rõ: Hoạt động của

bộ máy nhà nước "chất lượng hoạt động và hiệu quả thấp" Mặc dù Hà Nội là

địa phương luôn đi đầu trong tiếp nhận và triển khai các chủ trương, chínhsách của Đảng, Chính phủ về đổi mới cơ cấu kinh tế nói chung và đổi mới tổchức và hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp nói riêng nhưng kết quảhoạt động bộ máy cũng không nằm ngoài nhận định chung đó

Một trong những yếu tố cơ bản tạo nên hiệu quả hoạt động của chínhquyền là phải có tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động hợp lý Nói cách khác,

mô hình chính quyền kiểu gì và vận hành như thế nào sẽ đem lại hiệu quả xãhội tương ứng Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy

Trang 26

Nhà nước nói chung và chính quyền địa phương, đặc biệt cấp cơ sở nói riêngđang là một trong những nội dung được sự quan tâm đặc biệt của Đảng vàNhà nước trong giai đoạn hiện nay.

Những bất cập rõ nhất về mô hình tổ chức chính quyền địa phương ởnước ta hiện nay như chưa có sự khác biệt giữa chính quyền ở nông thôn vớichính quyền ở đô thị; giữa các vùng, miền này với các vùng, miền khác; giữathành phố Thủ đô với các địa phương khác Theo quy định của pháp luật hiệnhành, về cơ bản thì mô hình tổ chức chính quyền giống nhau trong phạm vi cảnước Trong khi đó, đòi hỏi khách quan về quản lý xã hội cho các khu vực lạikhông hoàn toàn giống nhau Đây là nguyên nhân quan trọng khiến cho bộmáy chính quyền đô thị nói chung và chính quyền thành phố Hà Nội nói riênghoạt động kém hiệu quả, thiếu chủ động, sáng tạo

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ ba (khóa VIII) đã đề ra yêucầu: "Nghiên cứu phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động của Hội đồng nhândân và nhiệm vụ quản lý hành chính ở đô thị với hoạt động của Hội đồngnhân dân và nhiệm vụ quản lý hành chính ở nông thôn…" [18, tr 55] Nhằmtriển khai các chủ trương của Đảng, trong Chương trình tổng thể cải cách hànhchính giai đoạn 2001- 2010 (ban hành theo Quyết định 136/2001/QĐ-TTg),Chính phủ đã đề ra kế hoạch năm 2008 thí điểm việc đổi mới mô hình tổ chứcchính quyền địa phương, hiện nay đang được triển khai trên 10 địa phươngtrong cả nước

Với Nghị quyết 15/2008/QH12 ngày 29/5/2008 của Quốc hội về việcđiều chỉnh địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội, Việt Nam đã có Thủ đô với qui

mô lớn, diện tích đứng tốp 10 nước có Thủ đô rộng nhất thế giới Bên cạnh

đó, hàng loạt vấn đề mang tính cơ hội và thách thức đặt ra cho chính quyềnnhư trước yêu cầu phát triển chính trị, kinh tế - xã hội của Thủ đô; để Hà Nộiluôn xứng đáng là trung tâm đầu não chính trị - hành chính, văn hóa, khoahọc, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước…, nhiệm vụ đổi mới

Trang 27

và hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động của chínhquyền các cấp của thành phố Hà Nội trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Từ kết quả tổng kết của thực tiễn cải cách hành chính cũng như cảicách tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương, báo cáo kiểm điểm nửađầu nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảngchỉ rõ: "Một số vấn đề về tổ chức của Hội đồng nhân dân vẫn chưa được làm

rõ và chưa có định hướng đổi mới một cách căn bản, lâu dài, nhất là cấphuyện và mô hình tổ chức quản lý đô thị; chất lượng hoạt động của Hội đồng

nhân dân ở nhiều nơi chưa cao" [23].

Vì vậy Nghị quyết nhấn mạnh:

Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và

Ủy ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm củachính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp Phát huy vaitrò giám sát của Hội đồng nhân dân Tổ chức hợp lý chính quyềnđịa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nôngthôn, đô thị, hải đảo [23]

Nhận thức vai trò, trách nhiệm với cả nước, Đảng bộ, chính quyền thànhphố Hà Nội quán triệt sâu sắc chỉ đạo của Trung ương, nhận thức rõ nhiệm vụ,quyết tâm đổi mới mạnh mẽ tổ chức và hoạt động chính quyền các cấp

Về lý luận và thực tiễn, cấp chính quyền thành phố khá rõ ràng và hợp

lý, cơ bản đáp ứng được yêu cầu trong hệ thống chính quyền nhà nước Chínhquyền cấp xã, thị trấn gồm: Xã, phường, thị trấn là một cấp chính quyền

"không hoàn chỉnh", cũng có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, nhưngvấn đề cần nghiên cứu là đổi mới, nâng cao năng lực hoạt động cho cấp này

