Cấp phép kinh doanh bỏng ngô đã rất thành công ở Mỹ nhưng được xem là mốt nhất thời và chỉ kinh doanh tốt ở những khu phố mua bán lớn và những vị trí giao thông đông đúc khác.. Hiện tại
Trang 1ThS Nguyễn Thị Bỡnh Minh 1
Tỡnh huống 1 – Chương 1:
BỎNG NGÔ HARVEY WALLBANGER Harvey Wallbanger, chủ tịch của tập đoàn bỏng ngô Harvey Wallbanger ra nhập thị trường bỏng ngô vào năm 1972 Ông được xem là người rất có trách nhiệm trên thị trường bỏng ngô hảo hạng ở Mỹ Tuyên bố đã trở nên nổi tiếng của ông là ngô của ông nhẹ hơn, xốp hơn, mềm hơn và to hơn bỏng ngô thông thường Ông cũng khoe khoang rằng, bỏng ngô của ông ít cứng hơn, hạt không nở so với các sản phẩm cạnh tranh khác
Công ty của Harvey bán bỏng ngô tới một vài thị trường:
1 Các hạt bắp không nở được bán cho các cửa hàng thực phẩm cho người tiêu dùng mang về nhà Có một vài sản phẩm đi kèm – gia vị thơm, dầu ăn – và nhiều bao bì kích cỡ khác nhau Bao bì thông thường nhất
là bỏng ngô cho lò vi sóng chiếm tới 81.1% doanh số bỏng ngô không
đầu tư mới Ông có 20 cửa hàng thuộc sở hữu công ty và 120 cửa hàng
được cấp phép Cấp phép kinh doanh bỏng ngô đã rất thành công ở Mỹ nhưng được xem là mốt nhất thời và chỉ kinh doanh tốt ở những khu phố mua bán lớn và những vị trí giao thông đông đúc khác Tuy nhiên bỏng ngô là sản phẩm chủ yếu trong các bữa ăn nhanh của Mỹ
Những cửa hàng bỏng ngô hảo hạng xử lý một khối lượng lớn hương liệu khác nhau; kem chua và hành, pho mát và các mùi gia vị, và jalapeno là các chất thêm thông thường ngoài muối và các loại bơ truyền thống Cũng bao gồm trong
đó là vị caramel khác nhau và nhưng hương vị ngọt ngào khác bao gồm dưa hấu, sôcôla, amaretto và anh đào
4 Công ty đang thử nghiệm việc cho siêu thị thuê thiết bị rang ngô để bỏng ngô tươi mới hơn, và có thể dùng ngay tại chỗ cũng như mang về nhà Đối với cửa hàng bỏng ngô hảo hạng, ông có những cái máy có
Trang 2ThS Nguyễn Thị Bỡnh Minh 2
thể rang 320 gallon bắp trong một giờ và có thể nấu lên tới 20 hương vị của gia vị và bảy hương vị ngọt ngào của kẹo cùng một lúc Ông cho thuê một kiểu máy nhỏ trong số những chiếc máy này đối với những siêu thị lớn; Một vài siêu thị mà ông thử nghiệm thị trường đang chứng minh là nó thành công ý tưởng này phù hợp với xu hướng bởi những siêu thị lớn muốn tăng thêm các thực phẩm hảo hạng, cửa hàng bán ăn ngon và tất nhiên đây là sự thu hút lớn đối với khách hàng
5 Vụ đầu tư mới nhất của ông là bắp rang được đóng gói trong những túi có trang trí hình lá, được phân phối thông qua những cửa hàng thực phẩm và bất cứ nơi nào bán bắp chiên, khoai tây chiên và các loại đồ
ăn nhanh khác khác Công ty bán các bỏng ngô thông thường cộng với một loạt bỏng ngô hảo hạng có hương vị Ông đang thử nghiệm một loại hương vị mới, dấm và muối, phảng phất mùi cá và khoai tây chiên
đối với thị trường hàng hoá đóng gói này
Vấn đề
Wallbanger bỏ ra 6 tháng ở Anh và ngạc nhiên biết rằng người Anh hiện tại chưa dùng bỏng ngô nhưng tiêu thụ một lượng lớn thức ăn nhanh khác khi họ uống bia Bỏng ngô duy nhất mà ông có thể tìm thấy, ngoài những ngô đóng gói
cũ trong siêu thị, là ngô caramel, một loại ngô không nổi tiếng lắm Wallbanger tin rằng có cơ hội lớn ở thị trường Anh Người Anh là những người tiêu dùng thức
ăn nhanh lớn, họ ghé những tiệm rượu thường xuyên, và họ là những người xem
ti vi nhiều Hiện tại ông đang nghĩ đến việc xuất khẩu sản phẩm của những cửa hàng hảo hạng được nhượng quyền và những cửa hàng cấp phép để bán nhãn bỏng ngô của ông Dù ông cởi mở khi đề nghị những khả năng khác, ông đã chắc chắn khi bảo với hội đồng quản trị rằng “Bỏng ngô Harvey Wallbanger sẽ đầu tư lớn ở Anh trong hai năm.” Bạn được chọn là trợ lý tham mưu giúp ông đánh giá sơ bộ về cơ hội và những vấn đề khi bán bỏng ngô ở Anh
Wallbanger thu thập một số thông tin về thị trường Anh khi ông ở đó Ông
ấy đưa cho bạn thông tin đó và yêu cầu bạn cho ông ấy phán đoán tốt nhất của bạn về: (1) Trong tất cả các phương thức bán bỏng ngô, công ty nên sử dụng phương thức nào? (2)Một số vấn đề lớn và những cơ hội mà công ty có thể có ở
Trang 3ThS Nguyễn Thị Bỡnh Minh 3
Anh? và (3) Thị trường tiềm năng của bỏng ngô là gì, cả trong ngắn hạn và trong dài hạn? Bạn trình bày báo cáo của bạn cho Wallbanger Bạn biết rằng nếu bạn làm tốt việc và công ty đến Anh, bạn có lẽ sẽ được đảm nhiệm vụ đầu tư mới này
