Trong hÖ thèng c¸c c¬ quan tư pháp ViÖt Nam, theo quy định của Hiến pháp năm 1992 vµ Luật Tổ chức ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hiện chức năng t
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong Nhà nước pháp quyền, các cơ quan tư pháp có vai trò đặc biệtquan trọng nhằm đảm bảo cho các đặc trưng của Nhà nước pháp quyềnđược thể hiện đầy đủ, toàn diện Vì vậy, kiện toàn và nâng cao chất lượng,hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp được Đảng và Nhà nước ta đặcbiệt quan tâm
Luật Đất đai của Nhµ nước ta luôn khẳng định đất đai lµ tµi nguyên vô
cùng quý giá, lµ tư liệu sản xuất đặc biệt, lµ thµnh phần quan trọng hµngđầu của môi trường sống, lµ địa bµn phân bố các khu dân cư, xây dựng các
cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh vµ quốc phòng Đất đai thuộc sở hữutoµn dân do Nhµ nước thống nhất quản lý
Tại khoản 1 Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 tiếp tục khẳng định “Đất
đai thuộc sở hữu toµn dân do Nhµ nước đại diện chủ sở hữu”
Thời gian qua các quy định của Luật Đất đai đã từng bước đi vµo cuộc
sống, phát huy có hiệu quả trong việc điều chỉnh, bảo vệ chế độ sở hữu toµndân đối với đất đai, góp phần đáng kể đưa công tác quản lý đất đai vµo nềnếp, phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị an toµn xã hội, bảo vệquyền vµ lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, đồng thời các văn bảnpháp luật về đất đai cũng tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho ViÖn kiÓm sátnhân dân các cấp trong việc áp dụng pháp luật để kiểm sát giải quyết tranhchấp đất đai
Trong hÖ thèng c¸c c¬ quan tư pháp ViÖt Nam, theo quy định của Hiến
pháp năm 1992 vµ Luật Tổ chức ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n năm 2002, Viện
kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tố vàkiểm sát các hoạt động tư pháp, trong đó có hoạt động giải quyết các vụ viÖcd©n sù tranh chấp về đất đai Với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng d©n sù,
Trang 2Viện kiểm sỏt cú trỏch nhiệm kiểm sỏt việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động xét xử của Toà án, của người dân tham gia tố tụng dân sự Bảo đảm việcxột xử của Tũa ỏn tuõn thủ theo đỳng cỏc quy định của phỏp luật trong quỏtrỡnh giải quyết vụ ỏn, đảm bảo việc giải quyết vụ ỏn được chớnh xỏc, kịp thời
và đỳng phỏp luật Thực tiễn giải quyết cỏc tranh chấp dõn sự tại Tũa ỏn chothấy, trong những năm gần đõy, tỡnh hỡnh tranh chấp đất đai diễn biến phứctạp và cú xu hướng ngày càng gia tăng Số lượng đơn đề nghị Tũa ỏn xem xột
vụ ỏn theo trỡnh tự giỏm đốc thẩm, tỏi thẩm ngày một tăng và tớnh chất ngàycàng phức tạp Trong đú phần lớn là cỏc vụ, việc liờn quan đến tranh chấp nhà
và đất chiếm tỷ lệ lớn và là loại tranh chấp phức tạp nhất trong số cỏc tranh
chấp về dõn sự Mặc dự Luật Đất đai năm 2003 cú hiệu lực thi hành từ ngày
01/07/2004 đó cú nhiều quy định mới rừ ràng hơn tạo thuận lợi cho mọi cụngdõn đưa quyền sử dụng đất vào giao lưu dõn sự, gúp phần thỳc đẩy kinh tế -gia đỡnh và xó hội phỏt triển thụng qua hệ thống phỏp luật Tuy nhiờn, phỏpluật về đất đai vẫn cũn nhiều khoảng trống, tớnh ổn định thấp, đặc biệt cúnhững thời kỳ phỏp luật đất đai chưa phự hợp với cuộc sống đó tạo ra cỏc hoạtđộng ngầm trong lĩnh vực đất đai như chuyển nhượng quyền sử dụng đấtkhụng qua chớnh quyền địa phương…
Thực hiện chức năng của mỡnh, trong thời gian qua, Viện kiểm sỏtnhõn dõn đó tăng cường kiểm sỏt chặt chẽ quỏ trỡnh giải quyết cỏc vụ ỏn vềtranh chấp đất đai Qua cụng tỏc kiểm sỏt thực hiện chức năng, Viện kiểmsỏt nhõn dõn tối cao đó giỳp Tũa ỏn phỏt hiện và khắc phục nhiều hạn chế,thiếu sút trong việc ỏp dụng phỏp luật, kể cả phỏp luật nội dung và phỏpluật về tố tụng; đồng thời đó phỏp hiện nhiều vấn đề vướng mắc về chớnhsỏch, phỏp luật đất đai, cần phải nghiờn cứu để sửa đổi bổ sung, hoàn thiện.Mặc dù vậy, trong ngành Kiểm sỏt, nhiều văn bản phỏp luật liờn quan đếncụng tỏc giải quyết cỏc vụ ỏn tranh chấp về đất đai chưa được hướng dẫn,tập huấn kịp thời, sõu sỏt; bờn cạnh đú, tổ chức bộ mỏy, đội ngũ cỏn bộ, cơ
Trang 3sở, vật chất chưa được tiếp tục kiện toàn để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụcải cách tư pháp.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần phải tập trung mọi nguồnlực đẩy nhanh tiến độ khắc phục và hoàn thiện hơn cả về tổ chức, cơ sở vậtchất, trình độ cán bộ, kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát cáchoạt động tư pháp trong việc giải quyết các tranh chấp về đất đai đảm bảo Tòadân sự Tòa án nhân dân tối cao và Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao ra bản
án kịp thời, nghiêm minh và đúng pháp luật đồng thời phát hiện chính xác vàkịp thời những quyết định và bản án của tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm, giámđốc thẩm, tái thẩm của tòa án cấp tỉnh, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩmcủa Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao có sai lầm trong việc áp dụng phápluật về đất đai để giải quyết các tranh chấp đất đai Từ đó, ngành Tòa án khắcphục việc áp dụng sai pháp luật; tăng cường công tác hướng dẫn áp dụngthống nhất các quy định của pháp luật liên quan đến việc giải quyết các tranhchấp về đất đai và ban hành được các quyết định, bản án đúng pháp luật,khách quan, thấu tình đạt lý đúng thời hạn luật định và có tính giáo dục ý thứctôn trọng pháp luật trong quần chúng nhân dân
Chất lượng áp dụng pháp luật trong hoạt động thực hành quyền công
tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trongviệc giải quyết tranh chấp đất đai là một trong những yếu tố quan trọng cótính chất quyết định chất lượng công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụcủa ngành Kiểm sát nhân dân nói chung và của khâu công tác kiểm sát các
vụ án dân sù nói riêng Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách
tư pháp hiện nay thì về mặt lý luận và thực tiễn có nhiều vấn đề đặt ra cầnnghiên cứu, trong đó có vấn đề áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sátcủa Viện kiểm nhân dân tối cao nói chung và áp dụng pháp luật trong việckiểm sát giải quyết các tranh chấp đất đai tại Viện kiểm sát nhân dân tốicao nãi riªng
Trang 4Từ những lý do nờu trờn, việc nghiên cứu đề tài "Áp dụng phỏp luật
trong hoạt động kiểm sỏt việc giải quyết cỏc tranh chấp đất đai của Viện kiểm sát nhân dân tối cao” là rất cần thiết và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đó cú một số chuyờn đề, bài viết trờn tạp chớ Kiểm sỏt đề cập đếnnhững khớa cạnh khỏc nhau của việc ỏp dụng phỏp luật trong hoạt động kiểmsỏt việc giải quyết tranh chấp đất đai của Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao, như:
- Chuyờn đề nghiệp vụ: “Một số kinh nghiệm trong cụng tỏc kiểm sỏt việc giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất” năm 2007, do Vụ kiểm sỏt xột xử
giỏm đốc thẩm cỏc vụ ỏn dõn sự Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao thực hiện
- Chuyờn đề nghiệp vụ: “Nõng cao chất lượng kiểm sỏt giải quyết ỏn tranh chấp đất đai - Một số giải phỏp, kiến nghị” năm 2010, do Vụ kiểm sỏt xột
xử giỏm đốc thẩm cỏc vụ ỏn dõn sự Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao thực hiện
Cỏc bài viết đăng trờn tạp chớ:
- “Những vấn đề cơ bản về chớnh sỏch, phỏp luật đất đai ở Việt Nam”
của TS Hoàng Thị Quỳnh Chi đăng trờn kỷ yếu của đề tài cấp bộ
- “Những vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai và việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Tũa ỏn nhõn dõn” của TS Hoàng Thị Quỳnh Chi đăng trờn
kỷ yếu của đề tài cấp bộ
- “ Vị trớ, vai trũ, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sỏt nhõn dõn trong việc giải quyết cỏc vụ ỏn tranh chấp đất đai tại Tũa ỏn” của ThS Phạm
Hoàng Diệu Linh đăng trờn kỷ yếu của đề tài cấp bộ
- “Thẩm quyền của Tũa ỏn trong việc giải quyết cỏc tranh chấp về quyền sử đất” của Trần Anh Tuấn, đăng trờn Tạp chớ Nghiờn cứu lập phỏp, số
thỏng 4/2009, tr 52-56
- “Hoàn thiện cơ chế điều chỉnh phỏp luật đất đai ở Việt Nam” của TS.
Nguyễn Cảnh Quý, Luận ỏn tiến sĩ luật học, Học viện chớnh trị Quốc gia HồChớ Minh, Hà Nội, năm 2001
Trang 5- Luận văn thạc sĩ của tỏc giả Chu Đức Thắng: "Áp dụng phỏp luật trong việc giải quyết cỏc vụ ỏn dõn sự của Tũa ỏn nhõn dõn ở cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay", Học viện Chớnh trị quốc gia Hồ Chớ Minh, năm 2004.