để có thể đáp ứng được yêu cầu quản lý giai đoạn hiện nay, để xây dựng chínhquyền đô thị sao cho phù hợp với vị thế, vai trò và trách nhiệm phát triển Thủ

đô Hà Nội

Trang 28

1.3 YÊU CẦU CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI VIỆC ĐỔI MỚI TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN XÃ, THỊ TRẤN

Nhà nước pháp quyền là thiết chế của nền dân chủ, là thành quả pháttriển của nhân loại Đó là nhà nước lấy nhân dân làm chủ thể, lấy pháp luậtlàm tiêu chí để quản lý xã hội Cốt lõi của tư tưởng, quan điểm về Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là Nhà nước của dân, do dân và vì dân;quản lý xã hội và quản lý nhà nước bằng pháp luật Không một thể chế nhànước và xã hội nào có thể đứng trên pháp luật và đứng ngoài pháp luật Mọi

cơ quan, tổ chức và công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định củaluật pháp Mọi quyết định của cơ quan công quyền phải hợp pháp Cán bộ,công chức trong thực thi công vụ phải lấy pháp luật làm chuẩn mực

Do đặc thù của thể chế chính trị, đặc điểm truyền thống của các dân tộc

và do những nguyên nhân khác nhau, Nhà nước pháp quyền không có khuônmẫu chung cho mọi quốc gia Để tránh nguy cơ độc đoán, chuyên quyền, nhiềunước phân chia quyền lực nhà nước thành 3 nhánh quyền: Lập pháp, hành pháp

và tư pháp, với phương châm dùng quyền lực kiểm tra, giám sát quyền lực.Trong quá trình hoạt động, các cơ quan này kiểm soát lẫn nhau, bảo đảm sự cânbằng quyền lực, tránh tình trạng lạm quyền, lấn át của quyền này đối với quyềnkhác Ở nước ta, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Ba quyền lậppháp, hành pháp và tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ViệtNam không độc lập, càng không đối lập, mà thống nhất với nhau trên cơ sởđường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Về tính chất, mối quan hệ vàhoạt động của ba quyền này là sự phân công, phối hợp để thực hiện nhiệm vụchung Vì vậy, cần có sự phân định rành mạch, khoa học để các cơ quan thựchiện các quyền phát huy tính năng động, sáng tạo, hoạt động đúng thẩm quyền,

và tránh chồng chéo chức năng, nhiệm vụ Đồng thời, có sự phối hợp, kiểm tralẫn nhau giữa các cơ quan thực hiện các quyền để phát huy hiệu lực chung của

Trang 29

quyền lực nhà nước thống nhất Cải cách hành chính do đó cần được tổ chứctriển khai toàn diện, đồng bộ, gắn kết với cải cách lập pháp và cải cách tư pháp.

Nền hành chính có chức năng thực thi quyền hành pháp - tổ chức thihành pháp luật và quản lý, điều hành mọi hoạt động trên các lĩnh vực đời sống

xã hội nhằm chuyển hóa chủ trương, đường lối của lực lượng cầm quyền thànhhiện thực, bảo đảm cho các chủ thể quan hệ pháp luật thực hiện nghiêm chỉnh,chính xác luật pháp Vì nền hành chính ra đời, tồn tại và thay đổi theo sự hìnhthành, phát triển của Nhà nước nên cải cách hành chính phải xuất phát từ tínhchất riêng biệt của hệ thống chính trị, từ hoàn cảnh lịch sử và thực tế đời sốngchính trị - kinh tế - xã hội mỗi nước Mục tiêu cải cách hành chính nước ta là xâydựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, quản lý toàn xã hội một cách hiệuquả, đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Yêu cầunày đòi hỏi trước hết phải xây dựng một nền hành chính dân chủ, pháp quyền

Đó là nền hành chính có tổ chức và hoạt động theo chuẩn mực pháp luật; bảođảm, bảo vệ các quyền công dân bằng pháp luật Công dân là người chủ thực sự,

có quyền làm những việc pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo phápluật Nền hành chính tạo mọi điều kiện để công dân tham gia tích cực vào quátrình xây dựng luật pháp Thông qua đó, các quyền tự do, dân chủ của côngdân được thể chế hóa và mở rộng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Tiếp

đó, nền hành chính bảo đảm các quyền công dân theo luật định được tôn trọngtrên thực tế thông qua hệ thống lập quy và bằng các biện pháp cụ thể Các vănbản pháp quy phải căn cứ vào pháp luật, chủ yếu là chấp hành pháp luật; vănbản cấp dưới không trái với văn bản cấp trên Các chủ thể hành chính tuyệtđối tuân thủ pháp luật, chỉ được làm những việc mà pháp luật cho phép Đồngthời, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng yêu cầu xây dựng một nềnhành chính phát triển Đó là nền hành chính vì dân, coi công dân là trung tâm

và đề cao chức năng phục vụ công Nền hành chính hướng tới sứ mệnh thỏamãn lợi ích chung của toàn xã hội và đáp ứng các nhu cầu chính đáng của