Thị trường Anh
Đây là một số thông tin mà Wallbanger thu thập được về thị trường Anh:
- Người Anh phân biệt rõ giữa đồ ăn nhanh có “hương vị” hay có gia vị, mặn
và đồ ăn nhanh ngọt Thức ăn nhanh có gia vị hay mặn ở Anh bao gồm nhiều loại khoai tây chiên có gia vị, trừ thức ăn nhanh có pho mát như Bugles và đậu phụng muối Nhắm khoai tây chiên và đậu phụng rang muối khi uống bia, là một hành
vi xã hội rất truyền thống Những thức ăn nhanh dạng hạt được mua như sản phẩm đi kèm với bia và chúng được mua trong các quán rượu và trong cửa hàng thực phẩm để tiêu dùng trong nhà
Bảng 1 Snack có gia vị bán tại các địa điểm bán lẻ
Những nơi công cộng và Các cửa hàng bán rượu 25
Hiệu bánh kẹo, thuốc lá, quầy báo 13
Như Bảng 1 cho thấy, 40% thức ăn nhanh có gia vị được mua tại các cửa hàng thực phẩm và siêu thị trong khi 25% được mua ở những nơi công cộng và các cửa hàng bán rượu chai Quan trọng hơn, 50% các loại thức ăn nhanh dạng nhân hạt được mua ở các cửa hàng tạp hoá , 24% được mua ở các quán rượu và 6% trong các tiệm bán rượu chai 65% bia được mua uống ngay là ở trong các quán rượu (thuộc sở hữu của các nhà máy rượu hoặc tự do), 21% là các câu lạc
bộ riêng và 11% trong các tiệm bán rượi chai
Nhiều người phân phối thức ăn nhanh cũng là những người sở hữu các tiệm bán rượu chai và các quán rượu “KPs”, loại đậu uống bia bán chạy nhất, được sản xuất bởi nhà sản xuất rượu đồng thời là chủ quán rượu 45% các quán rượu
Trang 4Thức ăn nhanh có gia vị bao gồm chủ yếu khoai tây chiên Có 20.700.000
hộ gia đình ở Anh có mức tiêu thụ trung bình hàng năm là 159.000 tấn thức ăn nhanh có gia vị hay 7,7 Kg/hộ (so với 2,7 Kg /hộ ở Pháp)
Những hạt đậu trước khi đóng gói đã được đưa ra thị trường từ lâu và được tiêu thụ giống như thức ăn nhanh đi kèm với bia ở Anh, những người đến quán rượu chủ yếu là đàn ông và người ta vẫn xem đàn ông tiêu thụ một khối lượng bia chủ yếu Bởi vì ăn bất cứ thức ăn nhanh nào mặn đều làm khát nước dẫn đến việc tăng tiêu thụ bia, những người chủ quán rượu không ngoan luôn luôn làm sẵn thức ăn nhanh mặn
Tổng doanh thu ngành sản xuất thức ăn nhanh ở Anh là 1,1 tỷ đô la vào năm
1987 và tăng tới hơn 1,7 tỷ năm 1992
Bỏng ngô sẵn có ở Anh nhưng nó thường được tẩm đường, tương tự như Cracker Jacks và được bán trong các hộp nhỏ ở rạp chiếu phim Bỏng ngô tươi, nóng, tẩm bơ và muối là một sản phẩm tương đối mới ở Anh
Một vấn đề khi tạo lập vị trí cho bỏng ngô như một loại thức ăn nhanh có gia vị là sự so sánh có thể có với bỏng ngô tẩm đường Butterkist, nhãn hiệu bỏng ngô nổi tiếng nhất lại là thức ăn nhanh ngọt và người Anh có xu hướng không trộn những thứ ngot với gia vị Thật không may, bỏng ngô ngọt có hương vị caramel không đặc biệt nổi tiếng ở Anh, bởi vậy cản trở này có thể rất nhỏ
Thức ăn nhanh yêu thích của người Anh là khoai tây chiên giòn, chiếm tới 60% thức ăn nhanh có chứa gia vị được bán ở Anh Họ không ăn khi xem tivi như
ở Mỹ nhưng họ ăn trong khi uống bia, khi chơi bài ở quán, và khoai tây chiên bình thường hoặc có gia vị và các hạt đậu muối là những món yêu thích
Khi những tiệm rượu, những quán đánh bài và nơi diễn ra các sự kiện thểthao là những nơi thuộc về truyền thống mà người Anh uống bia và ăn thức ăn nhanh, việc bán bia đem về nhà trong các siêu thị đang tăng với tỷ lệ khoảng 13%/năm Cùng với việc tăng mua về nhà, việc bán khoai tây chiên và những thức ăn có tẩm gia vị khác cũng tăng Xu hướng gia tăng bán bia đem về nhà có
Trang 5xu hướng có thể xảy ra ở Anh, bỏng ngô dùng cho lò vi sóng sẽ trở thành loại bỏng ngô chính được mua về nhà
Trang 6Mỹ đông lạnh chưa qua chế biến, chất lượng hàng hoá thông thường, nhãn hiệu hàng đầu Lô hàng được kiểm duyệt đã đạt tiêu chuẩn đề ra của thị trường Mỹ, do vậy nhà xuất khẩu mong đợi chuyến giao dịch này sẽ kết thúc mà không gặp phải trở ngại gì
Tuy nhiên khi lô hàng đến Tây Đức, bên mua đã phản ánh lại rằng: “ Chúng tôi yêu cầu gan heo với chất lượng thông thường nhưng những gì các ngài gửi đến cho chúng tôi thì có tới 40% gan lợn nái trong lô hàng đó”
Nhà xuất khẩu đã hỏi lại: “Ai thèm quan tâm đến gan heo cái hay heo
đực?”
