Số lượng các nhà đầu tư mới tham gia thị trường ngày càng đông, tính đếncuối tháng 12 2006, có trên 120.000 tài khoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của nh
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA NGÂN HÀNG
Trang 2I. Lịch sử hình thành và các giai đoạn phát triển của thị trường
chứng khoán Việt Nam
I.1 Giai đoạn 20002005: Hình thành và những bước đầu tiên
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việcđưa vào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 Ở thờiđiểm lúc bấy giờ, chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE và SAM)với số vốn 270 tỷ đồng và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giaodịch
Từ đó cho đến 2005, thị trường luôn ở trong trạng thái gà gật, loại trừ cơnsốt vào năm 2001(chỉ số VN index cao nhất đạt 571.04 điểm sau 6 tháng đầunăm nhưng chỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, các cổphiếu niêm yết đã mất giá tới 70% giá trị, chỉ số VN Index sụt từ 571,04 điểmvào ngày 25/4/2001 xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001
Ngày 8/3/2005 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (TTGDCK HN) chính thức đi vào hoạt động Giai đoạn tỉnh ngủ dần xuất hiện từ năm 2005 khi
tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài được nâng từ 30% lên 49% (trừ lĩnh vực ngân hàng)
Trong 5 năm đầu tiên, dường như thị trường không thực sự thu hút được
sự quan tâm của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thị trườngchưa tạo ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của nền kinh tế cũng như tới cuộc sống của mỗi người dân
I.2. Giai đoạn 2006: Giai đoạn phát triển đột phá
Trang 3Năm 2006 được coi thời điểm phát triển “đột phá”, tạo cho thị trườngchứng khoán Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới với hoạt động giao dịchsôi động tại cả 3 “sàn”: Sở giao dịch Tp.Hồ Chí Minh, Trung tâm Giao dịch HàNội và thị trường OTC
Thị trường chứng khoán Việt Nam 2006:
VNIndex cuối năm tăng 2,5 lần so đầu năm
Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP)
Hàng ngày có khoảng 80100 công ty có cổ phiếu giao dịch Trên thị trường phi tập trung, tổng khối lượng giao dịch gấp khoảng 6 lần so với khối lượng giao dịch trên Hastc
Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đã lên tới 193 công ty, số tài khoản giao dịch đạt hơn 10 vạn gấp 3 lần năm 2005 và 30 lần so với 6 năm trước
Số lượng các nhà đầu tư mới tham gia thị trường ngày càng đông, tính đếncuối tháng 12 2006, có trên 120.000 tài khoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài
Trong khoảng từ giữa đến cuối năm 2006, tình trạng đầu tư vào cổ phiếu
ở nước ta mang tâm lý “đám đông”, cả người có kiến thức và hiểu biết, cả những người mua, bán theo phong trào, qua đó đẩy TTCK vào tình trạng
“nóng”, hiện tượng “bong bóng” là có thật
I.3 Giai đoạn 2007: Giai đoạn bùng nổ
Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩythị trường phát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị trường tài chínhquốc tế Tính công khai, minh bạch của các tổ chức niêm yết được tăng cường
Trang 4TTCK Việt Nam 2007 ghi lại dấu ấn thăng trầm khi thị trường trải qua những ba giai đoạn biến động trong năm
• Giai đoạn thị trường bùng nổ trong 3 tháng đầu năm 2007:
Đây là giai đoạn thị trường có những đợt sóng cao, khiến Index của cả 2 sàngiao dịch đều lập kỷ lục: chỉ số VNIndex đã đạt mức đỉnh là 1.170,67 điểm sau 7 năm hoạt động và Hastc – Index thiết lập mức đỉnh 459,36 điểm sau 2 năm hoạt động Có thể nói, đây là giai đoạn thị trường đạt mức tăng trưởng với tốc độ lớnnhất khi đạt mức tăng 126% chỉ trong vòng 3 tháng giao dịch
Yếu tố quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng nóng trong giai đoạn này phải kể đến sức cầu trên thị trường tăng một cách đột biến khiến giá trị giao dịch trung bình mỗi phiên giao dịch lên tới hàng ngàn tỷ đồng Tại sàn HCM, bình quân mỗi phiên giá trị giao dịch đạt trên 1.000 tỷ đồng, sàn HN cũng đạt con số 300 tỷ đồng
• Giai đoạn thị trường điều chỉnh từ Tháng 4/2007 đến đầu Tháng 9/2007
Với nỗi lo sợ về một “thị trường bong bóng”, các cơ quan quản lý nhà nước cũng như Chính phủ đã vào cuộc để giảm nhiệt thị trường bằng các biện pháp kiểm soát thị trường chặt chẽ, ban hành những thiết chế để kiềm chế sự tăng trưởng quá nóng của thị trường Phản ứng trước điều này, TTCK đã có những đợt điều chỉnh rõ rệt Một đợt điều chỉnh giảm của thị trường đã diễn ra trong một khoảng thời gian rất dài (từ cuối Tháng 3 đến đầu Tháng 9)
Giai đoạn này, các NĐTNN cũng tỏ ra khá thờ ơ khi lượng giao dịch của khối này trên cả 2 sàn giao dịch đều sụt giảm mạnh Giá trị giao dịch bình quân của khối NĐTNN trong giai đoạn này đạt khoảng 170 tỷ đồng/phiên, giảm tới 52% so với giai đoạn đầu năm
• Giai đoạn phục hồi của thị trường vào những tháng cuối năm
Trang 5Thị trường bước vào giai đoạn phục hồi mạnh mẽ trong khoảng thời gian đầu tháng 9 đến cuối Tháng 10/2007.