Trang 30

nhân dân một cách chất lượng, hiệu quả, kinh tế nhất Nền hành chính tạo mọithuận lợi để công dân và các tổ chức của họ tham gia thực hiện các công việcnhà nước Bằng hành động thực tiễn, nền hành chính quan tâm đảm bảo cácquyền và lợi ích của công dân, bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm công bằng,bình đẳng, tạo điều kiện cần thiết để mọi thành viên xã hội với những địa vị,điều kiện, thể chất… khác nhau nhưng có cơ hội như nhau để phát triển; bùđắp cho những người được hưởng lợi ít nhất; quan tâm giúp đỡ, cung cấp dịch

vụ cho nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện khó khăn và những nhómđối tượng yếu thế, có vị thế bất lợi trong nền kinh tế thị trường

Trong điều kiện hiện nay cần tiếp tục cải cách, giải quyết đúng đắnmối quan hệ giữa nền hành chính và công dân Công dân ủy quyền cho công

chức - "công bộc" của mình cung ứng những dịch vụ có chất lượng theo pháp

luật Nền hành chính không có mục đích tự thân mà phải vì nhân dân phục vụ

Cơ quan công vụ là các thiết chế phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân Cán bộcông chức gương mẫu chấp hành pháp luật, thực thi công vụ một cách phi vụlợi, đặt lợi ích của xã hội, của công dân lên trên hết Nhân dân là đối tượngchính trong xây dựng và triển khai chính sách, được tạo mọi điều kiện để chủđộng tham gia vào quá trình quản lý, cung ứng dịch vụ công; giám sát hoạtđộng của các cơ quan công quyền, và có thể thông qua các đại biểu của mìnhbãi miễn chức vụ của cán bộ, công chức không đủ uy tín, năng lực, với cơ chếthuận tiện, khả thi Để làm được điều đó, phải chú trọng nâng cao dân trí, pháthuy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước Cần thểchế hóa các quy định liên quan tới quyền và nghĩa vụ công dân một cách rõràng, cụ thể nhằm đảm bảo cho công dân thực sự được hưởng quyền và nghiêmchỉnh thực hiện nghĩa vụ Thực hiện đầy đủ nguyên tắc công khai, dân chủ trong

tổ chức và hoạt động của nền hành chính, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tụchành chính theo hướng đơn giản hóa nhằm xóa bỏ mầm mống quan liêu, cửaquyền, tham nhũng Nền hành chính cần tạo lập các cơ sở pháp lý để bảo đảm

Trang 31

công khai, minh bạch thông tin cho xã hội; lắng nghe, tiếp thu ý kiến và sẵn sàngtiếp nhận sự kiểm tra, giám sát và phê bình của nhân dân Các cơ quan phảichủ động xây dựng những kênh phù hợp cho mọi tầng lớp nhân dân tiếp cận vàphản hồi thông tin về hoạt động quản lý của mình nhằm phát huy vai trò phảnbiện chính sách của xã hội và nâng cao trách nhiệm giải trình của bộ máyhành chính Tăng cường các hình thức dân chủ trực tiếp; qua đó, động viên đượcnhân dân tham gia sâu rộng, thực chất hơn vào các hoạt động chính trị - xã hội.

Cải cách hành chính cũng có nghĩa thực hiện quản lý nhà nước thôngqua việc tác động bằng tổ chức - quyền lực để điều hành các quan hệ xã hội

Do vậy, nền hành chính phải có cơ cấu tổ chức hợp lý và cơ chế vận hành phùhợp để hoạt động có hiệu quả, hiệu lực Cần đổi mới tổ chức gắn liền với đổimới phương thức quản lý, lề lối làm việc là một trọng tâm cải cách hànhchính Cần tiếp tục phân định hợp lý, rành mạch thẩm quyền, trách nhiệmgiữa các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị và cá nhân để tạo cơ chế cânbằng và kiểm soát quyền lực; đồng thời, bao quát hết nhiệm vụ, đảm bảo thựcthi có chất lượng các công việc nhà nước ngày càng đa dạng, phức tạp Trong

đó, xác định hợp lý chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của từng cơ quan,đơn vị từ trung ương đến địa phương, định rõ trách nhiệm, quyền hạn từng vịtrí, chức danh công tác sẽ góp phần đảm bảo trật tự pháp luật hành chính.