Nhà nhập khẩu đã đáp lại: “ chúng tôi không đánh tráo gan xốp của lợn nái thay cho gan săn chắc của lợn đực Lô hàng này không thể bán ở mức giá mà chúng tôi đã dự tính trả Cách duy nhất chúng tôi có thể xử lý số gan này mà không bị thua lỗ là phải giảm giá Và ngài nợ chúng tôi 1.000 đô la cho việc giảm giá này
Nhà xuất khẩu Mỹ đã không chấp nhận việc giảm giá Nguyên nhân của sự phản bác này có lẽ là do phản ứng của nhà xuất khẩu có phần nào đó bóng gió xúc phạm đến khẩu vị của người tiêu dùng Mỹ Nhà xuất khẩu Mỹ nghĩ rằng:
“Nếu gan heo của bất kể giống gì nhưng là ngon đối với người Mỹ thì chúng cũng ngon đối với bất cứ một người nào khác”
Trang 7a áp dụng luật pháp của nước nào
b Vụ việc trên nên được xét xử ở toà án Mỹ hay toà án Đức
c Các ý kiến khác nhau về cụm từ “chất lượng hàng hoá thông thường”
Trang 8do gắn liền với làn sóng dịch chuyển những công việc trình độ thấp của những người công nhân cổ áo xanh từ các quốc gia giàu có như Mỹ sang các quốc gia
có mức chi phí nhân công thấp, chẳng hạn như: dệt may sang Costa Rica, giày thể thao sang Philippines, thép sang Brazil, các sản phẩm điện tử sang Thái Lan, Trong khi nhiều nhà quan sát lo ngại cho lỗ hổng của nền sản xuất Mỹ, thì các nhà kinh tế học lại cho rằng những công việc của đội ngũ công nhân áo trắng đòi hỏi kỹ năng cao với mức lương cao gắn liền với nền kinh tế tri thức sẽ ở lại với nền kinh tế Mỹ Vì vậy, máy tính có thể được lắp ráp tại Thái Lan, nhưng chúng vẫn được thiết kế tại Silicon Valley bởi những kỹ sư Mỹ có tay nghề cao,
và các phần mềm ứng dụng vẫn được biết bởi các kỹ sư lập trình Mỹ ở Microsoft, Adobe, Oracle và các công ty tương tự
Những diễn biến suốt nhiều thập kỷ qua đã khiến nhiều người đặt nghi vấn
về giả định trên Nhiều công ty Mỹ đang chuyển các công việc trí óc (công việc của đội ngũ lao động cổ áo trắng) đến các quốc gia phát triển với các chi phí thấp hơn Trong thời kỳ bùng nổ kinh tế của những năm 1990, Ngân hàng Bank of America đã phải cạnh tranh với những tổ chức khác về nguồn nhân tài khan hiếm trong lĩnh vực công nghệ thông tin Điều đó làm cho tiền lương của những chuyên gia trong ngành này tăng lên hơn 100.000 $/năm Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp phải chịu áp lực của suy thoái kinh tế, ngân hàng này đã cắt giảm gần 25.000 lao động của họ thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin (IT) tại Mỹ Một
số công việc được chuyển giao tới Ấn Độ, nơi mà chỉ mất 20 $/giờ cho 1 công việc, thay vì phải chi 100 $/giờ tại Mỹ
Trang 9ThS Nguyễn Thị Bình Minh 9
Một trong những công ty được hưởng lợi khi Ngân hàng Bank of America giảm quy mô là công ty Infosys Technologies Ltd., một doanh nghiệp công nghệ thông tin tại Bangalore, Ấn Độ Tại đây, 250 kỹ sư đang phát triển các ứng dụng
IT cho ngân hàng Bank of America Những nhân viên khác của Infosys đang bận rộn xử lý các khoản cho vay mua nhà cho công ty Greenpoint Mortgage of Navato có trụ sở đặt tại California Gần đó, trong các văn phòng của 1 doanh nghiệp Ấn Độ khác, công ty Wipro, 5 chuyên gia X-quang mỗi ngày phân tích 30 ảnh chụp cắt lớp do bệnh viện Đa khoa Massachusetts chuyển đến qua thông tin Internet Tại 1 doanh nghiệp khác ở Bangalore, các kỹ sư kiếm được 10.000
$/năm cho công việc thiết kế những con chip bán dẫn hàng đẩu cho công ty Texas Instruments Không chỉ riêng Ấn Độ được hưởng lợi từ những thay đổi này Accenture, 1 hãng công nghệ thông tin và tư vấn pháp lý của Mỹ, cũng đã chuyển 5.000 việc làm liên quan đến việc phát triển phần mềm và kế toán sang Philippines Cũng tại Philippines Procter & Gamble sử dụng 650 chuyên gia để chuẩn bị các báo cáo thuế toàn cầu của công ty Công việc này từng được P&G thực hiện tại Mỹ, nhưng hiện nay đang được thực hiện tại Manila, Philippines, ngoại trừ việc nộp báo cáo quyết toán thuế cho cơ quan thuế địa phương tại Mỹ
và các nước khác được thực hiện bởi các chi nhánh công ty ở địa phương
Một số công việc kiến trúc cũng được đặt gia công ở những nơi có chi phí thấp hơn Flour Corp., 1 công ty xây dựng có trụ sở chính đặt tại California, tuyển dụng khoảng 1.200 kỹ sư và công nhân ở Philippines, Ba Lan và Ấn Độ để chuyển các bản thiết kế của các cơ sở công nghiệp thành các bản thiết kế chi tiết Đối với 1 nhà máy hóa chất hóa chất ở Ả Rập Saudi mà họ đang thiết kế, 200 kỹ