Nội dung cỏc chuyờn đề, bài viết của cỏc tỏc giả đó nghiờn cứu ở nhữngmức độ, khớa cạnh khỏc nhau của việc ỏp dụng phỏp luật trong giải quyết cỏctranh chấp đất đai Cho đến nay chưa cú một cụng trỡnh nghiờn cứu nào phõntớch một cỏch toàn diện, đầy đủ, cú hệ thống dưới gúc độ lý luận chung vềNhà nước và Phỏp luật vấn đề ỏp dụng phỏp luật trong hoạt động kiểm sỏtviệc giải quyết tranh chấp đất đai của Viện kiểm sỏt ỏn nhõn dõn tối cao - loạitranh chấp gay go nhất, phức tạp nhất trong tất cả các tranh chấp về dân sự
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiờn cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Luận văn đề xuất cỏc giải phỏp nhằm nõng cao chất lượng, hiệu quả ỏpdụng phỏp luật của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong kiểm sỏt việc giảiquyết cỏc tranh chấp đất đai
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Để thực hiện mục đích nêu trên luận văn có nhiệm vụ: Phõn tớch cơ sở
lý luận của việc ỏp dụng phỏp luật của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trongkiểm sỏt việc giải quyết cỏc tranh chấp đất đai dưới gúc độ lý luận Mỏc -Lờnin về Nhà nước phỏp luật, luận văn nờu khỏi niệm, đặc điểm, quy trỡnh ỏpdụng phỏp luật, tiờu chớ đỏnh giỏ và cỏc yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ỏpdụng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao phỏp luật trong việc giải quyết cỏctranh chấp đất đai
- Đánh giá thực trạng ỏp dụng phỏp luật của Viện kiểm sát nhân dân tốicao trong kiểm sỏt việc giải quyết tranh chấp đất đai Phõn tớch, đỏnh giỏ chấtlượng ỏp dụng phỏp luật của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong quỏ trỡnhgiải quyết cỏc tranh chấp đất đai, rỳt ra những ưu điểm đạt được, những hạnchế và nguyờn nhõn của những ưu điểm, hạn chế đú
Trang 6- Xỏc định được cỏc yờu cầu, nội dung, cỏc yếu tố bảo đảm việc ỏpdụng phỏp luật của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc kiểm sỏt giảiquyết cỏc tranh chấp đất đai trong giai đoạn Đảng và Nhà nước ta đang chỉđạo tăng cường cải cỏch tư phỏp và xõy dựng Nhà nước phỏp quyền Việt Nam
xó hội chủ nghĩa
- Đề xuất và luận chứng những quan điểm, giải phỏp chủ yếu nhằmnõng cao chất lượng, hiệu quả của việc ỏp dụng phỏp luật của Viện kiểm sátnhân dân tối cao trong việc kiểm sỏt giải quyết cỏc tranh chấp đất đai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luọ̃n văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiờn cứu những vấn đề lý luận ỏp dụng phỏp luậtcủa Viện kiểm sát nhân dân tối cao vào việc kiểm sỏt giải quyết cỏc tranhchấp đất đai Nghiờn cứu thực trạng ỏp dụng phỏp luật trong việc kiểm sỏt giảiquyết cỏc tranh chấp quyền sử dụng đất, nguyờn nhõn và những bất cập trongviệc ỏp dụng phỏp luật, từ đú đưa ra những giải phỏp nhằm nõng cao chấtlượng việc ỏp dụng cỏc văn bản phỏp luật vào việc kiểm sỏt giải quyết cáctranh chấp đất đai
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi một luận văn thạc sĩ luật học chuyờn ngành lý luận Nhànước và phỏp luật, luận văn chỉ bao gồm những nội dung lý luận, thực tiễn cúliờn quan đến vấn đề ỏp dụng phỏp luật tố tụng và phỏp luật nội dung tronghoạt động kiểm sát việc giải quyết cỏc tranh chấp đất đai tại Viện kiểm sỏtnhõn dõn tối cao
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luọ̃n văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trờn cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mỏc - Lờnin, tư tưởng
Hồ Chớ Minh về Nhà nước và phỏp luật, cỏc quan điểm đường lối của ĐảngCộng sản Việt Nam về tăng cường phỏp chế, xõy dựng Nhà nước phỏp quyền
Trang 7của dõn, do dõn, vỡ dõn đặc biệt là cỏc quan điểm của Đảng chỉ đạo về cảicỏch tư phỏp, đổi mới hoạt động của cỏc cơ quan tư phỏp núi chung và củaViện kiểm sỏt nhõn dõn núi riờng.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng cỏc phương phỏp của triết học duy vật biện chứng,duy vật lịch sử Mỏc xớt, trong đú chỳ trọng cỏc phương phỏp kết hợp giữa lýluận và thực tiễn, phương phỏp phõn tớch và tổng hợp, phương phỏp lịch sử cụthể Ngoài ra cũn sử dụng cỏc phương phỏp của cỏc bộ mụn khoa học khỏcnhư phương phỏp logic, thống kờ, phân tích, tổng hợp, so sánh
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn
Luận văn phõn tớch khỏi niệm, đặc điểm, quy trỡnh ỏp dụng phỏp luật,xỏc định tiờu chớ đỏnh giỏ và cỏc yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ỏp dụngphỏp luật trong việc kiểm sỏt của Viện kiểm sỏt nhõn dõn núi chung và trongviệc kiểm sỏt giải quyết tranh chấp đất đai tại Viện kiểm sát nhân dân tối caonói riêng
Đỏnh giỏ thực trạng chất lượng ỏp dụng phỏp luật trong kiểm sỏt việcgiải quyết tranh chấp đất đai tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Đề xuất giải phỏp phự hợp thực tiễn hiện nay nhằm nõng cao chấtlượng ỏp dụng phỏp luật của Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao trong việc kiểmsỏt giải quyết cỏc tranh chấp đất đai
7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiờn cứu của luận văn gúp phần bổ sung và phỏt triển lý luậnphục vụ yờu cầu thực tiễn của việc khụng ngừng nõng cao chất lượng ỏp dụngphỏp luật trong hoạt động xột xử núi chung và trong việc kiểm sỏt giải quyếtcỏc tranh chấp đất đai tại Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao núi riờng và trongcụng cuộc cải cỏch tư phỏp hiện nay
Kết quả nghiờn cứu của luận văn cú thể làm tư liệu tham khảo phục vụcho cụng tỏc nghiờn cứu giảng dạy khoa học phỏp lý núi chung và đào tạo
Trang 8chức danh Tư pháp nói riêng Nội dung của luận văn cũng có thể góp phầnxây dựng kỹ năng nghề nghiệp của cán bộ, Kiểm sát viên ngành Kiểm sát, kỹnăng nghiên cứu hồ sơ, đặc biệt là đối với các cán bộ, Kiểm sát viên ở khâukiểm sát án dân sự, kiểm sát giải quyết các vụ án tranh chấp đất đai và các vụ
án có liên quan đến tranh chấp đất đai
8 KÕt cÊu cña luËn v¨n
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương, 8 tiÕt
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRONG VIỆC KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
1.1.1 Khái niệm tranh chấp đất đai
Trong đời sống xã hội, các mối quan hệ xã hội diễn ra hết sức đa dạng vàphức tạp Xã hội ngày càng phát triển thì độ phức tạp của các mối quan hệ xãhội ngày càng tăng Khi tham gia vào bất cứ một mối quan hệ xã hội nào, cácchủ thể tham gia đều phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quyđịnh của pháp luật Sự nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của một chủ thể này
sẽ đem lại quyền hoặc nghĩa vụ cho một chủ thể khác và ngược lại Khi mộtchủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ quyền vànghĩa vụ của mình thì ngay lập tức, sự cân bằng sẽ bị phá vỡ, đồng thờiquyền và nghĩa vụ của chủ thể khác sẽ bị xâm phạm Để bảo vệ quyền vànghĩa vụ của mình thì các chủ thể không thể tự mình giải quyết mà phải domột Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo trình tự pháp luật quyđịnh Khi có chủ thể yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
họ, thì Toà án căn cứ vào quy định của pháp luật để xác định vụ việc dân dự
đó có thuộc thẩm quyền của mình hay không Nếu thuộc thẩm quyền củamình, Toà án sẽ thụ lý giải quyết để bảo vệ quyền và nghĩa vụ hợp pháp củacác chủ thể có yêu cầu
Các vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình,kinh doanh thương m¹i và lao động do Toà án giải quyết được gọi là vụviệc dân sự Những việc có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên
Trang 10được gọi là vụ án dân sự Tranh chấp đất đai chính là một trong những vụ
án dân sự nếu tranh chấp đó được pháp luật quy định thuộc thẩm quyền doToà án giải quyết
Theo Từ điển Tiếng Việt, tranh chấp được hiểu là việc “giành nhau một
cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào” Tranh chấp đất đai luôn là mộthiện tượng xã hội và tồn tại ở mọi hình thái kinh tế - xã hội đã có, trong xãhội có giai cấp đối kháng thì tranh chấp đất đai luôn mang màu sắc chính trị,giải quyết tranh chấp này luôn luôn phải bằng một cuộc cách mạng Nhà nước
ta là Nhà nước XHCN, chế độ sở hữu đất đai mang tính đặc trưng “Đất đaithuộc sở hữu toàn dân” (Điều 17 Hiến pháp 1992), vì thế tranh chấp đất đaichỉ thuần tuý mang nội dung kinh tế Tuy tranh chấp đất đai luôn tồn tại trongđời sống xã hội, được pháp luật chính thức ghi nhận và quy định việc giải
quyết Tuy nhiên, cho đến trước khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời, thuật ngữ
tranh chấp đất đai chưa một lần được chính thức giải thích, mà chủ yếu là chỉđược “hiểu ngầm” qua các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đấtđai, quy định về giải quyết các tranh chấp khác có liên quan đến quyền sử
dụng đất trong các đạo luật, Luật Đất đai qua các thời kỳ và trong các văn bản
pháp luật có liên quan của các cơ quan nhà nước Chỉ đến khi Luật Đất đainăm 2003 được ban hành, khái niệm này mới được quy định lần đầu tiêntrong văn bản pháp luật, theo đó, “tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền
và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đấtđai” (khoản 26, Điều 4 Luật Đất đai năm 2003) Đây là một khái niệm có nộihàm tương đối rộng và còn chưa rõ ràng Bởi lẽ theo khái niệm này, đối tượngtranh chấp trong tranh chấp đất đai là quyền và nghĩa vụ của người sử dụngđất Nhưng, đây là tranh chấp tổng thể các quyền và nghĩa vụ hay chỉ là tranhchấp từng quyền và nghĩa vụ “đơn lẻ” của người sử dụng đất do pháp luật đấtđai quy định, hay bao gồm cả tranh chấp những quyền và nghĩa vụ mà người
sử dụng đất có được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật khác cho đến nay
Trang 11vẫn chưa được chính thức xác định Bên cạnh đó, chủ thể tranh chấp vốnđược gọi là “hai hay nhiều bên” cũng không được định danh về loại chủ thể:chỉ là người sử dụng đất hay tất cả các chủ thể có liên quan đến quyền vànghĩa vụ của người sử dụng đất trong quan hệ tranh chấp đất đai? Chính sựchung chung này đã khiến cho nội dung của khái niệm tranh chấp đất đainhiều lúc được mở rộng tối đa ở mức độ có thể Đã có quan niệm cho rằng,tranh chấp đất đai “là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham quan hệpháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụngđất” [29, tr.74]; hoặc “tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xungđột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan
hệ pháp luật đất đai” [31, tr.455]
Rõ ràng, các quan điểm trên đã mở rộng một cách tuyệt đối khái niệm
tranh chấp đất đai Theo đó, tranh chấp đất đai bao gồm tất cả các tranh chấp phát sinh từ các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, và tất nhiên trong đó có cả các tranh chấp tài sản gắn liền với đất (Tài sản gắn liền với
đất được hiểu là những tài sản không thể tách rời khỏi đất đai nếu muốn giữđược nguyên giá trị sử dụng của nó Các tài sản này bao gồm: nhà ở, vật kiếntrúc, công trình xây dựng khác, cây lâu năm trên đất Xem khoản 4 Điều 3Quy định ban hành kèm theo Quyết định 24/2004/QĐ-BTNMT ngày01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường về cấp giấy chứng
nhận QSDĐ), tranh chấp hợp đồng giao dịch về quyền sử dụng đất Theo quan điểm này, tranh chấp đất đai là một khái niệm rộng, bao gồm tranh chấp quyền sử dụng đất (Tranh chấp QSDĐ được hiểu là tranh chấp nhằm xác định ai là người có QSDĐ hợp pháp) và tất cả các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, kể cả trường hợp tranh chấp mục đích sử dụng đất và
tranh chấp về địa giới hành chính theo Điều 137 Luật Đất đai năm 2003.