Từ nền hành chính truyền thống quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tậptrung chuyển qua nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏiquản lý hành chính nhà nước của chính quyền cấp xã, thị trấn phải thay đổisang nền hành chính dịch vụ Yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động quản lýđiều hành của các cơ quan hành chính được coi là mục tiêu chiến lược củachương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, đó là xây dựng một nềnhành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa,

Trang 32

hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng

Chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dântheo đúng luật và quy chế làm việc là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với mộtchính quyền vững mạnh Hiện tại hầu hết các xã, thị trấn đã xây dựng quy chế đó

và đã được hoàn chỉnh thêm một bước sau khi có Quyết định của Thủ tướngChính phủ về Quy chế mẫu của Ủy ban nhân dân các cấp Tuy nhiên cấn phảiđánh giá việc thực hiện các quy chế đó cả về tổ chức, cán bộ, công chức của mỗiđơn vị Bên cạnh chính quyền còn có cả hệ thống chính trị, mỗi tổ chức hoạtđộng theo chức năng, nhiệm vụ riêng, song đều có mục đích chung là vì lợi íchcủa nhân dân, của cộng đồng Việc phối hợp trong hoạt động của các tổ chức đó

để đạt được mục tiêu chung là hết sức cần thiết Sự phối hợp đó không chỉ bằngcảm tính mà mà phải được thực hiện bằng những cơ chế, những quy định đểđảm bảo mọi hoạt động theo cùng một hướng, phát huy sức mạnh của cả hệthống chính trị vào thực hiện mục đích chung Mặt khác thông qua việc thamgia xây dựng và giám sát hoạt động giúp cho bộ máy của chính quyền càngvững mạnh hơn, tạo thêm sự phản biện xã hội và xây dựng một xã hội dân sự

Cần công khai, minh bạch mọi hoạt động của chính quyền trước nhândân, có cơ chế bảo đảm để nhân dân tham gia thảo luận, quyết định và giám sátviệc thực hiện các nhiệm vụ của địa phương Việc công khai, minh bạch các hoạtđộng của chính quyền đối với nhân dân là nhiệm vụ thường xuyên của mỗi tổchức nhà nước, trước hết là trong hệ thống hành chính nhà nước Đặc biệt trongnền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, việc công khai, minh bạch đãtrở thành tất yếu Hơn thế nữa, chính quyền cấp xã, thị trấn, nơi gần dân nhất,các hoạt động của chính quyền luôn gắn với quyền lợi, nghĩa vụ của công dân,việc công khai, minh bạch của chính quyền để nhân dân tham gia xây dựng vàgiám sát các hoạt động của chính quyền càng trở nên quan trọng hơn

Trang 33

Trong điều kiện đổi mới, cải cách hành chính ở nước ta hiện nay đặt rayêu cầu lớn đối với việc đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp

xã, thị trấn, cụ thể:

Trước hết, cần xây dựng chính quyền cấp xã, thị trấn theo hướng hình

thành bộ máy thi hành pháp luật của Nhà nước và những quyết định của Ủy bannhân dân cấp trên tại cơ sở Chính quyền xã, thị trấn với năng lực hiện tại khôngthể là cơ quan làm chính sách, cho dù chính sách trong phạm vi của xã, phường

Thứ hai, cần duy trì một đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã, thị trấn

ổn định, nhất là những công chức thực hiện các nhiệm vụ quản lý hành chínhnhà nước như địa chính, hộ tịch, tư pháp Sự ổn định của đội ngũ công chứcnày sẽ giúp cho việc theo dõi, quản lý hoạt động thi hành pháp luật ở cấp cơ

sở một cách liên tục, hệ thống Mặt khác, sự ổn định này đồng nghĩa với việcduy trì trình độ và kỹ năng thực thi công việc

Thứ ba, thực hiện việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thị xã bổ

nhiệm Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, thị trấn và cách chức khi không thựchiện tốt công việc Đây là cách nhằm hạn chế tình trạng "phân chia quyềnlực", cục bộ giữa các thôn trong xã, giữa các dòng họ trong thôn Bên cạnh

đó, cần đánh giá năng lực và đạo đức, sự tín nhiệm của nhân dân đối với lãnhđạo của chính quyền cấp xã, thị trấn Chính quyền cấp xã, thị trấn gần dân baonhiêu thì cần được để nhân dân trực tiếp giám sát bấy nhiêu Việc bổ nhiệm,bãi nhiệm lãnh đạo chính quyền cấp xã, thị trấn cần dựa trên cơ sở đánh giácủa nhân dân

Thứ tư, tạo cơ sở pháp lý để Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn, tư vấn

trưởng thôn trong việc đưa ra các quyết định hành chính Trưởng thôn lànhững người được cộng đồng dân cư tín nhiệm bầu lên, có uy tín và ảnhhưởng lớn trong cộng đồng Chính vì vậy, sự tham gia và tư vấn của trưởngthôn trong các phiên họp của Ủy ban nhân dân xã, thị trấn cũng như trong

Trang 34

việc đưa ra quyết định hành chính, trong thi hành pháp luật là một giải phápgiúp nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền ở cơ sở.