Giá các cổ phiếu trên sàn có xu hướng phục hồi nhanh chóng, đặc biệt là các mã cổ phiếu blue – chip trên cả 2 sàn đều lấy lại được những gì đã mất trong 6 tháng giữa năm, tuy nhiên sức bật của các cổ phiếu không đủ mạnh để đưa các cổ phiếu trở về mức giá đỉnh thiết lập vào tháng 3
Tuy nhiên, Thị trường sau một đợt phục hồi đã nhanh chóng điều chỉnh giảm vào 2 tháng cuối năm Trong giai đoạn này, thị trường thỉnh thoảng cũng
có các đợt phục hồi giả với sự tăng lên mạnh mẽ của tất cả các yếu tố Tuy nhiên sự phục hồi này không duy trì được lâu, thậm chí đã có dấu hiệu suy giảm chỉ sau 1 phiên tăng điểm
I.4 Giai đoạn 2008: Giai đoạn suy giảm
Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, TTCK Việt Nam khép lại năm
Nhằm mục đích ngăn chặn đà suy giảm của thị trường, các cơ quan điều hành bắt đầu đưa ra những chủ trương và biện pháp hỗ trợ:
(1) UBCKNN thu hẹp biên độ giao dịch; (2)
SCIC tham gia mua vào cổ phiếu;
(3) NHTM được vận động ngừng giải chấp;
(4) Tổ chức niêm yết được khuyến khích mua vào cổ phiếu quỹ
Trang 6Tuy nhiên, phần lớn các biện pháp này chỉ phát huy hiệu quả trong ngắnhạn, và thị trường tiếp tục sụt giảm, cơn bão giải chấp cổ phiếu không ngừngtác động tới tâm lý các nhà đầu tư
Trước thực trạng này chính phủ đã đề ra 8 nhóm giải pháp vào tháng 3/2008 với mục tiêu kiềm chế lạm phát và thâm h ụt thương mại
• Giai đoạn 2: Tháng 06 tới đầu tháng 09 Phục hồi trong ngắn hạn
Nhờ vai trò dẫn dắt của một số cổ phiếu blue chip như STB, FPT,
DPM…và đặc biệt là SSI với sức cầu hỗ trợ từ đối tác nước ngoài, cả hai sàn chứng khoán đã có được những phi ên tăng điểm mạnh trong giai đoạn này.VNIndex và HastcIndex liên ti ếp vượt qua các ngưỡng cản tâm lý quan trọng
và thường xuyên có đư ợc những chuỗi tăng điểm kéo dài Đây cũng là giai đoạn thị trường hoạt động sôi động nhất Sức cầu mạnh, kéo theo khối lượng giao dịch v à giá trị giao dịch thường xuyên ở mức cao
• Giai đoạn 3: Từ tháng 09 tới tháng 12 Thị trường rơi trở lại chu kỳ giảm do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Đây là thời kỳ VNIndex rơi trở lại xu hướng giảm, thậm chí đã phá vỡđáy thiết lập được trong giai đoạn đầu của năm 2008 Tổng kết cả giai đoạnnày, VNIndex m ất 223,48 điểm, tương đương 41,45% Khối lượng giao dịchtrung bình đạt 15,82 triệu CP&CCQ, tương đương 497,58 tỷ đồng/phiên
Nguyên nhân tác động lớn nhất tới TTCK trong giai đoạn này chính là sự lan tỏa mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính trên toàn thế giới Hòa cùng xu thế giảm điểm của TTCK các nước, 02 chỉ số chứng khoán tại sàn HOSE và HASTC liên tiếp giảm điểm Trong 86 phiên giao dịch tại HOSE, 49 phiên
VNIndex mất điểm Đáy mới thiết lập trong giai đoạn này là 286,85 điểm vào ngày 10/12/2008
Trang 7Giải pháp tài chính kịp thời trong những tháng cuối năm 2008 được thực hiện thông qua việc điều chỉnh giảm lãi su ất cơ bản nhằm kích cầu sản xuất tiêu dùng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận vay vốn một cách dễ dànghơn, đồng thời giảm áp lực tín dụng cho các ngân hàng thương mại.