Tuy nhiên cách hiểu khái niệm tranh chấp đất đai quy định tại Khoản 26Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 lại vấp phải một vấn đề rất lớn về mặt pháp lý,
Trang 12đó là sự không phù hợp giữa khái niệm tranh chấp đất đai và vấn đề thẩmquyền, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai, cũng như một số quy định có liênquan khác của pháp luật về tranh chấp đất đai, hay nói cách khác, khái niệmnày đã không đồng nhất với quy định tại các điều luật khác trong cùng mộtvăn bản pháp luật như quy định tại Điều 135, Điều 136 Luật Đất đai năm
2003, đồng thời cũng không đồng nhất với quy định tại khoản 7 Điều 25 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2004 Thứ nhất, theo Điều 135 Luật Đất đai năm
2003, tranh chấp đất đai buộc phải được thông qua hòa giải tại ñy bannhân dân (UBND) cấp xã nơi có đất, trước khi được đưa ra các cơ quan nhànước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật Như vậy, nếucoi tranh chấp đất đai là một khái niệm rộng như trên thì các tranh chấp cóliên quan đến đất đai như tranh chấp tài sản gắn liền với đất, tranh chấp hợpđồng giao dịch quyền sử dụng đất cũng phải được hòa giải tại UBND cấp xã.Điều này là không phù hợp với pháp luật đất đai, pháp luật về tố tụng dân sự
và thực tiễn cũng chưa bao giờ xảy ra, bởi đó chỉ là những tranh chấp dân sựthuần túy và việc hòa giải tại UBND cấp xã như là một thủ tục bắt buộc chỉ áp
dụng đối với tranh chấp quyền sử dụng đất Thứ hai, quan niệm này cũng
không phù hợp với thuật ngữ tranh chấp đất đai được sử dụng tại Điều 160Nghị định của Chính phủ số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hànhLuật Đất đai năm 2003 Cụ thể là, theo Điều 160 Nghị định này thì việc giảiquyết các “tranh chấp đất đai” trong trường hợp đương sự không có giấy tờ vềquyền sử dụng đất được quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật Đất đai năm
2003 sẽ thuộc về thẩm quyền của cơ quan hành chính Tất nhiên ai cũng biếtrằng, cơ quan hành chính không thể giải quyết tranh chấp tài sản nào khác,ngoài tranh chấp quyền sử dụng đất
Từ các phân tích trên cho thÊy, tranh chấp đất đai ở nước ta theo quy định của pháp luật chỉ có thể hiểu là tranh chấp quyền sử dụng đất Kết luận này được củng cố thêm bởi hai cơ sở: Một là, xuất phát từ chế độ sở hữu toàn
Trang 13dân (hay sở hữu nhà nước) đối với toàn bộ đất đai, người sử dụng đất chỉ cóquyền sử dụng đối với đất đai, vì vậy, cái mà họ tranh chấp khi tranh chấp đất
đai chỉ có thể là quyền sử dụng đất; và Hai là, các thuật ngữ tranh chấp đất
đai và tranh chấp quyền sử dụng đất đã được sử dụng như những thuật ngữthay thế nhau kể từ Luật Đất đai năm 1987 đến nay mà không hề có sự phânbiệt (Ví dụ như Công văn số 116/2004/KHXX ngày 22/7/2004 của Tòa
án nhân dân Tối cao hướng dẫn Tòa án nhân dân (TAND) các cấp về thẩmquyền của TAND theo quy định của LĐĐ 2003 Điểm 1 Công văn này đượcviết là: “Về đối tượng đất mà tranh chấp QSDĐ thuộc thẩm quyền giải quyếtcủa TAND) Hơn nữa, các tranh chấp có liên quan đến quyền sử dụng đất củangười sử dụng đất (gồm tranh chấp tài sản gắn liền với đất, tranh chấp hợpđồng giao dịch quyền sử dụng đất) cũng đã từng được định danh cụ thể trongmột số văn bản hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đếnđất đai với tên gọi là “tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất”, chứkhông phải là tranh chấp đất đai một cách chung chung (Ví dụ như Thông tưliên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03/01/2002hướng dẫn thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến QSDĐ theoĐiều 38 LĐĐ năm 1993) Ngược lại, việc đồng nhất tranh chấp đất đai vớitranh chấp quyền sử dụng đất về mặt lý luận tạo nên được sự cụ thể về đốitượng tranh chấp, làm nổi bật đặc trưng của quan hệ đất đai Từ đây tạo rađược một ranh giới tương đối rõ ràng giữa tranh chấp đất đai với các tranhchấp dân sự thông thường khác có liên quan đến đất đai và lý giải được tại saoviệc giải quyết tranh chấp đất đai lại có thể được tiến hành bởi các cơ quanhành chính nhà nước, theo các thủ tục hành chính nhất định Đó là, cơ quanhành chính không phải giải quyết tranh chấp đất đai dưới góc độ là một hoạtđộng phân xử về tài sản thông thường, mà với tư cách là người đại diện chủ sởhữu quyết định ai sẽ là người có quyền sử dụng đối với đất đang bị tranh chấp,khi đất đó về mặt hình thức pháp lý chưa được chính thức trao cho ai sử dụng
Trang 14(đương sự không có giấy tờ về quyền sử dụng đất) Nhưng ở đây ta có thể hiểutranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Tòa án mà Viện kiểm sát phải kiểmsát giải quyết tranh chấp đất đai là những tranh chấp về mặt lợi ích, về quyền vànghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ đất đai do không hòa giảiđược tranh chấp nên một hoặc các bên đề nghị Tòa án giải quyết
Nghiên cứu về tranh chấp đất đai ta thấy tranh chấp đất đai có những đặc điểm chủ yếu sau:
Một là, về chủ thể của tranh chấp đất đai.
Chủ thể của tranh chấp đất đai chỉ là người có quyền quản lý và quyền
sử dụng đất chứ không phải người có quyền sở hữu đất đai Quyền sử dụngđất của các chủ thể chỉ được xác lập dựa trên một quyết định giao đất, chothuê đất của Nhà nước hoặc được Nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từcác chủ thể khác hoặc được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất đối vớidiện tích đất đang sử dụng Vì vậy chủ thể của tranh chấp đất đai là cá nhân,
hộ gia đình, các tổ chức tham gia với tư cách là người quản lý, người sử dụngđất
Hai là, về đối tượng của tranh chấp đất đai Đối tượng của tranh chấp đất
đai chính là quyền quản lý và quyền sử dụng và những lợi ích phát sinh từ quátrình sử dụng đất - một loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của cácbên tranh chấp
Ba là, tranh chấp đất đai trong lĩnh vực dân sự đang ngày một gia tăng.
Việc Luật Đất đai năm 2003 mở rộng quyền của người sử dụng đất (Luật Đấtđai năm 1993 quy định người sử dụng đất chỉ có 6 quyền, nay Luật Đất đainăm 2003 quy định người sử dụng đất có 10 quyền, đó là: quyền chuyển đổi,chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất;quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồithường khi Nhà nước thu hồi đất) đồng nghĩa với việc gia tăng giao dịch dân sựliên quan đến quyền sử dụng đất cũng như những tranh chấp về quyền sử dụng
Trang 15đất (như tranh chấp phát sinh từ giao dịch chuyển nhượng, chuyển đổi, thế chấp,cho thuê quyền sử dụng đất; tranh chấp về mốc giới, bờ cõi, lối đi…) Rõ ràng lànội dung của tranh chấp đất đai ngày càng đa dạng và phức tạp.