Thứ năm, cần đầu tư thỏa đáng về cơ sở vật chất cho chính quyền cấp

cơ sở Trụ sở cơ quan công quyền phải có đủ những điều kiện bảo đảm để thựcthi quyền lực hiệu quả Hồ sơ, giấy tờ liên quan đến công vụ cần phải được lưugiữ và bảo quản một cách an toàn, bảo đảm giá trị pháp lý khi cần xác minh hoặc

xử lý những yêu cầu cụ thể của nhân dân Nâng cao tính chuyên nghiệp trongcông vụ của Ủy ban nhân dân xã, thị trấn cần phải được coi là ưu tiên trongbối cảnh đội ngũ cán bộ chính quyền ở cơ sở còn nhiều hạn chế, bất cập

1.4 KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN XÃ, THỊ TRẤN Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

1.4.1 Kinh nghiệm từ Đà Nẵng

Đà Nẵng là một thành phố trực thuộc trung ương có khá nhiều điểmtương đồng với Hà Nội Hiện nay Đà Nẵng được coi là một mô hình chuẩn vềquản lý đô thị Chính vì vậy, cơ cấu tổ chức và hoạt động của chính quyềnthành phố Đà Nẵng được coi là kinh nghiệm quý báu cho quá trình đổi mới tổchức và hoạt động của chính quyền thành phố Hà Nội

Theo hướng ban đầu đề ra, thì bộ máy Hội đồng nhân dân cấp quận,huyện và phường sẽ không còn nữa Tuy nhiên, do đặc điểm của Đà Nẵng vàtiến trình đô thị hóa, Đà Nẵng kiến nghị xin được bỏ Hội đồng nhân dân cấp

xã Theo lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, mô hình chính quyền

đô thị sẽ giúp người dân được hưởng lợi nhiều thể hiện qua việc giải quyếtcác vấn đề nhanh hơn, ít phiền hà hơn Việc bỏ Hội đồng nhân dân cấp xã ở

Đà Nẵng xuất phát từ nhu cầu thực tế của công tác quản lý, vận hành bộ máynhà nước tại địa phương Làm thế nào để giải quyết các vấn đề vướng mắccủa người dân được nhanh hơn và tốt hơn Chính quyền đô thị phải làm saođáp ứng, giải quyết được các vấn đề của dân một cách nhanh gọn Chính

Trang 35

quyền phải thể hiện rõ hiệu lực và hiệu quả trong quản lý nhà nước Thêm vào

đó, Chính quyền đô thị thì phải phát triển đúng nghĩa tương xứng với qui mô

đô thị, nên yêu cầu của bộ máy cao hơn, chất lượng giải quyết các vấn đề tốthơn, thời gian nhanh hơn, các thủ tục hành chính phải được đơn giản hơn Khikhông còn Hội đồng nhân dân xã nữa, hoạt động của chính quyền đô thị vàviệc bố trí nhân sự sẽ được giải quyết tùy theo tính chất của sự việc mà xử lýtheo trình tự từ Ủy ban nhân dân cấp dưới lên trên, nhưng khác biệt là sự tinhnhuệ của bộ máy Điều đó đặt ra yêu cầu cao hơn về trình độ và đạo đức của

bộ máy công quyền, và theo lãnh đạo thành phố Đà Nẵng, đó gọi là cái "tinhnhuệ" Từ mô hình chính quyền đô thị của Đà Nẵng, người dân sẽ đượchưởng lợi nhiều thể hiện qua việc giải quyết các vấn đề nhanh hơn, ít phiền hàhơn Quan trọng hơn là người dân được giải quyết các vấn đề một cách tốtnhất, làm việc với người công chức có trách nhiệm, có tâm với dân

Trong khuôn khổ Đề án xây dựng chính quyền đô thị, Đà Nẵng cũng

đề xuất thành lập quỹ hỗ trợ công chức, viên chức, được một số đại biểu Hộiđồng nhân dân Thành phố gọi là Quỹ giữ gìn đạo đức công chức Đây là mộtphần của Đề án Xây dựng chính quyền đô thị tại Đà Nẵng, nhằm phục vụ chủtrương tinh gọn bộ máy Có nghĩa là cần những công chức có trình độ, có đạođức đáp ứng được nhu cầu công việc Đồng thời nâng cao trách nhiệm củacán bộ công chức đối với công việc

Tuy nhiên, đi kèm đó là các chính sách đối với những cán bộ côngchức này nhằm cân bằng mức thu nhập hiện tại của công chức nhà nước sovới bên ngoài Một mặt chính quyền sẽ giữ được người tài, tránh chảy máuchất xám Một mặt, người dân sẽ có được những người công chức thật sựphục vụ lợi ích của nhân dân, tránh nhũng nhiễu

Sau hơn 1 năm thí điểm thực hiện việc không tổ chức Hội đồng nhândân (Hội đồng nhân dân) 8 quận, huyện và 45 phường tại Đà Nẵng, mọi chỉtiêu kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương đều đảm bảo, quyền

Trang 36

dân chủ người dân được phát huy Bộ máy chính quyền toàn Thành phố đượcvận hành đồng bộ, thống nhất, nhanh, linh hoạt và hiệu quả hơn trước Đây làbước tiến triển tốt để xây dựng mô hình chuẩn về quản lý đô thị.