sư trẻ tại Philippines với mức thu nhập ít hơn 3.000 $/năm đang phối hợp trực tiếp qua Internet với các kỹ sư ưu tú người Anh và Mỹ - những người có mức thu nhập là 90.000 $/năm Tại sao Flour Corp làm như thế? Theo công ty thì câu trả lời rất đơn giản: làm thế sẽ giảm được 15% giá trị của dự án, tạo cho công ty
có lợi thế cạnh tranh về giá trong thị trường thiết kế xây dựng thế giới Tất cả đều ảnh hưởng đến tăng trưởng việc làm ở Mỹ Một vài công việc kỹ thuật cao là các công việc quan trọng cũng được gia công ở nước ngoài ngay từ đầu Ví dụ, Zoho Corporation, 1 công ty có trụ sở tại California chuyên cung cấp các ứng dụng online trên web cho các doanh nghiệp nhỏ, có 20 nhân công ở Mỹ và hơn 1.000
Trang 102 Các quốc gia phát triển như Mỹ có bị ảnh hưởng khi mất đi các công việc đòi hỏi trình độ cao và trả lương cao không?
3 Có sự khác biệt giữa 2 loại công việc về tình trạng di chuyển các công việc này từ quốc gia phát triển sang các quốc gia đang phát triển: công việc trí óc lương cao, ví dụ lập trình viên máy tính và kế toán, và công việc tay chân lương thấp không? Nếu có, sự khác biệt ở đây là gì? Và chính phủ có nên làm gì để ngăn chặn dòng chảy của những công việc trí óc ra khỏi đất nước mình sang những quốc gia khác như Ấn Độ chẳng hạn
Trang 11ThS Nguyễn Thị Bình Minh 11
Tình huống 4 – Chương 2 Walmart ở Nhật Bản
Nhật Bản là 1 thị trường khó đối với các công ty nước ngoài muốn mở những cửa hàng bán lẻ quy mô lớn Mức độ đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI)
ở Nhật chỉ bằng 1 phần nhỏ so với những quốc gia phát triển khác Ví dụ, trong năm 2008, FDI tích lũy ở Nhật so với GDP là 4,1%, trong khi ở Mỹ con số này là 16%, ở Đức là 19,2%, ở Pháp là 34,7% và ở Anh là 36,9%
Có nhiều lý do giải thích sự hạn chế đầu tư ở Nhật Cho đến những năm
1990, chính phủ Nhật có quy định nghiêm ngặt gây khó khăn cho những doanh nghiệp muốn xây dựng công ty con tại đây Chẳng hạn trong lĩnh vực bán lẻ, Luật cửa hàng bán lẻ quy mô lớn (Large Scale Retail Store Law) được thành lập
để bảo vệ về mặt pháp luật cho các nhà bán lẻ nhỏ, làm cho những nhà bán lẻ nước ngoài không thể mở những cửa hàng quy mô lớn tại đây (luật này đã bị hủy
bỏ năm 1994) Mặc dù xóa bỏ quy định trong những năm 1990, FDI vào Nhật vẫn ở mức thấp Một số yếu tố văn hóa giải thích điều này Nhiều công ty Nhật chống đối việc sáp nhập với 1 công ty nước ngoài (sáp nhập là hình thức chủ yếu của FDI) Họ làm như thế do lo sợ những người chủ mới sẽ tái cấu trúc quá cứng rắn, cắt giảm công việc và phá vỡ những quan hệ hợp tác lâu dài với những nhà cung cấp Những nhà đầu tư nước ngoài cũng cho rằng khó tìm nhà quản lý giỏi
ở Nhật Hầu hết những nhà quản trị có hướng làm ở những vị trí nhất định trong toàn bộ sự nghiệp công việc của mình, chỉ có 1 số ít nhà quản trị trong thị trường lao động để những người quản lý nước ngoài thuê Ngoài ra, do sự kết hợp của tăng trưởng kinh tế thấp, chi tiêu dè dặt của người tiêu thụ và dân số đang già làm cho thị trường Nhật Bản kém hấp dẫn hơn so với trước đây, nhất là khi so sánh với nền kinh tế năng động và phát triển nhanh chóng của Trung Quốc và Ấn
Độ, hay ngay cả so sánh với Mỹ và Anh
Tuy nhiên, Chính phủ Nhật quay lại quan điểm quốc gia cần đầu tư nước ngoài Những công ty nước ngoài sẽ tạo sự cạnh tranh cho Nhật trong khi công ty địa phương không thể làm được do những công ty nước ngoài không bị giới hạn bởi những quan hệ hay thực hành kinh doanh hiện có Họ có thể là nguồn tạo ra ý tưởng quản lý, kỹ thuật và chính sách kinh doanh mới - tất cả điều này sẽ nâng
Trang 12ThS Nguyễn Thị Bình Minh 12
cao năng suất Thực vậy, 1 nghiên cứu của Tổ chức Phát triển và Hợp tác kinh tế (OECD) cho thấy năng suất lao động của chi nhánh của công ty nước ngoài tại Nhật cao hơn 60% so với công ty trong nước (đối với dịch vụ là cao hơn 80%) Một cơ hội giúp cho tái cấu trúc lĩnh vực bán lẻ của Nhật (việc đẩy mạnh năng suất lao động và thị phần lớn) đã hấp dẫn Walmart vào Nhật Nhà bán lẻ lớn nhất thế giới, Walmart vào Nhật năm 2002 bằng cách mua lại 1 công ty èo uột là Seiyu – 1 nhà bán lẻ đứng thứ 5 của Nhật Theo giao dịch này, Walmart tăng được quyền sở hữu 5 năm sau đó, và trở thành người sở hữu chính thức vào năm 2006 Seiyu là 1 nhà bán lẻ không hiệu quả và theo 1 nhà quản trị cấp cao của công ty đã cho rằng: “Seiyu bị cản trở bởi những thói quen cũ, đó là sự lãng phí” Walmart mang đến những kỷ năng quản lý 1 siêu thị lớn, cái mà chúng tôi phải học để thực hiện.”