Bốn là, tranh chấp quyền sử dụng đất là loại tranh chấp có tính phức tạp
và quyết liệt Thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự những năm quacho thấy tranh chấp quyền sử dụng đất là loại tranh chấp phổ biến, phứctạp, có nhiều trường hợp gây bức xúc trong đời sống xã hội do sự thay đổichính sách đất đai của Nhà nước, do những hạn chế, bất cập trong công tácquản lý hành chính nhà nước đối với đất đai, mở rộng quyền của người sửdụng đất làm tăng giá trị quyền sử dụng đất Khi tranh chấp đất đai đã phátsinh thì sẽ phát sinh nhiều hậu quả không mong muốn như: gây mất ổnđịnh về chính trị, phá vỡ các mối quan hệ trong xã hội, làm mất tình đoànkết trong nội bộ quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến trật tự quản lý đấtđai, đến sản xuất, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên tranh chấp
và gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và xã hội, làm cho những quyđịnh trong pháp luật đất đai cũng như những chính sách của Nhà nướckhông được thực hiện một cách triệt để
Các dạng tranh chấp đất đai phổ biến hiện nay
Thứ nhất, tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện các giao dịch về
đất đai
Đây là loại tranh chấp phổ biến và có số lượng, mức độ phức tạp nhấthiện nay, gồm các tranh chấp như: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, chothuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trịquyền sử dụng đất, trong đó phổ biến nhất là các tranh chấp về hợp đồngchuyển nhượng quyền sử dụng đất, đặc biệt là tranh chấp về hợp đồng chuyểnnhượng quyền sử dụng đất đã được chuyển nhượng qua tay nhiều người (cảchuyển nhượng hợp pháp và chuyển nhượng không hợp pháp)
Trang 16Thứ hai, tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất, bao gồm
cơ quan có thẩm quyền giải quyết
Tranh chấp về quyền sử dụng đất khi vợ, chồng ly hôn Tranh chấp nàythường xảy ra khi đất đai là tài sản chung vợ, chồng có được trong thời kỳhôn nhân do nhận chuyển nhượng, được giao, được cấp, được tặng cho, thừakế… nhưng khi ly hôn, hai người không thể thoả thuận được về việc chia tàisản và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết
Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất do người khác đang chiếm giữ.Loại tranh chấp này thường xảy ra khi người có quyền sử dụng đất giao đấtcho người khác sử dụng sau đó họ không trả lại…
1.1.2 Khái niệm áp dụng pháp luật trong kiểm sát giải quyết tranh chấp đất đai của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Theo quan điểm Mác - Lênin, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sựmang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điềuchỉnh các mối quan hệ xã hội theo những mục tiêu, định hướng cụ thể vàđược đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế Nhà nước
Các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành chỉ có ý nghĩa khi nóđược thực hiện trong đời sống, lúc đó giá trị thực tế của nó mới được kiểmnghiệm Mục đích của việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật chỉ có
Trang 17thể đạt được khi các quy phạm pháp luật do Nhà nước đặt ra được các tổ chức
và các cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác, đầy đủ Để phápluật thực sự đi vào cuộc sống, ngoài các yếu tố như sự phù hợp của các quyphạm pháp luật với các điều kiện kinh tế, lịch sử, trình độ phát triển của xãhội, Nhà nước còn phải quan tâm đến các hoạt động tổ chức thực hiện và ápdụng pháp luật một cách nghiêm minh Vì vậy xây dựng pháp luật, thực hiệnpháp luật và áp dụng pháp luật là đòi hỏi khách quan của việc quản lý nhànước, tăng cường pháp chế
Thực hiện pháp luật là hành vi của con người phù hợp với những quyđịnh của pháp luật, không trái, không vượt quá phạm vi các quy định củapháp luật và có lợi cho xã hội, cho Nhà nước và cho cá nhân Đó là nhữnghoạt động, những phương cách, những quá trình làm cho những quy tắc xử sựchung chứa đựng trong các quy phạm pháp luật trở thành hành vi, cách xử sựcủa các chủ thể pháp luật Thực hiện pháp luật rất đa dạng và phong phú, phụthuộc vào ý chí của mỗi cá nhân, nhưng cũng có thể chỉ phụ thuộc vào ý chícủa Nhà nước, có thể được thực hiện xuất phát từ nhiều nguyên nhân như sự
tự giác của bản thân chủ thể hoặc do ảnh hưởng của dư luận xung quanh, hoặc
là kết quả của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước
Thực hiện pháp luật có mục đích làm cho những quy định của pháp luật
đi vào cuộc sống Do các quy phạm pháp luật rất phong phú nên cũng cónhiều hình thức thực hiện khác nhau Khoa học pháp lý đã xác định có 4 hìnhthức thực hiện pháp luật là tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụngpháp luật và áp dụng pháp luật
Tuân thủ pháp luật là hình thức các chủ thể pháp luật không thực hiệnnhững hành vi mà pháp luật ngăn cấm, các quy phạm pháp luật ngăn cấmđược tôn trọng và thực hiện trên thực tế Ví dụ: Việc tuân thủ các quy định vềđiều kiện chuyển quyền sử dụng đất, hộ gia đình và cá nhân muốn chuyểnnhượng quyền sử dụng đất phải có đầy đủ giấy tờ theo quy định của Luật Đất
Trang 18đai Chủ thể thực hiện hình thức tuân thủ pháp luật là tất cả các cơ quan Nhànước, các tổ chức và mọi công dân trong xã hội.
Thi hành pháp luật (hay chấp hành pháp luật): các chủ thể pháp luật thựchiện nghĩa vụ pháp lý chủ động, tích cực bằng các hành vi cụ thể mà pháp luậtquy định được thực hiện trong những hoàn cảnh, những quan hệ pháp luật cụthể Ví dụ: Thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ giađình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất,… Chủ thể thực hiện hìnhthức thi hành pháp luật này là tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọicông dân trong xã hội
Sử dụng pháp luật: các chủ thể thực hiện pháp luật, chủ động sử dụngcác quyền thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phéptheo ý chí của mình Hình thức thực hiện pháp luật này khác 2 hình thức tuânthủ pháp luật và chấp hành pháp luật là các chủ thể quan hệ pháp luật cóquyền thực hiện hoặc không thực hiện các quyền của mình, không bị bắt buộcphải thực hiện Ví dụ như chủ thể có quyền tự quyết định mình có thực hiệnquyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay không Chủ thể thực hiện hìnhthức sử dụng pháp luật là tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọicông dân trong xã hội
Áp dụng pháp luật là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền căn cứvào các quy định pháp luật hiện hành để đưa ra quyết định có tính cá biệtnhằm điều chỉnh quan hệ xã hội theo mục tiêu cụ thể Áp dụng pháp luật cũng
là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơquan nhà nước hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thểthực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy địnhcủa pháp luật ra quyết định làm phát sinh, chấm dứt hay thay đổi những quan
hệ pháp luật cụ thể
Ngoài những đặc điểm của hoạt động thực hiện pháp luật nói chung, ápdụng pháp luật cũng có những đặc điểm đặc thù, riêng biệt của nó
Trang 19Thứ nhất, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước.
Pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện dĩ nhiên nó phải mangtính quyền lực nhà nước Nhờ có sự bảo đảm của nhà nước nên pháp luật mới
có sức mạnh bắt buộc đối với mọi chủ thể có liên quan Quá trình áp dụngpháp luật là sử dụng quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước để giải quyếtcác vụ việc thực tế Như vậy, áp dụng pháp luật thực chất là quá trình đảmbảo cho quyền lực nhà nước có hiệu lực trên thực tế đối với các chủ thể trongnhững điều kiện cụ thể Tính quyền lực trong áp dụng pháp luật thể hiện ởnhững điểm cơ bản như sau:
Áp dụng pháp luật chỉ được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước, các tổchức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Theo đókhông phải ai cũng có thể áp dụng pháp luật được và cũng không phải bao giờcác chủ thể đó cũng có thể tiến hành áp dụng pháp luật được Chỉ có những cơquan nhà nước, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luậttrong thi hành công vụ mới có thể áp dụng pháp luật Riêng đối với tổ chứcthì chỉ có những chủ thể là đơn vị cơ sở của các cơ quan nhà nước hay do nhànước thành lập mới có thể được trao quyền, nhân danh nhà nước áp dụngpháp luật Pháp luật quy định chặt chẽ thẩm quyền, điều kiện áp dụng phápluật theo từng lĩnh vực cũng như chế độ công vụ cụ thể nhằm tránh sự tuỳ tiệnhoặc vượt rào pháp luật trên thực tế
Áp dụng pháp luật còn thể hiện ý chí của nhà nước Quá trình áp dụngpháp luật có thể mang tính đơn phương của ý chí nhà nước hoặc cũng có thểnhà nước thừa nhận ý chí của các chủ thể có liên quan Chẳng hạn, Toà án cóthể quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc thừa nhận hoà giải thành giữa nguyênđơn và bị đơn trong vụ án dân sự Xét về nội dung, hoạt động áp dụng phápluật phụ thuộc vào đặc điểm của các quan hệ xã hội có liên quan và sự kiệnpháp lý cụ thể trên thực tế Như vậy, áp dụng pháp luật là hoạt động mangtính khách quan bởi nhu cầu trước hết là ở thực tế quan hệ xã hội Mặt khác,
Trang 20áp dụng pháp luật cũng là hoạt động mang tính chủ quan bởi quá trình ápdụng pháp luật nhân danh nhà nước và thể hiện ý chí nhà nước.