- Kết quả tốt đẹp của Đà Nẵng trước hết là do đã phát huy vai tròngười đứng đầu: Khác với một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương kháccủa cả nước, Đà Nẵng triển khai thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dâncác cấp quận, huyện, phường được thực hiện rất chủ động Từ việc ban hànhcác văn bản chỉ đạo cho đến công tác tuyên truyền được triển khai nhanh, sát,nên công tác tổ chức nhân sự được đồng thuận Yếu tố dẫn đến thành côngnhanh khi thực hiện thí điểm chủ trương này tại Đà Nẵng, phải nhắc đến

"truyền thống" điều hành nhất quán của bộ máy hành chính địa phương Đặcbiệt sau ngày chia tách tỉnh

Không thể phủ nhận vai trò của Hội đồng nhân dân rất quan trọng quanhiều thời kỳ Tuy nhiên, hiện nay không còn như trước nữa Nhất là ở các đôthị, với sự chỉ đạo, điều hành được tập trung, nhất quán Các điều kiện để

"tương tác" giữa bộ máy chính quyền và người dân rất thuận tiện, nhiều kênh,đảm bảo tối đa quyền dân chủ cơ sở Khi không tổ chức Hội đồng nhân dân

Trang 37

các cấp quận, huyện, phường, chủ tịch Ủy ban nhân dân các địa phương được

bổ nhiệm trực tiếp, trách nhiệm người đứng đầu của họ được khẳng định vàquan trọng hơn là ý thức về trách nhiệm đó chắc chắn được nâng cao Khi saiphạm, họ có thể bị miễn nhiệm ngay mà không cần chờ đến kỳ họp Hội đồngnhân dân đồng cấp Ngược lại, vai trò tự chủ của chính quyền cấp xã, thị trấn,người đứng đầu được phát huy Chính vì thế mà hiệu quả công việc cao hơn.Sau hơn 1 năm thí điểm, Đà Nẵng vẫn giữ được vị trí đứng đầu về chỉ số nănglực cạnh tranh cấp tỉnh liên tiếp (CPI) Bổ nhiệm trực tiếp không nhất thiếtphải lấy người địa phương, vì thế công tác tổ chức linh hoạt, chất lượng cán

bộ cũng được nâng cao

- Những phát sinh được giải quyết nhanh hơn: Sau khi không thực

hiện Hội đồng nhân dân, quyền và lợi ích của người dân vẫn đảm bảo, nângcao Thực tế cũng có nhiều ý kiến băn khoăn về sự thiếu vắng vai trò giámsát Nhưng thực tế vai trò giám sát, kiểm tra của cấp ủy Đảng, Ủy ban Mặttrận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể được nâng cao, thường xuyêngiám sát Ủy ban nhân dân đã giải quyết được vận đề đáng ngại đó

Tuy nhiên, chủ trương tăng cường vai trò giám sát của Hội đồng nhândân cấp Thành phố đến các cấp quận, huyện, phường cho đến nay chưa cóhướng dẫn cụ thể từ trung ương Những bổ sung về nhân sự, tài chính, chươngtrình hoạt động chưa được cụ thể, vì thế còn lúng túng khi thực hiện Môhình không tổ chức Hội đồng nhân dân các cấp quận, huyện, phường phù hợpđối với quản lý nhà nước ở đô thị hơn là khu vực nông thôn [34]

1.4.2 Kinh nghiệm đổi mới mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân

và Ủy ban nhân dân xã ở Nghệ An

Để nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy bannhân dân các cấp, một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng là cần phải

Trang 38

giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dântrong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan Hội đồng nhândân và Ủy ban nhân dân xã, thị trấn là hai cơ quan của chính quyền cấp xã, thịtrấn Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là mối quan

hệ giữa cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và cơ quan chấp hành củaHội đồng nhân dân - Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Đây là mốiquan hệ giữa cơ quan quyền lực có chức năng quyết định những chủ trương,biện pháp quan trọng để phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở địa phương;giám sát việc thực hiện pháp luật đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địaphương và cơ quan hành chính nhà nước có chức năng chỉ đạo, tổ chức thựchiện nghị quyết Hội đồng nhân dân cùng cấp, văn bản pháp luật liên quan đếnđịa phương Với chức năng, nhiệm vụ của mình, cả Hội đồng nhân dân và Ủyban nhân dân đều có vai trò quan trọng trong công tác xây dựng và phát triểncác lĩnh vực: Kinh tế; xã hội; củng cố quốc phòng - an ninh; ổn định, nângcao đời sống của nhân dân địa phương và xây dựng chính quyền cấp xã, thịtrấn vững mạnh Tuy nhiên, mục tiêu đó khó có thể đạt được nếu giữa Hộiđồng nhân dân và Ủy ban nhân dân không có sự phối hợp chặt chẽ trong quátrình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao Trên thực tế nhận thức củamột số cá nhân về vấn đề này chưa có sự thống nhất, số cá nhân đó cho rằng