Mục tiêu của Walmart là chuyển những thực hành nghề tốt nhất từ những cửa hàng của Mỹ và sử dụng chúng để cải thiện sự thực hiện ở Seiyu Đó là triển khai hệ thống thông tin độc đáo, kiểm soát chặt tồn kho, sử dụng chuỗi cung ứng toàn cầu để có giá rẻ, giới thiệu giá thấp mỗi ngày, huấn luyện nhân viên để cải thiện dịch vụ khách hàng, kéo dài giờ hoạt động, sửa sang cửa hàng, và đầu tư cửa hàng mới
Việc cải thiện có nhiều khó khăn hơn Walmart nghĩ Khi Walmart nắm cổ phần chính yếu tại Seiyu, họ nhanh chóng sa thải 1.500 nhân viên điều hành các cửa hàng bán lẻ Mặc dù việc này làm giảm chi phí nhưng cũng tạo ra sự chống đối từ những nhân viên trước đây và cả những người được giữ lại về những áp lực do Walmart cố gắng áp đặt cách thực quản lý của Mỹ lên 1 công ty của Nhật Điều này làm quan hệ công chúng xấu đi đối với Walmart Walmart cũng gặp trở ngại khi bắt đầu dự trữ hàng hóa giá thấp (vì điều này thường gắn liền với chất lượng cảm nhận thấp) của Trung Quốc tại những cửa hàng Nhật Người tiêu dùng Nhật phản ứng không thuận lợi và Walmart nhận ra là phải thay đổi cách kinh doanh, phải đưa ra những hàng hóa có giá trị cao hơn nhằm đáp ứng những thói quen mua sắm của người Nhật – là những thói quen đã được chứng minh là khó thay đổi Sự xâm nhập của Walmart cũng thúc đẩy công ty địa phương phải thay đổi chiến lược Họ cũng bắt đầu thâu tóm và thông báo cắt giảm giảm giá để đối phó với chiến lược lược giảm giá của Waltmart Nhiều nhà cung cấp Nhật Bản
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)
Trang 13ThS Nguyễn Thị Bình Minh 13
cũng miễn cưỡng làm việc với Walmart do họ tin rằng Walmart sẽ buộc họ giảm giá bán để Walmart có thể giảm giá bán của mình đến mức tối đa Mặc dù thế, sau nhiều năm yếu kém, có thể thấy Seiyu bắt đầu sinh lợi trong năm 2010 Điều này chỉ rõ rằng cuối cùng Walmart có thể thu hoạch từ sự đầu tư của họ
Câu hỏi:
1 Trong lịch sử, tại sao mức đầu tư FDI tại Nhật thấp?
2 Những lợi ích tiềm năng của kinh tế Nhật do FDI cao hơn là gì?
3 Lợi ích của Walmart khi xâm nhập lĩnh vực bán lẻ của Nhật như thế nào? Ai sẽ thiệt hại do sự xâm nhập của Walmart?
4 Tại sao Walmart gặp khó khăn khi tìm kiếm lợi nhuận tại Nhật? Điều gì làm cho công ty này hành động khác biệt?
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)
Trang 14ThS Nguyễn Thị Bình Minh 14
Tình huống 5 – Chương 2 Thuế nhập khẩu của Mỹ đối với vỏ xe nhập khẩu từ
Trung Quốc
Vào tháng 9/2009, Tổng thống Obama áp đặt 1 mức thuế vào các loại vỏ
xe nhập khẩu từ Trung Quốc Biện pháp thuế này là hành động để phản ứng lại làn sóng nhập khẩu từ Trung Quốc đang dâng cao và cuộc vận động hành lang ráo riết từ liên đoàn các công nhân ngành thép ở Mỹ, đại diện cho 15.000 công nhân tại 13 nhà máy sản xuất vỏ xe trên toàn nước Mỹ Vỏ xe nhập khẩu từ Trung Quốc thường là sản phẩm cấp thấp được bán với giá chỉ bằng nữa vỏ xe có thương hiệu được sản xuất tại Mỹ Năm 2008, Mỹ nhập khẩu 46 triệu chiếc vỏ xe
từ Trung Quốc, gấp 3 lần năm 2004 Thị phần của Trung Quốc tăng từ 5% lên 17% trong cùng kỳ, trong khi việc làm trong ngành này ở Mỹ giảm 5.000 và sản lượng trong nước giảm từ 218 triệu vỏ xe xuống còn 160 triệu vỏ xe
Liên đoàn các công nhân của ngành thép ở Mỹ đã nộp đơn kiện lên Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC), là 1 cơ quan của Bộ thương mại Mỹ, nhằm xin bảo hộ Sau khi xem xét vụ kiện, Ủy ban này đã kết luận rằng sự gia tăng đột biến vỏ xe nhập khẩu từ Trung Quốc đã gây ra “lũng đoạn thị trường” đáng kể và khuyến nghị nên đánh thuế vỏ xe nhập khẩu từ Trung Quốc trong 3 năm Chính quyền Obama đã đồng ý và áp thuế suất 35% lên sản phẩm vỏ xe nhập khẩu từ Trung Quốc trong 1 năm, năm tiếp theo là 30% và năm cuối cùng là 25% Thuế này ở top 4 trong biểu thuế nhập khẩu hiện hành Trung Quốc phản đối tức thì, gọi mức thuế này là 1 trường hợp nghiêm trọng về “bảo hộ mậu dịch”
và cho rằng Mỹ đang vi phạm các nguyên tắc của WTO – 1 tổ chức mà cả 2 quốc gia đều là thành viên Về phần mình, Mỹ lập luận rằng biện pháp thuế là được phép chiếu theo điều kiện thuộc điều khoản bảo vệ đặc biệt - là 1 bộ phận trong thỏa thuận của Mỹ và Trung Quốc khi Mỹ ũng hộ Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001 Theo điều khoản này, các công ty và người lao động Mỹ bị thiệt hại bởi hàng hóa nhập khẩu tử Trung Quốc có thể yêu cầu nhà nước bảo hộ bằng cách chứng minh được rằng những nhà sản xuất Mỹ đang chịu “tình trạng lũng
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)
Trang 15áp dụng
Về phần mình, liên đoàn các công nhân ngành thép Mỹ cho rằng đánh thuế là 1 thành công lớn Trong vòng 6 tháng sau khi áp thuế, sản lượng vỏ xe của Mỹ tăng hơn 15% và liên đoàn tuyên bố rằng các nhà sản xuất Mỹ đang lên
kế hoạch tăng thêm công suất Trong cùng thời kỳ, vỏ xe nhập khẩu từ Trung Quốc giảm đi 34% Tuy nhiên, liên đoàn có thể đã tuyên bố chiến thắng quá sớm Trong vòng 18 tháng tiếp theo, vỏ xe nhập khẩu từ Thái Lan, Indonesia và Mexico tăng vọt, cho thấy rằng các nhà sản xuất với chi phí thấp đã lợi dụng thuế đánh vào vỏ xe Trung Quốc để tăng nhanh xuất khẩu sang Mỹ Hơn nữa, các nhà sản xuất Mỹ vỏ xe Mỹ đã không nâng thêm công suất Thực tế, các nhà sản xuất
vỏ xe Mỹ có các nhà máy ở Trung Quốc và 1 số nơi khác và đã từng nhập khẩu
từ các nhà máy này Vấn đề càng trở nên phức tạp khi Trung Quốc phản ứng biện pháp thuế đánh vào vỏ xe của Mỹ áp đặt cho mình bằng cách áp thuế lên 1 số sản phẩm xuất khẩu từ Mỹ đến Trung Quốc, như gà giò nướng
Câu hỏi:
1 Nhóm nào được lợi từ việc áp thuế của Mỹ lên vỏ xe nhập khẩu từ Trung Quốc? Nhóm nào chịu thiệt hại? Nói chung, qua câu chuyện này bạn rút ra được điều gì về thuế?
2 Bạn nghĩ Mỹ sẽ phản ứng như thế nào nếu Trung Quốc nâng mức thuế đối với 1 số mặt hàng Mỹ nhập khẩu vào Trung Quốc?
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)
Trang 17ThS Nguyễn Thị Bình Minh 17
Tình huống 6 – Chương 3 NAFTA và ngành vận tải Mexico
Khi Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) được ký kết có hiệu lực vào năm 1994, thỏa thuận này định rõ khoảng 2.000 xe tải ở mỗi quốc gia được phép vận chuyển xuyên biên giới và đưa hàng hóa đến trạm cuối cùng Có
sự tranh luận chính sách này có làm tăng hiệu quả? Trước NAFTA, xe tải của Mexico dừng ở biên giới và hàng hóa được bốc dỡ và chất xếp lên xe tải của Mỹ Đây là 1 tiến trình tốn chi phí và thời gian Cũng có tranh luận cho rằng có sự cạnh tranh nhiều hơn từ những công ty vận tải Mexico về giá thấp của những tuyến đường trong khu vực NAFTA Có khoảng 2/3 giao dịch xuyên biên giới trong khu vực NAFTA được vận chuyển bằng đường bộ nên những người ủng hộ cho rằng tiết kiệm là cần thiết
Sự cung cấp cũng bị phản đối mạnh mẽ từ Hiệp hội xe tải của Mỹ, là đại diện của những người lái xe tải Hiệp hội tranh luận rằng những tài xế xe tải Mexico chỉ có khoản bảo hiểm thấp và những xe tải Mexico không tôn trọng những tiêu chuẩn môi trường và an toàn nghiêm ngặt của Mỹ Theo James Hoffa, chủ tịch Hiệp hội xe tải: “Xe tải Mexico cũ, dơ và nguy hiểm hơn xe tải Mỹ Những người lái xe Mỹ sẽ bị triệu hồi nếu họ vi phạm nghiêm trọng luật lệ lưu thông khi dùng phương tiện cá nhân Điều này không như thế ở Mexico Giới hạn
số giờ lăn bánh của lái xe cũng bị bỏ qua ở Mexico”
Dưới áp lực của Hiệp hội, Mỹ tìm cách trì hoãn việc thực hiện những thỏa thuận về vận tải Cuối cùng Hiệp hội xe tải của Mỹ khởi kiện để ngừng việc thực hiện thỏa thuận Một tòa án của Mỹ từ chối sự tranh luạn này và tuyên bố quốc gia phải tôn trọng Hiệp ước đã ký kết Do vậy đã tạo ra sự tranh cãi trong ban Hội thẩm về Hiệp ước NAFTA Theo ban hội thẩm qui định trong năm 2001, Mỹ
đã vi phạm những thỏa thuận của NAFTA và cho Mexico quyền áp đặt thuế trả đũa Mexico quyết định không làm như thế mà cho Mỹ cơ hội tôn trọng cam kết của họ Chính quyền Bush cố gắng thực hiện, dù bị phản đối từ nhóm đối lập trong quốc hội, chấp thuận bộ 20 tiêu chuẩn an toàn mới mà những xe tải Mexico phải đáp ứng trước khi vào Mỹ
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)
Trang 18ThS Nguyễn Thị Bình Minh 18
Với nỗ lực phá vỡ bế tắc, năm 2007, chính phủ Mỹ thành lập 1 chương trình dẫn dắt trong đó những xe tải trong số 100 công ty vận tải Mexico có thể đi vào Mỹ, hỗ trợ họ vượt qua sự kiểm ra an toàn của Mỹ Xe tải của Mexico theo kịp và sau 18 tháng, chương trình hướng dẫn những lái xe người Mexico có bản báo cáo an toàn đơn giản hơn của của người Mỹ Hiệp hội xe tải ngay lập tức vận động quốc hội loại bỏ chương trình Trong tháng 3 năm 2009, 1 văn bản hủy bỏ được đưa ra
Lần này chính phủ Mexico không để Mỹ “móc câu” Theo những thỏa thuận của NAFTA cho phép, Mexico lập tức áp thuế cho 2,4 tỉ $ hàng hóa vận chuyển từ Mỹ đến Mexico California là nơi chuyên xuất khẩu mặt hàng nông nghiệp đến Mexico đã gặp phải khó khăn như: nho phải đối mặt với mức thuế 45%; rượu, hạnh nhân, và các loại trái cây phải chịu mức thuế là 20% Tương tự như vậy quả lê từ Washington – nơi xuất khẩu 4/10 lê của Mỹ sang Mexico – phải chịu mức thuế 20% Những sản phẩm xuất khẩu khác cũng chịu mức thuế 20% bao gồm: sản phẩm vệ sinh cá nhân, đá quý từ NewYork, dụng cụ ăn uống
từ Illinois, hạt có dầu từ North Dakota Theo phòng Thương mại Mỹ, ước tính thiệt hại khoảng 25.600 việc làm ở Mỹ Chính quyền Mỹ thông báo họ cố gắng tìm 1 chương trình mới đáp ứng đồng thời “sự quan tâm chính đáng” của quốc hội và sự tôn trọng cam kết của họ trong Hiệp định NAFTA
Tháng 7 năm 2011, chính quyền Obama ký 1 thỏa thuận với Mexico nhằm chấm dứt bất đồng lâu dài Thỏa thuận này yêu cầu xe tải của Mexico phải đáp ứng toàn bộ tiêu chuẩn của Mỹ và những lái xe Mexico phải tuân thủ kiểm soát
an ninh của Mỹ, đáp ứng an toàn trên cao tốc Mỹ, và đủ năng lực diễn đạt bằng tiếng Anh và hiểu những bảng chỉ dẫn trên cao tốc Ngoài ra, những lái xe Mexico phải mua bảo hiểm của Mỹ Hiệp hội xe tải của Mỹ tiếp tục phản đối cách giải quyết này và cố gắng dừng sự thực hiện, nhưng lần này không làm được Tháng 10 năm 2011, xe tải đầu tiên của Mexico hướng đến lãnh thổ Mỹ xuyên qua cầu quốc tế tại Laredo, Texas, hướng đến Dallas để vận chuyển thiết
Trang 19ThS Nguyễn Thị Bình Minh 19
2 Bạn nghĩ điều gì thúc đẩy Hiệp hội xe tải của Mỹ chống đối điều khoản vận tải trong NAFTA? Những chống đối này có công bằng hay không? Tại sao Quốc hội lúc đầu lại tự liên kết với Hiệp hội?
3 Có phải điều làm cho Mỹ bị đánh thuế trừng phạt theo thỏa thuận NAFTA tương phản với việc dẫn xe tải Mexico vào Mỹ?
4 Tại sao chính quyền Obama trao đổi với Mexico để cho phép những lái
xe tải của Mexico đi vào Mỹ? Bạn có nghĩ cách này là hợp lý không?
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)
Trang 20ThS Nguyễn Thị Bình Minh 20
Tình huống 7 – Chương 4 Chuyển đổi kinh tế ở Ấn Độ
Sau khi giành được độc lập từ Anh năm 1947, Ấn Độ đã đi theo hệ thống chính quyền dân chủ Hệ thống kinh tế phát triển ở Ấn Độ từ sau năm 1947 là một nền kinh tế hỗn hợp với đặc trưng là có nhiều công ty Quốc danh, kế hoạch tập trung và trợ cấp Hệ thống này đã cản trở sự phát triển của khi vực tư nhân Công ty tư nhân chỉa có thể mở rộng kinh doanh khi nhà nước cho phép Việc xin phẻp triển khai sản phẩm mới có thể mất cả năm Phần lớn ngành công nghiệp nặng, điển hình là xe hơi, hóa chất và sản xuất thép được giành riêng cho công ty quốc danh Việc áp đặt hạn ngạch sản xuất và ép thuế nhập khẩu cao cũng hạn chế sự phát triển lành mạnh của lĩnh vực tư nhân, tương tự như trường hợp luật lao động khiến cho việc sa thải nhân công trở nên cực kì khó khăn
Đầu thập niêm 90, có thể thấy rõ là hệ thống này không đủ sức mang lại tăng trưởng kinh tế giống như các nước Đông Nam Á và thời điểm đó Vào năm
1994, kinh tế của Ấn Độ vẫn kém hơn Bỉ mặc dù dân số ở nước này là 950 triệu người GDP trên đầu người chỉ vỏn vẹn ở mức 310 USD, gần một nửa dân số biết đọc, chỉ có 6 triệu người được tiếp cận với điện thoại và chỉ 14% dân số được sinh hoạt trong điều kiện đảm bảo vệ sinh Ngân hàng thế giới ước tính là khoảng 40% người nhèo trên thế giới tập trung ở Ấn Độ và chỉ có khoảng 2,3% dân số là có thu nhập hộ gia đình trên 2,484 USD
Tình trạng trì trệ này đã khiến chính phủ bắt đầu triển khai một chương trình cải cách kinh tế đầy tham vọng Bắt đầu vào năm 1991, phần lớn hệ thống cấp phép trong các ngành kinh tế đã được dở bỏ và một vài lĩnh vực trước đây đóng cửa với công ty tư nhân giờ đã được mở lại bao gồm phát điện, một phần ngành dầu khí, chế biến thép, vận chuyển hàng không, và một số lĩnh vực trong ngành viễn thông Đầu tư của các công ty nước ngoài, trước đây chỉ được cấp phép khá miễn cưỡng và phải chịu các mức trần thất thường, đột nhiên lại được chào đón trở lại Hồ sơ xin thành lập được phê duyệt tự động với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài tối đa là 51% và các công ty có vốn 100% nước ngoài được cấp phép trong một số trưởng hợp nhất định Vật liệu thô và và nhiều thành phẩm công nghiệp được nhập khẩu tự do và mức thuế nhập khẩu trần được hạ từ
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)
Trang 21ThS Nguyễn Thị Bình Minh 21
mức 400% xuống 65% Tỷ suất thuế thu nhập mức trần cũng được giảm bớt và thuế doanh nghiệp hạ từ 57,5% xuống 46% vào năm 194 và 35% vòa năm 1997 Chính phủ đã công bố kế hoạch bắt đầu tư hữu hóa các công ty quốc doanh, khoảng 40% trong số này đã là ăn thua lỗ trong đầu thập niên 90
Theo một số cách đánh giá thì phản ứng với các cải cách kinh tế này rất đáng ghi nhận Tỉ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt mức 6,3% trong giai đoạn
1994 đến 2004 và sau đó tăng lên mức 7-8% trong giai đoạn từ 2005 – 2011 Đầu
tư nước ngoài, chỉ số cơ bản thể hiện mức độ hấp dẫn của nên kinh tế Ấn Độ với các công ty nước ngoài, nhảy vọt từ 150 triệu USD năm 1991 lên 36,7 tỷ USD năm 2008 Một số lĩnh vực của nền kinh tế đã có bước tiến bộ vượt bậc, ví dụ như trong ngành công nghệ thông tin, Ấn Độ đã trở thành trung tâm phát triển phần mềm năng động của thế giới với doanh số đạt 70 tỷ USD vào năm 2010(chiếm khoảng 5,1% GDP) trong khi donah số năm 1990 vỏn vẹn dừng ở mức 150 triêu USD Các công ty Ấn Độ cũng đã chứng tỏ vị trí đáng gờm tong ngành dược phẩm với vũ khí chủ đạo là bán các phiên bản giá rẻ, bình dân của các loại thuốc có bằng sáng chế đã hết hạn ở các nước phát triển
Tuy nhiên chặng đường trước mắt vẫn còn rất dài Nỗ lực cắt giảm thuế nhập khẩu hiện đang bị chặn đứng bởi động thái phản kháng mang tính chính trị
từ chủ lao động, người lao động và chính trị gia – họ lo ngại một khi rào cản này được hạ xuống thì làn sóng hàng Trung Quốc giá rẻ sẽ tràn vào Ấn Độ Chương trình tư hữu hóa lại tiếp tục gặp những chướng ngại vật khác – gần đây nhất vào tháng 9 năm 2003 khi tòa án tối cao Ấn Độ tuyên bố chính phủ không được phép
tư hữu hóa hai công ty dầu khí quốc doanh mà không có phê duyệt chính thức từ Quốc hội Các công ty quốc doanh hiện vẫn đang chiếm 38% sản lượng trong các ngành phi nông nghiệp của các nước, tuy nhiên các công ty tư nhân của Ấn Độ hiện đang đạt tỷ suất cao hơn các công ty quốc doanh khoảng 30 – 40% Phản ứng mạnh mẽ chống lại cải cách luật của Ấn Độ cũng đang cản trở hoạt động kinh doanh của nhiều công ty tư nhân Ví dụ, luật lao động khiến cho chủ doanh nghiệp có hơn 100 lao động không thể sa thải nhân công, từ đó khiến các công ty chủ trương duy trì lực lượng nhân công dưới 100 người Các đạo luật khác lại quy định một số sản phẩm nhất định chỉ có thể do công ty quy mô nhỏ sản xuất,
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)