Thứ hai, áp dụng pháp luật có điều kiện, quy trình, thủ tục được pháp
luật quy định chặt chẽ Áp dụng pháp luật là quy trình đặc biệt của việc thựchiện pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật có giá trị điều chỉnh trên thực tế
Do đó, để tránh sự tuỳ tiện, hoạt động được pháp luật quy định chặt chẽ vềtrình tự, thủ tục cũng như hình thức Tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực áp dụngpháp luật mà trình tự, thủ tục được xác lập cho phù hợp Trên thực tế, quytrình và thủ tục áp dụng pháp luật có sự khác biệt rất lớn giữa các lĩnh vực.Các quy trình thủ tục áp dụng pháp luật có thể là đầy đủ hoặc rút gọn theoquy định của pháp luật Như vậy, không thể có một quy trình thủ tục chungcho các lĩnh vực áp dụng pháp luật trên thực tế
Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt Là một hình
thức thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật chính là phương thức chuyển hoánhững quy định chung được nêu ra trong các quy phạm pháp luật thành nhữngquy định riêng hay là những quy tắc xử sự cụ thể Theo đó, thực chất nhữngkhả năng áp dụng pháp luật có thể là cụ thể hoá quyền, nghĩa vụ hoặc cá biệthoá chế tài quy phạm pháp luật Chính nhờ có quá trình áp dụng pháp luật mànhiều quy phạm pháp luật mới có điều kiện được thực thi hay có hiệu lựctrên thực tế Hơn nữa, về phía chủ thể nhờ có áp dụng pháp luật mới xácđịnh được những giới hạn pháp lý cần thiết cả về nội dung của quyền, nghĩa
vụ, trách nhiệm cũng như trách nhiệm pháp lý có liên quan khi tham giaquan hệ pháp luật Áp dụng pháp luật cũng làm rõ cả khía cạnh đòi hỏi cụthể về mặt hình thức, thủ tục đối với việc thực hiện những nội dung cơ bản
đó Với đặc điểm này, áp dụng pháp luật là hoạt động cần phải được chi tiếthoá một cách chính xác, tỷ mỷ về những yêu cầu chung thành những yêu cầusát thực với chính điều kiện mà quy phạm đó tồn tại, sát thực với chính chủthể có liên quan
Trang 21Áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo cao của các chủ thể
có thẩm quyền Áp dụng pháp luật là quá trình thực hiện pháp luật được hìnhthành trên cơ sở nhận thức Các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật chủđộng phân tích đánh giá các tình huống có thể xảy ra để tìm kiếm những khảnăng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả cao nhất Điều này đòi hỏi các chủ thể cóliên quan không được thụ động, máy móc Tính sáng tạo trong quá trình ápdụng pháp luật đòi hỏi rất cao bởi nếu không sẽ không đảm bảo theo thờihiệu, thời hạn theo quy định pháp luật đặt ra cho xử lý các vụ việc Hơn nữa,
do khối lượng công việc cần giải quyết nhiều nên quá trình áp dụng pháp luậtsáng tạo sẽ không bị dồn lại hoặc đùn đẩy lẫn nhau giữa các chủ thể có thẩmquyền Đương nhiên, sáng tạo trong áp dụng pháp luật chủ yếu là ở góc độ kỹthuật, tổ chức chứ không thể là sự sáng tạo về mặt nội dung
Từ phân tích trên có thể hiểu khái niệm áp dụng pháp luật trong kiểm sátgiải quyết tranh chấp đất đai của Viện kiểm sát nhân dân tối cao như sau:
Áp dụng pháp luật trong kiểm sát giải quyết tranh chấp đất đai của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là một hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực Nhà nước Trong đó Nhà nước thông qua các Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân tối cao căn cứ vào các quy phạm pháp luật đất đai, quy phạm pháp luật dân sự và các quy phạm pháp luật khác để ban hành quyết định kháng nghị hay công văn trả lời đơn cho đương sự hoặc phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về quan điểm giải quyết những vụ
án tranh chấp đất đai do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị đưa ra xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự tranh chấp đất đai, góp phần vào việc giữ vững ổn định trật tự xã hội.
1.1.3 Đặc điểm áp dụng pháp luật trong kiểm sát giải quyết tranh chấp đất đai của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 22Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp các vụ án dân sự nóichung và trong kiểm sát giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng của Viện kiểmsát nhân dân là sự biểu hiện của áp dụng pháp luật nói chung, nó chứa đựngđầy đủ đặc điểm của áp dụng pháp luật, tuy nhiên do tính chất đa dạng phứctạp của các quan hệ pháp luật dân sự cùng với những quy định về trình tự thủtục giải quyết các vụ án dân sự cuả pháp luật tố tụng dân sự trong giải quyếtcác vụ án dân sự và những quy định cá biệt trong kiểm sát giải quyết tranhchấp đất đai của Viện kiểm sát nhân dân cho nên việc áp dụng pháp luật tronggiải quyết các tranh chấp đất đai có những đặc điểm riêng biệt.
Đặc điểm về áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểmsát việc giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân
Phải xem Tòa án nhân dân trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án tranhchấp đất đai có tuân thủ đúng quy định của pháp luật hay không mà cụ thể làtuân thủ Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và khoản 1 Điều 136 LuậtĐất đai năm 2003 về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai: Tranh chấpđất đai được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bênhoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau: Tranh chấp
về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đấthoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1,2 và 5 Điều 50 củaLuật Đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì Tòa án thụ lý giảiquyết mới đúng Từ đó Viện kiểm sát xem bản án, quyết định của Tòa án cóđúng thẩm quyền hay không, nếu không đúng thẩm quyền thì cần kháng nghị.Đặc điểm nguyên tắc áp dụng pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật đểkiểm sát giải quyết tranh chấp đất đai
Áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát giải quyếttranh chấp đất đai bao gồm áp dụng pháp luật nội dung để giải quyết vụ án là
Bộ luật dân sự và Luật Đất đai năm 2003 và áp dụng luật hình thức là Bộ luật
tố tụng dân sự và một số quy định của Luật Đất đai năm 2003 Pháp luật nội
Trang 23dung để phân định quyền và nghĩa vụ của các đương sự, để giải quyết về nộidung Áp dụng pháp luật tố tụng để xác định vị trí, trách nhiệm của Kiểm sátviên trong quá trình kiểm sát giải quyết vụ án.
Pháp luật là phương tiện quan trọng để Nhà nước quản lý xã hội, quản lýnền kinh tế nhưng nếu chỉ đơn thuần là ban hành pháp luật mà Nhà nướckhông có các biện pháp bảo đảm để pháp luật được thực thi thì pháp luật cũngkhông thể phát huy hết được vai trò tác dụng Chính vì vậy, ngoài việc banhành ra hệ thống văn bản pháp luật Nhà nước còn phải có cơ chế đảm bảothực thi pháp luật trên thực tế
Việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai là hếtsức cần thiết Trong những năm qua Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp banhành hệ thống văn bản mới về đất đai, nhằm mục đích giải quyết kịp thời cáctranh chấp đất đai Việc giải quyết tranh chấp đất đai là một nội dung quantrọng của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai và là những biện pháp đểpháp luật đất đai pháp huy được vai trò của nó
Qua việc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp đất đai thì các quan
hệ đất đai được điều chỉnh phù hợp với lợi ích của nhà nước, lợi ích của xãhội và của người sử dụng đất
Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai là tìm ra giải phápđúng đắn nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân,qua đó đã góp phần tăng cường pháp chế trong lĩnh vực quản lý và sử dụngđất đai
Đặc điểm của áp dụng pháp luật trong kiểm sát giải quyết tranh chấp đấtđai khác các tranh chấp dân sự khác là phải bảo đảm các tranh chấp đất đaiphải được hòa giải tại cơ sở xã, phường, thị trấn nơi xảy ra tranh chấp
Áp dụng pháp luật trong kiểm sát giải quyết tranh chấp đất đai phải đảmbảo tuân thủ các nguyên tắc Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai được
Trang 24hiểu là hệ thống các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo có tác dụng định hướngtrong suốt quá trình kiểm sát giải quyết tranh chấp đất đai.
- Nguyên tắc đảm bảo đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thựchiện vai trò đại diện cho chủ sở hữu
Tại khoản 1 Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 cụ thể hóa Hiến pháp năm 1992
đã quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện sở hữu”
Quy định như vậy có nghĩa là đất đai không thuộc sở hữu riêng của một
tổ chức hay cá nhân nào Các tổ chức, cá nhân chỉ là chủ thể của quyền quản lý
và sử dụng đất Quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai là quyền sở hữu duy nhất
và tuyệt đối Tính duy nhất và tuyệt đối thể hiện quyền sở hữu toàn dân bao trùmlên tất cả đất đai, dù đất đó đang do ai sử dụng Việc sử dụng đất phải đảm bảođúng quy hoạch, kế hoạch, mục đích sử dụng đất, tiết kiệm có hiệu quả và bảo vệmôi trường Đây là nguyên tắc xuyên suốt quá trình quản lý và sử dụng đất, phảnánh đặc trưng quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai Vậy khi giải quyết tranhchấp đất đai các cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ chấp hành nguyên tắc này
và coi nó là cơ sở để giải quyết tranh chấp đất đai Từ đó cần quán triệt quanđiểm của Đảng và Nhà nước về không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao chongười khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của nước ViệtNam dân chủ cộng hòa, chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam ViệtNam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Nguyên tắc đảm bảo lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích vềmặt kinh tế, khuyến khích tự hòa giải trong nội bộ quần chúng nhân dân
Hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai đã thể hiện được tư tưởng đổimới trong việc điều hành các quan hệ xã hội về đất đai Khi giải quyết cáctranh chấp, mâu thuẫn về đất đai đều quan tâm chú ý giải quyết hài hòa lợi íchkinh tế giữa các đương sự Đây là điểm mấu chốt để giải quyết các tranh chấp
đất đai Tuy nhiên, theo quy định của Luật Đất đai trước khi đưa ra giải quyết
các tranh chấp đất đai tại Tòa án có thẩm quyền, nhất thiết các tranh chấp này
Trang 25phải qua thủ tục hòa giải ở cấp xã, phường, thị trấn và pháp luật khuyến khíchcác bên đương sự tự thương lượng hòa giải Qua việc hòa giải này thể hiện rõ
ý chí, nguyện vọng của các bên và giảm được áp lực cho các cơ quan giảiquyết tranh chấp đất đai
- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai nhằm mục đích ổn định tìnhhình kinh tế, xã hội
Khi tranh chấp đất đai nảy sinh đã gây tác động lớn đến đời sống kinh tế,
xã hội gây nên sự mâu thuẫn trong quan hệ xã hội, tạo ra gánh nặng cho Tòa
án giải quyết tranh chấp Việc giải quyết tranh chấp đất đai một cách triệt đểthì sẽ giúp cho các hoạt động sản xuất kinh doanh từng bước ổn định và đờisống nhân dân được cải thiện Vì vậy, việc giải quyết tranh chấp đất đai gắnliền với việc tổ chức sản xuất, tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội và khi ápdụng pháp luật để giải quyết tranh chấp đất đai cần phải quán triệt thực hiệnnguyên tắc này
Áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc giải quyết các tranh chấp đất đaiphải đảm bảo cơ quan Tòa án trong quá trình giải quyết các tranh chấp đất đainắm chắc và thực hiện tốt các đặc điểm và nguyên tắc áp dụng pháp luật, vănbản quy phạm pháp luật đất đai
1.1.4 Vai trò áp dụng pháp luật trong kiểm sát giải quyết tranh chấp đất đai của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Với tư cách là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật có vai tròquan trọng trong việc đảm bảo sự ổn định và phát triển của xã hội, là phươngtiện để thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, đảm bảo cho
sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực và thực thi trên quy mô toàn xã hội Phápluật là phương tiện để Nhà nước quản lý kinh tế, xã hội và đảm bảo các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân được phát huy và thực hiện một cáchnghiêm chỉnh
Trang 26Hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai có vaitrò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
xã hội chủ nghĩa Đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh thốngnhất Mọi tổ chức và công dân đều nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật Ápdụng đúng đắn pháp luật chính là cơ sở để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.Vai trò của áp dụng pháp luật trong việc xây dựng và hoàn thiện phápluật nói chung và pháp luật đất đai nói riêng Điều đó được thể hiện qua thựctiễn việc kiểm sát giải quyết các vụ án tranh chấp đất đai của Tòa án nhândân Các quy phạm pháp luật dân sự và các quy phạm của pháp luật đất đaicũng như các quy phạm pháp luật khác có liên quan đều được kiểm nghiệmtrong thực tiễn cuộc sống về tính phù hợp trong đời sống xã hội, tính đầy đủ,toàn diện hay chưa đầy đủ, còn có lỗ hổng trong quy phạm pháp luật, pháthiện ra những quy phạm pháp luật còn chung chung, chồng chéo dẫn đếnnhững người áp dụng pháp luật còn có những cách hiểu khác nhau dẫn đếntình trạng áp dụng pháp luật một cách tùy tiện vi phạm tính thống nhất củapháp luật và nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Ngược lại, có những viphạm diễn ra khác với dự đoán của người làm luật làm cho người áp dụngpháp luật còn lúng túng khi giải quyết, có những vi phạm mới chưa đượcpháp luật điều chỉnh, những quy phạm lỗi thời, không phù hợp vẫn còn tồn tạitrong xã hội Như vậy, qua thực tiễn áp dụng trong hoạt động kiểm sát bản án,quyết định của tòa án nói chung và trong kiểm sát bản án, quyết định của tòa
án khi giải quyết các vụ án tranh chấp đất đai nói riêng sẽ có sự kiểm nghiệmcác quy phạm pháp luật trong thực tiễn để phát hiện những hạn chế đó, gópphần vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung
và hoàn thiện pháp Luật Đất đai nói riêng.
Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai của Viện kiểm sátnhân dân tối cao còn có vai trò răn đe những người có hành vi vi phạm phápluật, bảo vệ, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhà
Trang 27nước và công dân theo quy định của pháp luật, giữ vững ổn định xã hội giữgìn kỷ cương phép nước trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Vai trò của áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai củaViện kiểm sát nhân dân tối cao còn có tác dụng phổ biến và tuyên truyền giáodục pháp luật trong nhân dân, đặc biệt thông qua các quyết định kháng nghị,công văn trả lời đơn cho đương sự, các chủ thể áp dụng pháp luật đã phântích, giải thích pháp luật để nhân dân hiểu rõ những gì pháp luật cho phép làm
và những gì pháp luật cấm để từ đó giữ gìn sự đoàn kết trong nhân dân
1.2 CÁC GIAI ĐOẠN VÀ NỘI DUNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG VIỆC KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
1.2.1 Căn cứ pháp lý của công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án tranh chấp đất đai
Theo Hiến pháp năm 1992 sửa đổi và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhândân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện chức năng thựchành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, trong đó có hoạt độngxét xử dân sự của Tòa án nhân dân các cấp Với tư cách luật định là cơ quantiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự, Viện kiểm sát nhân dân đảm bảo việcxét xử của Tòa án tuân thủ theo pháp luật, cùng với Tòa án bảo vệ quyền, lợiích hợp pháp của các bên tranh chấp, bảo vệ tài sản của Nhà nước, duy trì trật
tự và đoàn kết trong nhân dân, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêmchỉnh và thống nhất
Cũng giống các thủ tục áp dụng đối với các vụ án dân sự khác, việc giảiquyết các vụ án liên quan đến tranh chấp đất đai tại Tòa phải tuân thủ các quyđịnh về thẩm quyền và trình tự, thủ tục trong Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định rõ ràng Viện kiểm
sát là cơ quan tiến hành tố tụng; Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát làngười tiến hành tố tụng; Điều 44 quy định nhiệm vụ quyền hạn của Viện
Trang 28trưởng Viện kiểm sát, Điều 45 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sátviên xuất phát từ vị trí họ là những người tiến hành tố tụng Với vị trí là cơquan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã quy định: tất cả cácquyết định mang tính chất giải quyết, xử lý vụ việc dân sự của cơ quan xét xửphải được gửi cho Viện kiểm sát để thực hiện chức năng kiểm sát, bao gồmcác quyết định sau: Quyết định nhập hoặc tách vụ án (khoản 3 Điều 38);Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều123); Việc thụ lý vụ án của Tòa án phải được thông báo bằng văn bản choViện kiểm sát cùng cấp (Điều 174); Quyết định công nhận sự thỏa thuận (nếuphát hiện có vi phạm thì Viện kiểm sát thực hiện thẩm quyền kháng nghịgiám đốc thẩm) (Điều 187); Quyết định tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự (Điều 194); Quyết định đưa vụ án ra xét xử (Điều 195); Hoãn phiêntòa, Tòa án phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp (Điều 240); Bản
án sơ thẩm (Điều 241);cho Viện kiểm sát cùng cấp biết về việc kháng cáo(Điều 249); Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản Bản ánquyết định phúc thẩm (Điều 281); Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều
303, 310); Quyết định giải quyết việc dân sự (Điều 315); Quyết định đình chỉviệc xét đơn yêu cầu, mở phiên họp xét đơn yêu cầu công nhận và cho thihành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; Trọngtài nước ngoài; Quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặcquyết định không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nướcngoài; Trọng tài nước ngoài (các Điều 354, 355, 357, 368, 369, 371); Quyếtđịnh đình chỉ việc xét đơn yêu cầu, mở phiên họp xét đơn yêu cầu không côngnhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài mà không có yêu cầuthi hành tại Việt Nam; Quyết định không công nhận bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài hoặc bác đơn yêu cầu không công nhận (các Điều 362,363)
Trang 29Thực hiện việc kiểm sỏt xột xử cỏc vụ ỏn dõn sự núi chung, việc xột xửcỏc vụ ỏn tranh chấp đất đai núi riờng, Viện kiểm sỏt thực hiện cỏc quyềnnăng theo luật định:
- Kiểm sỏt việc thụng bỏo thụ lý vụ ỏn dõn sự của Tũa ỏn;
- Tham gia phiờn tũa giải quyết vụ ỏn dõn sự ở cỏc thủ tục sơ thẩm, phỳcthẩm, giỏm đốc thẩm, tỏi thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dõn sự năm2004; tham gia hỏi đương sự và những người tham gia tố tụng khỏc tại cỏc phiờntũa và phỏt biểu ý kiến của Viện kiểm sỏt về việc giải quyết vụ ỏn dõn sự;
- Kiểm sỏt việc tuõn theo phỏp luật tại phiờn tũa của hội đồng xột xử, thư
ký Tũa ỏn và những người tham gia tố tụng
- Kiểm sỏt cỏc bản ỏn, quyết định giải quyết cỏc vụ ỏn dõn sự của Tũa ỏn;
- Yờu cầu Tũa ỏn xỏc minh, thu thập chứng cứ trờn cơ sở khiếu nại củađương sự, cỏ nhõn, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng đểthực hiện khỏng nghị
- Yờu cầu Tũa ỏn cựng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ vụ ỏn dõn sự đểxem xột quyết định việc khỏng nghị
- Khỏng nghị theo thủ tục phỳc thẩm, giỏm đốc thẩm, tỏi thẩm cỏc bản
ỏn, quyết định giải quyết vụ việc dõn sự của Tũa ỏn
- Yờu cầu hoón thi hành ỏn; quyết định tạm đỡnh chỉ thi hành bản ỏn,quyết định đó cú hiệu lực phỏp luật khi thực hiện khỏng nghị giỏm đốc thẩm,tỏi thẩm
- Thực hiện quyền yờu cầu, quyền kiến nghị đối với cỏc vi phạm của Tũa
ỏn trong quỏ trỡnh giải quyết vụ việc dõn sự
Với các quy định trên đây, Bộ luật tố tụng dõn sự 2004 khẳng định chức
năng và vị trí pháp lý của cơ quan Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng,thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự màmột trong những phơng thức hoạt động chủ yếu là phải tập trung kiểm sát các
Trang 30quyết định giải quyết và xử lý vụ việc dân sự núi chung, cỏc vụ tranh chấp đấtđai núi riờng của Toà án để góp phần đảm bảo các quyết định này có căn cứ
và hợp pháp; trong trờng hợp phát hiện có vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát
đ-ợc thực hiện các quyền: quyền yêu cầu, quyền kiến nghị và quyền kháng nghịnhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự núi chung, cỏc vụ tranh chấp đấtđai núi riờng được kịp thời, đúng pháp luật
1.2.2 Cỏc giai đoạn và nụ̣i dung ỏp dụng phỏp luọ̃t giải quyết cỏc tranh chấp đất đai và trỏch nhiệm của Viện kiờ̉m sỏt nhõn dõn tụ́i cao
Áp dụng phỏp luật trong kiểm sỏt giải quyết cỏc tranh chấp đất đai tạiViện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao thực hiện theo trỡnh tự, thủ tục do phỏp luậtnúi chung, phỏp luật tố tụng dõn sự núi riờng, quy định về quy trỡnh tố tụng đểkiểm sỏt giải quyết cỏc vụ ỏn tranh chấp dõn sự núi chung, kiểm sỏt giải quyếtcỏc vụ ỏn tranh chấp đất đai núi riờng và ỏp dụng phỏp luật được quy định
trong Bộ luật dõn sự, Luật Đất đai năm 2003 và cỏc văn bản hướng dẫn cú
liờn quan đến kiểm sỏt giải quyết tranh chấp đất đai
Áp dụng phỏp luật trong thụ lý đơn khiếu nại đề nghị khỏng nghị giỏmđốc thẩm theo quy định tại Điều 282, 283, 284, 285 Bộ luật tố tụng dõn sựnăm 2004 của Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao:
Khi cỏc đương sự trong vụ ỏn đó được cỏc tũa ỏn sơ, phỳc thẩm giảiquyết cỏc tranh chấp dõn sự núi chung cỏc tranh chấp đất đai núi riờng, nhưng
họ thấy chưa bảo đảm quyền lợi của họ hoặc bất kể một cỏ nhõn, cơ quan, tổchức nào thấy rằng quyết định hoặc bản ỏn sơ, phỳc thẩm đó cú hiệu lực phỏpluật mà kết luận khụng phự hợp với những tỡnh tiết khỏch quan của vụ ỏn; cú
vi phạm nghiờm trọng thủ tục tố tụng; cú sai lầm nghiờm trọng trong việc ỏpdụng phỏp luật thỡ cú đơn hoặc làm cụng văn chuyển đơn cho Viện trưởngViện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao hoặc Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao kốm theocỏc tài liệu, chứng cứ chứng minh cho cỏc căn cứ đề nghị khỏng nghị giỏmđốc thẩm (nếu cú), sẽ được chuyển đến vụ nghiệp vụ, xem xột thụ lý giải
Trang 31quyết Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm theo Điều 288 BLTTDS năm
2004 là ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệulực pháp luật
Áp dụng pháp luật trong thụ lý đơn khiếu nại đề nghị kháng nghị táithẩm theo quy định tại các Điều 304, 305, 306, 307 Bộ luật tố tụng dân sựnăm 2004 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao:
Khi các đương sự trong vụ án đã được các tòa án sơ, phúc thẩm giảiquyết các tranh chấp dân sự nói chung các tranh chấp đất đai nói riêng nhưng
họ thấy chưa bảo đảm quyền lợi của họ hoặc bất kể một cá nhân, cơ quan, tổchức nào thấy rằng quyết định hoặc bản án sơ, phúc thẩm đã có hiệu lực phápluật, nhưng phát hiện có tình tiết mới quan trọng của vụ án mà đương sựkhông thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án; có cơ sở chứng minh kếtluận của người giám định hoặc lời dịch của người phiên dịch là không đúng
sự thật hoặc đã có sự giả mạo chứng cứ; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật;Bản án, quyết định hình sự, hành chính dân sự, hôn nhân và gia đình, kinhdoanh, thương mại, lao động của tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước
mà tòa án dựa vào để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ, thì có đơn hoặc làm côngvăn chuyển đơn cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Việnkiểm sát nhân dân tối cao kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho cáccăn cứ đề nghị kháng nghị tái thẩm (nếu có), sẽ được chuyển đến vụ nghiệp vụxem xét thụ lý giải quyết Thời hạn kháng nghị tái thẩm theo Điều 308BLTTDS năm 2004 là một năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghịbiết được căn cứ kháng nghị theo quy định tại Điều 305 BLTTDS năm 2004.Các Viện kiểm sát địa phương, các Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm 1, 2,
3 Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong quá trình kiểm sát việc tuân theo phápluật trong hoạt động tố tụng dân sự, phát hiện thấy có dấu hiệu bản án hoặcquyết định của tòa án sơ, phúc thẩm có hiệu lực pháp luật vi phạm pháp luật
Trang 32tố tụng hoặc vi phạm pháp luật về giải quyết nội dung vụ án, hoặc có căn cứ
là tình tiết mới để kháng nghị tái thẩm thì làm công văn đề nghị tòa án chuyển
hồ sơ vụ án, nghiên cứu hồ sơ Quá trình Viện kiểm sát địa phương, Việnkiểm sát xét xử phúc thẩm 1, 2, 3 Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu
hồ sơ vụ án nếu không có căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thìtrả lại hồ sơ cho tòa án; nếu có căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thìlàm công văn đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghịgiám đốc thẩm, tái thẩm và chuyển công văn cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểmsát nhân dân tối cao
Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp nhận các hồ sơ vụ án hoặc rút hồ sơ
vụ án mà tòa sơ, phúc thẩm giải quyết các tranh chấp đất đai đã có hiệu lựcpháp luật mà đương sự có đơn khiếu nại, các cơ quan tổ chức chuyển đơn hoặc
có đơn, các Viện kiểm sát địa phương, Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm 1, 2, 3Viện kiểm sát nhân dân tối cao báo cáo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, táithẩm Nghiên cứu hồ sơ vụ án, đơn và các tài liệu, chứng cứ gửi kèm
Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền yêu cầu hoãn thi hành án; tạmđình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi thực hiện khángnghị giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 286) Thực hiện quyền yêu cầu, quyền kiếnnghị đối với các vi phạm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án
Nếu nghiên cứu hồ sơ thấy không có căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm,tái thẩm quyết định, bản án sơ, phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật thì ra vănbản trả lời đương sự, cơ quan, tổ chức…chuyển đơn hoặc có đơn; trả lời cácViện kiểm sát địa phương, Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm 1, 2, 3 Viện kiểmsát nhân dân tối cao đã báo cáo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩmkhông có căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
Nếu nghiên cứu hồ sơ thấy có căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, táithẩm quyết định hoặc bản án sơ, phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật thì raquyết định kháng nghị rồi chuyển quyết định kháng nghị giám đốc thẩm hoặc
Trang 33tỏi thẩm cựng hồ sơ vụ ỏn sang Tũa ỏn nhõn dõn tối cao (khoản 3 Điều 290 Bộluật tố tụng dõn sự năm 2004).
Ngoài ra Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao cũn nghiờn cứu cỏc khỏng nghịgiỏm đốc thẩm, tỏi thẩm của Chỏnh ỏn Tũa ỏn nhõn dõn tối cao cựng cỏc hồ
sơ vụ ỏn chuyển sang trong 15 ngày, sau đú trả lại hồ sơ sang Tũa ỏn nhõndõn tối cao (khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng dõn sự năm 2004)
Khi cú khỏng nghị giỏm đốc thẩm hoặc tỏi thẩm, Tũa ỏn cú thẩm quyền giỏmđốc thẩm, tỏi thẩm bắt buộc phải mở phiờn tũa giỏm đốc thẩm, tỏi thẩm trong thờihạn 4 thỏng kể từ ngày nhận được quyết định khỏng nghị giỏm đốc thẩm, tỏi thẩmkốm hồ sơ vụ ỏn (Điều 293, 310 Bộ luật tố tụng dõn sự năm 2004)
Đối với các vụ án giám đốc thẩm, tái thẩm, do tính chất đặc biệt phảixem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nên Viện kiểm sátnhõn dõn tối cao phải có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ và tham gia tất cả cácphiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm Về thành phần tham gia phiờn tũa giỏmđốc thẩm, tỏi thẩm, chỉ đại diện Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao bắt buộc phải
cú mặt, đương sự và những người tham gia tố tụng khỏc cú liờn quan chỉ đượctham gia phiờn tũa khi Tũa ỏn nhõn dõn tối cao “xột thấy cần thiết” (Điều 292
Bộ luật tố tụng dõn sự năm 2004) Trong mọi trờng hợp, Kiểm sát viên caocấp tham dự phiên toà đều phải đa ra kết luận về quyết định kháng nghị giám
đốc thẩm, tái thẩm trớc khi Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm thảo luận(khoản 1, 2 Điều 295; Điều 310 Bộ luật tố tụng dõn sự năm 2004); và phátbiểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án trớc khi Hội đồnggiám đốc thẩm, tái thẩm biểu quyết (khoản 3, 4 Điều 295; Điều 310 Bộ luật tốtụng dõn sự năm 2004)
Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao thực hiện chức năng nhiệm vụ của mỡnhkiểm sỏt việc xột xử của Hội đồng xột xử giỏm đốc thẩm, tỏi thẩm kiểm sỏtviệc ra quyết định giỏm đốc thẩm, tỏi thẩm của Tũa ỏn nhõn dõn tối cao phảiđỳng phỏp luật về tố tụng và phỏp luật về nội dung Vỡ vậy trong thời hạn 5
Trang 34ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩmphải gửi ngay quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm cho Viện kiểm sát nhân dântối cao (Điều 303, 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004)
Trường hợp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Tòa án nhân dân tốicao đã kháng nghị bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật ra Hội đồngxét xử tòa chuyên trách của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dântối cao tham gia phiên tòa đã phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ ánnhưng quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng xét xử tòa chuyêntrách của Tòa án nhân dân tối cao không đồng nhất với quan điểm của Việnkiểm sát nhân dân tối cao mà Viện kiểm sát nhân dân tối cao thấy quan điểmcủa mình về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật thì Viện kiểmsát tối cao tiếp tục rút lại hồ sơ nghiên cứu và kháng nghị ra Hội đồng thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao (Điều 285 khoản 1, Điều 291 khoản 2 Bộ luật tốtụng dân sự năm 2004)
Tuy nhiên, đối với quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồngthẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dântối cao và Chánh án tòa án nhân dân tối cao không có quyền kháng nghị theothủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nữa vì Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dântối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam (khoản 1 Điều 285 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004) Đối với các bản
án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật thì dù có sailầm, vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án có tình tiết mới…(căn cứkháng nghị tái thẩm) cũng không phải là đối tượng của quyền kháng nghịgiám đốc thẩm, tái thẩm
Tuy nhiên, theo tinh thần quy định tại Điều 5 BLTTDS năm 2004 vềquyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, Điều 296 BLTTDS năm 2004
về phạm vi giám đốc thẩm thì tuy nhiều người có quyền phát hiện vi phạmnhưng sẽ chỉ có kháng nghị nếu có khiếu nại, yêu cầu của đương sự trừ
Trang 35trường hợp đương sự không có khả năng thực hiện việc khiếu nại hoặc cóxâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải làđương sự trong vụ án.
Sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên được phân công nghiên cứu,xem xét giải quyết những vụ án tranh chấp đất đai tại Viện kiểm sát nhân dântối cao (xét xem có đủ căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm).Nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án đã được các Thẩm phán tòa án sơ, phúc thẩmxây dựng và các bản án sơ, phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật quyết định vềvấn đề các bên đương sự tranh chấp đất đai Từ đó thấy được vụ án đã đượcphán quyết một cách khách quan có căn cứ và đúng pháp luật hay chưa Đòihỏi Kiểm sát viên phải nắm vững các quy định của pháp luật tố tụng và phápluật nội dung
Về tố tụng: Trước tiên, phải kiểm tra thẩm quyền của Toà án, căn cứ vàocác Điều 25, 33, 34, 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 Trước tiên phải xácđịnh vụ việc tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấphuyện (Điều 33) hay Toà án nhân dân cấp tỉnh (Điều 34), đơn khởi kiện củađương sự trong vụ án có được lựa chọn thẩm quyền Toà án giải quyết haykhông (Điều 36); Toà án có được nhập hoặc tách vụ án theo quy định củaĐiều 38 hay không
Sau đó xác định quyền khởi kiện vụ án, người khởi kiện có quyền khởikiện vụ án hay không (Điều 161), phạm vi khởi kiện (Điều 163), hình thức,nội dung đơn khởi kiện (Điều 164), tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện(Điều 165), thời hiệu khởi kiện của đương sự còn hay đã hết (người khởi kiện
có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự hay không (Điều 168)
Sau khi kiểm tra những nội dung trên, bước tiếp theo là căn cứ Điều 171
để xác định việc Toà án thụ lý có đúng thẩm quyền hay không, Toà án đãthông báo cho đương sự nộp tiền tạm ứng án phí chưa, mức thông báo có
Trang 36đúng theo quy định hay không, nếu không thu đúng thu đủ sẽ xâm phạm đếnlợi ích của Nhà nước.