để thực hiện tốt nhiệm vụ của mỗi cơ quan không nhất thiết phải có sự phốihợp giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Tuy nhiên, trên thực tế, mốiquan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã, thị trấn rất quantrọng trong chuẩn bị kỳ họp, tiến hành kỳ họp và sau kỳ họp Hội đồng nhândân xã, thị trấn

Để góp phần tạo nên sự thành công của kỳ họp Hội đồng nhân dân xã,thị trấn, khâu chuẩn bị các điều kiện cho kỳ họp đóng một vai trò rất quantrọng, đặc biệt là việc chuẩn bị nội dung cho kỳ họp Nhận thức được tầmquan trọng nói trên, thường trực Hội đồng nhân dân xã, thị trấn đã chủ động

Trang 39

tổ chức hội nghị bao gồm thường trực Đảng ủy, thường trực Hội đồng nhândân, đại diện của Ủy ban mặt trận Tổ quốc cùng cấp, Ủy ban nhân dân đểthống nhất dự kiến chương trình, nội dung, thời gian tiến hành kỳ họp Trongcác cuộc họp đó Ủy ban nhân dân được phân công phối hợp cùng với thườngtrực Hội đồng nhân dân để chuẩn bị điều kiện vật chất cũng như nội dungchương trình cho kỳ họp Cụ thể, Ủy ban nhân dân: Chuẩn bị báo cáo về tìnhhình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội 6 tháng, 1 năm của xã; báo cáo dựtoán ngân sách, quyết toán ngân sách xã; Chuẩn bị các đề án về quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất khu dân cư và các loại đất khác theo thẩm quyền; Chuẩn bị

đề án làm đường giao thông nông thôn, xây dựng nhà văn hóa xóm; Chuẩn bị

đề án giải quyết việc làm cho lao động địa phương, phát triển chăn nuôi trâu,

bò, lợn, vịt ở địa phương…

Để việc chuẩn bị nội dung các báo, đề án trình Hội đồng nhân dân cóchất lượng, trên tinh thần nội dung cuộc họp do thường trực Hội đồng nhândân xã, thị trấn phối hợp tổ chức, và căn cứ vào quy chế phối hợp hoạt độnggiữa Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, thị trấn đã được ban hành Ủyban nhân dân xã, thị trấn phân công các ban như: Ban kinh tế, ban văn hóa xã,hội, ban tư pháp, văn phòng…chuẩn bị báo cáo, đề án để Ủy ban nhân dânxem xét trước khi trình ra Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thảo luận thông qua

Để giúp Hội đồng nhân dân thảo luận và thông qua các báo cáo, đề ánđạt chất lượng cao, thường trực Hội đồng nhân dân ngoài việc phối hợp với

Ủy ban nhân dân chuẩn bị nội dung, chương trình kỳ họp còn cùng với vănphòng ủy ban nhân dân gửi các báo cáo, đề án, giấy mời cho các đại biểu Hộiđồng nhân dân xã, thị trấn, đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, tỉnh, đại biểuQuốc hội được bầu ở địa phương, cơ quan nhà nước và các đại biểu khác theoquy định của pháp luật Phối hợp với Ủy ban nhân dân xã, thị trấn chuẩn bịđiều kiện vật chất để kỳ họp được tiến hành theo quy định và đạt chất lượng tốt

Trang 40

Trong quá trình tiến hành kỳ họp: Kỳ họp được xác định là một trongbốn hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân và được coi là hình thức hoạtđộng chủ yếu của Hội đồng nhân dân xã Bởi vì, kỳ họp là nơi tập trung trí tuệcác đại biểu Hội đồng nhân dân, nơi xem xét và biến ý chí nguyện vọng của

đa số nhân dân trong xã thành quy định mang tính bắt buộc đối với các cánhân và tổ chức liên quan trên địa bàn - nơi thực hiện quyền làm chủ của nhândân địa phương và thực hiện chức năng của Hội đồng nhân dân Tại kỳ họpHội đồng nhân dân đã tiến hành xem xét các báo cáo, đề án do Ủy ban nhândân xã, thị trấn đệ trình, như: Báo cáo thực hiện nghị quyết Hội đồng nhândân về phát triển kinh tế - xã hội xã, thị trấn 6 tháng, năm; báo cáo thực hiện

đề án về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi; đề án xây dựng đường giaothông nông thôn…

Do được chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc, nên các báo cáo, đề án Ủy bannhân dân trình Hội đồng nhân dân đều được Hội đồng nhân dân và cử tri của

xã, thị trấn đánh giá có chất lượng, đã góp phần không nhỏ trong việc nângcao chất lượng nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn

Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân còn đượcthể hiện thông qua chương trình chất vấn và trả lời chất vấn của Chủ tịch, Phóchủ tịch và các thành viên của Ủy ban nhân dân xã, thị trấn Để chất vấn vàtrả lời chất vấn đạt kết quả tốt cần phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữangười chất vấn và người có trách nhiệm trả lời chất vấn Người có tráchnhiệm trả lời chất vấn sau khi nhận được câu hỏi chất vấn của đại biểu Hộiđồng nhân dân từ chủ tọa kỳ họp, người có trách nhiệm trả lời chất vấn đãchuẩn bị nghiêm túc và đi thẳng vào vấn đề trả lời trực tiếp trước Hội đồngnhân dân, trường hợp không có điều kiện trả lời trực tiếp thì người có tráchnhiệm trả lời chất vấn, trả lời bằng văn bản cho người chất vấn và thường trựcHội đồng nhân dân theo quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủyban nhân dân năm 2003 Vì vậy, những vấn đề thuộc phạm vi quản lý của Uỷ

Ngày đăng: 19/07/2022, 00:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (1995), Về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, phương thức hoạt động của người đại biểu Hội đồng nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tổ chức và hoạt động của Hộiđồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, phương thức hoạt độngcủa người đại biểu Hội đồng nhân dân
Tác giả: Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ
Năm: 1995
2. Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (2000), Khuyến nghị về chính sách đối với cán bộ xã, phường, thị trấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến nghị về chính sách đốivới cán bộ xã, phường, thị trấn
Tác giả: Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ
Năm: 2000
3. Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (2001), Công văn số 151/CV-BTCCB ngày 8/5 về việc góp ý đề án kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 151/CV-BTCCB ngày8/5 về việc góp ý đề án kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở
Tác giả: Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ
Năm: 2001
4. Ban Tổ chức Cán bộ chính phủ (2002), Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã trong tiến trình cải cách hành chính, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và hoạt động củachính quyền xã trong tiến trình cải cách hành chính
Tác giả: Ban Tổ chức Cán bộ chính phủ
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 2002
5. Bộ Nội vụ, Vụ chính quyền địa phương (2002), Xây dựng và kiện toàn tổ chức chính quyền cơ sở (xã) trong điều kiện cải cách hành chính. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và kiện toàn tổchức chính quyền cơ sở (xã) trong điều kiện cải cách hành chính
Tác giả: Bộ Nội vụ, Vụ chính quyền địa phương
Năm: 2002
6. Chính phủ (1945), Sắc lệnh số 63-SL ngày 22/11 của Chủ tịch Chính phủ về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính xã, huyện, tỉnh, kỳ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 63-SL ngày 22/11 của Chủ tịch Chính phủvề tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính xã, huyện, tỉnh,kỳ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1945
7. Chính phủ (1945), Sắc lệnh số 77-SL ngày 21/12 của Chủ tịch Chính phủ qui định về tổ chức chính quyền ở các thành phố, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 77-SL ngày 21/12 của Chủ tịch Chính phủqui định về tổ chức chính quyền ở các thành phố
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1945
8. Chính phủ (2001), Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9 của Thủtướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hànhchính nhà nước giai đoạn 2001-2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
9. Nguyễn Đăng Dung (1997), Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương - Lịch sử và hiện tại, Nxb Đồng Nai, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương -Lịch sử và hiện tại
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 1997
10. Nguyễn Đăng Dung (1998), Hội đồng nhân dân trong hệ thống cơ quan nhà nước, Nxb Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội đồng nhân dân trong hệ thống cơ quannhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Pháp lý
Năm: 1998
11. Nguyễn Đăng Dung (2001), "Quan hệ pháp luật với Nhà nước, nhân dân", Nghiên cứu lập pháp, (11), tr. 53-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ pháp luật với Nhà nước, nhân dân
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2001
12. Nguyễn Đăng Dung (2002), "Quyền lập quy của cơ quan hành pháp", Luật học, (4), tr. 9-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền lập quy của cơ quan hành pháp
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2002
13. Trần Ánh Dương (2006), Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã, thị trấn ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay , Luận văn Thạc sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của cánbộ, công chức chính quyền cấp xã, thị trấn ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay
Tác giả: Trần Ánh Dương
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấphành Trung ương khóa VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1990
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấphành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1992
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấphành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấphành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w