I.5. Năm 2009 – 2010: Diễn biến bất thường
TTCK Việt Nam năm 2009 được coi là có tốc độ tăng trưởng rất cao, tới 6070%, nhưng xét một cách toàn diện lại có không ít dấu hiệu bất ổn
Trước hết, TTCK có dấu hiệu phục hồi nhưng không bền vững: Chỉ số VN Index giảm mạnh 22% từ đỉnh 633,2 điểm ngày 2310 xuống mốc 490,6 điểm ngày 2711 Khối lượng giao dịch từ tháng 11 đến hết năm sụt giảm mạnh so vớihai tháng 9, 10 Càng về cuối năm, thanh khoản của thị trường càng trở nên đáng lo ngại
Bước sang tháng 32009, TTCK có một tháng tăng điểm ấn tượng nhất
kể từ tháng 112008: VNIndex không chỉ khởi sắc về điểm số mà khối lượng giao dịch cũng tăng mạnh Tính đến hết ngày 306, VNIndex đã tăng 132,67 điểm (42,03%), HNXIndex tăng 44,57 điểm (42,66%) so với thời điểm kết thúc năm 2008…
Từ tháng 8 đến tháng 10, TTCK lại tiếp tục đợt tăng giá thứ hai đầy mạnh mẽ với nhiều kỷ lục về giá trị và khối lượng giao dịch kỷ lục được xác lập Ngày 2210, TTCK vươn tới đỉnh điểm của đợt sóng thứ 2 là mức 624,10 điểm Đây cũng là mức cao nhất của thị trường sau 394 phiên giao dịch kể từ ngày 1432008
Nửa đầu năm 2010, thị trường chứng khoán biến động trong biên độ hẹp
480 550 điểm với thanh khoản ở mức trung bình Trong giai đoạn này, Chính phủ áp dụng những biện pháp nhằm hướng dòng vốn vào lĩnh vực sản xuất và hạn chế cấp vốn cho các kênh như chứng khoán, bất động sản Đồng thời,
Trang 8lượng cổ phiếu niêm yết, cổ phiếu thưởng tăng lên nhanh chóng làm cho dòng tiền trên thị trường càng trở nên khan hiếm.
Trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 8, thị trường chứng khoánbước vào giai đoạn lao dốc khi hai chỉ số chứng khoán đều chạm mốc thấpnhất trong vòng một năm Trong vòng 2 tháng, Vn Index mất hơn 16%
Từ cuối tháng 8, những bất ổn của nền kinh tế dần bộc lộ và đỉnh điểm là đầu tháng 11, Chính sách tiền tệ đột ngột thay đổi thể hiện rõ quyết tâm kiềmchế lạm phát, kéo theo một cuộc đua lãi suất gữa các ngân hàng Với thị trườngchứng khoán, điểm ngạc nhiên là sau một tuần rơi mạnh bởi biến động khó lường của tỷ giá cùng giá vàng trong và ngoài nước, thị trường đã quay đầu hồi phục vào cuối tháng 11, đầu tháng 12 Đây có thể coi là thành công của chứng khoán Việt Nam bởi đa phần các thị trường lớn trên thế giới đều mất điểm trong thời gian này
I.6. Năm 2011: Năm “đại hạn”
Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2011 có những diễn biến trầm lắng do sự bất ổn của kinh tế của thế giới kéo theo những tác động nhất định đến kinh tế Việt Nam Nhiều chuyên gia nhận định, năm 2011 chứng khiến những khó khăn to lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam
Việc thị trường lao dốc mạnh trong năm 2011 đã kéo giá trị tất cả các cổphiếu xuống mức giá thấp nhất trong lịch sử Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2011 tiếp tục chứng kiến đà lao dốc không phanh của cả hai chỉ số chính Trong khi VNIndex giảm từ 486 điểm xuống mức 356,2 điểm (mức thấp nhất kể từ tháng 5/2010) thì HNXIndex đạt mức thấp nhất từ khi chỉ số này ra đời, giảm 55,4 điểm xuống 58 điểm tính đến ngày 26/12
Dòng tiền vào chứng khoán đã thắt chặt trước thông tư 13 được ban hành trong năm 2010, nay còn thắt chặt hơn khi lạm phát tăng cao khiến lãi xuất vay
Trang 9vốn trong năm có lúc lên tới 2225%, Đây là những nguyên nhân khiến dòngtiền chảy vào thị trường ngày càng eo hẹp, thanh khoản chứng khoán luôn ởmức thấp.Giá cổ phiếu ở mức rất thấp, công ty chứng khoán gặp nhiều khókhăn
Với xu hướng lao dốc mạnh của thị trường trong năm 2011, giá trị tất cả các
cổ phiếu đã được kéo xuống mức thấp nhất nhất trong lịch sử Tính đến ngày 26/12, tổng cộng cả hai sàn có tới 433 mà có giá trị dưới 10.000 đồng (sàn HSX chiếm 156 mã, sàn HNX chiếm 277 mã) và 186 mã có giá trị dưới 5.000 đồng trong tổng cộng 696 mã
Thống kê của UBCK cho thấy, 9 tháng đầu năm nay, toàn thị trường có tới 143 doanh nghiệp bị lỗ, tăng 1,7 lần so với cùng kỳ năm 2011 Đặc biệt, có tới 438 doanh nghiệp có lợi nhuận sụt giảm so với năm trước, khiến chỉ tiêu tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) giảm về mức 8%, thay vì 12,3% cùng kỳ năm 2011 Tổng huy động vốn trên TTCK năm 2012 ước đạt 152.600 tỷ đồng, tăng 54% so với cùng kỳ năm 2011 như chủ yếu là tứ trái phiếu chính phủ
Hiện tại, số tài khoản của nhà đầu tư đã lên tới 1,2 triệu tài khoản So với năm
2011, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài sụt giảm tới 77% Nhiều CTCK bị thua lỗ hoặc rút giấy phép kinh doanh.
Theo UBCK, nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do chi phí đầu vào của doanh nghiệp tăng cao (như giá xăng dầu, điện, chi phí lãi vay…), khả năng tiếp cận
Trang 10vốn của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế, hàng tồn kho tăng trong khi đầu ra cho doanh nghiệp gặp khó khăn
Thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2009 tới nay diễn biến khá phức tạp và có sự suy giảm rõ rệt: Thị trường đi xuống, niềm tin nhà đầu
tư sụt giảm, các tổ chức kinh doanh thua lỗ, chất lượng hàng hóa chưa đảm bảo với khung pháp lý chưa hoàn chỉnh… Do đó, nhà nước Viêt Nam cần thiết phải có những động thái tích cực và quyết liệt để tái cấu trúc toàn diện thị trường chứng khoán Việt Nam
II Tái cấu trúc thị trường chứng khoán Việt Nam
II.1 Tái cấu trúc cơ sở hàng hóa và sản phẩm dịch vụ
Tái cấu trúc hàng hóa là việc nâng cao tiêu chuẩn phát hành, tiêu chuẩn niêmyết trên thị trường chứng khoán, tăng cường quản trị và công bố thông tin đốivới các doanh nghiệp niêm yết và các công ty đại chúng có quy mô lớn; mở rộng
đa dạng hơn các sản phẩm hàng hóa, triển khai thị trường chứng khoán
phái sinh, giao dịch ETF ; tiếp tục thúc đẩy tiến trình cổ phiếu hóa gắn vớiniêm yết
để đưa nhiều hàng hóa có chất lượng cao vào thị trường Đưa tínphiếu kho bạc vào giao dịch trên thị trường chứng khoán
2.1.1 Cổ phiếu:
Khối lượng giao dịch trên thị trường cổ phiếu niêm yết tăng trên 50%
Trang 11niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Hà Nội tính tới thời điểm 31/12/2012 là
396 doanh nghiệp, với tổng khối lượng niêm yết đạt 8,5 tỷ cổ phiếu và tổnggiá trị niêm yết đạt 85,528 tỷ đồng, tăng 7,05% về khối lượng niêm yết và7,71% về giá trị niêm yết năm 2011
Khối lượng giao dịch trên thị trường Upcom tăng gấp 2,2 lần Tuy nhiênquy mô thị trường Upcom được đánh giá là nhỏ và chưa tương xứng với tiềmnăng, tính thanh khoản tuy được cải thiện song vẫn ở mức thấp
Thông tư số 130/2012/TTBTC hướng dẫn việc mua lại cổ phiếu, bán cổphiếu quỹ
chúng
và một số
trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của công ty đại
Nhằm nâng cao chất lượng quản trị công ty, quản trị rủ ro tại các doanh nghiệpniêm yết hướng tới xây dựng khung quản trị công ty tiến tiến cho các doanhnghiệp, SGDCK Hà Nội đã tổ chức nhiều đợt tập huấn về quản trị công ty, vềnghĩa vụ công bố thông tin và nhận được sự quan tâm và tham gia đông đảo củadoanh nghiệp, đồng thời triển khai rộng rãi hệ thống quản lý thông tin doanhnghiệp (CIMS), cho phép doanh nghiệp niêm yết và các công ty chứng khoáncông bố thông tin tự động qua hệ thống và không phải thực hiện báo các, công
bố thông tin bằng bản cứng Đến nay chất công bố thông tin của doanh nghiệpniêm yết được cải thiện rõ nét với 80% doanh nghiệp niêm yết và 72% công tychứng khoán thành viên Công bố thông tin tự động qua CIMS Tỷ lệ vi phạmcông bố thông tin đã giảm từ mức 37,3% năm 2011 xuống mức 11% năm 2012
Tỷ lệ vi phạm công bố thông tin bất thường đã giảm từ mức 26,9% năm 2011xuống mức 10% năm 2012
Trang 12bậc Hệ thống đấu thầu điện tử được triển khai, qua đó góp phần tăng quy môhuy động vốn TPCP qua thị trường chứng khoán với mức tăng kỷ lục từ trướcđến nay đạt 160 tỷ đồng, tăng 92% so với năm 2011.
Những đổi mới về các quy trình, quy chế:
Thông tư số 211/2012/TTBTC hướng dẫn về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Thực hiện cung cấp trước thông tin về các mã trái phiếu, tín phiếu cho tổchức phát hành để thuận tiện cho các bên khi tham gia váo quá trình đấu thầu vàthống nhất thông tin về mã hóa trái phiếu, tín phiếu từ khi phát hành trước thịtrường sơ cấp đến giao dịch trên thị trường thứ cấp
Chỉnh sửa hệ thống đẩy nhanh quy trình thực hiện việc đăng ký Tráiphiếu tại Trung tâm lưu ký chứng khoán để có thể hoàn tất việc đăng ký Trái phiếu đấu thầu đúng ngày, đúng hạn thanh toán tiền mua Trái phiếu (T +2) thay
vì phải đến ngày (T +4) như trước đây Đặc biệt đối với Tín phiếu kho bạcphát hành qua đấu thầu tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, Trung tâm lưu kýchứng khoán đã phối hợp với các bên thực hiện hoàn tất đăng ký Tín phiếu đấuthầu vào ngày làm việc ngay sau ngày đấu thầu
Về lưu ký, hệ thống Trung tâm lưu ký chứng khoán sẽ cho phép thànhviên lưu ký có thể lưu Trái phiếu, Trái phiếu trúng thầu vào tài khoản của Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước để giao dịch trên thị trường mở
SGDCK Hà Nội chính thức đưa hệ thống đấu thầu điện tử vào vận hành vàcho phép kết nối trực tiếp với các thành viên đấu thầu, tổ chức phát hành cơ
Trang 13Tài sản/Cơ quản quản lý Ngoại tệ Chỉ số chứng khoán Cao su
Vàng Trái phiếu Chính phủ Hạt điều
quan quản lý, điển tử hóa toàn bộ quá trình đấu thầu từ khi bắt đầu đến khihoàn tất phiên đấu thầu Điều này một mặt giúp các thành viên tham gia đấuthầu nhanh chóng, hiệu quả
đáng kể thời gian xét thầu
hơn, mặt khác giúp cơ quan vận hành rút ngắn
Ngoài ra thị trường trái phiếu thứ cấp cũng được hoàn thiện thông quamột số hoạt động khác như xây dựng hệ thống giao dịch tín phiếu, tạo ra sựliên kết giữa thị trường ngắn hạn và thị trường dài hạn, triển khai chương trìnhtái cơ cấu hàng hóa qua việc thực hiện phát hành trái phiếu theo lô lớn, hoánđổi trái phiếu, nâng cấp hệ thống giao dịch, thông tin trái phiếu chính phủ, triểnkhai đường cong lãi suất chuẩn
2.1.3 Công cụ phái sinh
Tại Quyết định 252/2012/QĐTTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệtChiến lược phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2020 cũng đã đặt ra việc xâydựng TTCK phái sinh theo lộ trình thích hợp
Vì vậy, việc xây dựng TTCK phái sinh tại Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo trên cơ sở triển khai xây dựng Đề án về thị trường phái sinhtại Việt Nam và xây dựng Nghị định của Chính phủ về tổ chức và họa động của TTCK phái sinh
Về mặt lý thuyết, có rất nhiều loại tài sản khác nhau ở Việt Nam có thểcho phép thực hiện giao dịch phái sinh Nhưng thực tế cho thấy các tài sản cơ
sở khác nhau được quản lý bởi các cơ quan chủ quản khác nhau
Bảng: Cơ quan quản lý tài sản cơ sở tại Việt Nam
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)
Trang 14Trái phiếu doanh nghiệp
Cơ quan quản lý thị
trường phái sinh NHNN UBCKNN Bộ Công Thương
Cơ quan quản lý giao dịch tài
sản cơ sở NHNN UBCKNN Bộ Công Thương
Một số khái niệm cơ bản về chứng khoán phái sinh đã được quy định trongLuật Chứng khoán Việc lựa chọn các thị trường phái sinh dựa trên công cụ cơ
sở (gốc) là chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số chứng khoán… là cơ
sở ban đầu cho hoạt động giao dịch Các chứng khoán cơ sở phải đáp ứng đượcmột số tiêu chí về tính thanh khoản, chất lượng của dòng thông tin về giao dịchtài sản cơ sở và các liên kết về công nghệ thông tin, thẩm quyền quản lý đốivới tài sản cơ sở…
a Thị trường phái sinh tiền tệ
TTPS tiền tệ ra đời sớm nhất tại Việt Nam Đây là thị trương có nhiều biếnđộng khó lường vì nó liên quan tới mọi hoạt động của nền kinh tế, các sản phẩm phái sinh tiền tệ chủ yếu được giao dịch trên thị trường phi tập trung giữa các ngân hàng với nhau hoặc giữa các ngân hàng với các TCTC, DN, cá nhân Các sản phẩm chủ yếu trên TTTT chủ yếu là hợp đồng kì hạn, hợp đồng hoán đổi và các hợp đồng quyền chọn trên lãi suất và tiền tệ, chưa có hợp đồngtương lai vì chưa có thị trường tập trung
Đối với các sản phẩm phái sinh ngoại tệ, hợp đồng kì hạn và hợp đồng hoán đổi là các công cụ tài chính phái sinh xuất hiện sớm nhất ở VN Các hợp đồng kì hạn thường sử dụng nhiều trên TT hàng hóa nhưng ít được sử dụng trên TT liên ngân hàng
Trang 15Trong giai đoạn 20072009, một sản phẩm phái sinh thu hút được nhiều sự
quan tâm của thị trường là hợp đồng quyền chọn giữa VNĐ và ngoại tệ Các DN
xuất nhập khẩu thường xuyên sử dụng hợp đồng này để chuyển đổi ngoại tệ thành VNĐ nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên năm 2009 khi tỷ giá liên tục tăng cao và tạo sự chênh lệch lớn trong tỷ giá của hệ thống ngân hàng với tỷ giá trên thị trường tự do thì HĐQC này được sử dụng để lách trần tỷ giá bằng các giao dịch quyền chọn thanh toán kiểu Mĩ cho phép các bên tất toán trước thời điểm đáo hạn Do vậy, năm 2009, NHNN đã yêu cầu dừng việc thực hiện nghiệp vụ này Đây là trở ngại lớn đối với ngân hàng làm cho cácgiao dịch quyền chọn của các ngân hàng giảm sút
Đối với các giao dịch phái sinh lãi suất, hợp đồng hoán đổi LS được NHNN
cho phép áp dụng từ năm 2003 theo quyết định 1133/QD/NHNN Khi được NHNN cho phép, HSBC là ngân hàng đầu tiên cung cấp gói hoán đổi lãi suất chéo giữa VNĐ/USD cho 1 công ty đa quốc gia lên tới 15tr USD trên TT Việt Nam tạo nền tảng cho các giao dịch hoán đổi sau này Nhiều ngân hàng nước ngoài như Citibank, ABN Amro, Standard chartered và các ngân hàng trong nước như VCB, BIDV, Incombank, VIBank đã cung cấp các hợp đồng hoán đổi lãi suất và tiền tệ Tuy nhiên,các cộng cụ hoán đổi lãi suất của các NHTM VN vẫn còn nhiều hạn chế Từ năm 20052007 mới chỉ có 40 hợp đồng hoán đổi lãi suất
và một số ít hợp đồng phái sinh không chuẩn hóa khác
Về hợp đồng quyền chọn lãi suất, BIDV là ngân hàng đầu tiên được phép
thực hiện giao dịch quyền chọn lãi suất Các giao dịch quyền chọn lãi suất
được phép thực hiện đối với những khoản cho vay trung hạn ( dưới 5 năm) bằng USD hoặc bằng EUR Sau BIDV một loạt các NHTM khác bao gồm cả NHTM cổ phần cũng được thực hiện các giao dịch này
Điểm lại các cột mốc trên cho thấy, hiện tại các CCPS vẫn chưa phát triển, TTPS tiền tệ vẫn chủ yếu là những giao dịch phi tập trung, lẻ tẻ tại một số ngân hàng, nhiều sản phẩm phái sinh vẫn còn là thử nghiệm
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)
Trang 16b Thị trường phái sinh hàng hóa
Khác với TTPS tiền tệ, các CCPS hàng hóa về cơ bản được giao dịch trên các sàn giao dịch tại một địa điểm tập trung Tuy nhiên, các sàn giao dịch trong nước hiện chưa có hội tủ đủ 1 tiêu chuẩn là 1 SGD hàng hóa tập trung đúng nghĩa Đa phần các sản phẩm phái sinh hàng hóa được niêm yết qua giao dịch (như HĐTL cà phê ( Robusta và Arabica), cao su (RSS3) và thép (HRC) hiện được niêm yết trên HNX vẫn chỉ dừng lại ở mức độ thăm dò, sự tham gia của các DN XNK và NĐT còn hạn chế
c. Thị trường phái sinh chứng khoán
Trong giai đoạn nở rộ của TTCK VN 20072008, một số CCPS trên TTCK đã
ra đời do các NĐT cho rằng lợi nhuận từ các cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹhiện nay là chưa đủ Các CKPS được triển khai tại các CTCK chủ yếu là các quyền chọn trên tài sản cơ sở là cổ phiếu Các CTCK đóng vai trò là người bán quyền chon ( thường là quyền chọn mua), đối tượng khách hàng không hạn chế nhưng chủ yếu tập trung vào các NĐT cá nhân có tài sản lớn Các CTCK thực hiện thu phí quyền chọn dựa trên cơ sở xác định khả năng sảy ra rủi ro cao nhất thông qua giao dịch trên TTCK cơ sở
Tới năm 2010, sau thời gian suy giảm vào năm 2008 của TTCK một số CCPS mới được giới thiệu Đầu tiên là CTCK VN Direct với sản phẩm “hợp đồng hợp tác đàu tư” trên 20 cổ phiếu có tính thanh khoản cao trên HOSE và HNX, tiếp theo là VTG với sản phẩm đầu tư chỉ số VTGVNIndex mang nhiều dáng dấp của HĐTL….Sau khi triển khai được 1 thời gian, các GDPS này gặp phải nhiều vướng mắc về pháp lý, UBCKVN đã yêu cầu VN Direct và VTG ngừng hoạt động liên quan đến sản phẩm trên
II.2.1.Định hướng của chính phủ
Trang 17Quyết định số 1826/QĐTTg ngày 06/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt đề án "Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm" có nêu nên các giải pháp trong tái cấu trúc tổ chức kinh doanh chứng khoán.
a) Phân loại các tổ chức kinh doanh chứng khoán.
Phân loại theo bốn (04) nhóm trên cơ sở mức độ rủi ro đối với thị trường
để có biện pháp xử lý thích hợp:
(i) Nhóm hoạt động lành mạnh, gồm các tổ chức có tỷ lệ vốn khả dụng trên 180%;
(ii) Nhóm hoạt động bình thường gồm các tổ chức có tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ 150% tới 180%;
(iii) Nhóm bị
120% tới 150%;
kiểm soát gồm các tổ
chức có tỷ lệ
Cơ cấu lại hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh;từng bước chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa các dịch vụ cung cấp theo thông lệ
và chuẩn mực quốc tế; mở rộng quy mô, phạm vi và địa bàn hoạt động, khuyến
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)
Trang 18khích việc cung cấp các dịch vụ chứng khoán cho các thị trường quốc tế trongkhu vực và trên
thế giới; sử dụng công nghệ và hạ tầng kỹ thuật tiên tiếnnhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho nhà đầu tư;
Nâng cao năng lực kiểm soát và quản trị rủi ro; áp dụng các nguyên tắcquản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế; cơ cấu lại danh mục đầu tư, chấn chỉnhlại các hoạt động kinh doanh nhằm hạn chế rủi ro; tập trung vào lĩnh vực kinhdoanh chính là cung cấp các dịch vụ chứng khoán;
Nâng cao năng lực quản trị và điều hành công ty; cơ cấu lại
(ii) Giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoạt động bình thường:
Tổ chức kinh doanh chứng khoán: Xây dựng, tổ chức thực hiện phương
án khắc phục; cơ cấu lại danh mục đầu tư, thu hồi nợ, hạn chế các hoạt độngđầu tư và dịch vụ chứng khoán tiềm ẩn rủi ro; tinh giản tổ chức nhân sự, cắt
Trang 19Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện:
+ Giám sát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức này; tăng tần suất báo cáo vềtình hình tài chính; phối hợp với các Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Lưu
ký chứng khoán kiểm soát chặt chẽ hoạt động thanh toán giao dịch của các tổchức này;
+ Tùy theo tính chất, mức độ rủi ro, hạn chế hoặc không chấp thuận cho các
tổ chức này mở rộng địa bàn, phạm vi hoạt động, bổ sung nghiệp vụ, phân phốilợi nhuận bằng tiền; hạn chế các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, đầu tư vàotài sản tiềm ẩn nhiều rủi ro;
+ Khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh doanh chứng khoánthuộc nhóm này sáp nhập, hợp nhất với nhau, hoặc với các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoạt động lành mạnh; khuyến khích hoạt động chuyển nhượngvốn cổ phần, phần vốn góp của cổ đông lớn, thành viên góp vốn cho các tổchức tài chính ngân hàng, kể cả
ngoài theo cam kết WTO;
việc chuyển nhượng cho các tổ chức nướcKhuyến khích các tổ chức tín dụng, tập đoàn có tình hình tài chính lànhmạnh là công ty mẹ, chủ nợ, hay đối tác hỗ trợ việc lành mạnh hóa tình hình tàichính của tổ chức kinh doanh chứng khoán như cấp vốn, bổ sung vốn, xóa nợhoặc chuyển vốn nợ thành vốn chủ sở hữu, khoanh nợ ;
(iii) Giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán bị kiểm soát:
Ngoài áp dụng các giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoánhoạt động bình thường, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xây dựng quy trình chitiết để quá trình tái cơ cấu các tổ chức thuộc nhóm này diễn ra theo lộ trình trật
tự, bảo đảm an toàn tài sản của khách hàng:
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)
Trang 20Yêu cầu các tổ chức thuộc nhóm này lành mạnh hóa và củng cố năng lực tài chính: Tăng vốn, không phân phối lợi nhuận, không mua cổ phiếu quỹ; tái
cơ cấu danh mục đầu tư và hoạt động kinh doanh theo hướng giảm dần cáchạng mục đầu tư và dịch vụ có hệ số rủi ro cao; thu hẹp địa bàn hoạt động, cắt giảm nhân sự ;
Yêu cầu các tổ chức này tự nguyện hoặc thực hiện rút bớt các nghiệp vụkinh doanh chứng khoán theo quy định của pháp luật Khi rút nghiệp vụ môigiới chứng khoán, chủ động có lộ trình thực hiện, các biện pháp kỹ thuật, xử lý tình huống nhằm bảo đảm an toàn tài sản của khách hàng
(iv) Giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán bị kiểm soát đặc biệt:
Sau thời gian bị kiểm soát đặc biệt, nếu không bảo đảm được các quyđịnh về an toàn tài chính và tiếp tục thua lỗ (lỗ lũy kế đạt trên 50% vốn điềulệ), thì đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động; giải thểhoặc phá sản theo quy định của pháp luật Trường hợp không khắc phụcđược và lỗ lũy kế đạt dưới 50% vốn điều lệ, thì chấm dứt mọi hoạt độngchứng khoán,
duy trì
tư
cách pháp nhân để
thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với kháchhàng, chủ nợ; hoặc giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật
II.2.2 Lộ trình thực hiện
Trong đề án cũng có nêu ra lộ trình thực hiện việc tái cấu trúc các tổ chức
kinh doanh chứng khoán
a) Năm 2012 2014
Trang 21cơ cấu, bao gồm tăng vốn; hợp nhất, sáp nhập, mua lại; thu hẹp phạm vi và địabàn hoạt động, chấm dứt hoạt động Trường hợp không khắc phục được, rútbớt các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, thu hồi giấy phép thành lập và hoạtđộng, cho giải thể hoặc phá sản;
Ban hành quy trình kiểm soát và quản lý rủi ro; hệ thống đánh giá, giám sáttheo tiêu chuẩn quốc tế; hoàn thiện các quy định pháp lý, củng cố mô hình tổchức và hoạt động các tổ chức kinh doanh chứng khoán
Yêu cầu các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chủ động xây dựngphương án và lộ trình hợp lý nhằm thoái vốn đầu tư tại các tổ chức kinh doanhchứng khoán theo Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tậpđoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 2015 ban hành kèm theoQuyết định số 929/2012/QĐTTg ngày 17 tháng 7 năm 2012
b) Năm 2015:
Hoàn thành căn bản việc cơ cấu lại các tổ chức kinh doanh chứng khoán.Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua một năm có thể nói là khókhăn nhất trong suốt hơn 12 năm hoạt động Tuy nhiên, nhìn lại năm 2012 cóthể điểm qua một vài điểm sáng đáng chú ý Thứ nhất: chỉ số VNIndex vẫn tăngkhoảng 17,7% so với các chỉ số chứng khoán của nhiều nước như: Hoa Kỳ,Trung Quốc, Nga, Brazil, thì mức tăng này là khá tích cực Thứ hai: thanhkhoản thị trường có sự cải thiện, tăng 55% so với năm 2011 Vốn huy động quatrái phiếu Chính phủ tăng 92% so với năm 2011, dòng vốn đầu tư nước ngoàigián tiếp tăng 10% so với năm 2011
2.2.3 Thực trạng tái cấu trúc
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)
Trang 22Năm 2012 cũng là năm rất thành công trong việc hoàn thiện khung pháp lýcho hoạt động của thị trường bởi rất nhiều văn bản được ban hành Tái cấu trúc
tổ chức kinh doanh chứng khoán đã đạt được những kết quả bước đầu:
a. Vấn đề quản trị rủi ro cho các công ty CK:
UBCKNN ban hành Quy chế hướng dẫn việc thiết lập bộ phận QTRR, xácđịnh rủi ro, quản lý rủi ro
Bên cạnh đó: thông tư 210/BTC cũng bổ sung thêm quy định về chuẩn bị các
thủtục rút giấy phép hoạt động nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý công ty yếucảnh báo sớm để nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức kinh doanhCK
Ngoài ra, các vướng mắc về pháp lý cho công tác tái cấu trúc các công ty
CK đãcăn bản được tháo gỡ, các quy định nhằm tăng cường năng lực hoạt
động, kiểm soát rủi ro, quản trị công ty đã được xây dựng
Mặc dù 2012 mới chỉ là năm khởi đầu của quá trình tái cấu trúc công ty CK nhưng bước đầu đã cho thấy một số chuyển biến rõ rệt
Ngày 10/01/2012, Bộ Tài Chính ban hành quyết định số 62/QĐBTC về tái cấu trúc các công ty CK Các công ty CK đã được phân loại theo 3 nhóm, thực hiện thanh kiểm tra 25 công ty CK và xử lý vi phạm theo quy định, kết quả, UBCKNN đã đặt 11 CTCK vào diện kiểm soát đặc biệt, 3 CTCK vào diện kiểmsoát; 4 CTCK rút nghiệp vụ môi giới, 1 CTCK rút nghiệp vụ bảo lãnh phát
hành, 2 CTCK rút nghiệp vụ tự doanh, 3 CTCK bị đình chỉ hoạt động và 4
CTCK bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán
Trang 23Theo quy định, các CTCK bị kiểm soát đặc biệt có 4 tháng để khắc phục tình trạng này, nếu không sẽ bị đình chỉ hoạt động Đến thời điểm hiện tại, mới chỉ có VNSC và DNSC trong số 6 CTCK đến hạn khắc phục là ra khỏi diện bị kiểm soát đặc biệt.
Ba CTCK bị đình chỉ hoạt động là TSS, HSSC và RUBSE, do các CTCK nàykhông khắc phục được tình trạng bị kiểm soát đặc biệt Theo quy định, nếutrong thời gian 6 tháng mà không khắc phục tình trạng trên,
khoán (UBCK) sẽ rút giấy phép hoạt động của các CTCK này
Ủy ban Chứng
Theo thông báo mới nhất từ Sở GDCK TP Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở GDCK Hà Nội (HNX), VSSC đang hoàn thiện hồ sơ và các thủ tục liên quan để chấm dứt tư cách thành viên tại 2 Sở Trước đó, CTCK Âu Việt (AVS) đã được chấp thuận tự nguyện chấm dứt tư cách thành viên tại 2 Sở GDCK kể từ ngày 28/12
Tương tự, CTCK An Phát (APG) đã xin ý kiến đại hội cổ đông về việc chấmdứt tư cách thành viên tại 2 Sở Nguyên nhân của các quyết định này là do các CTCK không nhìn thấy cơ hội trụ lại và phát triển cho mình trong một thị trườngnhiều cạnh tranh
Hiện có 6 CTCK rút nghiệp vụ môi giới: công ty tự nguyện rút môi giới làSVSC, CTCK Đông Dương ; công ty bị bắt buộc rút môi giới là TSS, SMEs Một số CTCK như TAS, GBS bị tạm đình chỉ hoạt động lưu ký, thanh toán bùtrừ, đình chỉ giao dịch do mất khả năng thanh toán
b Tăng cường sự minh bạch và bình đẳng tại khối CTCK
Trong năm 2012, UBCK đã tăng cường các hoạt động kiểm tra, giám sát CTCK 18 trong số 20 công ty bị kiểm tra là có vi phạm hành chính Đáng chú ý
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)