Trên cơ sở kiểm tra những nội dung nêu trên, từ đó mới xác định việcToà án thụ lý vụ án có đúng thẩm quyền hay không đúng thẩm quyền
Về tố tụng, đối với cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đối với
cơ quan, tổ chức phải có người đại diện hợp pháp làm đơn khởi kiện, xác định
tư cách nguyên đơn, bị đơn…(Điều 161, Điều 162 Bộ luật Tố tụng dân sự);xác định mối quan hệ pháp luật (Điều 163); kiểm tra các tài liệu, chứng cứchứng minh họ là người có quyền khởi kiện (Điều 165); xác định thời hiệukhởi kiện (Điều 168); xác định yêu cầu phản tố của bị đơn (Điều 167, nếu có);kiểm tra các thủ tục tiến hành tố tụng của Toà án như giấy báo nhận được đơnkiện, thông báo nộp tiền án phí, thông báo về việc thụ lý vụ án, kiểm tra thờihạn chuẩn bị xét xử và hoà giải đối với những vụ việc bắt buộc phải tiến hànhhoà giải (Điều 179, Điều 180, Điều 181) Kiểm tra các quyết định tạm đìnhchỉ việc giải quyết vụ án (Điều 189), quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự (Điều 192) Nếu trong vụ án, khi người khởi kiện rút đơn khởi kiện thì cầnlưu ý trong vụ án có yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập củangười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không, từ đó xem xét việc Toà án
ra quyết định đúng hay không đúng quy định của pháp luật
Kiểm sát viên cần xem xét xác định các tranh chấp đất đai mà nguyên đơnkhởi kiện là gì trên cơ sở đó xác định các điều kiện thụ lý cụ thể mang tính đặcthù riêng của từng quan hệ pháp luật tranh chấp về quyền sử dụng đất như:
- Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, tranh chấp về đòi lại đất
do người khác sử dụng
- Tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Tranh chấp phát sinh từ các quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất
Đối với các tranh chấp quyền sử dụng đất, cần xem khởi kiện có đủ điều
kiện theo quy định tại điều 135 Luật đất đai năm 2003 hay không các tranh
Trang 37chấp đất đai phải được hòa giải tại cấp xã, phường, thị trấn nơi có tranhchấp xảy ra Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có tranh chấp cótrách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các Tổ chức thành viên củaMặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải tranh chấp đất đai Như vậy
theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 thì việc hòa giải tại Ủy ban nhân
dân xã, phường, thị trấn nơi xảy ra tranh chấp đất đai là điều kiện bắt buộcphải có trước khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện, nếu không sẽ bị coi là chưa
đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 168 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2004.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của tòa án nào trên cơ sởchung về xác định thẩm quyền tương tự như các vụ án dân sự khác Nguyêntắc xác định thẩm quyền theo loại việc, theo cấp tòa án Xác định thẩm quyềntheo lãnh thổ Ưu tiên xác định tòa án là nơi có bất động sản và xác định thẩmquyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người có yêu cầu trong trường hợptranh chấp về quyền sử dụng đất ở nhiều địa phương khác nhau
Kiểm sát viên phải căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật về đất đaicủa Nhà nước để xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tốcủa bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nếucó) có được pháp luật công nhận và bảo vệ hay không
Ví dụ: các đương sự tranh chấp với nhau về “Hợp đồng chuyển nhượngquyền sử dụng đất” trước tiên phải xem xét tại thời điểm các bên lập hợpđồng chuyển nhượng đất cho nhau, người đang sử dụng đất có được quyềnchuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác không Theo Hiến phápnăm 1980, Điều 11 xác định chỉ tồn tại một hình thức sở hữu, đó là sở hữutoàn dân, Nhà nước nghiêm cấm việc mua, bán, lấn chiếm đất đai, phát canh,thu tô dưới mọi hình thức Như vậy khi xem xét giải quyết tranh chấp hợp
Trang 38đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xảy ra ở thời điểm này đều được xem
là hợp đồng vô hiệu
Tại khoản 2 Điều 3 Luật Đất đai năm 1993, Nhà nước cho phép người
được Nhà nước giao đất có 5 quyền trong đó có quyền chuyển nhượng quyền
sử dụng đất Tuy nhiên về hình thức thủ tục để thực hiện những quyền này
Nhà nước cũng quy định hết sức chặt chẽ Đồng thời Luật Đất đai năm 1993
cũng quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai bằng biện pháp hànhchính và tư pháp
Ví dụ: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà người sử dụngđất không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền thì do UBND giải quyết Tranh chấp về quyền sử dụng đất màngười sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan Nhànước có thẩm quyền hoặc các giấy tờ khác theo quy định của pháp luật thì doToà án giải quyết Về hình thức của hợp đồng, hợp đồng phải được lập bằngvăn bản và phải có chứng thực của UBND cấp có thẩm quyền hoặc công
chứng Luật Đất đai năm 2003 quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất được mở rộng lên thành 10 quyền, trong đó có quyền chuyểnnhượng quyền sử dụng đất, đồng thời vẫn quy định rất chặt chẽ về trình tự thủtục chuyển quyền sử dụng đất, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai (Điều136)… Ngoài những nguyên tắc cơ bản nêu trên, khi kiểm sát những vụ, việctranh chấp quyền sử dụng đất có một số điều kiện sau: Đất có giấy chứngnhận quyền sử dụng đất; đất không có tranh chấp; quyền sử dụng đất không bị
kê biên… và trong thời hạn sử dụng đất
Áp dụng pháp luật trong quá trình thu thập và đánh giá chứng cứ
Quá trình thu thập và đánh giá chứng cứ để giải quyết tranh chấp đất đai,thẩm phán tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ ở cơ quan quản lý đất đainhư Sở địa chính, phòng địa chính, Ủy ban nhân dân các cấp và một số cơ
Trang 39quan chức năng khác Kiểm tra thực tế sử dụng đất của các bên tranh chấp,xác định vị trí, diện tích…Thành lập hội đồng định giá phải đủ thành phần.Quá trình thu thập và đánh giá chứng cứ phải tuân thủ nghiêm và chính xác
các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì mới đảm bảo khách
quan, làm rõ sự thật để giải quyết vụ án được chính xác
Áp dụng pháp luật trong việc kiểm sát các quyết định công nhận sự thoả thuận của các bên
Ví dụ: Khi lập biên bản hoà giải thành về vụ án chia di sản thừa kếquyền sử dụng đất, Toà án chỉ căn cứ vào diện tích đất trong giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất là di sản của người chết để lại đem chia theo sự thoả thuậncủa các bên đương sự mà không đo diện tích đất thực trạng, dẫn đến khi thihành án đo diện tích đất thực trạng để chia thì không đủ để chia, do đó không
tổ chức thi hành án được Có nhiều trường hợp không đưa hết người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng, nhất là đối với hợp đồng chuyểnnhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của hộ gia đình Toà án chỉ dựavào sự thoả thuận của chủ hộ là bố hoặc mẹ đại diện cho bên chuyển nhượng
mà không đưa ông, bà hoặc các con, những người này lẽ ra phải đưa họ vàotham gia tố tụng, nhưng Toà án không đưa họ vào tham gia với tư cách lànhững người có quyền, nghĩa vụ liên quan, mà chỉ căn cứ vào sự thoả thuậncủa bố hoặc mẹ để ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự.Hoặc có những vụ án có giá ngạch, lẽ ra khi thụ lý, Toà án phải thông báo chonguyên đơn hoặc bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan có yêu cầu độc lập, phải nộp dự phí án phí, nhưng Toà án chỉ thông báocho nguyên đơn nộp dự phí án phí mà không thông báo cho bị đơn có yêu cầuphản tố hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nộp
dự phí án phí dẫn đến việc vi phạm Điều 178 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghịđịnh số 70/CP của Chính phủ về chế độ lệ phí, án phí Toà án Đặc biệt là vi
Trang 40phạm về thời hạn gửi quyết định không đảm bảo thời gian theo quy định tạikhoản 1 Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng pháp luật trong việc xác định chính xác thẩm quyền giải quyết của Toà án đối với các tranh chấp đất đai
Theo các quy định của pháp luật về đất đai, thì tranh chấp đất đai thuộcthẩm quyền giải quyết của Toà án bao gồm cả tranh chấp về quyền sử dụng
đất và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất Tranh chấp về quyền sử dụng đất, về lý luận và thực tiễn, bao gồm 3 loại: Tranh chấp về việc ai là người có
quyền sử dụng đất (kiện đòi đất đang bị người khác chiếm giữ, tranh chấpmốc giới); Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, chothuê lại quyền sử dụng đất và thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị
quyền sử dụng đất; Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất gồm các tranh chấp về quyền sử dụng, quyền sở hữu,
tranh chấp hợp đồng, tranh chấp thừa kế… về nhà ở, vật kiến trúc khác (nhàbếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làmhàng rào gần với nhà ở, các công trình xây dựng trên đất được giao để sửdụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh như nhà xưởng, kho tàng, hệ thốngtưới tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi…các tài sản khác như cây lấy gỗ, câylấy lá, cây quả, cây công nghiệp, cây lâu năm…)
Như vậy, Toà án chỉ thụ lý giải quyết các tranh chấp đất đai có đủ cácđiều kiện sau đây:
- Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường,thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí;
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứngnhận quyền sử dụng đất nhưng có một trong các loại giấy tờ quy định tại cáckhoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003, gồm: